1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030

631 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Tác giả Trương Minh Huy Vũ
Trường học Khu Công Nghệ Phần Mềm ĐHQG - TP.HCM
Chuyên ngành Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 631
Dung lượng 7,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. PHẦN MỞ ĐẦU (48)
    • 1. Tính cấp thiết của đề tài (48)
    • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu (49)
      • 2.1. Tình hình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới (49)
      • 2.2. Tình hình nghiên cứu về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Việt Nam (54)
      • 2.3. Những nghiên cứu về cách mạng công nghiệp 4.0 trong bốn ngành công nghiệp trọng yếu (61)
    • 3. Mục tiêu nghiên cứu (67)
    • 4. Nhiệm vụ nghiên cứu (68)
    • 5. Đối tượng, Khách thể và phạm vi nghiên cứu (69)
      • 5.1. Đối tượng nghiên cứu (69)
    • 6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu (70)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (73)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (73)
    • 1.2 Các mô hình cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới và quan điểm chính sách của Việt Nam (76)
    • 1.3 Mô hình lý thuyết nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu (84)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ LẦN THỨ TƯ (100)
    • 2.1. Thực trạng chính sách phát triển ngành điện tử - công nghệ thông tin của doanh nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghệ lần thứ tư (100)
      • 2.1.1. Đối với chính sách về tài chính (102)
      • 2.1.2. Đối với chính sách về nguồn nhân lực (106)
      • 2.1.3. Đối với chính sách về nghiên cứu & phát triển (R&D) (109)
      • 2.1.4. Đối với chính sách về hạ tầng kỹ thuật, công nghệ thông tin (112)

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển của công nghệ và tự động hóa đang tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động, dẫn đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp Trong khi một số nghề nghiệp truyền thống suy giảm, nhiều ngành nghề mới với yêu cầu kiến thức và kỹ năng cao xuất hiện, tạo ra nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với sự chuyển biến xã hội trong bối cảnh CMCN 4.0 Theo bài viết của Vũ Xuân Hùng trên Báo Nhân dân, việc áp dụng robot trong một số lĩnh vực có thể khiến lực lượng lao động giảm xuống còn 1/10, đồng nghĩa với việc 90% lao động có thể mất việc Dự báo của Ngân hàng Anh vào cuối năm 2015 cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ và Anh có thể đạt 50%, tương ứng với 95 triệu lao động truyền thống trong vòng 10-20 năm tới.

Khác với quan điểm cho rằng robot hóa sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn, Gorle & Clive (2013) chỉ ra rằng xu hướng gia tăng lao động, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ, sẽ diễn ra, trừ Nhật Bản Nhu cầu về lao động chuyên biệt sẽ tăng lên do sự xuất hiện của nhiều sản phẩm và hình thức thị trường mới Theo Cần Văn Lực (2018), không phải tất cả các ngành công nghiệp tại Việt Nam đều bị ảnh hưởng tiêu cực bởi CMCN 4.0; một số ngành như bán hàng, quản lý, văn phòng, sản xuất, lắp đặt và vận chuyển sẽ chịu tác động mạnh hơn Trần Đình Thiện (2017) cũng nhấn mạnh rằng các ngành liên quan đến lao động thủ công hoặc quy trình tự động hóa sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất, như được nêu trong bài viết của Nguyên Long (2017) trên báo điện tử VOV.

Sự xuất hiện của CMCN 4.0 đang làm thay đổi yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp đối với người lao động Trong bối cảnh này, người lao động, đặc biệt là sinh viên, cần chuẩn bị những kỹ năng và kiến thức phù hợp để đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng, đồng thời phù hợp với năng lực và ước muốn của họ trong xã hội hiện đại.

Để giải quyết vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, trước tiên, giới nghiên cứu cần nhận diện năng lực và nhận thức hiện tại của lực lượng lao động trẻ Việc này giúp đề xuất các giải pháp cải tiến chương trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu tuyển dụng của nhà tuyển dụng và các cơ quan liên quan, điều này là vô cùng cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.

Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới

Thuật ngữ “Cách mạng công nghiệp 4.0” được biết đến lần đầu tiên vào năm

Năm 2011, khái niệm "Industrie 4.0" đã được đưa ra bởi một nhóm chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau như kinh doanh, chính trị và học thuật, nhằm mục tiêu nâng cao khả năng

Trong lĩnh vực sản xuất, tiến bộ khoa học và công nghệ liên tục thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp hóa toàn cầu Mặc dù không có sự đồng thuận toàn cầu về định nghĩa cách mạng công nghiệp, nhưng từ góc độ công nghệ, thường có bốn giai đoạn được xác định Ba giai đoạn đầu tiên diễn ra trong hai thế kỷ, bao gồm: sự ra đời của máy móc sử dụng động cơ hơi nước, công nghệ sản xuất hàng loạt sử dụng điện và phân công lao động, và việc áp dụng điện cùng công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất Gần đây, sự phát triển của các công nghệ Internet đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong ngành sản xuất.

Internet of Things (IoT) và hệ thống vật lý không gian mạng (CPS) đang thu hút sự chú ý toàn cầu Chính phủ và các ngành công nghiệp đang hành động để khai thác lợi ích từ cuộc cách mạng công nghiệp mới.

Nhiều quốc gia trên thế giới đã triển khai các kế hoạch chiến lược và chương trình đầu tư lớn nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp trong thời đại 4.0 Ví dụ, Mỹ đang phát triển hợp tác sản xuất tiến bộ, Đức với Chiến lược công nghệ cao 2020, Pháp đang tái cấu trúc ngành công nghiệp, Anh định hình tương lai sản xuất, và Hàn Quốc đang tiến tới sản xuất 3.0.

Quốc, Sản xuất tại Trung Quốc 2025, Xã hội 5.0 của Nhật Bản, Kế hoạch RIE 2020 của Singapore, v.v

Năm 2014, AT&T, Cisco, General Electric, IBM và Intel đã thành lập Hiệp hội Internet công nghiệp (IIC) nhằm thúc đẩy và phối hợp các vấn đề ưu tiên cũng như khởi động các công nghệ của Internet công nghiệp (Evans và Annunziata 2012).

Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực trẻ và doanh nghiệp đang được chú trọng, đặc biệt là tác động của CMCN 4.0 đến tiêu chuẩn tuyển dụng và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của doanh nghiệp Nhiều tác giả, như Eric Schmidt và Jared Cohen, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc định hình tương lai trong tác phẩm "The New Digital Age" (2013) Nghiên cứu của Saqip Shamim, Shuang Cang và Hongniang Yu đi sâu vào quản lý nhân lực trong thời đại 4.0, góp phần làm rõ những thay đổi cần thiết trong môi trường doanh nghiệp hiện nay.

Yunli (2016) explores management approaches for Industry 4.0 from a human resource management perspective, highlighting the importance of workforce management in relation to the fourth industrial revolution This topic is notably rare, as most studies focus primarily on the technical changes associated with Industry 4.0, neglecting the crucial human resource aspects.

Nhiều nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào việc đánh giá và khảo sát các chủ đề cụ thể của CMCN4, như công nghệ điện toán đám mây (Zhan et al 2015) và mạng không dây công nghiệp (Li et al 2015), cũng như các tiêu chuẩn liên quan (Janak và Hadas 2015; Leitao et al 2015).

Công nghệ tích hợp, kỹ thuật công nghệ thực tế ảo, hệ thống thông tin, và các chiến lược công ty đang đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng công nghiệp mới Nghiên cứu của Schmidt, Mửhring và các tác giả khác đã cung cấp cái nhìn tổng quan về xu hướng này, nhưng đánh giá về trạng thái hiện tại vẫn chưa được chú trọng Các mô hình vòng đời, công nghệ điện toán khắp nơi, và công nghệ dựa trên đại lý cũng là những yếu tố cần xem xét trong bối cảnh này.

Dựa trên các phương pháp đánh giá và khảo sát từ những nghiên cứu đã được thực hiện, có thể nhận thấy rằng ngoài hai khảo sát phỏng vấn (Haddara và Elragal 2015; Rennung, Luminosu, và Draghici 2016) cùng một khảo sát bằng bảng hỏi (Schmidt, Mửhring, et al 2015), phần lớn các nghiên cứu (Shrouf, Ordieres, và Miragliotta 2014; Thoben et al 2014; Zhan et al 2015; Li et al 2015; Janak và Hadas 2015; Leitao et al 2015; Schmidt, Luder, et al 2015; Shafiq et al 2015; Sommer 2015; Wahl 2015; Hozdić 2015; Bangemann et al 2016; Chen và Tsai 2017; Kang et al 2016) đã áp dụng phương pháp đánh giá tường thuật, cho thấy khả năng phê bình của phương pháp này trong việc thu thập và phân tích dữ liệu.

32 và tóm tắt nội dung và chỉ ra những kết luận về đề tài nghiên cứu (Cronin, Ryan, and Coughlan 2008

Tại Châu Âu, đặc biệt là ở Đức, khái niệm Công nghiệp 4.0 đã được nghiên cứu và làm rõ qua nhiều góc độ khác nhau, bao gồm số hóa và công nghệ thông tin (Kagermann, 2015; Buhr et al., 2016) Các nghiên cứu cũng đề xuất mô hình kinh tế và xã hội (Bauer et al., 2015) cùng với mô hình phúc lợi (Buhr et al., 2017) Cách mạng công nghiệp 4.0 được dự đoán sẽ có tác động sâu rộng đến nhiều lĩnh vực trong xã hội hiện đại, đặc biệt là lao động và việc làm, điều này đã được nhiều nghiên cứu nhấn mạnh.

Nghiên cứu tại khu vực châu Mỹ, đặc biệt là Hoa Kỳ, chủ yếu tập trung vào Industrial Internet và các công nghệ liên quan đến Industry 4.0 như Internet of Things, Cyber-Physical Systems, và Industrial Internet of Things Trong khi đó, ở châu Á, nghiên cứu về vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong xã hội tri thức mới bắt đầu được chú ý gần đây Công trình của Anthony Welch nhấn mạnh mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế - xã hội, khẳng định rằng kiến thức ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng trong xã hội hiện đại Ông chỉ ra rằng sự phát triển của xã hội thông tin đang làm thay đổi sâu sắc diện mạo xã hội châu Á, khi các giá trị truyền thống dần bị thay thế bởi toàn cầu hóa và công nghệ.

Nghiên cứu tại Nhật Bản và Hàn Quốc tập trung vào việc áp dụng các hệ thống tự động hóa hiện đại của CMCN4 vào sản xuất công nghiệp, đồng thời đề xuất những yêu cầu chính cho CMCN4 (Fujino và Konnon, 2016; Park, 2016).

Nghiên cứu về CMCN4 tại các quốc gia đang phát triển chủ yếu tập trung vào việc đánh giá tầm quan trọng và lợi ích của công nghệ này (Sangmahachai, 2016; PwC, 2016), cũng như sử dụng công nghệ như một ví dụ điển hình của CMCN4 (Wan et al., 2016) Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng thường xem xét tác động vĩ mô của CMCN4 đối với một số quốc gia đang phát triển và phản hồi chính sách từ các quốc gia này.

J Mayer (2017) đánh giá tốc độ áp dụng tự động hoá tại Việt Nam và các tác động của nó tới khía cạnh việc làm và thương mại Nghiên cứu của M Mayer (2017) khảo sát lực đẩy của CMCN4 tại Trung Quốc thông qua hai hướng tác động: từ dưới lên (các vận động của khu vực doanh nghiệp tư nhân) và từ trên xuống (phản ứng chính sách từ phía nhà nước) Tồn tại một loạt những nghiên cứu điểm lược chính sách của một số quốc gia đang phát triển trước làn sóng CMCN4 và mức độ thực thi, tính hiệu quả của chúng, chẳng hạn tại Hàn Quốc (Park, 2017); Thái Lan (Pananond, 2017); Ấn Độ (Mehta, 2017); và Indonesia (Saparini, 2017)

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của bài viết là đánh giá sự phát triển của bốn ngành công nghiệp trọng yếu tại TPHCM, bao gồm Cơ Khí, Sản xuất lương thực – thực phẩm, Sản xuất hóa chất và Điện tử trong giai đoạn 2005-2017 Bài viết cũng đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các ngành này trong giai đoạn 2020-2025 và định hướng đến năm 2030, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.

Thực trạng chính sách của thành phố Hồ Chí Minh đối với sự phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu trong bối cảnh CMCN 4 đang được nghiên cứu và đánh giá Chính quyền thành phố đã triển khai nhiều biện pháp nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngành công nghiệp chủ chốt Sự chuyển mình này không chỉ giúp thành phố bắt kịp xu hướng công nghiệp hóa hiện đại mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Đánh giá tình hình sản xuất và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của bốn ngành công nghiệp chủ chốt tại thành phố Hồ Chí Minh.

Phân tích và đánh giá sự phát triển của doanh nghiệp trong bốn ngành công nghiệp chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Các ngành này bao gồm công nghệ thông tin, sản xuất, dịch vụ tài chính và thương mại điện tử, đều đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ sự chuyển đổi số và tự động hóa Việc nắm bắt xu hướng và áp dụng công nghệ mới sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Do đó, việc đánh giá trạng thái phát triển của các doanh nghiệp trong các ngành này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiềm năng và thách thức mà họ đang đối mặt.

Dự báo tình hình phát triển bốn ngành công nghiệp trọng yếu giai đoạn 2020-2025 và định hướng đến năm 2030, cần đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể cho cơ quan nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững và hiệu quả.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu như đã nêu ở trên, nhiệm vụ chính yếu của đề tài được xác định là:

- Định hình cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài là cơ sở tham chiếu phân tích các vấn đề trọng yếu của đề tài nghiên cứu

Tiến hành khảo sát dữ liệu định lượng và định tính là bước quan trọng để phân tích và lý giải các câu hỏi nghiên cứu cũng như giả thuyết nghiên cứu của đề tài.

Bài viết này phân tích và lý giải các vấn đề học thuật từ cơ sở dữ liệu để đánh giá tình hình phát triển bốn ngành công nghiệp trọng yếu của TPHCM trong giai đoạn 2005 Các ngành này bao gồm Cơ Khí, Sản xuất lương thực – thực phẩm, Sản xuất hóa chất và Điện tử Thông qua việc nghiên cứu, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về sự phát triển và những thách thức mà các ngành công nghiệp này đang đối mặt, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế địa phương.

2017 Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phát triển bốn ngành công nghiệp này trong giai đoạn 2020 – 2025 và định hướng đến năm 2030 trong bối cảnh CMCN4

Đối tượng, Khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài tập trung vào tìm hiểu và thực trạng chính sách của thành phố đối với sự phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh cuộc CMCN4 Từ đó, đánh giá tình hình tăng trưởng và mức độ hiệu quả và các yếu tố tác động đến tính hiệu quả hoạt động sản xuất của bốn ngành ngành công nghiệp trọng yếu: cơ khí, lương thực – thực phẩm, hóa chất - nhựa – cao su, điện tử Đề xuất các giải pháp để phát triển bốn ngành công nghiệp trọng yếu trong bối cảnh thích nghi với xu hướng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Nghiên cứu này tập trung vào các doanh nghiệp hoạt động trong bốn ngành chủ yếu: cơ khí, chế biến lương thực – thực phẩm, hóa chất – nhựa – cao su, và điện tử Đối tượng nghiên cứu bao gồm ba loại hình doanh nghiệp: nhà nước, liên doanh và tư nhân.

+ Phạm vi lĩnh vực khảo sát: Đề tài tập trung vào bốn ngành công nghiệp trọng điểm

Đề tài này được đặt trong bối cảnh hiện đại, tập trung vào sự phát triển của bốn ngành công nghiệp chủ đạo tại TP.HCM trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhằm phản ánh những biến chuyển trong đời sống xã hội.

Bài nghiên cứu này tập trung vào ba vấn đề chính: Đánh giá tình hình hoạt động và tăng trưởng của bốn ngành công nghiệp trọng yếu tại TP.HCM; Đánh giá trạng thái phát triển doanh nghiệp nhằm hướng tới mục tiêu CMCN4; và đánh giá mức độ hiệu quả cùng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất của các ngành công nghiệp.

50 nghiệp trọng yếu Từ đó đưa ra dự báo, đề xuất và kiến nghị cho việc phát triển bốn ngành công nghiệp trọng điểm của TP.HCM

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã xác định các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nhằm tạo ra những định hướng cơ bản cho việc nghiên cứu.

+ Thực trạng chính sách của thành phố đối với sự phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu tại TP.HCM trong bối cách CMCN 4 như thế nào?

Tình hình hoạt động sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh đang chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau, đặc biệt là trong bốn ngành công nghiệp trọng yếu Các yếu tố này bao gồm biến động kinh tế, chính sách quản lý, và nhu cầu thị trường, tất cả đều tác động đến hiệu quả hoạt động sản xuất Để nâng cao tính hiệu quả, các doanh nghiệp cần nắm bắt xu hướng và điều chỉnh chiến lược phù hợp với bối cảnh hiện tại.

Trạng thái phát triển doanh nghiệp trong bốn ngành công nghiệp trọng yếu tại thành phố Hồ Chí Minh đang diễn ra như thế nào trước bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư? Nghiên cứu này nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện đại.

Chính sách của TP.HCM về phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu trong bối cảnh CMCN 4.0 đã được triển khai, nhưng thực tế cho thấy chính quyền vẫn còn lúng túng trong việc áp dụng tinh thần của CMCN 4.0 vào các ngành này.

Tính hiệu quả hoạt động sản xuất của bốn ngành công nghiệp trọng yếu tại TP.HCM chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm biến động kinh tế vĩ mô, đầu tư phát triển, nguồn lực, hội nhập kinh tế, và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đặc biệt, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã thúc đẩy đổi mới thể chế kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế thành phố.

Trạng thái phát triển doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trong bốn ngành công nghiệp trọng yếu Những ngành này không chỉ đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ cao Sự chuyển mình của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực này phản ánh xu hướng toàn cầu, đồng thời tạo ra cơ hội và thách thức mới cho các nhà đầu tư và doanh nhân.

Nghiên cứu cho thấy 51% doanh nghiệp hiện đang ở mức độ "chưa sẵn sàng" để thích ứng với cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh như chiến lược, lãnh đạo, khách hàng, sản phẩm, vận hành, văn hóa, con người, chính sách quản lý và công nghệ.

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nội dung bài viết tập trung vào việc áp dụng các phương pháp phân tích SWOT và lý thuyết tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế, cùng với các mô hình đo lường trạng thái phát triển và hiệu quả sản xuất, nhằm phân tích và luận giải các vấn đề liên quan đến bốn ngành công nghiệp trọng yếu Mục tiêu là đề xuất các chính sách phù hợp với thực tiễn của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2020-2025 và định hướng đến năm 2030.

Vai trò và kế hoạch phát triển của bốn ngành công nghiệp trọng yếu ở TP.HCM đã được khẳng định qua quyết định 188/2004/QĐ-TTg và nhiều nghị quyết sau đó Sự phát triển của các ngành này không chỉ ảnh hưởng tích cực đến kinh tế - xã hội của TP.HCM mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác như giao thông vận tải, bất động sản và nông nghiệp Do đó, nghiên cứu về các ngành công nghiệp trọng yếu này là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.

52 trong việc định hướng cho việc phát triển bốn ngành công nghiệp trọng điểm trước làn sóng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Chủ đề này sẽ trở thành trọng tâm nghiên cứu và đào tạo trong các ngành khoa học, nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 Do đó, khả năng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu và tính thực tiễn của đề tài này là rất cao và cần thiết.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi nhận thấy cần phải hiểu rõ các khái niệm và bản chất của các vấn đề liên quan, từ đó có thể thống nhất quan điểm nghiên cứu bằng cách thao tác hóa các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài.

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các khái niệm liên quan

Công nghiệp 4.0, hay còn gọi là Công nghiệp Internet kết nối vạn vật (IIoT), đại diện cho một xu hướng phát triển công nghiệp mới dựa trên công nghệ số hóa và sáng tạo tri thức Khái niệm này mô tả sự tiến bộ trong quản lý và tổ chức xã hội, tạo ra những ảnh hưởng mạnh mẽ đến bối cảnh công nghiệp hiện tại và làm thay đổi chuỗi giá trị toàn cầu Trong kỷ nguyên Công nghiệp 4.0, sản xuất và kinh doanh sẽ trở nên linh hoạt hơn, hiệu quả sản xuất được nâng cao và quy mô sản xuất lớn hơn, đồng thời thân thiện với môi trường.

Khái niệm CMCN4, xuất phát từ Đức với nền công nghiệp năng động và cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất thiết bị, lần đầu tiên được giới thiệu tại hội chợ Hannover năm 2011 Từ đó, Công nghiệp 4.0 đã trở thành chủ đề thảo luận sôi nổi trong các cộng đồng nghiên cứu, học thuật và doanh nghiệp, với mục tiêu khai thác tiềm năng của các công nghệ và khái niệm mới.

• Tính sẵn có và sử dụng Internet và IoT

• Tích hợp các quy trình kỹ thuật và quy trình kinh doanh trong các công ty

• Thiết lập bản đồ số hóa và mô phỏng thực tế ảo thế giới thực

• Mô hình “Nhà máy thông minh” bao gồm các phương tiện thông minh, sản xuất công nghiệp thông minh và sản phẩm thông minh

Nền tảng của cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (Fourth Industrial Revolution

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (FIR) là sự kết hợp của các hệ thống thực - ảo (CPS), Internet kết nối vạn vật (IoT) và hệ thống kết nối Internet (IoS) Đột phá trong thời đại này không chỉ đến từ công nghệ thông tin mà còn từ các lĩnh vực như công nghệ sinh học (giải mã gen), công nghệ nano, năng lượng tái tạo và tính toán lượng tử (Schwab, 2016).

Hệ thống Cyber-Physical (CPS) là những hệ thống được điều khiển hoặc giám sát thông qua các thuật toán máy tính, tương tác với internet và người sử dụng CPS cho phép tích hợp và tương tác giữa thế giới thực và ảo, nhờ vào sự kết nối với internet, dữ liệu và dịch vụ trực tuyến Các hệ thống sản xuất khép kín cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia vào CPS, tạo nên một môi trường hoạt động đồng bộ và hiệu quả.

CPS, hay Hệ thống Thực-Ảo, kết hợp các phép tính và quá trình vật lý, cho phép máy tính và mạng lưới điều khiển quy trình sản xuất Sự phát triển của hệ thống này diễn ra qua ba giai đoạn.

Nhận dạng phân biệt là yếu tố thiết yếu trong sản xuất, với RFID (Nhận dạng tần số vô tuyến) là một ví dụ điển hình Công nghệ RFID sử dụng trường điện từ để xác định thẻ gắn liền với vật thể, cho phép máy tính giao tiếp hiệu quả Mặc dù ra đời từ năm 1999, RFID vẫn thể hiện rõ sự phát triển của ngành công nghiệp 4.0.

Việc tích hợp thiết bị cảm biến và thiết bị truyền động là yếu tố quan trọng để đảm bảo hoạt động hiệu quả của máy móc Sự kết hợp này cho phép mỗi chuyển động của máy được kiểm soát chặt chẽ, đồng thời giúp máy có khả năng cảm nhận và phản ứng với những thay đổi trong môi trường xung quanh.

55 hợp thiết bị cảm biến và thiết bị truyền động, việc sử dụng chúng còn hạn chế và không cho phép chúng kết nối với nhau

Sự phát triển của thiết bị cảm biến và bộ truyền động đã cho phép máy móc lưu trữ và phân tích dữ liệu hiệu quả hơn Hiện nay, các hệ thống CPS được trang bị nhiều bộ cảm biến và thiết bị truyền động có khả năng kết nối mạng, giúp trao đổi thông tin một cách linh hoạt và nhanh chóng.

Internet kết nối vạn vật (IoT) là công nghệ cho phép các thiết bị như điện thoại di động và cảm biến giao tiếp với nhau như con người, nhằm tìm ra giải pháp cho các vấn đề Sự tích hợp của IoT giúp các vật thể hoạt động độc lập hoặc dưới sự điều chỉnh của con người, mang lại hiệu quả cao trong việc giải quyết các thách thức hiện đại.

Hệ thống sản xuất công nghiệp 4.0, hay còn gọi là Nhà máy thông minh, đang thay thế các nhà máy truyền thống nhờ vào việc giám sát bằng hệ thống thực - ảo (CPS), kết hợp giữa thực tại vật lý và không gian ảo Thông qua Internet Vạn vật (IoT), các hệ thống CPS kết nối và tương tác với con người theo thời gian thực, tạo nên sự linh hoạt và khả năng hợp tác toàn cầu Sự kết hợp này hứa hẹn mang đến một mô hình hoạt động mới, cho phép cá nhân hóa sản phẩm ở mức tối đa.

Trong nhà máy thông minh, các đối tượng được kết nối qua IoT tạo thành một Hệ thống Vật lý Ảo (CPS) Điều này cho phép các bộ phận trong phân xưởng và quy trình sản xuất hoạt động độc lập và linh hoạt, giúp sản xuất ngay cả những lô hàng nhỏ nhất với khả năng thay đổi sản phẩm nhanh chóng và số lượng tùy chọn đa dạng.

Các mô hình cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới và quan điểm chính sách của Việt Nam

1.2.1 Các mô hình cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới

Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) là quá trình chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số a Châu Âu và CMCN4

Thuật ngữ "Industry 4.0" lần đầu tiên xuất hiện trong chiến lược công nghệ cao của Chính phủ Đức, nhằm thúc đẩy vi tính hóa trong sản xuất và được coi là công cụ tạo ra nguồn tăng trưởng kinh tế mới.

Nghiên cứu của Nguyễn Hà An (2017) về CMCN4 ở Châu Âu đã chỉ ra sự phát triển và các sáng kiến quan trọng trong khu vực này EU ưu tiên các lĩnh vực công nghiệp sản xuất như công nghệ chế tạo tiên tiến, công nghệ then chốt (bao gồm pin, vật liệu thông minh và quy trình sản xuất hiệu suất cao), cùng với mạng lưới thông minh và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số Mục tiêu của EU là đạt tỷ lệ sản xuất trong tổng giá trị gia tăng tăng 20% vào năm 2020, theo báo cáo về chính sách công nghiệp của Ủy ban châu Âu.

Báo cáo của Ủy Ban Châu Âu (2012) nhấn mạnh rằng việc áp dụng công nghệ kỹ thuật số như điện toán đám mây, dữ liệu lớn, và robot là thiết yếu để nâng cao năng suất lao động tại châu Âu Đức, được xem là cái nôi của CMCN4, có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cho các quốc gia Bộ Kinh tế và Năng lượng Liên bang Đức dự đoán rằng trong vòng mười năm tới, tiềm năng thị trường từ CMCN4 sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển mới.

Germany's Industry 4.0 technologies, including the Internet of Things, digital intelligence, robotics, and cloud computing, are projected to be worth nearly €45 trillion, according to the Bundesministerium für Wirtschaft und Energie (2015).

Mỗi quốc gia ở Châu Âu đều phát triển các mô hình ứng dụng CMCN4 riêng biệt nhằm hỗ trợ chiến lược phát triển quốc gia trong cuộc đua CMCN4 Một ví dụ điển hình là Pháp với chương trình "Bộ mặt mới của công nghiệp nước Pháp."

Chính phủ Ba Lan đã triển khai lộ trình giảm thuế cho các đơn vị đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, với mức thuế 30% cho doanh nghiệp lớn và 50% cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Đồng thời, Trung tâm nền tảng CMCN 4.0 Ba Lan được thành lập nhằm kết nối các tổ chức công và tư nhân, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc chuyển đổi mô hình hoạt động qua thông tin và công nghệ.

Tại Mỹ, CMCN4 được gọi là "Internet công nghiệp", nơi Liên minh lãnh đạo sản xuất thông minh (SMLC) được thành lập vào năm 2012 nhằm khuyến khích ngành công nghiệp hợp tác phát triển nền tảng và tiêu chuẩn công nghệ mới.

Năm 2011, Tổng thống Obama đã thành lập Hiệp hội Sản xuất Tiên tiến (AMP) nhằm kết hợp các ngành công nghiệp, trường đại học và chính phủ liên bang Mục tiêu của AMP là đầu tư vào các công nghệ mới nổi, tạo ra việc làm sản xuất chất lượng cao và nâng cao khả năng cạnh tranh toàn cầu cho Mỹ.

Kế hoạch “Chiến lược quốc gia về sản xuất tiên tiến” tạo điều kiện cho chính sách liên bang thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của ngành sản xuất tiên tiến.

Nhiều sáng kiến đã được triển khai tại Mỹ để nâng cao sự năng động của doanh nghiệp trong CMCN4, trong đó có "Startup America" - một sáng kiến của Nhà Trắng nhằm tôn vinh và khuyến khích tinh thần kinh doanh Sáng kiến này thúc đẩy sự hợp tác giữa khu vực công và tư, tạo thành một liên minh toàn quốc bao gồm doanh nhân, tập đoàn, trường đại học và các nhà sáng lập.

58 lập và các nhà lãnh đạo sáng tạo khác đã hợp tác với nhiều cơ quan liên bang nhằm nâng cao đáng kể tỷ lệ thành công của các doanh nhân Mỹ.

Sản xuất hợp tác mở rộng (MEP) là một chương trình quan trọng dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMM) tại Mỹ trong bối cảnh CMCN 4.0 MEP tập trung vào việc tạo ra giá trị cho tất cả các nhà sản xuất, đặc biệt là SMM, và đóng vai trò then chốt trong sự thành công của Công nghiệp 4.0 Chương trình này cung cấp các khái niệm, đào tạo và công nghệ mới, đồng thời có các liên kết vững chắc với SMM, giúp họ tiếp cận các khả năng mới khi chúng xuất hiện trên thị trường.

Hàn Quốc đang triển khai "Chương trình tăng trưởng của Hàn Quốc trong tương lai" với kế hoạch đầu tư vào công nghệ và sản xuất thông minh Chính phủ sẽ hỗ trợ tài chính cho các dự án liên quan đến trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và thực tế ảo, với dự kiến đầu tư 1,4 tỷ USD vào năm 2018 cho các công nghệ cốt lõi như AI, IoT, Cloud, và cảm biến thông minh Kết quả của khoản đầu tư này sẽ là việc chuyển đổi 2.000 nhà máy thành các nhà máy thông minh Hiện tại, công nghệ của các nhà máy Hàn Quốc đang ở mức giữa giữa sản xuất hàng loạt tự động hóa tại Trung Quốc và sản xuất tùy chỉnh tự động hóa linh hoạt tại Đức.

Trong bối cảnh CMCN 4.0, Trung Quốc đã triển khai chiến lược “Sản xuất tại Trung Quốc năm 2025”, khuyến khích các doanh nghiệp tập trung vào sản xuất Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, ngành sản xuất đã đóng góp 40% GDP của Trung Quốc vào năm 2017 Việc duy trì lĩnh vực quan trọng này cho thấy Trung Quốc đang đầu tư mạnh vào IoT công nghiệp để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.

Năng suất và hiệu quả trong sản xuất đang được nâng cao nhờ vào việc hợp lý hóa và tự động hóa quy trình thông qua kết nối Internet Theo dự báo của GSMA, đến năm 2025, Trung Quốc sẽ chiếm khoảng một phần ba tổng số kết nối IoT Công nghiệp (IIoT) toàn cầu, tương đương 4,1 tỷ kết nối Bên cạnh đó, IDC cũng cho biết Trung Quốc hiện đang nắm giữ 28% chi tiêu toàn cầu cho IoT và 29% tổng đầu tư vào robot.

Mô hình lý thuyết nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Hướng tiếp cận lý thuyết và mô hình định lượng về mức độ phát triển các doanh nghiệp trước CMCN4 (Schumacher, 2016)

 Lý thuyết về mô hình đo lường trạng thái phát triển

Nền kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội qua các thế kỷ Sự liên kết giữa nhu cầu sản xuất và nhu cầu xã hội đòi hỏi các mô hình kinh doanh và hệ thống sản xuất phải linh hoạt thích ứng với những thay đổi công nghệ trong mỗi cuộc cách mạng công nghiệp Vì vậy, mô hình sản xuất cần phải phát triển liên tục để đáp ứng những yêu cầu mới.

Quá trình sản xuất đã trải qua nhiều thế kỷ, từ sản xuất thủ công các sản phẩm độc nhất đến sản xuất hàng loạt, và hiện nay đang trở lại với sản xuất đa dạng và chuyên biệt Sự chuyển mình này nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.

Hình 1 : Chu Trình Tiến Hóa Của Sản Xuất

Hiện nay, xu hướng trong công nghệ sản xuất tập trung vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất tại từng công ty, không chỉ ở cấp độ chuỗi cung ứng toàn cầu Điều này bao gồm việc cải thiện quản lý thông qua mô hình Quản Trị Tinh Gọn, tăng cường hiệu suất sản xuất bằng công nghệ laser, và sử dụng vật liệu tiên tiến như chất bán dẫn, vật liệu nano, sợi carbon, màng mỏng, và vật liệu sinh học Ngoài ra, công nghệ thông tin như RFID và hệ thống nhúng cũng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất.

Các khái niệm vừa xuất hiện gần đây như Mạng Lưới Kết Nối Vạn Vật (Internet of Things), Mạng Lưới Kết Nối Công Nghiệp, Sản Xuất Dựa Trên Nguồn

Dữ liệu đám mây và nhà máy sản xuất thông minh là những công nghệ tiên tiến giúp đáp ứng nhu cầu hiện đại, thường được kết hợp trong khái niệm về Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư.

Trong bối cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0, các doanh nghiệp sản xuất cần xác định mức độ phát triển của mình để phù hợp với tầm nhìn của cuộc cách mạng này Mục tiêu chính của Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 là nâng cao hiệu quả sản xuất, vì vậy chương 2 của đề tài sẽ phân tích hai vấn đề quan trọng Đầu tiên, "trạng thái phát triển" hay mức độ chuẩn bị thể hiện sự hoàn chỉnh và sẵn sàng trong quá trình phát triển hệ thống Các mô hình và công cụ đã được nghiên cứu và áp dụng để đánh giá sự sẵn sàng và trưởng thành trong lĩnh vực này.

Bảng 1 1: Các mô hình đo lường trạng thái phát triển - mức độ chuẩn bị sẵn sàng

Tên Mô Hình Tác Giả Phương Pháp Áp

Lichtblau và các cộng sự (2015) Đánh giá 6 khía cạnh bao gồm

18 chỉ số để xác định sự chuẩn bị ở 5 mức độ

Mô Hình Hỗ Trợ Triển

Lanza và các cộng sự (2016) Đánh giá nhanh bằng mô hình nhận diện, phân tích lỗ hổng (gap-analyses) và phân tích các khó khăn khi áp dụng CMCN4

Mô Hình Tự Đánh Giá

(2016) Đánh giá 6 khía cạnh, tập trung vào 4 mức độ phát triển

Mô Hình Liên Kết Đo

Lường Mức Độ Chuẩn Bị

(2014) Mô hình đánh giá 5 bước

(2016) Đo Lường 3 Khía Cạnh và 13 chỉ báo ở 10 mức độ

Mô Hình Đo Lường Mức Độ Trưởng Thành (Sẵn

Schumarcher và cộng sự (2016) Đo lường 9 Khía Cạnh với 3-5 chỉ báo mỗi khía cạnh với thang điểm 5 mức độ trưởng thành

 Phương pháp định lượng theo mô hình của Schumarcher (2016)

Chúng tôi sẽ áp dụng mô hình của Schumarcher (2016) để phân tích các doanh nghiệp trong bốn ngành công nghiệp trọng điểm của TPHCM Mô hình này được lựa chọn vì nó là mô hình mới nhất, dựa trên lý thuyết rõ ràng nhằm đo lường trạng thái phát triển và mức độ chuẩn bị hướng tới tầm nhìn CMCN4 Đặc biệt, mô hình này được thiết kế cho các doanh nghiệp trong ngành sản xuất, bao gồm 9 khía cạnh bao quát mọi hoạt động điều hành của công ty, với chỉ báo rõ ràng và thang điểm đánh giá Likert-scale cụ thể, cho phép đánh giá sự phát triển qua 5 mức độ khác nhau.

Bảng 1 2: 9 khía cạnh đo lường mức độ phát triển (chuẩn bị) hướng đến CMCN4

The specific strategy for implementing the Industry 4.0 roadmap involves identifying available resources for realization and adapting to new economic models.

Các nhà lãnh đạo của công ty đã sẵn sàng tiếp nhận cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ trong việc áp dụng các kỹ năng, phương pháp và công cụ lãnh đạo phù hợp với bối cảnh hiện đại.

4.0 (management competences and methods), Công ty có khả năng tập trung sự phối hợp/hợp tác để hướng đến CMCN4 (existence of central coordination for ID4)

The company excels in leveraging customer data for enhanced decision-making, effectively digitalizing its sales and service processes to improve efficiency Additionally, it engages with customers through various digital communication tools, showcasing its competence in utilizing digital media to foster strong customer relationships.

The company excels in product individualization, offering tailored solutions that meet specific customer needs It also demonstrates strong capabilities in the digitalization of products, enhancing their functionality and accessibility in the digital landscape Furthermore, the company ensures seamless product integration into various systems, allowing for enhanced interoperability and efficiency across platforms.

The company excels in the decentralization of production processes, enabling greater flexibility and responsiveness It also demonstrates strong capabilities in modeling and simulating various processes and products, which enhances efficiency and innovation Furthermore, the organization fosters interdisciplinary connections, promoting collaboration across different fields Effective interdepartmental collaboration is a key strength, ensuring seamless coordination among departments and enhancing overall productivity.

Văn hóa công ty được xây dựng dựa trên tinh thần chia sẻ kiến thức và cởi mở với các quá trình cải tiến Đặc biệt, việc hợp tác với các công ty và tổ chức đối tác khác là rất quan trọng Công ty cũng chú trọng giá trị của việc kết hợp truyền thông và công nghệ thông tin, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

7.Khía Cạnh Con Khả năng sử dụng kết hợp truyền thông và công nghệ

Nhân viên cần có thông tin về các kỹ năng công nghệ thông tin (ICT) để nâng cao hiệu quả công việc Tinh thần học hỏi công nghệ mới là yếu tố quan trọng giúp nhân viên thích nghi và phát triển trong môi trường làm việc hiện đại Khả năng ra quyết định độc lập và tự kiểm soát bản thân cũng đóng vai trò then chốt, giúp nhân viên hoạt động hiệu quả và chủ động hơn trong công việc.

The company has implemented new labor regulations to align with the demands of Industry 4.0, ensuring that employee standards meet contemporary technological advancements Additionally, these regulations include measures for the protection of intellectual property rights, safeguarding innovations in this rapidly evolving digital landscape.

Công ty tích hợp mô hình truyền thông hiện đại và công nghệ thông tin, đồng thời tận dụng hiệu quả các thiết bị di động Họ cũng sử dụng giao tiếp máy – máy (M2M) để tăng cường khả năng tương tác Mức độ trưởng thành (chuẩn bị sẵn sàng) Mi của mỗi công ty sẽ được tính toán dựa trên các khía cạnh đã phỏng vấn bằng một công thức cụ thể.

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ LẦN THỨ TƯ

Ngày đăng: 05/10/2023, 20:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 : Chu Trình Tiến Hóa Của Sản Xuất - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Hình 1 Chu Trình Tiến Hóa Của Sản Xuất (Trang 85)
Bảng 1. 1: Các mô hình đo lường trạng thái phát triển - mức độ chuẩn bị sẵn sàng - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Bảng 1. 1: Các mô hình đo lường trạng thái phát triển - mức độ chuẩn bị sẵn sàng (Trang 86)
Hình 2: Hiệu Quả Kỹ Thuật Của Đơn Vị Sản Xuất Theo Cách Tiếp Cận Đầu Ra - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Hình 2 Hiệu Quả Kỹ Thuật Của Đơn Vị Sản Xuất Theo Cách Tiếp Cận Đầu Ra (Trang 90)
Hình 3: Ma trận SWOT - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Hình 3 Ma trận SWOT (Trang 92)
Bảng 3. 2:  Giá trị sản xuất DN ngành cơ khí giai đoạn 2010-2017 (ĐVT: Tỷ - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Bảng 3. 2: Giá trị sản xuất DN ngành cơ khí giai đoạn 2010-2017 (ĐVT: Tỷ (Trang 174)
Bảng 3. 3: Số lượng doanh nghiệp ngành Lương thực thực phẩm qua các năm - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Bảng 3. 3: Số lượng doanh nghiệp ngành Lương thực thực phẩm qua các năm (Trang 177)
Bảng 3. 5: Số lượng doanh nghiệp ngành Hóa chất - nhựa - cao su qua các năm - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Bảng 3. 5: Số lượng doanh nghiệp ngành Hóa chất - nhựa - cao su qua các năm (Trang 181)
Bảng 3. 6: Giá trị sản xuất DN ngành hóa chất - nhựa- cao su giai đoạn 2010- - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Bảng 3. 6: Giá trị sản xuất DN ngành hóa chất - nhựa- cao su giai đoạn 2010- (Trang 183)
Bảng 3. 7: Số lượng doanh nghiệp qua các năm giai đoạn 2010-2017(1) - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Bảng 3. 7: Số lượng doanh nghiệp qua các năm giai đoạn 2010-2017(1) (Trang 185)
Bảng 3. 8: Giá trị sản xuất DN ngành điện tử giai đoạn 2010-2017 (1 - Phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của thành phố hồ chí minh đến năm 2030
Bảng 3. 8: Giá trị sản xuất DN ngành điện tử giai đoạn 2010-2017 (1 (Trang 186)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w