Mục đích của đề tài
Hiện nay, đổi mới và cải tiến công nghệ là nhu cầu thiết yếu trong quản lý vĩ mô và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Sự đổi mới này phải liên kết chặt chẽ với chiến lược kinh doanh, trình độ công nghệ hiện tại và tiềm lực của doanh nghiệp.
Trong thực tế, quá trình này thường gặp một số vấn đề sau đây:
- Hạn chế tài chính để đầu tư công nghệ hiện đại
- Có nhất thiết đầu tư công nghệ hiện đại không?
- Các giải pháp công nghệ nào đảm bảo yêu cầu sản xuất trước mắt và lâu dài
Cần xây dựng một lộ trình đổi mới công nghệ bao gồm cải tiến, nâng cấp và khai thác tối đa công suất hiện có, đồng thời thực hiện các khoản đầu tư mới phù hợp với nhu cầu sản xuất và khả năng tài chính Điều này sẽ giúp giảm thiểu tác động đến tình hình sản xuất hiện tại.
- Công nghệ mới phải hiệu quả
Giảm chi phí sản xuất được xem là giải pháp hiệu quả cho các doanh nghiệp hiện nay, bên cạnh việc đầu tư vào công nghệ mới Việc sử dụng năng lượng hiệu quả và giảm chi phí năng lượng trong sản xuất là rất quan trọng, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam như cơ khí chế tạo máy, đông lạnh thủy hải sản, lương thực thực phẩm và hóa chất, nơi công nghệ còn lạc hậu và tiêu hao năng lượng cao Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần đạt các tiêu chuẩn như ISO 9000, HACCP, ISO 14000, trong đó việc sử dụng hợp lý tài nguyên là tiêu chí then chốt.
Các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là vừa và nhỏ, với trình độ công nghệ trung bình, dẫn đến mức tiêu thụ nguyên liệu cao và ô nhiễm môi trường Do đó, các doanh nghiệp cần thực hiện nhiều nhiệm vụ cùng lúc để cải thiện tình hình.
- Đổi mới công nghệ để tăng năng suất và chất lượng
- Giảm chi phí sản xuất
Đề tài xử lý môi trường nhằm mục tiêu tích hợp hài hòa ba vấn đề quan trọng: cải tạo và đổi mới công nghệ, giảm tiêu thụ năng lượng và chi phí sản xuất, cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Cẩm nang lộ trình đổi mới công nghệ sẽ hướng dẫn các doanh nghiệp trong ngành định hướng rõ ràng hơn, tạo tiền đề để đạt được các chứng chỉ về sản xuất và chất lượng, đồng thời giải quyết các vấn đề môi trường hiệu quả.
Nội dung của đề tài
dung chính cụ thể như sau:
- Đánh giá trình độ công nghệ hiện tại của các ngành lựa chọn
- Khảo sát doanh nghiệp, đánh giá hiệu quả sử dụng công nghệ
- Đánh giá nhu cầu sử dụng năng lượng hiện tại của các ngành nêu trên
- Đánh giá suất tiêu hao năng lượng
- Xác định tải lượng các nguồn ô nhiễm
- Xác định các tiềm năng tiết kiệm năng lượng cho từng ngành
- Xác định các giải pháp nhằm hợp lý hoá việc sử dụng năng lượng về mặt quản lý việc sử dụng năng lượng cũng như về mặt công nghệ
- Đưa ra phương hướng hoạt động trong việc cải tạo và đổi mới công nghệ cho từng ngành theo các cấp độ
- Xác định bài toán chi phí lợi ích các phương án đổi mới công nghệ
- Xác định hiệu quả môi trường
- Xây dựng phổ công nghệ phù hợp cho từng vị trí công nghệ, khoảng cách công nghệ của các doanh nghiệp khác nhau trong ngành.
Phương pháp thực hiện
tiến hành khảo sát, điều tra cụ thể tại các doanh nghiệp
- Khảo sát nhằm đánh giá trình độ công nghệ của các doanh nghiệp thuộc các ngành nêu trên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Tiến hành kiểm toán năng lượng để đánh giá nhu cầu sử dụng năng lượng, các tiềm năng tiết kiệm năng lượng cho từng ngành
Nhóm nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp tiết kiệm năng lượng tổng quan cho từng ngành dựa trên kết quả khảo sát đánh giá trình độ công nghệ và kết quả kiểm toán năng lượng.
- Tìm hiểu, cập nhật những công nghệ mới, những thiết bị mới giúp thay đổi công nghệ hay cải tạo công nghệ
Áp dụng các công nghệ mới và giải pháp kỹ thuật vào từng ngành giúp tối ưu hóa quy trình, đồng thời tính toán khả năng tiết kiệm chi phí và thời gian hoàn vốn cho từng giải pháp một cách hiệu quả.
Những khó khăn trong quá trình thực hiện
Nghiên cứu công nghệ trong các ngành cho thấy hầu hết doanh nghiệp không sẵn lòng chia sẻ thông tin chi tiết về công nghệ mà họ đang áp dụng Việc thu thập dữ liệu chính xác về chi phí đầu tư và xu hướng lựa chọn công nghệ từ thực tế của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Để tìm hiểu và cập nhật các giải pháp tiết kiệm năng lượng, nhóm nghiên cứu cần thu thập thông tin và tính toán mức tiết kiệm từ các doanh nghiệp, vì hiện tại họ thiếu thống kê cụ thể về các cải tiến này Với 30 nhà máy thuộc 10 ngành, việc thu thập đầy đủ giải pháp tiết kiệm năng lượng là thách thức lớn; do đó, nhóm phải mở rộng phạm vi thu thập dữ liệu không chỉ ở Tp.HCM mà còn ở các tỉnh thành khác và cả nước ngoài.
Những hạn chế của kết quả
Do số lượng doanh nghiệp khảo sát còn hạn chế, kết quả về suất tiêu hao năng lượng và tiềm năng tiết kiệm năng lượng chưa chính xác Tuy nhiên, con số này vẫn giúp chúng ta hình dung tổng quát về hiện trạng sử dụng năng lượng của các ngành Ngoài ra, việc đánh giá suất tiêu hao năng lượng tại các doanh nghiệp gặp khó khăn, dẫn đến tính chính xác của số liệu theo ngành trong đề tài cũng không cao.
Các giải pháp công nghệ tiết kiệm năng lượng được nhóm tác giả khảo sát cho thấy tính khả thi trong thực tế Tuy nhiên, vẫn còn nhiều giải pháp khác mà nhóm chưa có cơ hội tiếp cận để nghiên cứu.
CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM VÀ THÀNH
1.1 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM:
Điện năng tại Việt Nam được sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm diesel, dầu, khí, than và thủy điện Trong số các nguồn này, thủy điện có tiềm năng phát điện lớn nhất.
Từ năm 1990 đến 2003, tiềm năng phát điện đã có sự thay đổi đáng kể Tuy nhiên, từ năm 2004 đến 2005, các nhà máy nhiệt điện sử dụng khí và dầu đã trở thành nguồn phát điện chính, với tỷ lệ tiềm năng này tăng nhanh từ 11% vào năm 1996 lên 32% vào năm 2005 Đồ thị dưới đây minh họa sự biến động của tiềm năng phát điện từ các nguồn khác nhau trong giai đoạn 1990 đến 2005.
Hình 1.1: Tiềm năng phát điện từ các nguồn
(Theo số liệu cung cấp từ Bộ Công Thương)
Tính đến năm 1990, công suất lắp đặt của các nhà máy điện đạt 2,500GW và tăng lên 11,500GW vào năm 2005 Trong giai đoạn 1990 đến 2001, các nhà máy thủy điện chiếm hơn 50% tổng công suất Đồng thời, công suất lắp đặt của các nhà máy nhiệt điện cũng gia tăng, từ 12% tổng công suất quốc gia vào năm 1996 lên 32% vào năm 2005.
Import IPP, BOT Diesel Gas Turbines (Oil & Gas) Oil fired
Hình 1.2: Công suất lắp đặt của các nhà máy điện ở các nguồn phát điện khác nhau
(Theo số liệu cung cấp từ Bộ Công Thương)
Tiêu thụ than ở Viêt Nam tăng 38 triệu tấn, từ 7.82 triệu tấn năm 1995 lên đến 45.84 triệu tấn vào năm 2006, đạt tỷ lệ tăng trưởng trung bình năm là 17.4%
Cùng thời kỳ này, tiêu thụ than nội địa tăng 11.06 triệu tấn (tỷ lệ tăng trưởng trung bình năm là 11.2%)
Xuất khẩu than tăng rất nhanh so với nhu cầu than nội địa, tăng 26.96 triệu tấn (tỷ lệ tăng trưởng trung bình năm là 23.9%)
Hình 1.3: Tiêu thụ than theo từng ngành từ 1995 đến 2006
(Theo số liệu cung cấp từ Bộ Công Thương)
Export: Others Export: VINACOMIN Domestic: Others Domestic: Paper & Pulp Domestic: Fertiliser Domestic: Cement
Trữ lượng dầu và khí tự nhiên của Việt Nam chủ yếu nằm ở miền Bắc, với tổng trữ lượng khoảng 24 triệu tấn cho mỗi loại Đặc biệt, khu vực Cửu Long sở hữu trữ lượng lớn nhất, đạt 360 triệu tấn dầu tương đương.
Lượng dầu khai thác được tăng 16 lần từ năm 1982 đến 2004, từ 25 triệu tấn vào năm
1982 lên đến 400 triệu tấn năm 2004 Trong cùng thời kỳ, khí tăng 18.5 lần, từ 20 triệu tấn lên đến 370 triệu tấn
Hình 1.4: Dầu và khí khai thác được từ năm 1982 đến 2004
(Theo số liệu cung cấp từ Bộ Công Thương)
Nhu cầu năng lượng cho công nghiệp nhẹ sẽ tăng nhanh vì đây là ngành dẫn đầu trong sự tăng trưởng kinh tế
Lĩnh vực giao thông vận tải sẽ giảm nhu cầu năng lượng khi mà xe gắn máy bị hạn chế
Bộ phận dân cư vẫn tiếp tục sử dụng một lượng lớn năng lượng phi thương mại
Hình 1.5: Dự báo nhu cầu năng lượng của Việt nam theo các ngành
(Theo số liệu cung cấp từ Bộ Công Thương)
Theo dự báo từ năm 2010 đến 2025, nhu cầu tiêu thụ điện sẽ tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP, với hệ số đàn hồi điện/GDP lớn hơn 1 Cụ thể, vào năm 2010, nhu cầu điện toàn quốc ước đạt khoảng 112 – 117 tỷ kWh; đến năm 2020, con số này sẽ tăng lên khoảng 294 – 306 tỷ kWh; và dự kiến đến năm 2025, nhu cầu điện sẽ đạt khoảng 432 tỷ kWh.
Trong giai đoạn 2001 – 2010, nhu cầu điện của Việt Nam tăng trưởng bình quân khoảng 14.7 – 15.8%, trong khi giai đoạn 2011 – 2020 mức tăng này giảm xuống còn 8.8 – 10.1% Dự báo từ 2021 đến 2025, tốc độ tăng nhu cầu điện sẽ tiếp tục giảm còn 7.2 – 8% Điện bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng từ 1100 – 1150 kWh vào năm 2010 lên khoảng 2600 – 2700 kWh vào năm 2020, và dự kiến sẽ đạt khoảng 3700 – 3800 kWh vào năm 2025.
Bảng 1.1: Cơ cấu tiêu thụ điện giai đoạn 2000 – 2005
4 Quản lý &T.dùng dân cư 10985.6 12651.1 14333.2 15953.3 17654.6 19831
II Cơ cấu tiêu thụ (%)
4 Quản lý &T.dùng dân cư 49.0 48.9 47.4 45.7 44.5 43.5
(Nguồn: Bộ Công Thương Việt Nam)
⇒ Ta thấy rằng từ năm 2002 trở đi, điện năng tiêu thụ cho ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất trong các ngành
Agriculture.Forestry.& Fishery Industry (Heavy) Industry (Light)
Industry Light Non- C Residentials Non- C
1.1.5 Nhu cầu năng lượng cuối theo các nguồn:
Nhu cầu về gas hóa lỏng và khí tự nhiên, điện sẽ tăng nhanh theo sự hiện đại hóa của công nghiệp và đời sống của người dân
Năng lượng phi thương mại vẫn duy trì một lượng lớn mặc dù đã giảm từ 15% xuống 12%
Hình 1.6: Nhu cầu các dạng năng lượng (Theo số liệu cung cấp từ Bộ Công Thương)
Ngành năng lượng Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây, với tốc độ tăng trưởng cao Tuy nhiên, hiện trạng năng lượng vẫn cần được đánh giá một cách toàn diện.
Các thành phần năng lượng hiện tại đều đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và đất nước Tuy nhiên, lĩnh vực năng lượng ở Việt Nam vẫn còn một số vấn đề tồn đọng cần được giải quyết.
Sản lượng năng lượng hiện tại vẫn còn thấp, với nhiều doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu, dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến môi trường.
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực năng lượng còn thấp, đặc biệt là ngành than và điện
- Việc đầu tư cho lĩnh vực năng lượng vẫn còn thấp so với nhu cầu, gặp nhiều khó khăn trong quá trình đầu tư
Ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng, đặc biệt là điện năng, ở mức cao nhất, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và hiệu quả tại Việt Nam.
1.2 HIỆN TRẠNG TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
Trong giai đoạn 2000 đến 2005, tiêu thụ điện trung bình hàng năm tăng 12.23%, đạt 10,565.24 triệu kWh vào năm 2005 Năm 2006, điện năng tiêu thụ đạt 11,496.08 triệu kWh, và 12,364.92 triệu kWh vào năm 2007 Tỷ lệ tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2005 – 2007 là 8.28% Dự báo điện năng tiêu thụ của toàn thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục gia tăng.
Coal Oil Natural Gas Power Non- C Power Ratio
22,990 triệu kWh và năm 2010, tỷ lệ tăng trưởng trung bình là 14.1%/năm trong giai đoạn
2006 – 2010 Điện năng tiêu thụ cho Tp.HCM là 57,300 triệu kWh vào năm 2020, , tỷ lệ tăng trưởng trung bình là 9.6%/năm trong giai đoạn 2010 – 2020
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NGÀNH
2.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: 2.1.1 Tổng quan: (theo thông tin từ Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh)
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế hàng đầu của Việt Nam, với chỉ 0.6% diện tích và 7.5% dân số cả nước, nhưng đóng góp tới 20.2% tổng sản phẩm quốc nội, 27.9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34.9% dự án đầu tư nước ngoài.
Hồ Chí Minh hiện có 4,344,000 lao động, trong đó có 139 ngàn người ngoài độ tuổi lao động vẫn tham gia làm việc Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người tại thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn quốc là 730 USD/năm vào năm 2006.