1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam

104 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Các Nhân Tố Chủ Yếu Tác Động Đến Năng Lực Cạnh Tranh Của Ngành Công Nghiệp Phần Mềm Việt Nam
Tác giả Vũ Thị Thu Hương
Người hướng dẫn PGS - TS. Nguyễn Trọng Hoài
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy việc chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của Ngành CNpPM Việt Nam” là cần thiết nhằm phân tích, đánh giá hiện trạng năng lực cạ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS - TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI

TP Hồ Chí Minh - Năm 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Các nguồn dữ liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn đều có ghi trích dẫn

cụ thể, xuất xứ rõ ràng và có thể dễ dàng tìm kiếm theo nguồn ghi trong tài liệu tham khảo Kết quả nghiên cứu của luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh hay Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh

Tác giả

VŨ THỊ THU HƯƠNG

Trang 4

Xin cảm ơn TS Hoàng Lê Minh, Viện trưởng Viện Công nghiệp phần mềm và Nội dung số, Bộ Thông tin và Truyền thông đã hỗ trợ cung cấp những thông tin quan trọng và có những góp ý, đánh giá hết sức ý nghĩa cho luận văn này với vai trò là chuyên gia ngành Công nghiệp phần mềm

Tôi cũng xin được cảm ơn các Thầy, Cô trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian

2 năm học vừa qua

Lời cuối cùng tôi cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp tại Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian qua

để tôi có thể hoàn thành luận văn đúng kỳ hạn

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

VŨ THỊ THU HƯƠNG

Trang 5

MỤC LỤC

STT Nội dung Trang

Chương 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Vấn đề nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Cấu trúc luận văn 3

Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 2.1 Đặc điểm, vai trò của ngành CNpPM trong nền kinh tế 5

2.2 Lý do để phát triển ngành CNpPM 8

2.3 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 10

2.4 Các cấp độ về năng lực cạnh tranh 13

2.5 Tổng hợp một số mô hình và khung phân tích năng lực cạnh tranh 16

2.6 Mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngành

3.2 Phân tích hiện trạng ngành CNpPM Việt Nam theo mô hình lựa chọn 33

Trang 6

3.2.4 Chiến lược, quản lý và hoạt động của DN 43

3.2.5 Đặc điểm của ngành CNpPM Việt Nam 47

3.3 Ma trận SWOT ngành CNpPM Việt Nam 52

3.4 Đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của

4.2 Quan điểm, mục tiêu và căn cứ đề xuất chính sách 70

4.3 Một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành

CNpPM Việt Nam 71

4.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 75

Tài liệu tham khảo 77

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 Bộ TT – TT: Bộ Thông tin và Truyền thông

2 BPO- Business Process Outsourcing: Dịch vụ gia công qui trình tác nghiệp

3 BSA – Business Software Alliance: Liên minh phần mềm doanh nghiệp

4 CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

5 CNpPM: Công nghiệp phần mềm

6 CNST: Công nghiệp sáng tạo

7 CNTT – TT: Công nghệ thông tin và Truyền thông

8 CNTT: Công nghệ thông tin

9 DN: Doanh nghiệp

10 FDI – Foreign Direct Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

11 GSO: Tổng cục thống kê

12 HCA: Hội tin học TP Hồ Chí Minh

13 IDG – International Data Group: Tập đoàn dữ liệu quốc tế

14 OECD - Organisation for Economic Co-operation and Development: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

15 R&D: Hoạt động nghiên cứu và phát triển

16 TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

17 Vinasa: Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam

18 WEF - World Economic Forum: Diễn đàn Kinh tế thế giới

19 WTO - World Trade Organization: Tổ chức Thương mại thế giới

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 2.1: Hệ số ICOR tham khảo của một số quốc gia và của ngành CNpPM 9 Bảng 2.2: Tóm lược các khung phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh 27 Bảng 3.1: Thứ hạng Việt Nam trong bảng xếp hạng gia công phần mềm thế giới 40 Bảng 3.2: Tổng hợp đánh giá xếp hạng về giáo dục và nguồn nhân lực

CNTT – TT Việt Nam (2009 – 2010) so với các nước trên thế giới

43

Bảng 3.3: Tỷ lệ trung bình người lao động sử dụng thành thạo các ngoại ngữ ở

DN vừa và nhỏ

46

Bảng 3.4: thay đổi và mức lãi suất cơ bản áp dụng theo ban hành của ngân hàng

nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010

48

Bảng 3.5: Tỷ lệ các DN vừa và nhỏ có chứng chỉ chất lượng 68 Bảng 3.6: Biến động nguồn nhân lực theo các vị trí làm việc ở DN vừa và nhỏ

năm 2010

69

Trang 8

Bảng 3.7: Biến động nguồn nhân lực theo các vị trí làm việc ở DN lớn năm 2010 69Bảng 3.8: Đánh giá dịch vụ và sản phẩm của nhà cung cấp dịch vụ internet chủ yếu 76Bảng 3.9: Đánh giá mức độ quan trọng và mức độ hài lòng với các yếu tố của

môi trường kinh doanh

79Bảng 3.10: Đánh giá mức độ quan trọng và mức độ hài lòng về người lao động 80

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Doanh thu và tăng trưởng của ngành CNpPM giai đoạn 2000 - 2009 40 Biểu đồ 3.2: Mức độ sẵn sàng của nguồn nhân lực CNpPM Việt Nam, năm 2010 42 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ các DN lựa chọn phương thức trợ giúp tài chính 49 Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ DN cho rằng 2 vấn đề chính khiến DN không hài lòng về nhà

cung cấp dịch vụ viễn thông, internet tại Việt Nam

50

Biểu đồ 3.5: Tỉ lệ trung bình DN ứng dụng phần mềm phục vụ công tác quản lý

điều hành trên cả nước (2008 – 2009)

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Mối quan hệ giữa các cấp độ cạnh tranh 18Hình 2.2: Bậc cao nhất của khung phân tích TVC 20Hình 2.3: Mô hình kim cương (hình thoi) hoàn chỉnh của Porter 21Hình 2.4: Mô hình Kim cương đúp mở rộng 24Hình 2.5: Các yếu tố chủ yếu của mô hình APP 26Hình 2.6: Mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh ngành CNpPM

Việt Nam

28Hình 3.1: Khung phân tích năng lực cạnh tranh theo nghiên cứu của Stanley Nollen 32

Trang 9

Chương 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Vấn đề nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu

Phát triển Công nghệ thông tin (CNTT) nhằm phục vụ cho phát triển đất nước đã được Chính phủ xác định ngay từ đầu những năm 1990 và được cụ thể hóa tại nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT ở Việt Nam Với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế thế giới, song song đó là sự phát triển của khoa học công nghệ mà nổi bật là lĩnh vực CNTT, thế giới ngày nay đang chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức mà ở đó CNTT đóng vai trò trụ cột trong quá trình phát triển Xác định được xu thế phát triển tất yếu này, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong đó nêu rõ: “CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của

sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại”

Từ đây, phát triển CNTT và đặc biệt là Công nghiệp phần mềm (CNpPM) là chủ trương được Đảng và Nhà nước ta ưu tiên quan tâm, là một trong những cách đi tắt, đón đầu để thực hiện CNH – HĐH đất nước, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm

an ninh quốc gia Quan điểm xuyên suốt quá trình chỉ đạo, điều hành nhằm phát triển ngành CNpPM của Chính phủ đó là: “CNpPM là ngành kinh tế tri thức, công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, tạo ra giá trị xuất khẩu cao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp CNH – HĐH Nhà nước đặc biệt khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi

để thu hút đầu tư và phát triển ngành công nghiệp này trở thành một ngành kinh tế trọng điểm trong nền kinh tế quốc dân” (Quyết định 51/2007/QĐ – TTg) Quyết định

số 246/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT – TT Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 cũng đã nêu rõ quan điểm “CNTT – TT là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình CNH - HĐH đất nước Ứng dụng rộng rãi CNTT – TT là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh

tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động” Quan điểm này một lần nữa được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng khẳng định tại Diễn đàn CNTT thế giới (WITFOR 2009) diễn ra từ ngày 26-28/8/2009 tại Hà Nội

Trang 10

Nhưng cũng cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, sau mười năm phát triển từ khi chỉ thị số 58/CT-TW năm 2000 được ban hành, ngành CNpPM Việt Nam tuy đã có những bước phát triển rất đáng ghi nhận nhưng vẫn chỉ đạt trình độ thấp, không theo kịp sự phát triển của các quốc gia trong khu vực như Ấn Độ hay Trung Quốc như nhận xét của Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hội tin học TP HCM (HCA) được minh họa trong hộp 1 (xem phụ lục 1)

Bên cạnh đó quy mô của ngành còn rất nhỏ bé, năng lực các DN còn yếu, song song đó là sự phát triển còn thiếu tính bền vững và không đồng đều, chưa biến được tiềm năng thành năng lực thực tế để có sự phát triển đột phá (Vụ CNTT, Bộ CNTT –

TT, 2009)

Vì vậy việc chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến

năng lực cạnh tranh của Ngành CNpPM Việt Nam” là cần thiết nhằm phân tích,

đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam đồng thời xác định rõ những nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM,

từ đó đề xuất các giải pháp chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành

“kinh tế tri thức” này; đồng thời giúp tăng cường thu hút đầu tư và phát triển ngành CNpPM trở thành một ngành kinh tế trọng điểm trong nền kinh tế quốc dân như quan điểm của Chính phủ đặt ra

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Phân tích hiện trạng ngành CNpPM Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh

- Đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam

- Gợi ý chính sách để nâng cao khả năng cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu:

Câu hỏi 1: Hiện trạng về lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành

CNpPM Việt Nam đã và đang diễn ra như thế nào?

Trang 11

Câu hỏi 2: Những nhân tố chủ yếu nào tác động đến năng lực cạnh tranh của

ngành CNpPM Việt Nam và những vấn đề còn tồn tại của những nhân tố này là gì?

1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về ngành kinh tế:

+ Nghiên cứu hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam + Nghiên cứu các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam

1.5 Phương pháp nghiên cứu:

1.5.1 Nguồn dữ liệu:

- Nguồn dữ liệu tham khảo từ các đơn vị có liên quan như: Hội tin học TP HCM (HCA), Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (Vinasa), Bộ Thông tin và Truyền thông (Bộ TT – TT), Tổng cục Thống kê (GSO), báo cáo nghiên cứu của các công ty chuyên tư vấn, nghiên cứu về lĩnh vực phần mềm trên thế giới như Gartner, Tholons,

Trang 12

1.5.2 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin:

Thông tin thứ cấp và sơ cấp được phân loại, tổng hợp theo nội dung và phù hợp với các mục tiêu để làm tiền đề cho việc nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các thông tin thứ cấp và sơ cấp, tác giả vận dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh, tổng hợp… để phân tích, đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh và các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam

1.6 Cấu trúc luận văn:

Luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu bao gồm bối cảnh nghiên cứu và các vấn đề

được đặt ra

Chương 2: Tổng quan lý thuyết về năng lực cạnh tranh từ đó lựa chọn khung

phân tích đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh và đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam

Chương 3: Phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh và các nhân tố chủ yếu tác

động đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam trên cơ sở khung phân tích

đã lựa chọn

Chương 4: Kết luận và một số gợi ý chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của

ngành CNpPM Việt Nam căn cứ kết quả phân tích tại chương 3

Trang 13

Chương 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Trong chương này đề tài sẽ tiến hành tổng hợp một cách tổng quát các lý thuyết

về năng lực cạnh tranh để rút ra khung phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh cho ngành Công nghiệp phần mềm (CNpPM) Việt Nam, tuy nhiên điều cần thiết trước tiên

là cần tìm hiểu về ngành CNpPM và lý do tại sao ngành CNpPM nên được phát triển Như vậy chương này nội dung trình bày sẽ bao gồm 6 phần: Phần 1 trình bày về đặc điểm, vai trò của ngành CNpPM trong nền kinh tế; Phần 2 trình bày về lý do để phát triển ngành CNpPM; Phần 3 trình bày các khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh; Phần 4 trình bày các cấp độ của năng lực cạnh tranh; Phần 5 trình bày về các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh và Phần 6 là đúc kết khung phân tích năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam

2.1 Đặc điểm, vai trò của ngành CNpPM trong nền kinh tế

2.1.1 Khái niệm về ngành Công nghiệp CNTT và ngành CNpPM

- Công nghiệp CNTT: là ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung

cấp sản phẩm CNTT, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin

số (Điều 4, Luật CNTT)

- Công nghiệp phần mềm: CNpPM là ngành công nghiệp quan trọng của CNTT

CNpPM bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm và cung ứng các dịch vụ phần mềm (Nghị quyết 07/2000/NQ-CP ngày 05/06/2000)

- Phần mềm: là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu, mã

hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định (Điều 4, Luật CNTT)

2.1.2 Đặc điểm của ngành CNpPM

Là ngành kinh tế tri thức, công nghệ cao:

CNpPM là ngành công nghiệp lớn của kinh tế tri thức, trong đó một phân ngành của CNpPM là ngành Công nghiệp sáng tạo (CNST) mà sản phẩm của nó là các phần mềm Vì vậy sản phẩm ngành CNpPM chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao, hàm lượng lao động cơ bắp và hàm lượng nguyên vật liệu thấp Nói cách khác “nguyên liệu đầu vào” của ngành CNpPM chủ yếu là tri thức và trực tiếp từ bộ não con người tham gia trong quy trình sản xuất

Sản phẩm của ngành CNpPM luôn có sự cải tiến và đổi mới:

Ngành CNpPM cho ra những sản phẩm của trí tuệ, có đặc tính cá thể đơn lẻ, đặc thù riêng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Sản phẩm ra đời sau luôn luôn có sự cải tiến, đổi mới so với sản phẩm trước vì khi trí tuệ con người tham gia cao

Trang 14

độ và trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ thì luôn có những nét mới (các phiên bản của hệ điều hành Window của Microsoft là ví dụ điển hình)

Chi phí cho R&D của ngành lớn với mức độ mạo hiểm cao:

Do sản phẩm của ngành CNpPM có đặc tính cá thể đơn lẻ, đặc thù riêng và luôn

có sự cải tiến, đổi mới vì vậy hoạt động R&D là một trong những đặc điểm quan trọng của ngành và mang lại lợi nhuận cao Tuy nhiên chi phí cho R&D của ngành là rất lớn nếu so với chi phí sản xuất phần mềm trong khi độ mạo hiểm lại rất cao do chưa chắc chắn về sự thành công Vì vậy đầu tư cho R&D lĩnh vực CNpPM được xếp vào loại hình ”đầu tư mạo hiểm” Chi phí R&D có thể chiếm đến 15%-20% doanh thu hàng năm của những DN lớn và khoảng trên 5% doanh thu của những doanh nghiệp trung bình (Trung tâm Nghiên cứu Thượng Hải, 2004:9)

Là ngành công nghiệp có giá trị gia tăng lớn, tạo ra giá trị xuất khẩu cao:

Do ngành CNpPM là bộ phận cấu thành của nền kinh tế tri thức và là ngành Công nghiệp sáng tạo (CNST) mà sản phẩm của ngành CNST thường có giá trị gia tăng rất cao Vì vậy sản phẩm ngành CNpPM mang một hàm lượng giá trị gia tăng có thể trên 80% (GSO, ngày truy cập 30/12/2010) Do đó ngành CNpPM đã mang lại những giá trị kinh tế rõ ràng không thể phủ nhận, đóng góp cho sự phát triển kinh tế của quốc gia nói chung và của các tập đoàn, công ty nói riêng Sự thành công của ngành CNpPM của Ấn độ, hay sự thành công của các tập đoàn nổi tiếng trên thế giới như Microsoft, Google, Facebook và rất nhiều công ty phần mềm khác trên toàn cầu là những ví dụ điển hình Tuy nhiên cũng do là một ngành CNST và sản phẩm có khả năng sao chép, nhân bản, chuyển giao tới người sử dụng (qua mạng) cho nên sự phát triển của ngành CNpPM bị ảnh hưởng không nhỏ bởi nạn vi phạm bản quyền

Là ngành công nghiệp có tính tích hợp cao:

Yếu tố then chốt để một quốc gia đạt được sự phát triển nhanh và bền vững đó chính là sự gia tăng nhanh tốc độ tăng năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) ở các ngành, các lĩnh vực như: sản xuất, y tế, giáo dục, tài chính, ngân hàng … thông qua đẩy mạnh ứng dụng CNTT – TT trong công tác quản lý và các quy trình sản xuất bên cạnh các yếu tố khác như về môi trường, con người và hệ thống đổi mới Vì vậy sản phẩm của ngành CNpPM đã thâm nhập và tích hợp vào sâu trong các các ngành, các lĩnh vực và trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển nhanh chóng của các ngành, lĩnh vực này

Số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực là điều kiện then chốt cho sự thành công của ngành công nghiệp phần mềm:

Trang 15

Như đã đề cập, CNpPM là ngành công nghiệp mà “nguyên liệu đầu vào” chủ yếu

là tri thức, do đó nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là nhân tố quyết định ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và là điều kiện tiên quyết để mang lại sự thành công cho ngành này Vấn đề này cũng đã được đề cập đến trong nhiều cuộc hội nghị, hội thảo quốc gia về phát triển nguồn nhân lực cho ngành CNTT1 cũng như trong quan điểm chỉ đạo điều hành của Chính phủ về phát triển ngành CNpPM2

2.1.3 Vai trò của ngành CNpPM trong nền kinh tế:

Từ những đặc điểm nêu trên, ngành CNpPM có những vai trò nổi bật như sau:

Là ngành kinh tế trọng điểm trong nền kinh tế quốc dân, góp phần vào tăng

trưởng GDP và xuất khẩu, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần quan trọng vào sự nghiệp CNH – HĐH đất nước

Là ngành công nghiệp góp phần quan trọng thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác cùng phát triển.

Trong bối cảnh chung toàn cầu của những chuyển dịch mang tính cơ cấu như cuộc cách mạng CNTT - TT, những tiến bộ nhanh chóng và vượt bậc của khoa học - công nghệ, làn sóng toàn cầu hoá kinh tế đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức và cạnh tranh trên quy mô toàn cầu Vì vậy với đặc điểm của ngành CNpPM là bộ phận cấu thành của nền kinh tế tri thức và sản phẩm của

nó mang tính tích hợp cao, đã thâm nhập sâu vào trong các hoạt động quản lý nhà nước, trong tất cả các ngành công nghiệp, dịch vụ, các lĩnh vực và mọi mặt đời sống

1 Ngày 10/1/2010, tại Đà Nẵng, dưới sự chủ trì của Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ Giáo dục - Đào tạo cùng Bộ TT-TT

đã tổ chức hội thảo quốc gia "Đào tạo nguồn nhân lực CNTT - TT theo nhu cầu xã hội" Ngày 21/4/2010, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục -Đào tạo phối hợp với Bộ TT – TT tổ chức Hội nghị quốc gia phát triển nguồn nhân lực CNTT

2 Xem phụ lục 2

3 Xem chi tiết nghiên cứu của Staley Nollen về năng lực cạnh tranh của ngành CNPM Ấn độ và Trung quốc tại phụ lục 10

Trang 16

xã hội do đó nó là nền tảng và góp phần quan trọng thúc đẩy các ngành, lĩnh vực cùng phát triển, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong điều kiện toàn cầu hóa cũng như trong việc đáp ứng các nhu cầu mang tính toàn cầu

Góp phần giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cao cho một số lượng lớn lao động trong cả nước

Hết năm 2009, ngành CNpPM Việt Nam có khoảng 64.000 lao động với mức thu nhập bình quân là 4250 USD/người, cao hơn mức bình quân đầu người của quốc gia1

(Bộ TT – TT, 2010:36) Với mức tăng trưởng trung bình khoảng 35%/năm như hiện nay, nhu cầu về nhân lực của ngành CNpPM chắc chắn sẽ tăng cao trong thời gian tới

Cụ thể tại Hội nghị quốc gia về CNTT sáng 21/04/2010 tại Hà Nội, ông Nguyễn Thanh Tuyên, Phó Vụ trưởng Vụ CNTT, Bộ TT-TT cho biết dự báo về sự phát triển của ngành công nghiệp CNTT vào năm 2020, trong đó doanh số của ngành CNpPM Việt Nam sẽ đạt 3,5 tỷ USD Để đạt được con số doanh thu trên, nhu cầu nhân lực ngành phần mềm vào năm 2020 sẽ là 130.000 người, cao gấp hai lần so với số nhân lực hiện nay (ICTnews, ngày truy cập 29/12/2010)

Hệ số ICOR là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư của một lĩnh vực hay của toàn bộ nền kinh tế đóng góp vào sự gia tăng của một đơn vị kết quả sản xuất Trong một nền kinh tế ở trình độ phát triển còn thấp thì hệ số ICOR của một lĩnh vực hay của quốc gia càng cao nói lên hiệu quả đầu tư càng thấp, tuy nhiên khi nền kinh tế phát triển ở mức độ cao hơn thì hệ số ICOR thường cao hơn và luôn có xu hướng tăng lên vì khi nền kinh tế càng phát triển thì sẽ cần nhiều hơn nguồn lực sản xuất nói chung và nhân tố vốn nói riêng để làm tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất

1 Theo số liệu thống kê của GSO, thu nhập bình quân/đầu người của Việt Nam năm 2008 đạt 1024 USD, năm 2009 khoảng

Trang 17

Bảng 2.1: Hệ số ICOR tham khảo của một số quốc gia và của ngành CNpPM

Đài Loan 2,7 trong giai đoạn 1961- 1980 3,7 trong giai đoạn 1981 -1995 Trung Quốc 4,0 trong giai đoạn 2000 - 2008 Hàn Quốc 3,0 trong giai đoạn 1961 - 1980 Nhật 3,2 trong giai đoạn 1961 - 1970 Thái lan 4,1 trong giai đoạn 1981 - 1995 Việt Nam 4,5 trong giai đoạn 2000 - 2008 Ngành CNpPM (Khu công viên phần

mềm Quang Trung) 2 trong năm 2008

Nguồn: Nguyễn Thị Cành (2009), Nguyễn Trọng (2009)

Bảng 2.1 cho thấy hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008 là 4,5, cao hơn so với hệ số ICOR của các quốc gia Châu Á khác vào những thời kỳ mà nền kinh

tế của những quốc gia này được xem là có sự phát triển ở mức độ tương tự Việt Nam hiện nay, điều này chứng tỏ hiệu quả đầu tư của Việt Nam nói chung thấp hơn các quốc gia này Tuy nhiên nếu xét riêng cho ngành CNpPM (do hệ số ICOR của ngành CNpPM hiện chưa có các nghiên cứu vì vậy số liệu trong bảng là số liệu nghiên cứu của khu công viên phần mềm Quang Trung tại TP HCM và được lấy làm số liệu đại diện ngành) thì hiệu quả vốn đầu tư của ngành CNpPM Việt Nam cao hơn hẳn so với hiệu quả vốn đầu tư của quốc gia

Thứ ba: Là ngành đã được Chính phủ xác định là ngành công nghiệp mũi nhọn và có đủ điều kiện để trở thành ngành công nghiệp chiến lược của đất nước

Tại quyết định số 55/2007/QĐ-TTg ngày 23/4/2007 về Phê duyệt Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007-2010, tầm nhìn đến năm 2020 thì ngành CNpPM và nội dung số là một trong 3 ngành công nghiệp mũi nhọn của quốc gia cùng với ngành cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tầu, thiết bị toàn bộ, máy nông nghiệp, cơ điện tử) và thiết bị điện tử, viễn thông và CNTT

Có thể vẫn chưa có đầy đủ cơ sở để xác định đây là những ngành “công nghiệp chiến lược” của nước ta tới năm 2020 do cho đến nay Chính phủ vẫn chưa có văn bản

cụ thể xác định những ngành công nghiệp nào được xem là ngành công nghiệp quan trọng và là chiến lược của nước ta cho tới năm 2020 và xa hơn nữa Tuy nhiên theo Nguyễn Trọng (2009) thì ngành công nghiệp chiến lược là ngành phải thể hiện rõ những đặc trưng sau:

1 Phát huy được những lợi thế tương đối của Việt Nam, đặc biệt là về nguồn nhân lực trình độ cao

Trang 18

2 Có thể phấn đấu đạt khả năng cạnh tranh

3 Có tiềm năng chiếm lĩnh thị trường quốc tế

4 Có tác động lớn thúc đẩy nhiều hoạt động xã hội, nhiều ngành kinh tế khác, tác động tốt đến môi trường, góp phần bảo vệ an toàn, an ninh cho đất nước

Như vậy ngành CNpPM hoàn toàn có thể đáp ứng được những điều kiện trên và

có thể trở thành ngành công nghiệp chiến lược của đất nước ta tới năm 2020 Nhận định này cũng đã được khẳng định trong báo cáo của Nguyễn Trọng (2009) [tr.21], đó

là “Không có ngành kinh tế nào ẩn chứa tiềm năng mang lại hiệu quả toàn diện và to

lớn hơn trong khoảng 10 – 15 năm tới đây cho đất nước ta so với ngành CNpPM và dịch vụ CNTT và khả năng để Việt Nam có mặt trong các quốc gia hàng đầu về CNpPM và dịch vụ CNTT vào khoảng năm 2025 là hiện thực Trong chiến lược chung phát triển đất nước, ngành CNpPM và dịch vụ CNTT cần được đặt ở vị trí một ngành công nghiệp chiến lược Khó khăn lớn nhất phải vượt qua là từ nay tới đó, chúng ta cần đào tạo được khoảng 1 triệu kỹ sư phần mềm có trình độ quốc tế Mục tiêu này không quá tầm tay của chúng ta, nhưng đòi hỏi quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước,

sự đồng thuận và những nỗ lực cao độ của toàn xã hội”

2.3 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

2.3.1 Khái niệm về cạnh tranh:

Hiện nay trong khoa học kinh tế vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm của thuật ngữ “cạnh tranh” Tuy nhiên các quan điểm này đều thừa nhận rằng cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế chỉ thực sự xuất hiện và tồn tại đúng nghĩa trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia Vậy cạnh tranh là gì?

Mác cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ” Ông cũng cho rằng trong chủ nghĩa tư bản, cạnh tranh trở thành sức ép mạnh mẽ từ bên ngoài đối với nhà tư bản hoạt động sản xuất, kinh doanh, thể hiện bản chất cá lớn nuốt cá bé, phản ánh mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa những người chiếm hữu tư bản

Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1999) định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình” [tr 259] Theo định nghĩa này, cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh giữa các đối thủ có cùng chung mục đích để chiếm được vị trí cao nhất

Từ điển kinh tế Kinh doanh của Nguyễn Đức Dỵ (2000) định nghĩa: “Cạnh tranh

là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành lấy nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán theo giá

Trang 19

cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất” [tr 225] Quan điểm này mới chỉ xem xét hoạt động cạnh tranh ở góc độ DN, theo đó mục đích của cạnh tranh

là tối đa hóa lợi nhuận và phương thức cạnh tranh là hạ thấp giá bán hoặc nâng cao chất lượng hàng hóa

Theo Samuelson (2000) thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các DN với nhau để giành lấy khách hàng và thị trường” [tr 687] Theo quan điểm này, hiệu quả cạnh tranh chủ yếu dựa trên thực lực của DN, nói cách khác chính là dựa trên năng lực cạnh tranh của DN Chủ thể cạnh tranh có thể dùng bất cứ phương thức nào miễn là giành thắng lợi chứ không chỉ dừng lại ở việc cạnh tranh về giá cả và chất lượng

Theo Nguyễn Thiềng Đức (2007) thì: “Cạnh tranh được xem là các quan hệ kinh

tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi” [tr.11]

Ngoài những định nghĩa trên, các trường phái kinh tế học hiện đại cũng có nhiều định nghĩa khác về cạnh tranh, Nguyễn Thiềng Đức (2007) đã tổng hợp lại như sau: Thứ nhất: Khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua của các chủ thể cùng tham dự Mức độ cạnh tranh có thể mở ra ở nhiều cấp độ khác nhau chứ không chỉ dừng lại ở cấp độ DN của một nền kinh tế Nó bao gồm cấp độ quốc gia (cạnh tranh quốc gia), cấp độ DN (cạnh tranh DN ) và cấp độ sản phẩm (cạnh tranh sản phẩm), còn một cấp độ nữa là cạnh tranh của cấp độ ngành

Thứ hai: Mục tiêu của cạnh tranh là giành lấy phần lợi ích cho mình của chủ thể tham gia cạnh tranh Mục đích cuối cùng là vươn lên giành lấy thị trường, khách hàng

… nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của chủ thể đó

Thứ ba: Cạnh tranh phải diễn ra trong một môi trường cụ thể với những điều kiện

cụ thể, trong khoảng thời gian và không gian cố định.Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay cần hiểu phạm vi cạnh tranh ở mức độ rộng hơn Nó không chỉ diễn ra ở một khu vực địa lý mà còn diễn ra ở những thị trường có liên quan hoặc phân đoạn thị trường đó Do đó việc tìm kiếm và phát triển thị trường mới cũng là một phương thức cạnh tranh phổ biến hiện nay

Thứ tư: Các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để giành lấy thị trường từ việc định giá bán, chất lượng sản phẩm, khuyến mại, hậu mãi

Trang 20

Như vậy, các định nghĩa về cạnh tranh được nêu ở trên hầu hết đều gắn với các khái niệm “tranh đua”, “đấu tranh”, “kình địch” hay “đối địch” để mô tả mâu thuẫn đối kháng về lợi ích giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trong

xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay là toàn cầu hóa và hội nhập trên mọi lĩnh vực thì các loại rào chắn sẽ dần dần đều bị dỡ bỏ và cạnh tranh sẽ không hẳn còn

là sự kình địch, nhưng cũng không hẳn là sự hòa bình và hợp tác toàn diện để chia sẻ mọi lợi ích vì thế giới hội nhập cũng chính là một thế giới cạnh tranh và những xung đột giữa các đối thủ cạnh tranh để giành lợi ích vẫn luôn luôn xảy ra Vì vậy theo tác

giả, trong một thế giới phẳng thì: Cạnh tranh là sự tranh đua của các chủ thể kinh tế

(ở đây có thể là quốc gia, ngành, DN) có cùng chung mục đích trong việc sử dụng các nguồn lực của thế giới một cách tốt nhất tức là phải trả chi phí thấp hơn nhưng tạo ra được sản phẩm tốt hơn nhằm giành được vị thế thuận lợi nhất trong phân phối hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Đây chính là

ý nghĩa tích cực của một môi trường cạnh tranh tự do trên một sân chơi ngang bằng, bình đẳng và lành mạnh, trong đó mọi chủ thể phải luôn luôn vượt lên chính mình để không bị tụt hậu so với đối thủ

2.3.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh:

Tương tự như khái niệm về cạnh tranh, hiện nay khoa học kinh tế cũng chưa có một khái niệm thống nhất nào về năng lực cạnh tranh

Theo định nghĩa trong Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1999) thì:

“Năng lực cạnh tranh là khả năng một DN giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh để tiêu thụ hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường” [tr 1172]

Từ điển Thuật ngữ kinh tế học của Nguyễn Hữu Quỳnh (2001): “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn hơn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả giành lấy một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp”[tr.349]

WEF (1996), trích trong Roger Flanagan và các cộng sự (2003) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là khả năng một quốc gia đạt được mức tăng trưởng cao và bền vững trong thu nhập bình quân đầu người” [tr 20]

Ủy ban Châu Âu – EC (1994), trích trong Roger Flanagan và các cộng sự (2003) lại cố gắng kết hợp năng lực cạnh tranh ở cấp độ DN, ngành, vùng, quốc gia hoặc các

tổ chức đa quốc gia: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các DN, vùng, quốc gia hoặc các tổ chức đa quốc gia trong việc khẳng định và duy trì vị thế trong cạnh tranh quốc tế để đảm bảo đạt lợi nhuận của các ngành sản xuất cao và tạo được nhiều việc làm trên nền tảng bền vững” [tr 20]

OECD (1997), trích trong Roger Flanagan và các cộng sự (2003) chọn định nghĩa

về năng lực cạnh tranh như sau:“Năng lực cạnh tranh là mức độ mà tại đó, dưới các

Trang 21

điều kiện thị trường tự do công bằng, một quốc gia có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và nâng cao được thu nhập thực tế của người dân nước đó trong thời gian dài hơn” [tr 20]

Theo Trần Sửu (2005) thì: “Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” [tr 27]

Porter (2008) cho rằng: “Năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh vì năng suất là yếu tố quyết định hàng đầu đối với mức sống của một quốc gia về lâu dài, vì nó chính là nguồn gốc tạo nên thu nhập bình quân theo đầu người của quốc gia” [tr 49]

Khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh, theo Nguyễn Hữu Thắng (2008) thì cần lưu ý một số điểm sau:

- Quan niệm về năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình

độ phát triển của từng thời kỳ

- Năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa các DN không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ sản phẩm mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm (thị trường tiêu thụ)

và khả năng sáng tạo của sản phẩm mới (khả năng R&D)

- Năng lực cạnh tranh của DN cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phương thức hiện đại, không chỉ dựa vào lợi thế so sánh mà còn dựa vào lợi thế cạnh tranh, các quy chế cạnh tranh

Từ những yêu cầu trên, Nguyễn Hữu Thắng (2008) đã đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh như sau: “Năng lực cạnh tranh của DN là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và

sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững” [tr.29]

Như vậy cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất, do đó để có thể đưa ra quan niệm về năng lực cạnh tranh phù hợp cần lưu

ý những đặc thù của khái niệm này đó là tính đa nghĩa (vì có nhiều cách định nghĩa), tính đa trị (vì có nhiều cách đo lường), tính đa cấp (với các cấp độ khác nhau như cấp

độ quốc gia, ngành, DN), tính phụ thuộc, tính quan hệ, tính năng động và là một quá trình (Roger Flanagan và các cộng sự, 2003:21)

Theo tác giả sau khi tổng hợp từ các định nghĩa trên thì: năng lực cạnh tranh là

khả năng nội tại, hiện có của DN, ngành hoặc rộng hơn là của quốc gia trong việc duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần, thu hút và sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm thu lợi nhuận cao và phát triển bền vững.

Trang 22

2.4 Các cấp độ về năng lực cạnh tranh:

- Năng lực cạnh tranh quốc gia:

Năng lực cạnh tranh quốc gia là một khái niệm phức hợp, nó không chỉ bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô mà đồng thời còn bao gồm năng lực cạnh tranh của các DN đang hoạt động kinh doanh trong quốc gia đó Vì vậy hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về năng lực cạnh tranh quốc gia

Theo Ủy ban cạnh tranh Công nghiệp Mỹ (1999), trích trong UNIDO and DSI - Ministry of Planning and Investment (1999) thì: “Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà tại đó, dưới các điều kiện thị trường tự do công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì

và nâng cao được thu nhập thực tế của người dân nước đó” [tr 4]

Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu (2002), trích trong Phan Ánh Hè (2010) định nghĩa cạnh tranh cấp độ quốc gia là: “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian” [tr 23-24]

Porter (2008) cho rằng: “Khái niệm có ý nghĩa duy nhất về sức cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất quốc gia Một mức sống tăng dần phụ thuộc vào khả năng đạt được những mức năng suất cao và tăng năng suất theo thời gian của các DN trong một quốc gia Để duy trì được sự tăng trưởng về năng suất đòi hỏi một nền kinh tế phải tự nâng cấp mình liên tục ”[ tr 49]

Sau khi đúc kết và căn cứ định nghĩa về năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (1997) và Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu (2002) thì tác

giả cho rằng: năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt và duy trì được sự tăng

trưởng của nền kinh tế một cách nhanh và bền vững trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế, thể hiện ở tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao mức sống của người dân, bảo vệ môi trường, thu hút được đầu tư và khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới

- Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành:

Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp

độ ngành, bên cạnh đó còn có nhiều ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của ngành với năng lực cạnh tranh của quốc gia và năng lực cạnh tranh của DN

Theo định nghĩa của Bộ Năng lượng Mỹ, trích trong IMD World Competitiveness Year Book thì: “Năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp là khả năng của một công ty hay ngành công nghiệp đáp ứng những thách thức đặt ra bởi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài” [tr.12]

Trang 23

Theo Phan Ánh Hè (2010): “Năng lực cạnh tranh của ngành là một khái niệm rộng, trong đó không chỉ thể hiện năng lực thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, gia tăng lợi nhuận, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới Mặt khác, năng lực cạnh tranh của ngành, mà hạt nhân là năng lực cạnh tranh của các DN cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống

và các phương thức hiện đại, theo đó không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà còn dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào các chính sách và thiết chế định hình ngành” [tr 24-25]

Với cách tiếp cận trên, Phan Ánh Hè (2010) đã đưa ra khái niệm: “năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngành trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị phần, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững” [tr 25]

Trong bất kỳ ngành nào thì năng lực cạnh tranh của ngành đều liên quan đến cấu trúc ngành và sự thay đổi của nó Cấu trúc ngành có tác động rất lớn đến năng lực cạnh tranh của ngành và quyết định đến khả năng sinh lời của ngành trong tương lai vì những ngành có cơ cấu hấp dẫn ví dụ như những ngành sản xuất có tầm quan trọng trong việc nâng cao mức sống là những ngành chịu nhiều áp lực cạnh tranh do khả năng thâm nhập của các đối thủ từ bên ngoài vào ngành sẽ tăng lên Sự thay đổi cấu trúc ngành theo thời gian khi ngành phát triển cũng tạo ra những cơ hội cho các đối thủ cạnh tranh thâm nhập vào những ngành mới, điều này càng được khẳng định khi cạnh tranh mang tính quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Do đó

để cạnh tranh với các đối thủ, một quốc gia cần phát huy và nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngành, các doanh nghiệp trong ngành cũng cần nâng cao năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp mình

Như vậy, theo tác giả thì ở cấp độ ngành, năng lực cạnh tranh của ngành là khả

năng duy trì, nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngành cũng như khả năng đương đầu, thích ứng của chính các DN trong nội bộ ngành trước các áp lực cạnh tranh trong cấu trúc ngành và sự thay đổi của nó

- Năng lực cạnh tranh của DN:

Năng lực cạnh tranh của DN là nền tảng của năng lực cạnh tranh ngành nói riêng

và của nền kinh tế (quốc gia) nói chung Porter (2008), với quan niệm đồng nhất năng lực cạnh tranh với năng suất lao động, ông cho rằng "các DN trong một quốc gia phải không ngừng cải thiện năng suất trong các ngành công nghiệp hiện có bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa thêm vào các tính năng mới, cải tiến công nghệ sản phẩm hoặc nâng cao hiệu quả sản xuất…Các DN trong một quốc gia cũng phải phát

Trang 24

triển được năng lực cần có để có thể cạnh tranh trong những phân khúc phức tạp hơn, nơi mà năng suất thường rất cao Đồng thời, một nền kinh tế được nâng cấp là một nền kinh tế có khả năng cạnh tranh thành công trong các ngành công nghiệp hoàn toàn mới

và phức tạp” [tr 49]

Theo tác giả, năng lực cạnh tranh của DN được đánh giá qua thực lực và lợi

thế của DN so với đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành trong việc đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, duy trì và mở rộng thị phần nhằm thu lợi nhuận ngày càng cao trong môi trường cạnh tranh trong nước và nước ngoài

Một DN có thể sản xuất và kinh doanh nhiều sản phẩm và dịch vụ, vì vậy năng lực cạnh tranh còn được phân chia ra cấp độ sản phẩm, dịch vụ

- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ:

Khi đánh giá khả năng cạnh tranh của một sản phẩm, dịch vụ chúng ta thường đánh giá qua chất lượng, giá cả, uy tín của thương hiệu, khả năng thâm nhập thị trường mới và khả năng lôi kéo khách hàng của sản phẩm, dịch vụ đó Vì vậy năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm, dịch vụ cụ thể trên thị trường

Theo tác giả, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là sự vượt trội về chất

lượng, giá cả, uy tín thương hiệu và khả năng duy trì, mở rộng thị phần của sản phẩm, dịch vụ đó so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên thị trường

Qua nghiên cứu về khái niệm cạnh tranh ở các cấp độ, tác giả nhận thấy rằng giữa chúng có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có mối quan hệ mật thiết với năng lực cạnh tranh của DN, của ngành và năng lực cạnh tranh quốc gia Khi khả năng cạnh tranh của DN được hoàn thiện và phát triển sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường trong và ngoài nước Và ngược lại, DN có nhiều sản phẩm, dịch vụ mang tính cạnh tranh cao sẽ làm cho thế và lực của DN được củng cố và phát triển và đây cũng chính là nền tảng cho năng lực cạnh tranh của ngành, nói rộng hơn là của cả quốc gia

Như vậy, một ngành kinh tế muốn có năng lực cạnh tranh cao trước tiên phải có nhiều DN có khả năng cạnh tranh, bên cạnh đó là môi trường kinh doanh thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô rõ ràng và có thể dự báo được, nền kinh tế ổn định, bộ máy nhà nước trong sạch, hoạt động chuyên nghiệp và hiệu quả

2.5 Tổng hợp một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh:

Trên cơ sở nghiên cứu các lý thuyết về năng lực cạnh tranh, nhóm nghiên cứu của Roger Flanagan và các cộng sự (2003) đã hệ thống hóa được một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều nước với cách tiếp cận,

Trang 25

mô hình và tên gọi khác nhau Tuy nhiên về cơ bản các mô hình này được chia ra 3 loại: đo lường năng lực cạnh tranh; hiểu biết về năng lực cạnh tranh; kết hợp giữa hiểu biết và đo lường năng lực cạnh tranh và được trình bày chi tiết ở mục 2.5.1, 2.5.2 và 2.5.3 như sau:

2.5.1 Các mô hình phân tích dựa trên đo lường năng lực cạnh tranh

2.5.1.1 Mô hình Ba yếu tố của năng lực cạnh tranh (The three dimensions of competitiveness):

Chaharbaghi và Feurer (1994) đã giới thiệu khung phân tích để đo lường năng lực cạnh tranh cấp DN Khung phân tích cho rằng hệ thống đo lường năng lực cạnh tranh của DN phụ thuộc vào nhận thức của DN về giá trị khách hàng và cổ đông, môi trường cạnh tranh và những người lãnh đạo mà quyết định năng lực cạnh tranh của DN trong môi trường đó Từ đây khung phân tích bao gồm 3 yếu tố: Giá trị khách hàng; Giá trị cổ đông; Khả năng hành động và khả năng phản ứng Mỗi yếu tố này có thể được đo lường bằng nhiều tiêu chí khác nhau như: Chi phí và tốc độ, các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, các điều kiện tài chính và phi tài chính… Ba yếu tố này cùng nhau sẽ tạo nên một “phòng” mà ở đó các DN có thể tự mình sắp xếp trong mối liên hệ với các đối thủ cạnh tranh Vị trí cuối cùng của “phòng” này phản ánh sự cân bằng giữa thỏa mãn khách hàng và giá trị cổ đông và duy trì được sức mạnh tài chính DN

2.5.1.2 Mô hình giá trị năng lực cạnh tranh tổng thể (The Total Value Competitiveness – TVC):

Đây là hệ thống hỗ trợ ra quyết định bằng trợ giúp của máy tính cho phép nhà thầu đánh giá năng lực cạnh tranh của mình hoặc cho phép khách hàng đánh giá năng lực cạnh tranh của nhà thầu Tuy mô hình này được đặc biệt đưa ra cho phù hợp với ngành công nghiệp xây dựng của Trung quốc1

, tuy nhiên phương pháp của nó có thể

sử dụng trong một số quốc gia khác

Căn cứ những tiêu chí được xác định bởi Li và Shen (2002), Shen và Al (2003)

đã tổ chức khung phân tích TVC của mình ở cấu trúc cấp bậc với 3 cấp độ (hình 2.1): Các yếu tố ở bậc trên cùng là; tác động đến xã hội ( CM –A), khả năng công nghệ (CM – B), khả năng tài chính và tình trạng thanh toán (CM – C), khả năng marketing (CM – D), kỹ năng quản lý (CM – E), cấu trúc DN và hoạt động (CM – F) Mỗi những yếu tố này lại có những tiêu chí cấp dưới và cấp dưới nữa và tổng cộng có 98 tiêu chính đánh giá năng lực cạnh tranh của DN ở các cấp độ, 98 tiêu chí đánh giá này được đánh giá ở thang điểm từ 0 -100 Ngoài ra để đánh giá được tầm quan trọng của các yếu tố, Shen

1 Li, Shen là những nhà nghiên cứu người Trung quốc

Trang 26

và A.l, (2003) đã xây dựng ma trận sức nặng cho mỗi yếu tố ở các cấp độ khác nhau cho mô hình phân tích.

Hình 2.1: Bậc cao nhất của khung phân tích TVC (Nguồn: Roger Flanagan và các

cộng sự (2003)

2.5.2 Các mô hình phân tích dựa trên hiểu biết năng lực cạnh tranh

2.5.2.1 Mô hình Kim cương (The Diamond framework):

Mô hình được ứng dụng nhiều nhất và cũng gây ra tranh cãi nhiều nhất về đánh giá năng lực cạnh tranh là mô hình Kim cương của Porter

Mô hình Kim cương do Porter giới thiệu lần đầu vào năm 1990 trong cuốn Lợi thế cạnh tranh quốc gia là phương pháp mới để hiểu vị trí cạnh tranh của một quốc gia, của một ngành nhằm trả lời cho câu hỏi “Tại sao một quốc gia gặt hái được thành công quốc tế trong một ngành công nghiệp nhất định?” Theo Porter, mỗi quốc gia đều có bốn thuộc tính lớn định hình môi trường cạnh tranh cho DN trong nước và chúng cũng chính là những nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh của các DN trong một quốc gia

và trong một ngành công nghiệp nhất định Bốn thuộc tính này là: điều kiện yếu tố sản xuất, điều kiện nhu cầu, các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành công nghiệp

hỗ trợ, chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh trong nước của DN đã hình thành nên 4 đỉnh của cấu trúc kim cương (hình thoi) Các yếu tố trong “hình thoi” là hệ thống tự củng cố lẫn nhau, ảnh hưởng của một nhân tố phụ thuộc vào trạng thái của các nhân tố khác và lợi thế của nhân tố này cũng có thể tạo ra hay nâng cấp lợi thế của các nhân tố khác

Ngoài ra, cũng cần xét thêm hai yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến lợi thế quốc gia của một ngành, đó là: các sự kiện khách quan (ngẫu nhiên) và Chính phủ Với sự kết hợp của hai yếu tố này Michael E Porter đã đưa ra mô hình “hình thoi” đầy đủ bao gồm 6 yếu tố tương tác mật thiết với nhau (hình 2.2)

Giá trị năng lực cạnh tranh tổng thể

Năng lực cạnh tranh của nhà thầu

CM - A CM - B CM - C CM - D CM - E CM - F

Trang 27

Hình 2.2: Mô hình kim cương hoàn chỉnh của Porter (Nguồn: Porter (2008))

(1 ) Các điều kiện về yếu tố sản xuất:

Các yếu tố sản xuất có thể được phân nhóm thành một số loại cơ bản như: Nguồn nhân lực, nguồn tài sản vật chất, nguồn kiến thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng Số lượng các yếu tố sản xuất được sử dụng rất khác nhau trong các ngành công nghiệp

DN của một nước giành được lợi thế cạnh tranh nếu họ có được những loại yếu tố sản xuất cụ thể với chi phí thấp hoặc chất lượng cao và điều này có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp nhất định Tuy nhiên lợi thế cạnh tranh từ các yếu tố sản xuất còn phụ thuộc vào hiệu quả và hiệu suất sử dụng chúng thông qua việc DN lựa chọn cách huy động các yếu tố sản xuất cũng như công nghệ

Vì vậy sự sẵn có các yếu tố sản xuất chưa đủ để giải thích cho sự thành công trong cạnh tranh mà đôi khi lợi thế cạnh tranh có thể nảy sinh từ những bất lợi trong một vài yếu tố sản xuất trong một khái niệm năng động hơn

(2) Các điều kiện từ phía cầu

Các điều kiện về cầu trong nước đối với sản phẩm và dịch vụ của một ngành có ảnh hưởng quan trọng đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp đó vì nó quyết định tốc độ, đặc điểm đổi mới hay cải tiến về trình độ quản lý, công nghệ, quy trình sản xuất kinh doanh…của các công ty trong ngành, mặt khác nó còn tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành dựa vào quy mô

Ba thuộc tính chủ yếu và có ý nghĩa của cầu trong nước là: Kết cấu (hay bản chất cầu của khách hàng) của cầu trong nước; Quy mô và kiểu mẫu tăng trưởng của cầu trong nước; Những cơ chế lan truyền thị hiếu và sở thích trong nước ra thị trường nước ngoài (quốc tế hóa nhu cầu nội địa) Trong đó kết cấu của cầu trong nước là thuộc tính

có tác động quan trọng nhất đến khả năng cạnh tranh của một ngành, nó sẽ định hình cách thức các DN nhận biết, hiểu và đáp ứng nhu cầu của khách hàng; nó cũng quyết định sự tác động của 2 thuộc tính còn lại

Sự ngẫu nhiên Chiến lược, cấu trúc và cạnh

tranh trong nước của Công ty

Điều kiện yếu tố

sản xuất Điều kiện cầu

Các ngành công nghiệp có liênquan và các ngành côngnghiệp hỗ trợ

Chính phủ

Trang 28

Như vậy các điều kiện cầu đa dạng có thể củng cố cho nhau và có ý nghĩa lớn nhất trong các giai đoạn phát triển khác nhau của một ngành Tuy nhiên ảnh hưởng của điều kiện cầu lên lợi thế cạnh tranh cũng phụ thuộc vào các yếu tố còn lại trong “hình thoi” mà sẽ được tiếp tục nghiên cứu sau đây

(3) Các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành công nghiệp hỗ trợ

Sự tồn tại hay thiếu hụt của các ngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành công nghiệp có liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế ở một quốc gia sẽ có tác động đến khả năng cạnh tranh cho một ngành công nghiệp Cụ thể:

Ngành công nghiệp hỗ trợ có khả năng cạnh tranh quốc tế sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh cho ngành công nghiệp sử dụng đầu ra theo các cách khác nhau, cụ thể là từ việc tiếp cận các yếu tố sinh lời một cách hiệu quả nhất, là lợi thế phối hợp liên tục mà các ngành phụ trợ tạo ra và quan trọng nhất là tạo ra quá trình đổi mới và cải tiến công nghệ Ví dụ, việc trao đổi các quy trình công nghệ, cùng tham gia nghiên cứu phát triển hoặc cùng tham gia giải quyết các vấn đề đưa đến các giải pháp nhanh và hiệu quả hơn và sẽ giảm bớt chi phí rất nhiều cho các DN

Đối với ngành công nghiệp có liên quan, cơ chế mang lại lợi thế cạnh tranh cho ngành khác cũng tương tự như đối với ngành công nghiệp hỗ trợ, nó cung cấp những

cơ hội cho dòng chảy thông tin và trao đổi kỹ thuật Sự hiện diện của một ngành công nghiệp có liên quan cũng làm tăng khả năng nhận biết những cơ hội mới trong ngành, ngoài ra thúc đẩy nhanh sự phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành này Tuy nhiên những lợi ích của các ngành phụ trợ và liên quan trong nước cũng phụ thuộc vào những nhân tố còn lại của “hình thoi”

(4) Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh nội địa

Nhân tố quyết định cuối cùng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một ngành chính là hoàn cảnh mà các công ty trong ngành được hình thành, tổ chức và quản lý cũng như bản chất của cạnh tranh trong nước

Mục tiêu, chiến lược và cách thức tổ chức trong các ngành và ở những quốc gia cũng rất khác nhau Những ngành công nghiệp quốc gia có lợi thế cạnh tranh thường

là những ngành mà luôn có sự cam kết lâu dài nhất của nhân viên và chủ sở hữu đối với công ty và với ngành, miễn là có sự hỗ trợ bởi các nhân tố quyết định khác Sự cam kết này thể hiện ở mức độ đầu tư, tái đầu tư toàn bộ lợi nhuận cho công ty, cho ngành mặc dù có thể phải đối mặt với những rủi ro hoặc là mức thu nhập hiện tại thấp

và sự tận tâm của người làm công đối với nghề nghiệp

Ngoài ra sự cạnh tranh trong nước mạnh mẽ cũng sẽ tạo ra và duy trì được lợi thế cạnh tranh cho một ngành công nghiệp Các công ty thành công cạnh tranh mạnh mẽ ở trong nước sẽ gây ra được những áp lực lên nhau để cùng nâng cấp và đổi mới và từ

Trang 29

đó tăng thêm quy mô nhờ bán hàng không chỉ thị trường trong nước mà trên thị trường thế giới và điều này sẽ dẫn đến tăng quy mô của cả một ngành công nghiệp

(5) Các yếu tố ngẫu nhiên

Những sự kiện ngẫu nhiên là những sự phát triển nằm ngoài tầm kiểm soát của

DN và thậm chí là Chính phủ, ví dụ như: chiến tranh, những phát minh về lý thuyết mới, những đột phá trong phát triển công nghệ, sự thay đổi hay phát triển về nhu cầu chính trị ở thị trường nước ngoài Chúng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên 6 yếu tố của nhân tố hình thoi Những sự kiện này tạo ra những gián đoạn mà có thể dẫn đến sự phá bỏ hoặc tái cấu trúc lại ngành công nghiệp, tạo cơ hội cho DN nước ngoài thâm nhập vào ngành công nghiệp mới, thế chỗ các công ty trong nước để đạt được lợi thế cạnh tranh Đây cũng chính là một trong những nhân tố quan trọng cho phép sự chuyển đổi về lợi thế cạnh tranh trong một ngành công nghiệp cụ thể

(6) Vai trò của Chính phủ

Chính phủ ở mọi cấp độ có ảnh hưởng quan trọng đến năng lực cạnh tranh của quốc gia nói chung và của các ngành nói riêng thông qua ảnh hưởng của mình đến 4 nhân tố quyết định Vai trò này có thể thấy rõ nhất khi xem xét ảnh hưởng chính sách lên mỗi nhân tố Những chính sách thành công và có hiệu quả được phát huy trong các ngành công nghiệp mà có sự hiện diện của các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh và trong các ngành mà Chính phủ tác động củng cố các nhân tố quyết định lợi thế cạnh tranh này Ngược lại Chính phủ cũng có thể bị tác động bởi mỗi nhân tố trong bốn nhân tố quyết định theo hướng tích cực hoặc tiêu cực

Như vậy có thể nói mỗi nhân tố quyết định nói trên trong mô hình “hình thoi” phụ thuộc lẫn nhau vì tác động của một nhân tố thường dựa vào tình trạng của các nhân tố khác Sự yếu kém của một nhân tố quyết định bất kỳ nào sẽ có thể cản trở một ngành có tiềm năng phát triển của một quốc gia

2.5.2.2 Mô hình Kim cương đúp (The Double Diamond framework):

Mô hình Kim cương đúp là mô hình được mở rộng dựa trên nền tảng của mô hình Kim cương của Porter (1990) do Rugman và D’Cruz giới thiệu năm 1993 nhằm khắc phục vấn đề đang được tranh cãi là liệu mô hình Kim cương của Porter (1990) có thể giải quyết được những hoạt động mang tầm đa quốc gia hay chưa Mô hình này đã được áp dụng trong nghiên cứu tại Canada (1993), Mexico (1993) và New Zealand Năm 1995, Moon, Rugman, Verbeke đã phát triển mở rộng mô hình này cho phù hợp với tất cả các quốc gia và có sự kết hợp chặt chẽ với các hoạt động ở quy mô đa quốc gia (hình 2.3) Mô hình Kim cương đúp mở rộng cũng đã được Moon, Rugman, Verbeke áp dụng nghiên cứu và thử nghiệm tại Hàn quốc, Singapore (1998)

Trang 30

Hình 2.3: Mô hình Kim cương đúp mở rộng (Nguồn: Moon, Rugman, Verbeke

(1995), trích trong Roger Flanagan và các cộng sự (2003))

Theo mô hình Kim cương đúp mở rộng thì đường hình thoi trong cùng là mô hình Kim cương gốc của Porter (1990), đường hình thoi ngoài cùng cũng bao gồm 4 yếu tố nhưng có tính đến bối cảnh toàn cầu Đường hình thoi chấm gạch là kết quả của hình thoi trong nước cũng như hình thoi quốc tế hoặc các hoạt động quy mô đa quốc gia

Mô hình Kim cương đúp mở rộng đã không nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu tuy nhiên cũng đã đặt ra được bước khởi đầu cho việc phân tích sự tác động lẫn nhau giữa nền tảng năng lực cạnh tranh của một quốc gia và bối cảnh cạnh tranh toàn cầu mà trong đó các ngành công nghiệp đang hoạt động

2.5.2.3 Mô hình Chín yếu tố (The Nine - factor framework):

Đây cũng là mô hình mở rộng dựa trên mô hình Kim cương của Porter (1990) do Cho giới thiệu (1994) Mô hình này đã nhóm các yếu tố trong mô hình Kim cương của Porter thành 2 nhóm chính là:

 Các yếu tố vật chất (Physical factors) bao gồm: nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường kinh doanh, các ngành công nghiệp có liên quan và các ngành công nghiệp phụ trợ, nhu cầu trong nước

 Các yếu tố con người (Human factors) bao gồm: lao động, các chính trị gia và các quan chức quan liêu, các chủ DN, các nhà quản lý và các kỹ sư

2.5.2.4 Mô hình Tam giác sức cạnh tranh (The competitiveness triangle framework):

Mô hình này được giới thiệu bởi Lall (2001) và tương tự như mô hình Kim cương của Porter (1990) Tuy nhiên nếu như mô hình Kim cương của Porter nghiên cứu những yếu tố tạo nên năng suất của một quốc gia thì mô hình của Lall lại tập trung nghiên cứu vào các thị trường mà trong đó DN tìm cách thâm nhập và những thất bại

Trang 31

mà mỗi thị trường chịu trách nhiệm trải qua (Lall (2001), trích trong Roger Flanagan

và các cộng sự (2003)) Trong mô hình của mình Lall cũng đã đặt chính sách của chính phủ làm trung tâm của hành động trong khi mô hình Kim cương của Porter lại đặt vai trò của chính phủ như là một yếu tố ngoại sinh

Mô hình Tam giác sức cạnh tranh gồm 3 yếu tố quyết định gắn liền với nhau, đó là:

 Những thị trường khích lệ gồm quản lý kinh tế vĩ mô, chính sách thương mại quốc gia, những đặc điểm của một ngành công nghiệp và nhu cầu trong nước

 Những thị trường yếu tố tập trung vào các kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng về công nghệ; tài chính cho thông tin và công nghệ

 Những thị trường nghiên cứu đề cập đến các phần chủ yếu hỗ trợ cho các hoạt động công nghệ và phát triển, ví dụ như viện R&D, viện đào tạo và phát triển

2.5.3 Mô hình phân tích dựa trên sự kết hợp giữa hiểu biết và đo lường năng lực cạnh tranh: Mô hình Tài sản – Quá trình – Hiệu quả (APP):

Beckley cùng các cộng sự (1988) nhận thấy rằng các khái niệm về năng lực cạnh tranh cũng như các cách đo lường năng lực cạnh tranh là rất đa dạng và đã đưa ra 3

nhóm yếu tố khác nhau nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh: Thứ nhất là khả năng quản

lý tốt; thứ hai là khả năng tạo đầu ra từ tài sản và thứ 3 là quá trình quản lý Beckley

cùng các cộng sự cũng đã kết luận rằng cả 3 nhóm yếu tố này cần phải được phối hợp với nhau để đảm bảo có được một năng lực cạnh tranh quốc gia, của ngành và DN bền vững Các khái niệm về Tài sản, Quá trình và Hiệu quả cạnh tranh đã được kế thừa và phát triển bởi Momaya (1998, 2004) và Momaya và Sellby (1998) và là nền tảng của

mô hình APP (Assets – Processes – Performance) (Hình 2.4) Trong mô hình APP,Momaya đã tập trung chủ yếu vào yếu tố Quá trình cạnh tranh và ông cũng cho rằng đây là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo cạnh tranh bền vững cho quốc gia, ngành và từng DN Mô hình này đã được Momaya và Sellby (1998) điều chỉnh và ứng dụng vào phân tích năng lực cạnh tranh ngành xây dựng ở Canada với 95 tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh

Trang 32

Có thể tổng hợp các mô hình phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh theo bảng 2.2 như sau:

Bảng 2.2: Tóm lược các mô hình phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh

Mô hình phân tích Tác giả, năm Cấp độ Trọng tâm ứng dụng Mức độ

Ba yếu tố năng lực cạnh

tranh

Chaharbaghi vàFeurer, 1994 DN Đo lường Không Giá trị năng lực cạnh tranh

tổng thể Li, Shen, 2002 DN Đo lường Có Kim cương Porter, 1990 Quốc gia,

ngành Khái niệm Có Kim cương đúp mở rộng Moon, Rugman,

Verbeke, 1995

Quốc gia, ngành Hiểu biết Ít Chín yếu tố Cho, 1994 Quốc gia,

ngành Hiểu biết Không Tam giác sức cạnh tranh Lall, 2001 DN Hiểu biết Không

Tài sản – Quá trình – Hiệu

quả (APP)

Bekley và cộng

sự, 1988;

Momaya vàSellby, 1998

Quốc gia, ngành, DN

Kết hợp giữa hiểu biết và

đo lường

Nguồn: Roger Flanagan và các cộng sự (2003)

2.6 Mô hình phân tích năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam

Từ nghiên cứu lý thuyết năng lực cạnh tranh của Porter và các nhà nghiên cứu khác được trình bày ở trên, có thể nhận thấy rằng mô hình Kim cương (hình thoi) của Porter (1990) là mô hình được xem xét, ứng dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ở cấp độ DN, ngành và cả quốc gia Còn với mô hình Kim cương đúp mở rộng của Rugman và D’Cruz (1993) tuy chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhưng đã đặt ra được bước khởi đầu cho việc phân tích sự tác động lẫn nhau giữa nền tảng năng lực cạnh tranh của một quốc gia và bối cảnh cạnh tranh toàn cầu mà trong đó các ngành công nghiệp đang hoạt động, hay nói cách khác

đã phần nào khắc phục được hạn chế của mô hình Kim cương của Porter (1990)

Do đó mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam sẽ dựa trên nền tảng mô hình Kim cương của Porter (1990) và có xem xét đến đặc điểm của ngành CNpPM đã nêu ở trên trong bối cảnh ngành CNpPM toàn cầu Như vậy mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam sẽ là mô hình Kim cương của Porter (1990) chuyển đổi và được mô tả ở hình 2.5 như sau:

Trang 33

Hình 2.5: Mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt

Nam (Nguồn:Tác giả đề xuất)

1) Các điều kiện yếu tố SX trong mô hình của Porter:

Theo mô hình nguyên gốc của Porter (1990) thì các điều kiện yếu tố bao gồm: Nguồn nhân lực, nguồn tài sản vật chất, nguồn kiến thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng Tuy nhiên do đặc điểm của ngành CNpPM là yếu tố con người là điều kiện then chốt cho sự thành công và phát triển của ngành này, vì vậy để làm rõ hơn vai trò của yếu tố con người trong năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM yếu tố này sẽ được tách riêng thành yếu tố độc lập trong mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam Như vậy điều kiện yếu tố trong mô hình của Porter sẽ được chia thành 2 yếu tố là: Nguồn nhân lực và các điều kiện yếu tố sản xuất, trong đó:

- Nguồn nhân lực bao gồm các chỉ tiêu: Số lượng, chất lượng và đặc điểm của

nguồn nhân lực

- Các điều kiện yếu tố bao gồm các chỉ tiêu: Nguồn vốn và cơ sở hạ tầng

2) Các điều kiện cầu trong mô hình của Porter:

Các điều kiện cầu cũng đã được các định là có vị trí quan trọng trong năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM, so với mô hình Kim cương của Porter thì yếu tố này không thay đổi, nó bao gồm các chỉ tiêu: Kết cấu (hay bản chất nhu cầu của khách hàng) của cầu trong nước, quy mô của cầu trong nước

3) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan trong mô hình của Porter:

Các điều kiện yếu tố SX

Các điều kiện nhu cầu

Nguồn nhân lực

Yếu tố ngẫu nhiên

quốc tế Đặc điểm của ngành CNpPM Việt Nam

Trang 34

Trong mô hình của Porter các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan được hiểu là những ngành hoạt động độc lập và có tác động đến khả năng cạnh tranh cho một ngành công nghiệp đang nghiên cứu

Tuy nhiên với đặc điểm của ngành CNpPM là sản phẩm của nó mang tính tích hợp cao, đã thâm nhập sâu vào trong các hoạt động quản lý nhà nước, trong tất cả các ngành công nghiệp, dịch vụ, các lĩnh vực và mọi mặt đời sống xã hội và là một phần không thể tách rời của những ngành này vì vậy nó là nền tảng và góp phần quan trọng thúc đẩy các ngành, lĩnh vực cùng phát triển Như vậy trong trường hợp ngành CNpPM, yếu tố các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan không mang ý nghĩa như theo mô hình của Porter vì vậy nó được đưa ra khỏi mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngành phần mềm Việt Nam

4) Chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh nội địa trong mô hình của Porter:

Nhân tố quyết định cuối cùng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong mô hình Kim cương của Porter chính là hoàn cảnh mà các công ty trong ngành được hình thành, tổ chức và quản lý cũng như bản chất của cạnh tranh trong nước Như vậy ở yếu

tố này Porter đã đề cập đến cạnh tranh ở cấp độ ngành và cấp độ DN, tuy nhiên do cạnh tranh ở cấp độ ngành là có sự khác biệt so với cấp độ DN do đó cần phân biệt cấp

độ cạnh tranh ở tầm vĩ mô và vi mô và xây dựng thành 2 yếu tố độc lập là cấp độ ngành và cấp độ DN

Ở cấp độ ngành, vấn đề tập trung vào đó là sự cạnh tranh và hợp tác trong ngành

và hình ảnh của ngành Còn ở cấp độ DN sự tập trung lại chủ yếu vào năng lực quản lý của DN cũng như hoạt động R&D Từ đây yếu tố chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh nội địa trong mô hình của Porter sẽ được chia thành 2 yếu tố là: chiến lược của DN, quản lý và hoạt động và đặc điểm của ngành công nghiệp trong mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam Trong đó:

- Chiến lược, quản lý và hoạt động của DN gồm các chỉ tiêu: Chiến lược kinh

doanh, hoạt động marketing, năng lực tài chính, hoạt động R&D, sản xuất theo quy trình

- Đặc điểm của ngành công nghiệp bao gồm các chỉ tiêu: cạnh tranh nội địa, sự

liên minh và hợp tác giữa các DN trong ngành

5) Chính phủ:

Trong mô hình Kim cương của Porter thì Chính phủ được xem như là yếu tố ngoại sinh Tuy nhiên đối với ngành phần mềm thì Chính phủ lại có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của ngành Vì vậy yếu tố Chính phủ sẽ được xem như

là yếu tố quan trọng trong đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM thay vì chỉ

Trang 35

là yếu tố ngoại sinh với những chỉ tiêu sau: chính sách hỗ trợ, chiến lược phát triển ngành, sự hoạt động hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước

6) Các yếu tố ngoại sinh:

Trong mô hình Kim cương của Porter thì 2 yếu tố ngoại sinh là yếu tố ngẫu nhiên

và Chính phủ Nhưng Chính phủ đã được xem như là yếu tố quan trọng trong năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM, vì vậy yếu tố ngoại sinh còn lại trong mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam là sự ngẫu nhiên

Yếu tố ngẫu nhiên là yếu tố mà không thể dự báo, đo lường hay là những sự phát triển nằm ngoài tầm kiểm soát của DN và thậm chí là Chính phủ Đối với ngành CNpPM thì yếu tố ngẫu nhiên có thể là sự bất ổn của tình hình chính trị trong và ngoài nước, sự cách biệt về địa lý hay sự gia tăng cạnh tranh của các quốc gia lân cận đối với những thị trường tiềm năng của ngành CNpPM Việt Nam

7) Bối cảnh quốc tế:

Trong xu thế toàn cầu hóa và các rào cản bị dỡ bỏ thì yếu tố bối cảnh quốc tế cũng đã tạo ra những cơ hội và thách thức cho ngành CNpPM Việt Nam Tuy nhiên trong mô hình Kim cương của Porter chưa đề cập đến yếu tố này và vì vậy đã gây ra

sự tranh cãi bởi nhiều nhà nghiên cứu như Rugman và D’Cruz (1993) Chính sự tranh cãi này đã cho ra đời mô hình kim cương đúp của Moon, Rugman và Verbeke (1995) Như vậy trong mô hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam, yếu tố quốc tế cũng sẽ được đưa vào để đáp ứng được xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Bối cảnh quốc tế bao gồm những chỉ tiêu như: sự phát triển của trình độ công nghệ, sự di chuyển của nguồn nhân lực, các điều kiện nhu cầu

1 Xem phụ lục 10

2 Academy of International Business (AIB) là hiệp hội hàng đầu của các học giả và chuyên giatrong lĩnh vực kinh doanh quốc

tế Được thành lập vào năm 1959, hiện nay, AIB có 3187 thành viên tại 78 quốc gia khác nhau trên thế giới Các thành viên bao

Trang 36

Emerging the Global Order” t

Stanley Nollen đã s

tranh quốc tế của một ng

sản xuất, các yếu tố trong lý thuyết th

tranh quốc gia của Porter (1990) Từ đây Staley Nollen đ

năng lực cạnh tranh cho ng

Hình 2.6: Khung phân tích n

Từ khung phân tích, Stanley Nollen đ

năng lực cạnh tranh ngành CNPPM như sau:

1) Nguồn nhân lực

Bao gồm các chỉ ti

gia, kinh nghiệm của các nhà qu

2) Quản lý hiệu quả:

Bao gồm các chỉ tiêu: ch

theo vị trí địa lý; sự phù h

3) Năng suất lao động

Bao gồm các chỉ tiêu: năng su

4) Vốn đầu tư:

Bao gồm các chỉ tiêu: v

gồm các học giả từ các viện hàn lâm

Emerging the Global Order” tại Ấn độ vào năm 2007

ã sử dụng 3 phương pháp tiếp cận để giải thích năng lực cạnh

ốc tế của một ngành công nghiệp, đó là: tiếp cận từ phương di

ản xuất, các yếu tố trong lý thuyết thương mại quốc tế và mô hình n

ốc gia của Porter (1990) Từ đây Staley Nollen đã xây dựng khung phân tích

ực cạnh tranh cho ngành CNpPM Ấn độ và Trung quốc (Hình

Hình 2.6: Khung phân tích năng lực cạnh tranh theo nghiên cứu của Stanley Nollen

ừ khung phân tích, Stanley Nollen đã đưa ra các chỉ tiêu c

ành CNPPM như sau:

ồn nhân lực và kỹ năng quản lý:

ồm các chỉ tiêu: đào tạo nhân viên, chia sẻ kinh nghi

các nhà quản lý

ệu quả:

êu: chất lượng của sản phẩm, dịch vụ; thành l

ù hợp giữa phong cách quản lý với văn hóa

ứu của Stanley Nollen

êu cụ thể để đánh giá

kinh nghiệm của các chuyên

ành lập các cụm DN của mỗi quốc gia đơn vị/lao động

các nhà nghiên cứu, các đại diện của

Trang 37

5) Cơ sở hạ tầng:

Bao gồm các chỉ tiêu: điện, giao thông vận tải, và viễn thông

6) Công nghệ:

Bao gồm các chỉ tiêu: R&D, thu nhập từ các sáng chế và bản quyền

7) Mối liên kết quốc tế:

Bao gồm các chỉ tiêu: tham gia các liên minh chiến lược giữa các DN, đầu tư của nước ngoài và vai trò của các chuyên gia trong nước làm việc ở nước ngoài

DN phần mềm

2.7.2 Vận dụng kết quả nghiên cứu của Stanley Nollen đề xuất các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam

Thông qua các kết quả hồi quy của ngành CNpPM Ấn độ và Trung quốc, chúng

ta có thể thấy rằng các yếu tố về trình độ nguồn nhân lực, trình độ quản lý, các mối liên kết quốc tế và đặc biệt là hiệu quả của các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành CNpPM và đây chính

là những nội dung cần được cân nhắc và xem xét đưa vào khung phân tích đánh giá các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam Tuy nhiên khi xây dựng khung phân tích đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành CNpPM Việt Nam, ngoài căn cứ vào cơ sở khoa học đã được kiểm chứng như nghiên cứu của Staley Nollen thì điều cần thiết là phải xem xét đến thực tiễn của ngành CNpPM Việt Nam Cụ thể là:

Trang 38

Trong 10 năm qua t

phát triển rất đáng ghi nhận, từ một n

Nam đã vươn lên đứng thứ 56 tr

(Economist Intelligence Unit, 2009

Việt Nam đứng thứ 9/10 quốc gia h

thành phố lớn là TP HCM x

phố gia công phần mềm mới nổi tr

được xếp hạng nằm trong top 30 quốc gia h

thế giới trong năm 2010 (

Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ n

đối mặt với nhiều khó khăn

CNpPM Việt Nam hiện nay

“Thiếu hụt nhân lực vẫn l

nghiệp phần mềm, 9 khó khăn tiếp theo đ

toàn cầu; Cơ sở hạ tầng CNTT; Ngoại ngữ; Bảo vệ bản quyền; Vốn; Th

Chính sách hỗ trợ của Nhà nư

Ngân sách chi cho nghiên c

Như vậy từ tham kh

tại Ấn độ và Trung quốc qua nghiên c

thực tiễn của ngành CNpPM Vi

cạnh tranh của ngành CNpPM Vi

Hình 2.7: Các nhân t

Việt Nam (Nguồn:Tác gi

và mô hình của Stanley Nollen (2003

1 Tholons là tập đoàn hàng đầu về cung c

Nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý

Trong 10 năm qua từ 2000 – 2010, ngành CNpPM Việt Nam đ

ển rất đáng ghi nhận, từ một nước chưa có tên trên bản đồ CNTT thế giới, Việt

ứng thứ 56 trên 100 quốc gia về chỉ số cạnh tranh CNTT năm 2009 (Economist Intelligence Unit, 2009:4) Riêng lĩnh vực gia công phần mềm, năm 2009

ệt Nam đứng thứ 9/10 quốc gia hàng đầu về gia công phần mềm tr

P HCM xếp hạng 5/50 và Hà Nội xếp hạng 10/50 trong 50 th

ố gia công phần mềm mới nổi trên thế giới (Tholons, 2009:10)1

ằm trong top 30 quốc gia hàng đầu về gia công phần mềm tr

2010 (Gartner, 2009:4)2.ạnh những kết quả đáng khích lệ nêu trên, ngành CNp

ối mặt với nhiều khó khăn Trong đó những khó khăn hạn chế sự

n nay, theo công bố kết quả khảo sát củ

ụt nhân lực vẫn là khó khăn hàng đầu hạn chế sự phát triển của các doanh

ệp phần mềm, 9 khó khăn tiếp theo được các DN xếp lần lượt l

ở hạ tầng CNTT; Ngoại ngữ; Bảo vệ bản quyền; Vốn; Th

a Nhà nước; Thiếu lộ trình tổng thể quốc gia về phát triển ngNgân sách chi cho nghiên cứu và phát triển” [tr 2]

tham khảo khung phân tích năng lực cạnh tranh c

c qua nghiên cứu của Stanley Nollen (2003

a ngành CNpPM Việt Nam, các nhân tố chủ yếu tác đ

a ngành CNpPM Việt Nam được đề nghị như sau:

Các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh ngành CNpPMTác giả đề xuất từ liên hệ giữa thực tiễn ngành CNpPM Vi

ủa Stanley Nollen (2003-2004))

cung cấp dịch vụ tư vấn chiến lược về gia công phần mềm và đầ

Nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý

trong và ngoài nước

Môi trường kinh doanh

Ngoài ra Việt Nam

ầu về gia công phần mềm trên toàn

pPM cũng đang phải phát triển của ngành

ủa Vinasa (2009) là:

ầu hạn chế sự phát triển của các doanh

ợt là: Suy thoái kinh tế

ở hạ tầng CNTT; Ngoại ngữ; Bảo vệ bản quyền; Vốn; Thương hiệu;

ổng thể quốc gia về phát triển ngành;

nh tranh của ngành CNpPM

a Stanley Nollen (2003-2004) và từ căn cứ

u tác động đến năng lực

nh tranh ngành CNpPMành CNpPM Việt Nam

ầu tư trên toàn cầu

Trang 39

Chương 3: PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH

NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHẦN MỀM VIỆT NAM

Sau mười năm phát triển từ khi chỉ thị số 58/CT-TW năm 2000 được ban hành, ngành CNpPM Việt Nam đã có những bước phát triển rất đáng ghi nhận nhưng theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành thì vẫn chưa có gì đáng nói nếu so với các quốc gia trong khu vực như Ấn Độ hay Trung Quốc Tuy nhiên để tìm hiểu cụ thể hơn

về vấn đề này, đề tài sẽ tiến hành phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam theo khung phân tích dựa trên mô hình Kim cương của Porter (1990) chuyển đổi đã được đúc kết ở chương 2 để từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho ngành CNpPM Việt Nam Như vậy chương này đề tài

sẽ trình bày các nội dung chính như sau: Tổng quan ngành CNpPM Việt Nam và phân tích hiện trạng ngành CNpPM Việt Nam căn cứ mô hình phân tích dựa trên mô hình Kim cương của Porter (1990) chuyển đổi

3.1 Tổng quan ngành CNpPM Việt Nam:

Toàn ngành CNpPM hiện nay có khoảng 1.000 DN đang hoạt động, tăng gấp 6 lần trong vòng 10 năm từ 2000 – 2010, trong đó có 5 DN đạt chứng nhận quy trình sản xuất phần mềm hướng đến xây dựng một hệ thống tích hợp (CMMI) ở mức cao nhất là mức 5, khoảng 50 DN đạt CMMI-4, CMMI-3 hoặc ISO-9001 Đa số các DN hoạt động với quy mô dưới 150 lao động, có khoảng trên 200 DN có quy mô từ 150 – 200 lao động và đặc biệt là đã có một số DN lớn với quy mô gần 1000 lao động như Công

ty CSC Việt Nam, DN Tư nhân Dịch vụ Tường Minh (TMA), Công ty TNHH Harvey Nash, đặc biệt là Công ty phần mềm FPT đã đạt qui mô lớn nhất Đông Nam Á với trên

3000 cán bộ, kỹ sư, lập trình viên (Vinasa (2010) và Vụ CNTT, Bộ TT – TT (2010))

Việt Nam cũng là quốc gia đã có sự thăng hạng nhanh chóng trong bảng xếp hạng các quốc gia hấp dẫn nhất về gia công phần mềm, từ vị trí thứ 19 năm 2007 lên vị trí thứ 8 năm 2010 Tuy nhiên Việt Nam vẫn đứng sau các nước trong cùng khu vực như Malaysia, Indonesia, Thailand và đặc biệt là đã có sự trỗi dậy mạnh mẽ của Mexico, từ

vị trí thứ 11 năm 2009 lên vị trí thứ 6 năm 2010 (Kearney, 2009, 2011)

Bảng 3.1:Thứ hạng Việt Nam trong bảng xếp hạng gia công phần mềm trên thế giới

Thứ

tự Quốc gia Sự hấp dẫn về tài chính

Mức độ sẵn sàng và kỹ năng nguồn nhân lực Môi trường kinh doanh

Tổng điểm

1. Ấn độ 3,11 2,76 1,14 7,01

2. Trung quốc 2,62 2,55 1,31 6,49

3. Malaysia 2,78 1,38 1,83 5,99

Trang 40

.Biểu đồ 3.1 cho thấy trong vòng 10 năm, doanh thu CNpPM Việt Nam tăng gần 16 lần, với mức tăng trung bình hơn 35%/năm và có bị sụt giảm trong năm 2008 và 2009 do bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế, mặc dù vậy doanh thu của ngành CNpPM năm

2009 vẫn tăng gần 30%, đạt 850 triệu USD, trong đó 510 triệu USD nội địa và 340 triệu USD xuất khẩu

Biểu đồ 3.1: Doanh thu và tăng trưởng ngành CNpPM giai đoạn 2000 - 2009

(Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ số liệu thống kê của Bộ TT - TT (2009 – 2010))

Tuy nhiên ngành CNpPM Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế, cụ thể là quy mô phát triển của toàn ngành nhỏ, năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh so với các

1 Số liệu thống kê về Chỉ số phát triển giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 phân theo ngành công nghiệp của Bộ Công thương cho thấy mức tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp giai đoạn 2000 – 2009 là 15,24% (trong đó ngành công nghiệp khai thác là 4,9%, ngành công nghiệp chế biến là 16,61%, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước là

Ngày đăng: 17/07/2022, 12:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo của HCA (2010), “Vị trí của Việt Nam 2010 trên bản đồ CNTT- TT thế giới”, Hội thảo Toàn cảnh CNTT – TT Việt Nam 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vị trí của Việt Nam 2010 trên bản đồ CNTT- TT thế giới”
Tác giả: Báo cáo của HCA
Năm: 2010
2. Bá Tân (2010), “Dự án khu công nghệ thông tin tập trung: Tiếp tục lắng nghe để hoàn thiện”, http://www.sggp.org.vn/khoahoc_congnghe/2010/9/237772/ (ngày truy cập 20/01/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dự án khu công nghệ thông tin tập trung: Tiếp tục lắng nghe để hoàn thiện”
Tác giả: Bá Tân
Năm: 2010
3. Báo cáo của HCA (2009), “Một vài khía cạnh về bức tranh CNTT, CNpPM Việt Nam”, Hội thảo Toàn cảnh CNTT – TT Việt Nam 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một vài khía cạnh về bức tranh CNTT, CNpPM Việt Nam”
Tác giả: Báo cáo của HCA
Năm: 2009
4. Báo cáo của Vụ CNTT, Bộ TT – TT (2009), “Hiện trạng và định hướng phát triển CNPPM Việt Nam”, Hội thảo Toàn cảnh CNTT – TT Việt Nam 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiện trạng và định hướng phát triển CNPPM Việt Nam”
Tác giả: Báo cáo của Vụ CNTT, Bộ TT – TT
Năm: 2009
5. Báo lao động (2008), “Nhân lực phần mềm: vinh quang nhưng cũng đầy thử thách”, http://laodong.com.vn (ngày truy cập 14/01/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhân lực phần mềm: vinh quang nhưng cũng đầy thử thách”
Tác giả: Báo lao động
Năm: 2008
7. Bộ TT – TT (2010), “CNTT – TT Việt Nam 2010”, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “CNTT – TT Việt Nam 2010”
Tác giả: Bộ TT – TT
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
Năm: 2010
8. Cục ứng dụng CNTT, Bộ TT&TT (2010), “Báo cáo ứng dụng CNTT trong DN và quản lý nhà nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo ứng dụng CNTT trong DN và quản lý nhà nước
Tác giả: Cục ứng dụng CNTT, Bộ TT&TT
Năm: 2010
9. Cuộc sống số (2010), ”Chính sách ngành phần mềm: Bao giờ cho đến thực tế?”, http://vtv.vn/Article/Get/Chinh-sach-nganh-phan-mem-Bao-gio-cho-den-thuc-te-a514d110f8.html (ngày truy cập 06/05/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ”Chính sách ngành phần mềm: Bao giờ cho đến thực tế?”
Tác giả: Cuộc sống số
Năm: 2010
10. Đại An (2009), “Havard bàn về giáo dục Việt Nam”, http://editor.tuanvietnam.net/harvard-ban-ve-khung-hoang-giao-duc-dai-hoc-vn(ngày truy cập 11/02/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Havard bàn về giáo dục Việt Nam”
Tác giả: Đại An
Năm: 2009
11. GSO (2007), “Tổng quan về cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp 2007”, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=418&ItemID=8386(truycập05/05/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tổng quan về cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp 2007”
Tác giả: GSO
Năm: 2007
12. GSO (2010), “Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21 – Phần A”, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Doanh nghiệp Việt Nam 9 năm đầu thế kỷ 21 – Phần A”
Tác giả: GSO
Nhà XB: NXBThống kê
Năm: 2010
13. GSO (2010), “Tình hình kinh tế - xã hội năm 2010”, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=10835,(truycập05/05/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình kinh tế - xã hội năm 2010”
Tác giả: GSO
Năm: 2010
14. Hà Bùi (2010), “Thiếu R&D, phần mềm Việt Nam sẽ mãi... làm thuê”, http://www6.vnmedia.vn/newsdetail.asp?NewsId=205452&CatId=35 (ngày truy cập 17/01/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thiếu R&D, phần mềm Việt Nam sẽ mãi... làm thuê”
Tác giả: Hà Bùi
Năm: 2010
15. Hà Phạm (2008), “Xây dựng năng lực cạnh tranh cho DN Việt”, http://www.doanhnhan360.com/PortletBlank.aspx/7D9FE5EBFE7845049D725B1A30149BB5/View/Chien-luoc- Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng năng lực cạnh tranh cho DN Việt”
Tác giả: Hà Phạm
Năm: 2008
16. Hội Đồng Trung ương (2002), “Giáo trình Kinh tế Chính trị - Mác Lê nin”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình Kinh tế Chính trị - Mác Lê nin”
Tác giả: Hội Đồng Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
17. Hồng Nhung (2007), “Nhu cầu nhân lực CNTT lớn, nhưng phải... đào tạo lại”, http://nhipsongso.tuoitre.vn/nhip-song-so/227939/Nhu-cau-nhan-luc-CNTT-lon-nhung-phai-dao-tao-lai.html (ngày truy cập 14/01/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhu cầu nhân lực CNTT lớn, nhưng phải... đào tạo lại”
Tác giả: Hồng Nhung
Năm: 2007
18. ICTnews (2010), “Doanh nghiệp lớn chưa tin phần mềm virus nội”, http://www.ictnews.vn/Home/phan-mem/Doanh-nghiep-lon-chua-tin-phan-mem-virus%C2%A0noi/2010/04/2CMSV1626387/View.htm(ngàytruycập04/05/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Doanh nghiệp lớn chưa tin phần mềm virus nội”
Tác giả: ICTnews
Năm: 2010
19. ICTnews (2010), “Thị trường phần mềm diệt virus: “Ngoại binh” thắng thế”, http://www.ictnews.vn/Home/kinh-doanh/Thi-truong-phan-mem-diet-virus-Ngoai-binh-thang-the/2010/04/1SVCM826310/View.htm (ngày truy cập 04/05/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thị trường phần mềm diệt virus: “Ngoại binh” "thắng thế”
Tác giả: ICTnews
Năm: 2010
25. Lương Nga (2005), “Doanh nghiệp phần mềm khó giữ người”, http://vnexpress.net/gl/vi-tinh/2005/04/3b9d9956/ (ngày truy cập 24/02/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Doanh nghiệp phần mềm khó giữ người”
Tác giả: Lương Nga
Năm: 2005
54. Flexibility and Competitiveness: Case of Software/Services Firms in India, http://findarticles.com/p/articles/mi_qa4012/is_200110/ai_n8983485/pg_7/?tag=content; col1, 12/06/2010 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.5 Tổng hợp một số mơ hình và khung phân tích năng lực cạnh tranh 16 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
2.5 Tổng hợp một số mơ hình và khung phân tích năng lực cạnh tranh 16 (Trang 5)
Bảng 2.1: Hệ số ICOR tham khảo của một số quốc gia và của ngành CNpPM - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Bảng 2.1 Hệ số ICOR tham khảo của một số quốc gia và của ngành CNpPM (Trang 17)
Hình 2.1: Bậc cao nhất của khung phân tích TVC (Nguồn: Roger Flanagan và các cộng sự (2003) - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Hình 2.1 Bậc cao nhất của khung phân tích TVC (Nguồn: Roger Flanagan và các cộng sự (2003) (Trang 26)
Hình 2.2: Mơ hình kim cương hồn chỉnh của Porter (Nguồn: Porter (2008)) - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Hình 2.2 Mơ hình kim cương hồn chỉnh của Porter (Nguồn: Porter (2008)) (Trang 27)
Mơ hình Tam giác sức cạnh tranh gồm 3 yếu tố quyết định gắn liền với nhau, đó là: - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
h ình Tam giác sức cạnh tranh gồm 3 yếu tố quyết định gắn liền với nhau, đó là: (Trang 31)
Bảng 2.2: Tóm lược các mơ hình phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Bảng 2.2 Tóm lược các mơ hình phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh (Trang 32)
Hình 2.5: Mơ hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam (Nguồn:Tác giả đề xuất)   1) Các điều kiện yếu tố SX trong mơ hình của Porter: - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Hình 2.5 Mơ hình phân tích hiện trạng năng lực cạnh tranh ngành CNpPM Việt Nam (Nguồn:Tác giả đề xuất) 1) Các điều kiện yếu tố SX trong mơ hình của Porter: (Trang 33)
Hình 2.6: Khung phân tíc hn - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Hình 2.6 Khung phân tíc hn (Trang 36)
Hình 2.7: Các nhâ nt Việt Nam (Nguồn:Tác gi - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Hình 2.7 Các nhâ nt Việt Nam (Nguồn:Tác gi (Trang 38)
Việt Nam cũng là quốc gia đã có sự thăng hạng nhanh chóng trong bảng xếp hạng các quốc gia hấp dẫn nhất về gia cơng phần mềm, từ vị trí thứ 19 năm 2007 lên vị trí  thứ 8 năm 2010 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
i ệt Nam cũng là quốc gia đã có sự thăng hạng nhanh chóng trong bảng xếp hạng các quốc gia hấp dẫn nhất về gia cơng phần mềm, từ vị trí thứ 19 năm 2007 lên vị trí thứ 8 năm 2010 (Trang 39)
Bảng 3.2: Tổng hợp đánh giá xếp hạng về giáo dục và nguồn nhân lực CNTT – TT Việt Nam (2009 – 2010) so với các nước trên thế giới - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Bảng 3.2 Tổng hợp đánh giá xếp hạng về giáo dục và nguồn nhân lực CNTT – TT Việt Nam (2009 – 2010) so với các nước trên thế giới (Trang 43)
Bảng 3.3: Tỷ lệ trung bình người lao động sử dụng thành thạo các ngoại ngữ ở DN vừa và nhỏ - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Bảng 3.3 Tỷ lệ trung bình người lao động sử dụng thành thạo các ngoại ngữ ở DN vừa và nhỏ (Trang 45)
Bảng 3.4: thay đổi và mức lãi suất cơ bản áp dụng theo ban hành của ngân hàng nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
Bảng 3.4 thay đổi và mức lãi suất cơ bản áp dụng theo ban hành của ngân hàng nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010 (Trang 47)
Biểu đồ 3.13: Tỷ lệ DN triển khai các loại hình đào tạo (Nguồn:Báo cáo khảo sát toàn cảnh ngành CNpPM (2010) do Vinasa thực hiện) - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
i ểu đồ 3.13: Tỷ lệ DN triển khai các loại hình đào tạo (Nguồn:Báo cáo khảo sát toàn cảnh ngành CNpPM (2010) do Vinasa thực hiện) (Trang 63)
1 Căn cứ Điều 3 theo nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực cơng nghiệp và xây dựng thì doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có dưới 200 lao động và vốn dưới  20 tỷ đồng - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá các nhân tố chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp phần mềm việt nam
1 Căn cứ Điều 3 theo nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực cơng nghiệp và xây dựng thì doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có dưới 200 lao động và vốn dưới 20 tỷ đồng (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm