1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội doanh nghiệp 04 ngành công nghiệp trọng yếu thành phố hồ chí minh (2010 2018)

223 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 3,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nhiệm vụ nghiên cứu sẽ rất cần thiết, có ý nghĩa vì những lý do sau đây: Đối với việc xây dựng chính sách: Các cấp thẩm quyền nhà nước cần nhận diện, đánh giá xu hướng phát tr

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN

***

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NHIỆM VỤ

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI DOANH NGHIỆP 04 NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2010 – 2018)

Cơ quan chủ trì nhiệm vụ: VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN

Chủ nhiệm nhiệm vụ: PGS.TS VƯƠNG ĐỨC HOÀNG QUÂN

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN

***

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ NHIỆM VỤ

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI DOANH NGHIỆP 04 NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (2010 – 2018) (đã chỉnh sửa theo kết luận của Hội đồng nghiệm thu ngày 9/10/2020)

Chủ nhiệm nhiệm vụ

Vương Đức Hoàng Quân

Cơ quan chủ trì nhiệm vụ

(ký tên và đóng dấu)

Trần Hoàng Ngân

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021

Trang 3

THÔNG TIN NHÓM NGHIÊN CỨU

Thành viên tham gia

Họ và tên, học hàm học vị Tổ chức

công tác

Nội dung công việc tham gia

1 PGS TS Vương Đức Hoàng Quân Viện Nghiên cứu phát triển

thành phố Chủ nhiệm

2 TS Trương Minh Chương

Trường Đại Học Bách Khoa, Đại học Quốc Gia

Tp Hồ Chí Minh

Thành viên chính

3 ThS NCS Nguyễn Văn Tuấn

Trường Đại Học Bách Khoa, Đại học Quốc Gia

Tp Hồ Chí Minh

Thành viên chính

6 ThS Nguyễn Nguyên Phương Sở Công thương thành

phố

Thành viên chính

7 ThS Ngô Lan Chi Văn phòng Hội đồng nhân

dân thành phố

Thành viên chính

8 ThS Phạm Bình An Viện Nghiên cứu phát

triển thành phố

Thành viên chính

9 CN Võ Văn Tấn Viện Nghiên cứu phát triển thành phố Thành viên chính

10 ThS Nguyễn Thị Huỳnh Mai Viện Nghiên cứu phát

triển thành phố.

Thư ký

Cộng tác viên: Đội ngũ viên chức tại Trung tâm Phát triển Công nghiệp Hỗ trợ thành phố

Hồ Chí Minh thuộc Sở Công thương thành phố và nhóm sinh viên khoa Quản lý công nghiệp của trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ quá trình khảo sát

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT 01

1 Sản xuất công nghiệp của Thành phố 02

2 Sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nhiệm vụ 04

II MỤC TIÊU CỦA NHIỆM VỤ 06

III GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 08

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 08

1 Các hoạt động phục vụ nội dung nghiên cứu của nhiệm vụ 08

2 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 08

2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 08

2.2 Quy trình thực hiện nghiên cứu 09

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP 12

I LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP 12

II LÝ THUYẾT VỀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 17 III NĂNG LỰC CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC DẠNG NĂNG LỰC CỦA DOANH NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN CẠNH TRANH 24

* Lý thuyết năng lực (organizational capability theory) (Day, 1994)(Garzarelli, 2006) 24

IV SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP 26

1 Lý thuyết chuỗi cung ứng (Cooper ctg., 1997) 26

2 Lý thuyết quản lý tri thức (Nonaka & Takeuchi, 1995; Nonaka & Toyama, 2003) 27

3 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh 28

V CÁC LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP 29

VI KHUNG NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 31

1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài 31

2 Các công trình nghiên cứu trong nước 33

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BỐN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI

ĐOẠN 2011- ĐẾN NAY VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN 37

I NGÀNH CƠ KHÍ 37

1 Thực trạng và tình hình phát triển ngành cơ khí thành phố 37

1 1 Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm trên địa bàn thành phố 37

1.2 Số lượng lao động 38

1.3 Các dự án đầu tư 39

1.4 Giá trị sản xuất công nghiệp, tỉ trọng ngành cơ khí 41

1.5 Sản phẩm 43

1.6 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 44

1.6.1 Thị trường trong nước 44

1.6.2 Thị trường xuất – nhập khẩu……… ……… …44

1.7 Nhóm chuyên ngành được ưu tiên phát triển……… ………… ….45

1.7.1 Cơ khí Ô tô……… ……… …… 45

1.7.2 Cơ khí đóng tàu 46

1.7.3 Cơ khí sản xuất thiết bị kỹ thuật điện 46

1.7.4 Cơ khí phục vụ nông – lâm – ngư – nghiệp và máy chế biến 46

2 Những khó khăn, hạn chế ngành cơ khí 47

3 Xu hướng phát triển ngành cơ khí trong thời gian tới 50

3.1 Chiến lược phát triển ngành cơ khí 50

3.2 Nhóm chuyên ngành được khuyến khích phát triển 50

3.3 Nhóm chuyên ngành phát triển theo thị trường 51

3.4 Giải pháp phát triển ngành cơ khí 52

II NGÀNH CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC – THỰC PHẨM 53

1 Thực trạng ngành chế biến lương thực – thực phẩm 53

1.1 Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm trên địa bàn thành phố 53

1.2 Số lượng lao động 54

1.3 Giá trị sản xuất công nghiệp, tỉ trọng ngành chế biến Lương thực – Thực phẩm 54

Trang 6

1.4 Sản phẩm 56

1.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 58

1.5.1 Thị trường trong nước 58

1.5.2 Thị trường xuất khẩu 59

1.6 Công tác đầu tư 59

2 Những khó khăn, hạn chế của ngành lương thực – thực phẩm 61

3 Xu hướng phát triển ngành chế biến lương thực thực phẩm 64

3.1 Xu hướng phát triển 64

3.2 Chiến lược phát triển Ngành chế biến Lương thực – Thực phẩm 65

3.3 Mục tiêu phát triển doanh nghiệp ngành Chế biến Lương thực – Thực phẩm 66

3.4 Giải pháp phát triển ngành Chế biến Lương thực – Thực phẩm trên địa bàn thành phố 67

III NGÀNH HÓA CHẤT – NHỰA – CAO SU 71

1 Thực trạng và tình hình phát triển ngành Hóa chất – nhựa – cao su thành phố 71

1.1 Số lượng cơ sở đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm trên địa bàn thành phố 71

1.2 Số lượng lao động 72

1.3 Giá trị sản xuất công nghiệp, tỉ trọng ngành Hóa chất - nhựa - cao su 73

1.4 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 76

1.5 Công tác đầu tư 77

2 Những khó khăn, hạn chế của các doanh nghiệp ngành Hóa chất - nhựa - cao su 78

3 Xu hướng phát triển ngành Hóa chất - nhựa - cao su 79

IV NGÀNH ĐIỆN TỬ - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 82

1 Thực trạng và tình hình phát triển ngành Điện tử - Công nghệ thông tin từ năm 2011 - 2018 82

1.1 Vai trò của ngành Điện tử - Công nghệ Thông tin trong sản xuất công nghiệp thành phố 83

1.2 Số lượng doanh nghiệp 83

1.3 Quy mô vốn 85

1.4 Lao động 86

1.5 Doanh thu 87

Trang 7

1.6 Giá trị sản xuất công nghiệp (IIP) 88

1.7 Giá trị gia tăng 89

1.8 Sản phẩm và thị trường xuất – nhập khẩu của ngành Điện tử - CNTT……… 89

2 Những khó khăn, hạn chế của ngành Điện tử - Công nghệ thông tin 91

3 Xu hướng tăng trưởng của ngành Điện tử - Công nghệ thông tin tại thành phố ….92

3.1 Phân tích lợi thế so sánh của Thành phố Hồ Chí Minh trong việc phát triển ngành Điện tử - Công nghệ thông tin 93

3.2 Định hướng quy hoạch 95

3.3 Chiến lược phát triển ngành điện tử - công nghệ thông tin thành phố …96

V XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA 04 NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2011 –2018 97

1 Định hướng phát triển công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2018 97

2 Tình hình phát triển công nghiệp trong thời gian qua 98

2.1 Tình hình công nghiệp chung 98

2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội 04 ngành công nghiệp trọng yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua 100

2.2.1 Ngành Cơ khí (chiếm tỷ trọng 19,41%) 106

2.2.2 Ngành chế biến lương thực, thực phẩm (chiếm tỷ trọng 17,67%) 111

2.2.3 Ngành Hóa chất – Nhựa – Cao su (chiếm tỷ trọng 15,75%) 113

2.2.4 Ngành Điện tử - Công nghệ thông tin (chiếm tỷ trọng 14,91%)……… 116

VI NHỮNG NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA 04 NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 117

1 Mặt đạt được và nguyên nhân 117

1.1 Mặt đạt được 117

1.2 Nguyên nhân đạt được 119

2 Những hạn chế và nguyên nhân 120

2.1 Những hạn chế 120

2.2 Nguyên nhân 120

Trang 8

CHƯƠNG 3: NHẬN DIỆN CÁC YẾU TỐ BÊN TRONG, BÊN NGOÀI TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP CÁC NGÀNH

CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU 123

1 Cách thức thu thập dữ liệu 123

2 Khung lấy mẫu 127

3 Các thức lấy mẫu 128

4 Kết quả nghiên cứu định lượng 128

5 Kiểm định thang đo cho các khái niệm 129

6 Giá trị trung bình của các khái niệm 131

7 Kiểm định các thang đo 132

8 Mức độ nhận thức và ứng dụng các công nghệ 4.0 157

CHƯƠNG 4: NHẬN DIỆN CÁC YẾU TỐ NỘI BỘ CỦA DOANH NGHIỆP, MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP BỐN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 165

I HIỆN TRẠNG, XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ SẢN PHẨM CỦA MỖI NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU DỰA VÀO TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ NỘI BỘ, MÔI TRƯỜNG VÀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI MỖI NGÀNH CÔNG NGHIỆP 165

1 Tình hình công nghiệp chung 165

2 Tình hình phát triển 04 ngành công nghiệp trọng yếu 166

II TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP, NGÀNH CÔNG NGHIỆP 170

1 Các chính sách quản lý nhà nước và các giải pháp quản lý nhà nước 170

2 Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước và các giải pháp quản lý nhà nước để nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp, ngành công nghiệp 172

III ĐỀ XUẤT CÁC HÀM Ý QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ CÁC ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH HAY XÂY DỰNG CÁC CHÍNH SÁCH MỚI CỦA NHÀ NƯỚC ĐỂ TIẾP TỤC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU 179

1 Định hướng phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu hiện nay 179

2 Đề xuất phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu 183

Trang 9

2.1 Tiêu chí xác định các ngành công nghiệp ưu tiên phát triển 183

2.2 Lựa chọn các ngành công nghiệp ưu tiên 184

IV CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP BỐN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG YẾU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 188

1 Tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 189

2 Cơ cấu lại dựa trên ứng dụng công nghệ cao 192

3 Tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ 195

4 Tiếp tục tập trung nguồn vốn để triển khai thực hiện các dự án đầu tư mang tính trọng điểm 195

KẾT LUẬN 197

TÀI LIỆU THAM KHẢO 200

BẢNG KHẢO SÁT 206

***

Trang 10

MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT

Thành phố Hồ Chí Minh là một Thành phố lớn trong cả nước với dân số đến thời điểm 23/01/2019 là 8.859.688 người, tăng 64.823 người so với thời điểm 30/6/2018

Trong những năm qua, kinh tế thành phố tiếp tục phát triển Trong 9 tháng đầu năm 2017 tổng sản phẩm trên địa bàn đạt 775.874 tỷ đồng, tăng 8% (cùng kỳ tăng 7.76%), trong đó khu vực dịch vụ tăng 7,7%, công nghiệp và xây dựng tăng 7,7%, nông nghiệp tăng 6.2% Về cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm địa bàn, khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 57,2%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,1%, khu vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng 0,7% Tính đến tháng 6/2017, chỉ số phát triển công nghiệp của Thành phố ước tăng 7,51% so với cùng kỳ (Báo cáo của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về tình hình kinh tế xã hội quốc phòng an ninh, thu chi ngân sách Thành phố tháng 8 năm 2017)

Theo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, trong giai đoạn 2011-2015, kinh

tế Thành phố tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, GRDP bình quân đạt 9,6%/năm, gấp 1,63 lần bình quân chung của cả nước Năm 2016, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,05%, gấp 1,3 lần cả nước GRDP bình quân quân đầu người đạt 5.122 USD/người, gấp 2,37 lần bình quân cả nước Chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và đúng hướng Kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 295 tỷ USD, năm 2016 đạt gần 70 tỷ USD, chiếm 18% cả nước Thành phố hiện có hơn bảy nghìn dự án đầu tư nước ngoài (FDI) từ hơn 90 quốc gia, vùng lãnh thổ còn hiệu lực với tổng vốn đầu

tư hơn 42 tỷ USD (Lâm, 2017) Cơ cấu kinh tế Thành phố đã có sự dịch chuyển

từ năm 2003 sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Thành phố cũng là một nơi

có số doanh nghiệp lớn nhất nước, nhất là khu vực kinh tế tư nhân Năm 2016, số doanh nghiệp của Thành phố chiếm 34% tổng số doanh nghiệp trong cả nước (Lâm, 2017)

Trang 11

Sự phát triển kinh tế của Thành phố là một động lực thúc đẩy sự phát triển vùng kinh tế trong điểm phía Nam Thành phố đã hỗ trợ và hợp tác với rất nhiều tỉnh, thành trong cả nước để phát triển kinh tế

1 Sản xuất công nghiệp của thành phố

Số doanh nghiệp đăng ký mới trong lĩnh vực công nghiệp chế biến trong

10 tháng đầu năm 2018 là 13.526 doanh nghiệp (Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, 2018) Vốn đầu tư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cho các ngành công nghiệp trọng yếu tiếp tục tăng Vốn đầu tư cho các ngành công nghiệp chế biến là cao nhất, vốn đầu tư cho các hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ cao thứ nhì Vốn đầu tư cho thông tin truyền thông đứng hàng thứ ba và sau cùng là vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo Tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Thành phố đã có sự tăng liên tục mạnh mẽ từ năm 2004 đến

2018

Trong các ngành công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh, có bốn ngành được chọn là ngành công nghiệp trọng yếu Đó là các ngành thực phẩm, cao su hóa nhựa dược, cơ khí và viễn thông công nghệ thông tin Tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các ngành công nghiệp trong quý I/2019 là 56.692 tỷ đồng Giá trị sản xuất công nghiệp của các ngành công nghiệp trọng yếu trong quý 1/2019 tăng 6,82% so với cùng kỳ trước Ngành chế biến lương thực thực phẩm đồ uống tăng 5,02%, ngành hóa dược tăng 0,81%, ngành điện tử tăng 28,12%, ngành cơ khí tăng 3,46% (Cục Thống Kê Tp Hồ Chí Minh, 2019) Chỉ số sản xuất công nghiệp của 04 ngành công nghiệp trọng yếu được trình bày trong Bảng 1

Trang 12

(Nguồn: Cục Thống Kê Tp HCM, 2019)

Bảng Chỉ số sản xuất của 04 ngành công nghiệp trọng yếu

Các doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh tuy phát triển mạnh nhưng vẫn đang đối mặt với nhiều thử thách Sự cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước ngày càng mạnh mẽ khi nền kinh tế Việt Nam tích hợp vào nền kinh tế khu vực và thế giới Trình độ khoa học công nghệ của các doanh nghiệp còn thấp, liên kết giữa doanh nghiệp và Trường/viện nghiên cứu chưa chặt chẽ Hoạt động nghiên cứu phát triển chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức trong các doanh nghiêp Sự đổi mới sáng tạo cũng chưa cao Năng lực cạnh tranh của sản phẩm còn thấp vì thương hiệu chưa mạnh và người tiêu dùng vẫn còn chuộng thương hiệu nước ngoài Phần lớn các doanh nghiệp vẫn là nhỏ về quy

Trang 13

Chính quyền Thành phố đã triển khai tiếp tục các giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và đã xây dựng các hệ sinh thái cho các ngành công nghiệp

Tuy nhiên, các sản phẩm công nghiệp của Tp Hồ Chí Minh vẫn chưa thâm nhập được nhiều vào các thị trường quốc tế Ngược lại, một số sản phẩm, đặc biệt là thực phẩm chế biến vẫn đang được nhập rất nhiều từ các nhà sản xuất nước ngoài Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp của Thành phố chưa cao và sự cạnh tranh đang diễn ra ngay tại sân nhà

2 Sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nhiệm vụ

Định hướng cần ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp cụ thể đã được đặt ra ngay từ Đại hội Đảng bộ Tp Hồ Chí Minh lần thứ VI về phương hướng nhiệm vụ của thời kỳ 1996-2000 Đến Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ VII (2005-2010), việc nhận diện trở nên rõ nét hơn với các ngành công nghiệp “tập trung đầu tư bằng nhiều nguồn vốn và nhiều hình thức để có tốc độ tăng trưởng nhanh đối với một số ngành công nghệ cao, như công nghiệp điện

tử - viễn thông, ứng dụng công nghệ sinh học Đồng thời tiếp tục khuyến khích đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, mở rộng thị phần xuất khẩu đối với 4 nhóm sản phẩm chủ lực đang còn lợi thế cạnh tranh, chiếm tỷ trọng lớn trong

cơ cấu giá trị (chế biến lương thực, thực phẩm; các sản phẩm hoá chất, cao su, plastic; dệt – da, may; sản phẩm cơ khí và kim loại) để vừa ổn định tốc độ tăng trưởng, vừa giải quyết việc làm cho người lao động ” Định hướng này được tiếp tục xem trọng trong Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ Thành phố lần VIII nhiệm kỳ 2006-2010,và nhất là xác định cụ thể tại Đại hội Đảng bộ Thành phốlần IX nhiệm kỳ 2010-2015 với sự khẳng định “… tiếp tục tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao (cơ khí; điện tử - công nghệ thông tin; hóa dược - cao su; chế biến tinh lương thực thực phẩm)” Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần X nhiệm

kỳ 2016-2020, một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu được xác định

đã được đặt ra là tạo sự đột phá trong nâng cao chất lượng và năng lực cạnh

Trang 14

tranh và trong đó, Thành phố “tiếp tục tập trung phát triển 4 nhóm ngành công nghiệp trọng yếu” Như vậy, có thể nói từ Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ

VI đến nay, định hướng tập trung phát triển một số ngành công nghiệp là xuyên suốt và ngày một cụ thể hóa

Sự nhất quán đó là hết sức cần thiết, tuy nhiên, những tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới, và những phát triển vượt bực của thực tiễn Thành phố và đất nước trong những năm qua, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu khách quan hết sức cần thiết là đánh giá một cách khoa học những hiệu quả kinh tế - xã hội của 04 ngành công nghiệp trọng yếu đã được xác định tại Đại hội Đảng bộ Thành phố lần X (2010-2015)

Do đó, nhiệm vụ nghiên cứu sẽ rất cần thiết, có ý nghĩa vì những lý do sau đây:

Đối với việc xây dựng chính sách:

Các cấp thẩm quyền nhà nước cần nhận diện, đánh giá xu hướng phát triển của các ngành công nghiệp trong thời gian qua, so sánh sự phát triển tương đối giữa các ngành công nghiệp, hiệu quả kinh tế xã hội của các ngành và doanh nghiệp trong các ngành để từ đó có thể điều chỉnh định hướng phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu, điều chỉnh hay xây dựng các chính sách mới để tiếp tục hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu, đặc biệt là phát triển thị trường xuất khẩu

Đối với sự phát triển của các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp:

Các nhà quản lý doanh nghiệp cũng cần hiểu rõ hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp và xu hướng phát triển của hiệu quả của doanh nghiệp, các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp Từ đó, các nhà quản lý doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp sẽ có thể nhận diện các yếu điểm của doanh nghiệp, xây dựng phương án phát triển năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp

Đối với nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu:

Trang 15

Viện Nghiên cứu phát triển thành phố với vai trò tham mưu chính sách, chiến lược cho lãnh đạo thành phố cũng cần đánh giá sự phát triển của các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua, đánh giá lại vai trò của các ngành công nghiệp trọng yếu này trong sự phát triển kinh tế của thành phố, tác động của các chính sách quản lý nhà nước đối với sự phát triển của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp này, để có thể tham mưu cho Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố ban hành hay điều chỉnh các chính sách để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong các ngành này

Đối với phát triển lĩnh vực khoa học có liên quan

Về mặt nghiên cứu khoa học, nghiên cứu này cũng đóng góp cho khoa học quản lý tổ chức Khung phân tích và mô hình nghiên cứu sẽ giải thích sự phát triển của doanh nghiệp dưới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài (thể chế, môi trường) của doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh của nền kinh tế đang phát triển

II MỤC TIÊU CỦA NHIỆM VỤ

Đề tài có ba mục tiêu tổng quát sau đây:

Đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của 04 ngành công nghiệp trọng yếu và phân tích tác động của các yếu tố bên trong, bên ngoài (môi trường) của doanh nghiệp, các yếu tố quản lý nhà nước đến kết quả này

Đề xuất các điều chỉnh hay xây dựng mới chính sách để nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng yếu

Đề xuất các hàm ý quản trị để doanh nghiệp trong 04 ngành công nghiệp trọng yếu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp

Để đạt được ba nội dung tổng quát như trên, nhiệm vụ được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

Trang 16

(1) Hiện trạng hiệu quả kinh tế xã hội của 04 ngành công nghiệp trọng yếu ra sao?

(2) Các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh tế xã hội của các doanh nghiệp công nghiệp trọng yếu là những yếu tố nào?

(3) Các chính sách của nhà nước đã tác động ra sao đến hiệu quả kinh tế

xã hội của doanh nghiệp trong 04 ngành công nghiệp trọng yếu này?

(4) Để nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của bốn ngành công nghiệp trọng yếu này các chính sách nào của nhà nước cần được xem xét hoàn chỉnh hơn hay cần được đề xuất mới?

(5) Các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng yếu cần làm gì để nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp?

Mục tiêu cụ thể của nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

a) Đánh giá xu hướng phát triển, tốc độ phát triển trong thời gian qua và hiệu quả kinh tế xã hội hiện nay của các ngành công nghiệp trọng yếu, các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp và các phân ngành của mỗi ngành

b) Nhận diện tác động của một số chính sách của Nhà nước và các cấp thẩm quyền thành phố Hồ Chí Minh đến hiệu quả kinh tế xã hội của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố Hồ Chí Minh

c) Nhận diện các yếu tố nội bộ, các yếu tố bên ngoài (môi trường) của doanh nghiệp tác động đến hiệu quả kinh tế xã hội của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố Hồ Chí Minh

d) Đề xuất một số điều chỉnh hay xây dựng chính sách mới của quản lý nhà nước để nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội cho các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng yếu

đ) Đề xuất một số hàm ý quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

III GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu có tính tập trung cao và đóng góp thiết thực cho việc xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu và sự phát triển công nghiệp của thành phố, nghiên cứu này sẽ giới hạn đối tượng khảo sát là các doanh nghiệp công nghiệp trong bốn ngành công nghiệp trọng yếu (ngành hóa nhựa cao su, chế biến tinh lương thực thực phẩm, cơ khi chế tạo máy, điện tử)

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Các hoạt động phục vụ nội dung nghiên cứu của nhiệm vụ

- Sưu tầm/dịch tài liệu phục vụ nghiên cứu (các tài liệu chính)

- Hội thảo/toạ đàm khoa học (số lượng, chủ đề, mục đích, yêu cầu): 01 hội thảo nhằm báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu và lấy ý kiến về các giải pháp đề xuất của nhóm nghiên cứu

- Khảo sát/điều tra thực tế tại thành phố Hồ Chí Minh (quy mô, địa bàn, mục đích/yêu cầu, nội dung, phương pháp): Khảo sát doanh nghiệp bằng bảng khảo sát với câu hỏi đóng để thu thập dữ liệu sơ cấp về hiệu quả kinh tế xã hội của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng điểm Phỏng vấn một số doanh nghiệp về tác động của các chính sách quản lý nhà nước đến hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp và ngành công nghiệp

2 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

Để thực hiện nội dung nghiên cứu, các phép tiếp cận sau đây được sử dụng:

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk research): Được dùng để tổng quan các lý thuyết để xây dựng các khung và mô hình nghiên cứu;

- Phương pháp phân tích định lượng thống kê: Để đánh giá xu hướng, tốc độ phát triển của mỗi ngành và các phân ngành trong mỗi ngành, sự so sánh tốc độ phát triển của các ngành và các phân ngành trong mỗi ngành Phương

Trang 18

pháp thống kê cũng được dùng để đánh giá quan hệ giữa các yếu tố nội bộ, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp tác động đến hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp; Mẫu được lấy theo phương pháp thuận tiện

- Phương pháp định tính tường thuật và phương pháp chuyên gia: Được dùng để phân tích và đánh giá sâu tác động của các chính sách quản lý nhà nước

và của các cấp thẩm quyền thành phố Hồ Chí Minh đến hiệu quả kinh tế xã hội, các yếu tố nội bộ, môi trường của doanh nghiệp, ngành công nghiệp Một số cuộc phỏng vấn đối với lãnh đạo doanh nghiệp, các Sở Ngành có liên quan

sẽ được thực hiện

2.2 Quy trình thực hiện nghiên cứu

Quy trình thực hiện nghiên cứu được trình bày trong Hình 1 Từ mục tiêu, nội dung nghiên cứu và khung/mô hình nghiên cứu, danh mục các dữ liệu

sơ cấp và thứ cấp sẽ được lập

Trang 19

Quy trình nghiên cứu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng điểm Doanh nghiệp bao gồm các loại hình sở hữu khác nhau như doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, các công ty liên doanh Doanh nghiệp ở các ngành cấp 1 và 2 của các ngành công nghiệp Dữ liệu từ các nhóm doanh nghiệp khác nhau sẽ giúp đánh giá sự khác biệt về kết quả nghiên cứu giữa các nhóm này Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các thống

kê của Cục Thống kê hay của các Sở/Ban Ngành của thành phố Hồ Chí Minh

Dữ liệu sơ/thứ cấp, sau khi được thu thập, sẽ được phân tích riêng Các kết quả

Mục tiêu nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết (Khung & mô hình nghiên cứu)

Cơ sở lý thuyết (Khung & mô hình nghiên cứu)

(Phân tích xu hướng, tốc độ phát triển,

hiệu quả … của các ngành công nghiệp)

Xử lý dữ liệu sơ cấp (Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố nội bộ, môi trường đến hiệu quả KTXH doanh

nghiệp…) Phân tích, đánh giá hiệu quả của các

ngành công nghiệp

Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nội

bộ, môi trường đến hiệu quả KTXH doanh nghiệp

Thiết kế mục tiêu, nội dung và phương pháp phân tích dữ liệu phỏng vấn các doanh

nghiệp, các Sở/ban ngành (phân tích sâu tác động của các chính sách quản lý nhà

nước, các yếu tố nội bộ , môi trường đến hiệu quả KTXH doanh nghiệp)

Phân tích dữ liệu phỏng vấn

Nhận diện hiệu quả KTXH các ngành công nghiệp, các doanh nghiệp trong

các ngành và các yếu tố tác động đến hiệu quả đó

Xây dựng báo cáo nghiên cứu

Trang 20

phân tích sẽ được tích hợp lại để nhận diện hiệu quả các ngành công nghiệp, xu hướng, tốc độ phát triển của hiệu quả ngành, hiệu quả của doanh nghiệp, các yếu tố bên trong, bên ngoài của doanh nghiệp tác động đến hiệu quả doanh nghiệp (mục tiêu tổng quát 1) Từ đó, các phỏng vấn sâu đối với doanh nghiệp để nhận diện tác động của chính sách quản lý nhà nước đến các yếu tố nội bộ, hiệu quả doanh nghiệp sẽ được thực hiện (mục tiêu tổng quát 2) Kết quả của các cuộc phỏng vấn sâu sẽ làm rõ hơn các kết quả nghiên cứu định lượng bên trên Từ tất cả các kết quả phân tích nêu trên, các chính sách quản lý nhà nước để hỗ trợ phát triển ngành, doanh nghiệp trong ngành sẽ được đề xuất (mục tiêu tổng quát 3)

Trang 21

CHƯƠNG I

LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI

CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP

I LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP

Hiệu quả kinh tế - xã hội của ngành công nghiệp

Các doanh nghiệp công nghiệp chịu tác động của các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh như sự phân bổ nguồn nguyên vật liệu, vật tư, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, năng lực/năng suất sản xuất của dây chuyền thiết bị, tri thức thị trường, tri thức khách hàng, sự tích hợp của sản phẩm vào chuỗi cung ứng, các yếu tố logistics …Các nhà quản lý của các doanh nghiệp công nghiệp luôn cố gắng dựa vào tri thức khách hàng, thị trường để thiết kế sản phẩm, phát triển/phối hợp các nguồn tài nguyên, năng lực/năng suất dây chuyền sản xuất và phân bổ các nguồn nhân lực để sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, khách hàng tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp Để đánh giá kết quả thực hiện công việc quản lý của mình, các nhà quản lý luôn quan tâm đến việc

đo lường kết quả thực hiện này

Kết quả thực hiện của doanh nghiệp có thể được đo thông qua các đầu ra (outputs) của doanh nghiệp như doanh thu, thị phần, thị trường, sự phát triển quy mô của doanh nghiệp, các chỉ số tài chính, lãi/lỗ của doanh nghiệp Các giá trị này có thể được đo bằng các dữ liệu khách quan từ chính doanh nghiệp hay bằng cảm nhận của nhà quản lý doanh nghiệp khi so sánh kết quả của doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành Phép tiếp cận này thường được sử dụng trong các nghiên cứu quản lý tổ chức (Andy Neely, 2004)

Kết quả thực hiện của doanh nghiệp cũng có thể được đo thông qua việc

so sánh giá trị giữa đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp Kết quả của sự so sánh này thường được gọi là hiệu suất (efficiency) thực hiện của doanh nghiệp Phép

Trang 22

tiếp cận này thường được sử dụng trong các nghiên cứu kinh tế vĩ mô, các ngành công nghiệp, kinh tế các vùng địa lý…để so sánh tương đối giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, giữa các vùng địa lý với cùng điều kiện

tự nhiên, xã hội hay so sánh lợi ích giữa các phương án khác nhau để khai thác các nguồn tài nguyên (Andy Neely, 2004)

Đối với góc nhìn quản lý nhà nước, kết quả thực hiện của các doanh nghiệp sẽ tạo các tác động đến kinh tế, xã hội của vùng Các tác động này được

kỳ vọng là tích cực, đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế của địa phương, tạo

ra việc làm, thu nhập tăng cao cho người lao động…,và thường được gọi là hiệu quả kinh tế - xã hội (Andy Neely, 2004)

Do đó, hiệu quả kinh tế - xã hội của doanh nghiệp trong bài nghiên cứu này được hiểu là các tác động của các đầu ra của doanh nghiệp đối với kinh tế

xã hội của Thành Phố Hồ Chí Minh

Quan hệ giữa ba khái niệm trên được trình bày trong Hình 1

Hình 1: Quan hệ giữa các đầu ra, hiệu suất và hiệu quả kinh tế - xã hội

Do đó, để đánh giá toàn diện về kết quả hoạt động của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp trọng yếu, cần thiết phải đánh giá các đầu ra và hiệu quả kinh tế xã hội do các doanh nghiệp trong ngành tạo ra Các đầu ra của doanh nghiệp sẽ tạo hiệu quả kinh tế - xã hội của doanh nghiệp trong ngành Các đầu ra được tạo ra từ các yếu tố nội bộ của doanh nghiệp Do đó, nghiên cứu các yếu tố nội bộ của doanh nghiệp để giải thích các đầu ra của doanh nghiệp và các đầu ra của doanh nghiệp sẽ giải thích hiệu quả kinh tế - xã hội của doanh nghiệp

Doanh

nghiệp

Các đầu ra của doanh nghiệp (Outputs) Hiệu suất (Efficiency)

Hiệu quả kinh tế xã hội địa phương (Impacts on regional Socio Economy)

Trang 23

Hiệu quả kinh tế - xã hội của một ngành công nghiệp là mức độ đạt được các mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp về mặt kinh tế - xã hội

Để đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của một ngành công nghiệp theo thang đo khách quan, Cộng đồng Âu Châu đã sử dụng bộ 10 tiêu chí khách quan bao gồm trong 5 góc nhìn như sau (Peneder, 2014):

1 Sự tăng trưởng của doanh nghiệp (Growth) được đo thông qua hai tiêu chí:

- Sự tăng trưởng của giá trị gia tăng: Chỉ số này chỉ rõ sự thành công về mặt kinh tế của doanh nghiệp

- Sự tăng trưởng của số việc làm hay giờ lao động: Chỉ số này chỉ rõ sự thành công trong việc huy động nguồn lao động và khả năng cung cấp việc làm cho người lao động

2 Năng suất (Productivity) được đo thông qua 2 tiêu chí:

- Năng suất lao động: Là tỷ số giữa đầu ra (hay tổng giá trị gia tăng) đối với đầu vào (số việc làm hay số giờ lao động)

- Năng suất đa yếu tố (Multifactor productivity – MFP): Đây là chỉ số đo lường có tính toàn diện về kết quả thực hiện của doanh nghiệp dựa trên tổng các thu nhập (return) trên tổng các đầu vào

3 Lợi nhuận (Profit) được đo thông qua 2 tiêu chí:

- Biên lợi nhuận ròng (Net profit margin): Chỉ số này chỉ ra sự hiệu quả của việc chuyển doanh thu thành lợi nhuận Chỉ số này là tỷ số của doanh thu thuần sau thuế (after tax revenue net) của những hạng mục đặc biệt (extraordinary items) và các thuế đi cùng với nó so với doanh thu

- Doanh thu trên tài sản (Return on Asset – ROA): Chỉ số này thể hiện tỷ

lệ lợi nhuận ròng sau thuế của các hạng mục đặc biệt so với tổng tài sản Chỉ

Trang 24

số này thể hiện hiệu quả của doanh nghiệp khi chuyển các đầu tư hiện tại thành lợi nhuận ròng

4 Kinh doanh quốc tế (International Trading) được đo thông qua 2 tiêu chí:

- Lợi thế so sánh (Revealed Comparative Advantage – RCA): Là logarith của quan hệ xuất khẩu-nhập khẩu của ngành so với xuất khẩu – nhập khẩu của tất cả các ngành Nếu RAC là dương ngành có lợi thế so sánh Ngược lại nếu RCA âm, ngành không có lợi thế so sánh

- Thị phần xuất khẩu: Chỉ số này phản ảnh năng lực đáp ứng nhu cầu xuất khẩu hay khả năng mở thị trường xuất khẩu khi so với các đối thủ cạnh tranh

5 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) được đo thông qua 2 tiêu chí:

- Tỷ số của FDI tích lũy (Inward FDI stock) so với giá trị gia tăng

- Tỷ số của FDI outward tích lũy (Outward FDI stock) so với giá trị gia tăng

Thang đo của Cộng Đồng Châu Âu nêu trên là thang đo tốt để đo lường hiệu quả kinh tế xã hội của ngành công nghiệp Tuy nhiên, sau khi tham khảo các báo cáo thống kê đã công bố của Cục Thống kê thành phố Hồ Chí Minh và sau khi tham khảo ý kiến của các doanh nghiệp, điều được nhận ra là nhiều dữ liệu cần cho việc đo lường hiệu quả kinh tế xã hội theo thang đo bên trên là không có sẳn và rất khó thu thập từ các doanh nghiệp vì tính nhạy cảm của dữ liệu cũng như việc không theo dõi và lưu trữ dữ liệu này tại các doanh nghiệp

Do đó, để đảm bảo tính khả thi trong việc đo lường hiệu quả kinh tế xã hội của ngành công nghiệp, dựa trên thang đo của Cộng Đồng Châu Âu và các

phân tích nêu trên, hiệu quả kinh tế xã hội của ngành công nghiệp được đo

thông qua hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp với các biến quan sát như sau:

Trang 25

Hiệu quả kinh tế của ngành công nghiệp:

Trong ba năm qua, doanh nghiệp của Anh/Chị:

1 Có doanh số tăng liên tục

2 Có lợi nhuận tăng liên tục

3 Có lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) tăng liên tục

4 Có lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) tăng liên tục

5 Có sự tăng liên tục vị thế cạnh tranh trên thị trường

Hiệu quả xã hội của ngành công nghiệp

6 Có tổng số nhân viên tăng liên tục

7 Có sự tăng liên tục lương bình quân của một nhân viên trong doanh nghiệp

8 Đóng góp ngày càng nhiều cho các chương trình phát triển cộng đồng, xã hội, công ích

9 Đóng góp ngày càng nhiều cho Hiệp hội nghề nghiệp mà doanh nghiệp tham gia

10 Đã tạo được sự gắn kết ngày càng chặt chẽ với cộng đồng

Các chỉ số này phải được đo ở quy mô ngành Đây là một khó khăn vì các dữ liệu cho từng ngành công nghiệp chưa được thống kê đầy đủ Hơn nữa, hiệu quả kinh tế xã hội của một doanh nghiệp được tạo thành từ hiệu quả kinh

tế xã hội của các doanh nghiệp trong ngành Việc thu thập dữ liệu của doanh nghiệp trong các ngành thông qua lấy mẫu ngẫu nhiên là hoàn toàn khả thi Vì vậy, trong bài nghiên cứu này, từ “hiệu quả kinh tế xã hội” được hiểu là hiệu quả kinh tế xã hội của các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp này và được đo bằng những biến quan sát như đã nêu trên cho ngành công nghiệp

Hiệu quả kinh tế xã hội của một doanh nghiệp phụ thuộc các yếu tố bên trong của doanh nghiệp Do vậy, để có thể nhận diện được các yếu tố động lực cho hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp và đánh giá được năng lực phát

Trang 26

triển trong tương lai của các doanh nghiệp, các phân tích sâu vào các yếu tố nội

bộ bên trong doanh nghiệp là cần thiết

II LÝ THUYẾT VỀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

* Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tài nguyên (Penrose, 1959) (Barney, 1991)(Barney, 2001)

Nghiên cứu và giải thích cấu trúc, hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp là đối tượng của lý thuyết kinh tế học công nghiệp (industrial economy theory) hay

lý thuyết các tổ chức công nghiệp (industrial organizational theory) Đây là những lý thuyết đã được nghiên cứu phát triển từ nhiều năm qua Lý thuyết kinh tế học công nghiệp giải thích hành vi của các doanh nghiệp dưới tác động của các yếu tố môi trường như chính sách nhà nước, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, sự phân bổ nguồn tài nguyên giữa các doanh nghiệp, các đóng góp của doanh nghiệp công nghiệp đối với sự thịnh vượng của nền kinh tế

Theo các lý thuyết này thì doanh nghiệp là một tổ chức chuyển hóa các đầu vào (các nguồn tài nguyên doanh nghiệp mua) thành các đầu ra (sản phẩm

có giá trị mà doanh nghiệp bán ra).Doanh nghiệp sẽ hưởng sự chênh lệch giữa

“nhận được” (doanh thu) và “chi ra” cho các đầu vào dùng cho sản xuất và bán hàng (Carlton & Perloff, 2015) Mục tiêu của phần lớn doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận (chỉ một phần nhỏ doanh nghiệp là phi lợi nhuận)

Mô hình Cấu trúc – Thực hiện – Kết quả (Structure – Conduct – Performance SCP) đã được đề ra bởi Bain (1968) và là trung tâm của các nghiên cứu về kinh tế học công nghiệp Mô hình SCP giải thích liên hệ nhân quả giữa cấu trúc của thị trường, cách thức doanh nghiệp thực hiện (vận hành) trong môi trường đó và kết quả kinh tế của doanh nghiệp

“Cấu trúc” theo mô hình này là các đặc điểm và thành phần của thị trường hay các ngành công nghiệp trong một nền kinh tế Cấu trúc cũng bao gồm số

và phân bố quy mô (kích thước) của các doanh nghiệp trong một thị trường hay một ngành công nghiệp Cấu trúc cũng là môi trường mà trong đó các doanh

Trang 27

nghiệp trong cùng một thị trường cụ thể vận hành Theo nghĩa này, cấu trúc bao gồm số và phân bố quy mô của người mua, người bán, mức độ khác biệt của các sản phẩm, mức độ khó khăn cho các doanh nghiệp mới đi vào thị trường

và mức độ tích hợp hay phân tán của các doanh nghiệp trong thị trường (Ferguson

& J Ferguson, 1998)

“Thực hiện” là hành vi hay hành động của các doanh nghiệp, các quyết định và cách thức thực hiện các quyết định của các doanh nghiệptrong một thị trường “Thực hiện” liên quan đến cách thức doanh nghiệp xác định giá, ngân sách nghiên cứu, ngân sách tiếp thị, phương cách thực hiện tiếp thị (Ferguson

& J Ferguson, 1998)

“Kết quả thực hiện” là các kết quả của sự vận hành của doanh nghiệp được đo bằng chỉ số tài chính như doanh thu, lợi nhuận, giá trị tạo ra, giá trị cổ phiếu…(Ferguson & J Ferguson, 1998)

Trong mô hình này, kết quả thực hiện của doanh nghiệp sẽ có tác động ngược lại đến cấu trúc ngành và tạo động lực tiếp tục thay đổi cấu trúc ngành, việc thực hiện của doanh nghiệp và kết quả thực hiện của doanh nghiệp

Dựa theo lý thuyết SCP nêu trên, các nhà kinh tế học đã nghiên cứu sự phân bổ nguồn tài nguyên trong môi trường cho các doanh nghiệp và tác động của sự phân bổ này đến kết quả thực hiện của doanh nghiệp Các nhà kinh tế học đã nhận ra rằng chính sự phân bổ tài nguyên không đồng đều giữa các doanh nghiệp sẽ tạo ra sự thực hiện khác nhau giữa các doanh nghiệp và từ đó tạo kết quả thực hiện khác nhau cho doanh nghiệp Sự thực hiện khác nhau đó của các doanh nghiệp được gọi là năng lực cạnh tranh – đó là kết quả thực hiện thực sự của một doanh nghiệp khi so sánh tương đối với các đối thủ về các tiêu chí như chất lượng, sự phân phố, tính linh hoạt, chi phí… (White, 1996) Lý thuyết cạnh tranh lợi thế tài nguyên (Resource Advantage Theory – RAT) đã được xây dựng để giải thích sự cạnh tranh Lý thuyết này là nền tảng của lý thuyết cạnh tranh tổng quát (General Theory of Competition - GTC) Theo lý thuyết RAT này doanh nghiệp sở hữu những tài nguyên và các tài nguyên này

Trang 28

sẽ định vị vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường sẽ quyết định kết quả thực hiện của doanh nghiệp (Shelby D Hunt, 2001) Do đó, nếu doanh nghiệp sở hữu những tài nguyên mà các doanh nghiệp khác trong cùng ngành công nghiệp không thể có được hay phải tốn rất nhiều thời gian, công sức, chi phí để có những nguồn tài nguyên này thì doanh nghiệp này sẽ có năng lực cạnh tranh rất cao Nguồn tài nguyên này không chỉ là nhà xưởng, đất đai, dây chuyền sản xuất, mà còn bao gồm cả nguồn tài chính, nguồn tri thức, đặc biệt là tri thức công nghệ, thị trường và mạng lưới các quan hệ mà doanh nghiệp có được

Vai trò của nguồn tài nguyên tri thức của doanh nghiệp đã được phát triển cao hơn thành lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tri thức (knowledge based theory of firm) (Grant, 1996) Tri thức bao gồm tri thức quản lý, tri thức công nghệ, thị trường, khách hàng (Grant, 1996b) và năng lực của tổ chức phụ thuộc vào khả năng tích hợp các tri thức này để tạo đáp ứng với yêu cầu của môi trường (Grant, 1996a) Tri thức của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý, các quy trình làm việc, thiết kế sản phẩm, công nghệ sản xuất, các hoạt động tiếp thị, phát triển thị trường Với nguồn tri thức của mình, doanh nghiệp sẽ khai thác các tài nguyên vật chất để tạo ra năng lực và thực hiện các hoạt động của doanh ngiệp

Đây là những giá trị hay năng lực cốt lõi của doanh nghiệp và được trình bày chi tiết trong lý thuyết năng lực cốt lõi (Core competency theory) (Day,

1994, Garzarelli, 2006) Doanh nghiệp tiếp tục phát triển năng lực cốt lõi để đáp ứng ngày càng nhanh với các thay đổi của nhu cầu khách hàng, môi trường kinh doanh Khi đó, doanh nghiệp sẽ có năng lực động (Dynamic capabilities) (Teece, 2013) Tri thức và các giá trị cốt lõi, năng lực động là những yếu tố động lực để nhận diện nhanh các thay đổi trong nhu cầu của khách hàng, thị trường, các khoảng trống trong thị trường để từ đó tạo các sáng tạo cải tiến và đáp ứng nhanh các nhu cầu hay khoảng trống này trên thị trường

Trang 29

Khi so sánh mô hình SCP (Cấu trúc thực hiện kết quả) đã nêu bên trên với mô hình RAT (lý thuyết lợi thế tài nguyên), điều được nhận ra là sự phân

bổ tài nguyên và khả năng di chuyển của các nguồn tài nguyên giữa các doanh nghiệp là một đặc điểm của cấu trúc của thị trường, và phụ thuộc cấu trúc của thị trường Doanh nghiệp sẽ dựa trên cấu trúc thị trường, các tác lực của thị trường để lựa chọn các nguồn tài nguyên để chiếm hữu (Mahoney, 2000, Wernerfelt, 1984 ) Từ đó doanh nghiệp xây dựng phương cách thực hiện – khai thác các nguồn tài nguyên - để tạo vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

và tạo kết quả thực hiện của doanh nghiệp Để tạo vị thế cao trong thị trường doanh nghiệp cần chọn các nguồn tài nguyên có giá trị, hiếm có, không thể thay thế và không thể bắt chước để chiếm hữu (Barney & ctg., 2001) Các nguồn tài nguyên này cần được phát triển liên tục để doanh nghiệp có thể đáp ứng liên tục với cấu trúc của thị trường, tạo vị thế cao trong thị trường và kết quả thực hiện cao (Mahoney, 2004)

Dựa trên nguyên lý đó, lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tài nguyên đã được phát triển Đây cũng là một lý thuyết thuộc lĩnh vực kinh tế học Tài nguyên của một doanh nghiệp ở một thời điểm đã cho được định nghĩa là tài sản (hữu hình và vô hình) gắn chặt với doanh nghiệp tại thời điểm đó (Wernerfelt, 1984) Tài nguyên của doanh nghiệp là những yếu tố mà doanh nghiệp có thể dùng để khai thác cơ hội kinh doanh hay hóa giải các mối đe dọa

từ môi trường kinh doanh (Barney, 1991)

Tài nguyên của doanh nghiệp bao gồm tất cả các tài sản, các đặc điểm của tổ chức, thông tin, tri thức…được kiểm soát bởi một doanh nghiệp để tạo khả năng cho doanh nghiệp tiếp nhận và triển khai các chiến lược để cải thiện hiệu suất và hiệu quả của doanh nghiệp (Barney, 1991)

Sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra từ các nguồn tài nguyên của mình Nguồn tài nguyên sẽ định hình loại sản phẩm có thể sản xuất Nguồn tài nguyên

và sản phẩm của doanh nghiệp là hai mặt của một đồng xu (Wernerfelt, 1984)

Trang 30

Do đó, doanh nghiệp muốn phát triển phải tìm cách chiếm hữu các nguồn tài nguyên cần thiết và phải phân bổ hợp lý nguồn tài nguyên đó cho các hoạt dộng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận cao nhất Nhà quản lý doanh nghiệp phải thực hiện sự phân phối nguồn tài nguyên này Để doanh nghiệp tiếp tục phát triển, nguồn tài nguyên của doanh nghiệp cũng cần được phát triển (Penrose, 1959) Ý tưởng giải thích sự phát triển của doanh nghiệp dựa trên tài nguyên đã được Penrose nêu ra từ năm 1959 và được phát triển tiếp theo bởi Rubin (Rubin, 1973) Các tài nguyên được quan tâm chính lúc ban đầu bao gồm các tài nguyên nội bộ như nhà xưởng, đất đai, lao động và tư bản Sự phát triển tiếp theo của lý thuyết này là việc quản lý các tài nguyên trong doanh nghiệp để tạo sản phẩm cạnh tranh (Andrews, 1971) Tuy nhiên, lý thuyết này chỉ được thực sự quan tâm sau các công trình nghiên cứu của Wernerfelt (Wernerfelt, 1984) nhằm giải thích quan hệ sản phẩm thị trường và hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp theo góc nhìn quản trị chiến lược Tài nguyên của một doanh nghiệp sẽ tạo vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Tài nguyên tạo quyền thương thảo (bargaining) cho người bán và người mua Tài nguyên có thể trở thành rào cản cho sự thâm nhập thị trường của doanh nghiệp mới Tài nguyên có thể trở thành lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp nhận ra các tài nguyên mình có có giá trị cao và khai thác tài nguyên này một cách hợp lý (Wernerfelt, 1984) Lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nguồn tài nguyên được phát triển mạnh tiếp tục từ sau công trình nghiên cứu của Barney về thị trường của các yếu tố chiến lược (stratgegic factor market) (Barney, 1986) Thị trường của các yếu tố chiến lược là nơi các doanh nghiệp có thể mua hay bán các tài nguyên để thực hiện một chiến lược Doanh nghiệp thực hiện chiến lược sản phẩm với sản lượng nhỏ, lợi nhuận biên cao, tài nguyên chiến lược sẽ là danh tiếng chất lượng sản phẩm, thị trường của yếu tố chiến lược sẽ là danh tiếng của doanh nghiệp Doanh nghiệp thực hiện chiến lược tạo sáng tạo cải tiến liên tục sẽ cần tài nguyên chiến lược là các nghiên cứu phát triển Thị trường các yếu tố cạnh tranh sẽ là thị trường lao động của các nhà nghiên cứu phát triển

Sự cạnh tranh trên thị trường này sẽ quyết định giá mà doanh nghiệp phải chi

Trang 31

trả để có nguồn tài nguyên chiến lược và, do đó, sẽ có ảnh hưởng đến kết quả tài chính của việc thực hiện chiến lược

* Wernerfelt (1984) đã mở rộng khái niệm tài nguyên của doanh nghiệp

so với Penrose (1959) và bao gồm năng lực hệ thống máy thiết bị, sự trung thành của khách hàng, kinh nghiệm sản xuất, công nghệ sản xuất, thương hiệu, tri thức công nghệ trong nội bộ doanh nghiệp, việc sử dụng các nhân viên có

kỹ năng, các quan hệ thương mại, các các quy trình làm việc … Một cách tổng quát, các nguồn tài nguyên của doanh nghiệp bao gồm (Barney, 1991):

- Nguồn tài nguyên vật chất (vật lý, công nghệ, nhà máy, thiết bị, khả năng tiếp cận nguồn nguyên vật liệu)

- Nguồn tài nguyên con người (đào tạo, kinh nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc, tri thức, quan hệ giữa nhà quản lý và nhân viên)

- Nguồn tài nguyên vốn (capital resource) của doanh nghiệp (các cấu trúc chính thức của doanh nghiệp, phương thức lập kế hoạch chính thức và không chính thức, các hệ thống kiểm soát và phối hợp, các quan hệ không chính thức giữa các nhóm nhân viên trong doanh nghiệp, quan hệ giữa các doanh nghiệp, các quan hệ trong môi trường kinh doanh)

Các nguồn tài nguyên cũng có thể được phân theo cấu trúc hình tháp (Brumagim, 1994) của doanh nghiệp bao gồm:

- Các nguồn tài nguyên để vận hành và duy tu (nguồn tài nguyên căn bản

và thấp nhất)

- Các nguồn tài nguyên quản trị

- Các nguồn tài nguyên học tập của tổ chức

- Các nguồn tài nguyên tầm nhìn chiến lược (nguồn tài nguyên ở mức cao nhất)

Các nguồn tài nguyên của doanh nghiệp có thể tạo khả năng cho doanh nghiệp tiếp nhận và triển khai thành công một số chiến lược, tạo lợi thế cạnh

Trang 32

tranh cho doanh nghiệp, nhưng cũng có thể kìm hãm, hạn chế khả năng của doanh nghiệp khi triển khai một số chiến lược khác

Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng triển khai một chiến lược tạo ra giá trị mà các đối thủ cạnh tranh khác (hiện tại hay tiềm năng) không thể đồng thời triển khai được (Barney, 1991)

Do đó, các tài nguyên của doanh nghiệp có khả năng tạo ra giá trị cao nhất được đo bằng sự thỏa mãn cao nhất cho khách hàng phải là các tài nguyên: (a) có giá trị (value) theo nghĩa có thể khai thác cơ hội thị trường, hóa giải các mối đe dọa từ thị trường, (b) hiếm có (rare) trong số các doanh nghiệp hiện đang cạnh tranh hay có tiềm năng cạnh tranh, (c) khó bắt chước (inimitable) một cách hoàn hảo, (d) không thể có tài nguyên chiến lược khác thay thế (substitute) tài nguyên này một cách tương đương mà vẫn đảm bảo là hiếm và khó thay thế Các tài nguyên này được gọi là các tài sản VRIN (Barney, 1991)

và tạo sự cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp Quan hệ giữa nguồn tài nguyên và sự cạnh tranh bền vững được trình bày trong hình 2

Hình 2: Quan hệ giữa nguồn tài nguyên và sự cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp

Với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin, các hệ thống thông tin được thiết kế gắn chặt với các quá trình ra quyết định chính thức hay không chính thức của doanh nghiệp cũng là một tài nguyên hiếm có và quý Các hệ thống nay sẽ cung cấp thông tin, tri thức cho nhà quản lý ra quyết định Các phần cứng của hệ thống thông tin thuộc tài nguyên vật lý của doanh nghiệp và không thuộc loại quý hiếm, nhưng các phần mềm được thiết kế riêng cho doanh

Trang 33

nghiệp, thông tin, tri thức được tạo ra từ hệ thống thông tin là những tài nguyên thuộc nhóm VRIN

Từ những phân tích nêu trên, trong nghiên cứu này, lý thuyết Cấu trúc –

sự thực hiện – kết quả thực hiện (SCP) sẽ được dùng làm nền lý thuyết và lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tài nguyên sẽ được dùng để giải thích sự thực hiện của doanh nghiệp trong mô hình SCP Mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng dựa trên các lý thuyết này

III NĂNG LỰC CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC DẠNG NĂNG LỰC CỦA DOANH NGHIỆP ĐỂ PHÁT TRIỂN CẠNH TRANH

Lý thuyết năng lực (organizational capability theory) (Day, 1994)(Garzarelli, 2006)

Một doanh nghiệp muốn thành công phải là một doanh nghiệp tạo được

sự thỏa mãn cao nhất cho khách hàng Để đạt được sự thỏa mãn cao nhất cho khách hàng so với các doanh nghiệp khác, doanh nghiệp phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác (Drucker, 1954) Để tạo sự cạnh tranh, theo các lý thuyết quản trị chiến lược và lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tài nguyên, doanh nghiệp phải dựa vào tài nguyên doanh nghiệp có đã tích lũy được như quy mô vốn đầu

tư, hệ thống hạ tầng, dây chuyền sản xuất, thương hiệu, sự phân bổ các hoạt động để tạo giá thành thấp, tạo sự khác biệt cho sản phẩm…(Dierikcx & Cool, 1989b) Tuy nhiên, để tích hợp các tài nguyên này và khai thác chúng một cách hợp lý nhất, tạo ra lợi nhuận nhiều nhất, doanh nghiệp cần có năng lực Năng lực là một sự kết hợp phức tạp của các kỹ năng, tri thức tích lũy được của toàn doanh nghiệp được thể hiện thông qua các quy trình làm việc của doanh nghiệp để đảm bảo sự phối hợp hoàn hảo của các hoạt động của các chức năng và khai thác tốt nhất các tài nguyên của doanh nghiệp (Day, 1994)

Giá trị năng lực được đánh giá thông qua các quy trình làm việc hay các thực hành không thể được mua bán trên thị trường hay bắt chước nhau mà có

được (Day, 1994)

Trang 34

Dưới góc nhìn của quản lý tri thức, năng lực tham chiếu đến tri thức chuyên biệt - không dễ dàng để có hay chuyển giao – mà các lý thuyết truyền thống đã bỏ qua (Garzarelli, 2006)

Các trình bày nêu trên cho thấy, theo phép tiếp cận năng lực, để thỏa mãn khách hàng, doanh nghiệp cần có nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nhóm VRIN, và năng lực để kết hợp và khai thác các tài nguyên này để tạo sự thỏa mãn cao nhất cho khách hàng Phép tiếp cận năng lực, do đó, tập trung vào các yếu tố nội bộ của doanh nghiệp để tạo năng lực cho doanh nghiệp, và, năng lực được cho là để thực hiện các hoạt động trong nội bộ để tạo sự thỏa mãn cao nhất cho khách hàng

Tuy nhiên, khi doanh nghiệp đối mặt với môi trường kinh doanh bất định, thay đổi nhanh (tính động học cao), doanh nghiệp cần phải thích nghi nhanh với các thay đổi của môi trường để tồn tại Doanh nghiệp “khỏe mạnh” phải là một doanh nghiệp có khả năng tạo ra và tái tạo ra các cơ hội thị trường cho chính mình và đó chính là sự tiến hóa của doanh nghiệp (Penrose, 1959)

Để tạo hay tái tạo cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có năng lực nhận ra sự thay đổi của nhu cầu thị trường, khách hàng, các cơ hội mới nảy sinh trong thị trường, các kết hợp mới của các nguồn tài nguyên đã có hay nguồn tài nguyên mới với nhau để tạo ra sản phẩm mới, các thay đổi về công nghệ, kênh phân phối…

Sự phát triển các nguồn tài nguyên và năng lực để thích nghi với các thay đổi của môi trường là một yêu cầu quan trọng để doanh nghiệp tồn tại (Barney, 1991; D Teece, 1997) Năng lực này được gọi là năng lực động Năng lực động giúp doanh nghiệp nhận ra các thay đổi của môi trường kinh doanh và thực hiện các đáp ứng đối với các thay đổi này

Trang 35

IV SỰ TÁC ĐỘNG CỦA MỘI TRƯỜNG KINH DOANH ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP

1 Lý thuyết chuỗi cung ứng (Cooper ctg., 1997)

Chuỗi cung ứng là một khái niệm được nghiên cứu từ nhiều góc nhìn khác nhau như quản lý chất lượng, quản lý nguyên vật liệu và logistic tích hợp, thị trường công nghiệp và mạng lưới … và được gọi bằng nhiều tên khác nhau như chuỗi giá trị, chuỗi hỗ trợ Từ “chuỗi cung ứng” được các nhà tư vấn quản

lý sử dụng nhiều bắt đầu từ những năm 1980 (Chen & Paulraj, 2003) Chuỗi cung ứng bao gồm mọi nỗ lực trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm cuối

từ nhà cung cấp của nhà cung cấp cho đến khách hàng của khách hàng (Supply Chain Council, 2002)

Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến dòng chảy,

sự chuyển dạng (transformation) của sản phẩm từ các nguyên liệu cho đến đầu cuối được dùng và dòng thông tin đi kèm với các dòng chảy đó (Simamora ctg., 2016) Tất cả các hoạt động này bao gồm sự phối hợp theo chiều đứng và chiều ngang và bao gồm tất cả các bên có liên quan dọc theo chuỗi cung ứng từ nhà cung cấp nguyên vật liệu, việc sản xuất, việc cung ứng sản phẩm cho khách hàng cuối

Mô hình nguyên tắc của chuỗi cung ứng được trình bày trong Hình 3

Hình 3: Mô hình nguyên tắc của chuỗi cung ứng (Chen & Paulraj, 2003)

Vì phạm vi rộng của chuỗi cung ứng và bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất, tồn kho, vận chuyển/giao hàng, tiếp thị, quản lý thông tin …nên chuỗi cung ứng đã được quan tâm nghiên cứu

và phát triển trong thời gian gần đây

Trang 36

Mục tiêu của các nghiên cứu quản lý chuỗi cung ứng là nâng cao hiệu quả của một doanh nghiệp trong một chuỗi cung ứng Hiệu quả của chuỗi cung ứng là mức độ đạt được chung của các quá trình trong chuỗi cung ứng trong việc cung cấp đúng sản phẩm cho khách hàng vào đúng thời điểm và tại đúng địa điểm (Hewiit, 1994) Nội dung của nghiên cứu chuỗi cung ứng tập trung vào phương thức phối hợp, tích hợp các đối tượng của chuỗi cung ứng như đã nêu trên và ảnh hưởng của các phương thức này đối với kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Sự tích hợp chuỗi cung ứng giữa doanh nghiệp các ngành sẽ tạo động lực phát triển cho các ngành đó (Whittenctg., 2012) Do đó, để đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp, trong bài nghiên cứu này, cần phải đánh giá kết quả tích hợp chuỗi cung ứng giữa các doanh nghiệp

2 Lý thuyết quản lý tri thức (Nonaka & Takeuchi, 1995; Nonaka & Toyama, 2003)

Tri thức là một tài nguyên thuộc nhóm VRIN và cần được khai thác, được phát triển Từ những năm 1990, quản lý tri thức như một nguồn tài nguyên của doanh nghiệp đã được quan tâm trong học thuật cũng như trong thực hành quản lý Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tài nguyên vật lý, tài chính rất giới hạn, nhưng lại có nguồn tài nguyên tri thức phong phú và có thể dùng nguồn này để tạo ra lợi thế cạnh tranh (Wong & Aspinwall, 2005), đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang chuyển sang nền kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay

Có hai dạng tri thức là tri thức ẩn và tri thức tường minh (Polanyi, 1966) Tri thức tường minh (knowing about) là các dạng tri thức có thể được trình bày dưới dạng tường minh (các văn bản, bản vẽ, các băng ghi âm, ghi hình …) hay truyền miệng cho nhau và mọi người, nếu được tiếp cận, đều có thể tiếp thụ tri thức này thông qua việc đọc, nghe hay học hỏi các văn bản đó Tri thức ẩn (knowing how), ngược với tri thức tường minh, là loại tri thức không thể được trình bày dưới dạng tường minh hay nói ra bằng lời nói và chỉ có thể truyền cho

Trang 37

nhau thông qua quá trình cùng làm việc chung với nhau Tri thức ẩn thường nằm trong đầu của người sở hữu tri thức đó Tri thức tường minh là những tri thức dễ dàng được trao truyền cho nhau với chi phí thấp và thường có giá trị thấp hơn so với tri thức ẩn – dạng tri thức chỉ có thể truyền cho nhau thông việc cùng làm việc chung, tương tác với nhau để chia sẻ và chi phí cho sự chia sẻ là cao Do đó, tri thức ẩn có khả năng tạo sự cạnh tranh cho doanh nghiệp nhiều hơn là tri thức tường minh

Nguồn tri thức của doanh nghiệp bao gồm: Tri thức thị trường/khách hàng, tri thức công nghệ, sản phẩm và tri thức quản lý

Từ lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tài nguyên, lý thuyết doanh nghiệp dựa trên nền tảng tri thức đã được hình thành (Grant, 1996b)

Quản lý tri thức, cũng giống như quản lý các nguồn tài nguyên khác của doanh nghiệp, nhằm đạt các mục tiêu sau (Wiig, 1997):

- Tạo cho doanh nghiệp khả năng hành động thông minh đến mức có thể để đảm bảo sự tồn tại và thành công của doanh nghiệp

- Nhận thức được các giá trị quý báu khác do tri thức mang lại

Các quá trình quản lý tri thức được nhiều nhà nghiên cứu khác nhau đề xuất bao gồm: Sự sáng tạo tri thức, sự lưu trữ/tái sử dụng tri thức, sử chuyển giao tri thức, sự áp dụng tri thức (Alavi & Leidner, 2001), hay hấp thụ tri thức, đồng hóa tri thức, lưu trữ tri thức, chia sẻ tri thức, áp dụng tri thức (Nickerson

& Zenger, 2004, Dalkir, 2011)…

Việc quản lý tri thức sẽ tạo cho doanh nghiệp khả năng đổi mới sáng tạo,

từ đó tạo năng lực cạnh tranh, sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp (Darroch, 2004)

3 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh

Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm đã được nghiên cứu từ những năm

1939 bởi Chamberline, được phát triển bởi Selznick với việc liên kết lợi thế

Trang 38

cạnh tranh với năng lực của doanh nghiệp (Champerline, 1939; Selznick, 1957 được trích dẫn bởi (Reed & Defillippi, 1990)

Lợi thế cạnh tranh được định nghĩa là vị thế duy nhất mà một tổ chức đạt được khi so với các đối thủ cạnh tranh dựa trên việc phương thức khai thác các nguồn tài nguyên (Hofer & Schendel, 1978) Định nghĩa này cho thấy lợi thế cạnh tranh có liên quan đến năng lực của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được xem là có lợi thế cạnh tranh khi doanh nghiệp triển khai chiến lược tạo ra giá trị mà các doanh nghiệp đối thủ hiện tại hay tiềm ẩn không thể đồng thời triển khai (Barney, 1991) Lợi thế cạnh tranh là khả năng tạo ra giá trị kinh tế cao hơn các đối thủ cạnh tranh trong thị trường sản phẩm của doanh nghiệp (Peteraf

& Barney, 2003) Do vậy, năng lực của doanh nghiệp và lợi thế cạnh tranh - các biến độc lập - có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp – biến phụ thuộc Dưới góc nhìn quản trị chiến lược, lợi thế cạnh tranh là kết quả đầu ra của quản trị chiến lược và lợi thế cạnh tranh tạo hiệu quả kinh tế xã hội cho doanh nghiệp

Lợi thế cạnh tranh khi so sánh với các đối thủ được tạo ra khi doanh nghiệp sở hữu nguồn tài nguyên với chi phí thấp hơn so với đối thủ và khai thác nguồn tài nguyên đó để tạo giá trị gia tăng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh

V CÁC LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP

Ngoài ra, doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh và bị tác động bởi các yếu tố thể chế của môi trường đó Theo lý thuyết thể chế (institutional theory), các doanh nghiệp hoạt động trong khung xã hội (social framework) bao gồm các chuẩn mực, các giá trị, các giả định được cho trước

về các hành vi kinh tế thích hợp và được chấp nhận Động lực hành vi của cá nhân vượt ra ngoài các tối ưu về kinh tế để đạt được các chuẩn mực, giá trị, các đánh giá của xã hội và các bổn phận đối với xã hội Theo lý thuyết thể chế, sự phù hợp của hành vi doanh nghiệp đối với các kỳ vọng, các thói quen, các hành

vi của xã hội có đóng góp cho sự thành công và sự phát triển bền vững của

Trang 39

doanh nghiệp Các hành động được thể chế hóa là các hành động có xu hướng kéo dài theo thời gian, được xã hội chấp nhận, chống lại với các thay đổi không phụ thuộc sự khen thưởng hay sự quan sát các hành vi đó Các hành vi được thể chế hóa là kết quả của các quá trình tương tác với nhau ở mức cá nhân, doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp(Oliver, 1997) Lý thuyết thể chế cho rằng trong dài hạn dưới tác động của các yếu tố thể chế, các doanh nghiệp trong cùng một ngành công nghiệp sẽ có xu hướng sở hữu những nguồn tài nguyên đồng nhất với nhau Các yếu tố tạo xu hướng đồng nhất của tài nguyên doanh nghiệp trong dài hạn bao gồm áp lực của các quy định, các liên minh chiến lược, sự chuyển đổi của nguồn tài nguyên nhân lực, các quan hệ xã hội và nghề nghiệp, các khung/nội dung của các năng lực Các yếu tố này được tạo ra từ các quan hệ kinh tế xã hội của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh như quan

hệ với chính quyền, các hiệp hội nghề nghiệp, các đối tác kinh doanh, các nhà cung cấp, nhân viên được tuyển dụng từ các đối thủ cạnh tranh, các nhà tư vấn, các nguồn thông tin từ các đối thủ cạnh tranh … (Oliver, 1997) Ngược lại, theo lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tài nguyên, các doanh nghiệp trong cùng một ngành sẽ lựa chọn các tài nguyên khác nhau để sở hữu và khai thác để tạo lợi thế cạnh tranh Đây là điểm khác biệt chính giữa lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tài nguyên và lý thuyết thể chế

Sự kết hợp của lý thuyết doanh nghiệp dựa trên tài nguyên và lý thuyết thể chế tạo khả năng giải thích hành vi của nhà quản lý doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp như được trình bày trong Hình 4

Trang 40

Hình 4: Các yếu tố tác động đến lợi thế bền vững theo quan niệm quá trình

(Oliver, 1997)

Nhà quản lý doanh nghiệp sẽ dựa trên sự phân tích các lợi ích kinh tế và các chuẩn mực của môi trường kinh doanh để ra quyết định chiến lược cho sự phát triển của doanh nghiệp Đây là quyết định ở mức cá nhân của chính nhà quản lý doanh nghiệp Từ đó, dựa trên chiến lược đã chọn lựa và các yếu tố của môi trường thể chế, nhà quản lý sẽ lựa chọn nguồn tài nguyên để tích lũy và các năng lực để khai thác các tài nguyên này Sự lựa chọn khác nhau giữa các nhà quản lý tạo sự khác nhau về nguồn tài nguyên của mỗi doanh nghiệp Sự khác biệt về nguồn tài nguyên của mỗi doanh nghiệp sẽ tạo ra sự khác nhau về khả năng tạo ra doanh thu, lợi nhuận so với mức trung bình của các doanh nghiệp trong cùng một ngành, và từ đó, tạo sự khác nhau về lợi thế bền vững

Mô hình này cho thấy các yếu tố thể chế có tác động đến lợi thế bền vững của doanh nghiệp Các yếu tố thể chế tích cực sẽ góp phần nâng cao lợi thế bền vững cho doanh nghiệp

VI KHUNG NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài:

Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài thường tập trung khảo sát năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp hay năng lực cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp Các khái niệm nghiên cứu được khảo sát trong các nghiên cứu này là các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên VRIN, năng lực, năng lực cốt lõi, năng lực động, năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

Ngày đăng: 31/10/2022, 00:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w