1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tính độc lập của NHNN Việt Nam pptx

26 454 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 377,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một NHTW muốn đạt được mức độ độc lập này phải có một mức độ tín nhiệm rất cao đối vơi công chúng và các nhà chính trị để có thể chuyển đổi mục tiêu thành công, đặc biệt khi đang trong g

Trang 1

(Nhóm 3, lớp: ca3, chiều thứ 5, C6)

Chủ đề: Tính độc lập của NHNN Việt Nam

I Lý luận chung về tính độc lập của NHTW:

1 Tại sao cần có 1 NHTW độc lập:

Là một định chế công cộng, nhưng quan hệ của NHTW với chính phủ không hoàn toàn giống các định chế công cộng khác Mối quan hệ này ở các nước khác nhau cũng không giống nhau Tùy thuộc vào đặc điểm ra đời, thể chế chính trị, nhu cầu của nền kinh tế cũng như truyền thống văn hóa của từng quốc gia mà NHTW có thể được tổ chức theo mô hình trực thuộc hay độc lập với chính phủ

Theo quan điểm của những quốc gia đi theo mô hình NHTW độc lập với chính phủ, trực thuộc quốc hội thì quan hệ giữa NHTW và chính phủ là quan hệ hợp tác được thể hiện trong mô hình sau:

Mô hình NHTW độc lập với chính phủ

Điển hình cho trường phái này là NH dự trữ liên bang Mỹ, NHTW Thụy sĩ, NHTW Pháp, NH Nhật Bản và gần đây là NHTW châu âu Theo đó, cần phải có sự phân quyền giữa 2 cơ quan: tạo tiền( NHTW) và tiêu tiền của NN trong nền kinh tế

NHTW nên có quyền quyết định đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ mà không bị ảnh hưởng bởi các áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực chính trị khác Kinh nghiệm cho thấy rằng bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu chính trị trước mắt

Ngân sách Khu vực kinh tế công cộng Trợ cấp bảo hiểm

Mục tiêu Duy trì mức giá cả ổn định Tạo công ăn việc làm Tăng trưởng kinh tế

Trang 2

mà phần lớn nhằm gây ấn tượng trước thời kỳ bầu cử của chính phủ, NHTW sẽ ko thể theo đuổi được các mục tiêu chính sách dài hạn do đó chính sách tiền tệ sẽ có thể được NN sử dụng để hỗ trợ cho các chính sách kinh tế của mình, không phải bao giờ cũng phân bổ nguồn lực tối ưu Ví dụ như tốc độ tăng cung tiền, tín dụng chỉ định, lạm phát, thâm hụt ngân sách…Tuy nhiên ko phải tất cả các NHTW được tổ chức theo

mô hình này đều đảm bảo được sự độc lập hoàn toàn khỏi áp lực của chính phủ khi điều hành cstt Mức độ độc lập của mỗi NHTW phụ thuộc vào sự chi phối của người đứng đầu NN vào cơ chế lập pháp và nhân sự của NHTW

Một là, "Độc lập trong việc thiết lập mục tiêu": NHTW có trách nhiệm quyết định cstt

và chế độ tỷ giá nếu như nó không được thả nổi Độc lập về mục tiêu là trao cho Ngân hàng trung ương thẩm quyền được quyết định lựa chọn cho mình mục tiêu hoạt động chủ yếu trong số vài mục tiêu đã được luật định Mức độ độc lập này là cao nhất mà một NHTW có thể có được Ví dụ điển hình cho kiểu độc lập này là Hệ thống dự trữ liên bang Mỹ - Fed mà mục tiêu chủ yếu được nó lựa chọn trong số các mục tiêu có thể xung đột với nhau là toàn dụng nhân công và ổn định giá cả

Mô hình này là hình thức tự chủ cao nhất nhưng cũng khó áp dụng nhất Một NHTW muốn đạt được mức độ độc lập này phải có một mức độ tín nhiệm rất cao đối vơi công chúng và các nhà chính trị để có thể chuyển đổi mục tiêu thành công, đặc biệt khi đang trong giai đoạn phải thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt Ngoài ra, mô hình này đòi hỏi NHTW phải có được khả năng thống kê kinh tế - tài chính đặc biệt chính xác

để trên cơ sở đó có thể đưa ra được những dự báo kinh tế tốt Để áp dụng mô hình này cũng đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu sắc về các biến số kinh tế khác nhau, về tổng sản phẩm quốc nội và về những mối liên kết giữa cung tiền, lãi suất và nền kinh tế Điều này là cần thiết để có thể quyết định tỷ lệ tăng trưởng cung ứng tiền tệ phù hợp nhằm duy trì sự ổn định giá cả Do chính sách tiền tệ có tác động tới nền kinh tế sau một độ trễ nhất định (lên tới 18 tháng và có thể dài hơn để có thể đạt được hiệu ứng đầy đủ) nên những dự báo kinh tế tốt là yếu tốt quan trọng đảm bảo cho một NHTW hoàn thành được mục tiêu hoạt động chủ yếu của mình

Hai là, "Độc lập trong việc xây dựng chỉ tiêu hoạt động": Ở mô hình này Ngân hàng

trung ương được trao trách nhiệm quyết định chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá nhưng

Trang 3

khác với kiểu Độc lập về mục tiêu Độc lập trong việc xây dựng chỉ tiêu hoạt động có một mục tiêu chủ yếu đã được xác định rõ ràng trong Luật.

Độc lập trong việc xây dựng chỉ tiêu hoạt đồng là một mô hình NHTW khắt khe hơn

về mức độ tự chủ của NHTW Ở mô hình này NHTW chỉ có một mục tiêu duy nhất được quy định trong Luật Ngân hàng trung ương và bất kỳ sự thay đổi nào cũng đòi hỏi Luật phải được bổ sung, chỉnh sửa Hình thức độc lập này có lẽ phù hợp với

trường hợp của NHTW Châu Âu - ECB khi mà có tới 25 nước có chủ quyền, một số này hùng cường hơn một số khác, đang lôi kéo theo định hướng của riêng từng nước nhằm đáp ứng mục tiêu kinh tế xã hội của quốc gia mình

Ba là, "Tự chủ trong việc lựa chọn công cụ điều hành": Theo mô hình này thì Chính

phủ hoặc Quốc hội quyết định chỉ tiêu chính sách tiền tệ, có sự bàn bạc, thoả thuận với NHTW Sau khi Quyết định được thông qua, NHTW sẽ có trách nhiệm hoàn thành chỉ tiêu Như vậy NHTW sẽ được trao đủ thẩm quyền cần thiết để có thẻ toàn quyền lựa chọn những công cụ điều hành chính sách tiền tệ phù hợp nhất sao cho đạt tới mục tiêu đã xác định Trên thế giới hiện có tới 36% trong số các NHTW của các quốc gia có mức thu nhập cao, 42% số các NHTW của các quốc gia có mức thu nhập trung bình khá và trên 50% thuộc các nước có mức thu nhập dưới trung bình lựa chọn kiểu tự chủ này đối với NHTW

Yêu cầu của hình thức tự chủ trong việc lựa chọn công cụ điều hành là cần thiết phải đạt được thoả thuận giữa Chính phủ hoặc Quốc hội với NHTW Nội dung chính của thoả thuận là công bố chỉ tiêu cho chính sách tiền tệ hoặc chế độ tỷ giá và được thiết lập cho một giai đoạn xác định Trên cơ sở ý kiến của NHTW, chỉ tiêu tiền tệ có thể được thiết lập dưới hình thức độ tăng trưởng cung tiền hoặc lạm phát giá cả cần đạt được theo trục thời gian của sự thoả thuận NHTW có đủ thẩm quyền để lựa chọn cách tốt nhất sao cho đạt tới chỉ tiêu được giao Sự không hoàn hảo của những thông tin kinh tế có trong tay đòi hỏi phải linh hoạt, mềm dẻo trong cách tiếp cận và đặc tính

kỹ thuật của các thị trường tài chính gợi ý mạnh mẽ rằng việc lựa chọn công cụ nào là tốt nhất nên thuộc về thẩm quyền của NHTW - cơ quan có đủ chuyên môn kỹ thuật cần thiết để thực hiện Điều này càng có sức thuyết phục hơn khi mà các Ngân hàng trung ương đang nhanh chóng tiến tới sử dụng các công cụ gián tiếp để đạt tới các mục tiêu chính sách tiền tệ của mình Vì vậy, đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về sự vận hành của các thị trường tài chính và công cụ quản lý vốn khả dụng của hệ thống Ngân hàng

Việc áp dụng mô hình tự chủ này có thuận lợi quan trọng nhất là nó cho phép có sự hoà hợp giữa chính sách tiền tệ với các mục tiêu của chính sách kinh tế tổng thể của một nước trong một giai đoạn nhất định, thường là từ 3 tới 5 năm Cũng qua mô hình này, NHTW có trách nhiệm giải trình đầy đủ cho những hành động của mình về chính sách tiền tệ trước những nhà chính trị được bầu hợp pháp Hơn nữa, việc các cơ quan

có thẩm quyền lẫn NHTW cùng thông báo quyết định sẽ tạo điều kiện thực hiện sự công khai minh bạch về hoạt động của Ngân hàng Trung ương Như vậy, trong mô

Trang 4

hình này NHTW không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất mức chỉ tiêu hoạt động và thoả hiệp về chỉ tiêu đó mà còn có toàn quyền (được luật định) trong việc lựa chọn cách tốt nhất để đạt tới chỉ tiêu bằng cách sử dụng các công cụ được cho

là thích hợp nhất

Bốn là, "Mức độ tự chủ bị hạn chế thậm chí không có": Ở hình thức này Chính phủ là

người quyết định chính sách (cả mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như là thường xuyên can thiệp vào quá trình triển khai thực thi chính sách Ở vị thế này, NHTW thực chất chỉ là một cơ quan của Chính phủ - cơ quan ngang bộ Vì vậy NHTW không phát huy hết được khả năng, vai trò của mình trong việc xây dựng, điều hành chính sách tiền tệ, ổn định giá cả, hỗ trợ kinh tế phát triển nhanh và bền vững

Sở hữu nhà

nước

Sở hữu tư nhân Kết hợp sở hữu nhà nước và tư nhân

Argentina South Africa Austria (50% cổ phần chính phủ)

Trang 5

Hình 1: Sự sở hữu NHTW của 1 số nước trên TG

3 Quan hệ tương quan giữa tính độc lập với các yếu tố lạm phát, thâm hụt ngân sách, tăng trưởng :

Quan hệ với lạm phát: Nghiên cứu của Alesina và Summers (1993) dựa trên các quan sát giai đoạn từ năm 1955-1988 cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa tính độc lập của NHTƯ với lạm phát bình quân và với sự biến thiên của chỉ số lạm phát Kết quả này cũng phù hợp với những kết quả nghiên cứu khác của Cukierman, Webb và Neyapti (1992), Debelle và Fischer (1994) Điều này mang lại nhiều ý nghĩa cho Việt Nam bởi kiềm chế lạm phát đã từng là một ưu tiên chính sách của Chính phủ và trong tương lai lạm phát vẫn luôn là một nguy cơ lớn tiềm ẩn đối với nền kinh tế Việt Nam

Mức độ độc lập của NHTW và mức lạm phát ở 1 số nước (Nguồn: Alesina and

Summers (1993), trích lại trong Pollard (1993)

Trang 6

Quan hệ với thâm hụt ngân sách: Nghiên cứu của Pollard (1993) về mối quan hệ giữa tính độc lập của NHTƯ với cán cân ngân sách trong giai đoạn từ năm 1973-1989 đã chứng minh rằng ở những nước có NHTƯ độc lập cao thì tỷ lệ thâm hụt ngân sách càng giảm.

Theo Pollard, khi các quan hệ cho vay theo chỉ định hay ứng vốn cho ngân sách không còn chịu sự chi phối của chính phủ thì sẽ tạo ra một kỷ luật trong chi tiêu tốt hơn, qua

đó góp phần làm tăng tính minh bạch và tạo ra một cán cân ngân sách bền vững hơn

Quan hệ với tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu của Alesina và Summers (1993), của Barro (1991), De Long và Summers (1992), Levine và Renelt (1992) không thấy mối quan hệ có ý nghĩa về mặt thống kê giữa tính độc lập của NHTƯ với tăng trưởng sản lượng thực tế sau khi kiểm soát các yếu tố khác tác động đến tăng trưởng kinh tế

Chẳng hạn, Thụy Sỹ là nước có NHTƯ độc lập nhất nhưng lại có mức độ tăng trưởng thực và sự biến thiên tăng trưởng kinh tế thực thấp hơn mức bình quân của các nước trong mẫu Trong khi đó, Tây Ban Nha là nước có NHTƯ độc lập không cao nhưng lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt nhất

Các lý thuyết kinh tế phát triển đã chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế là sự phức hợp của nhiều yếu tố và chính sách khác nhau Cho nên mặc dù không có mối quan hệ

có ý nghĩa về mặt thống kê giữa mức độ độc lập của NHTƯ với tăng trưởng kinh tế nhưng một chính sách tiền tệ có hiệu lực và hiệu quả sẽ góp phần vào tăng trưởng kinh tế ổn định hơn

II Tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:

1 Giới thiệu qua về NHNN Việt Nam:

1.1 Sơ đồ :

Trang 7

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

1.2 Vị trí và chức năng:

Tại hầu hết các nước, ngân hàng trung ương (mà ở ta gọi là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) là một tổ chức điều tiết độc lập không nằm trong bộ máy hành pháp Ở nước ta Ngân hàng Nhà nước thuộc Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên của Chính phủ có hàm tương đương bộ trưởng

Trang 8

Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm giao dịch cho chính phủ

Hoạt động của NHNN nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 12 tháng 12 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 17 tháng 6 năm 2003;

Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ:

“ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang

Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước.”

Nếu là tổ chức điều tiết độc lập, NHNN có thể chủ động trong chính sách tiền tệ của mình nhằm bảo vệ sức mạnh của đồng tiền, ngăn chặn lạm phát, phục vụ sự phát triển của đất nước mà không quá phụ thuộc vào công việc hàng ngày của cơ quan hành pháp

Do là một tổ chức thuộc Chính phủ và nhất là khi Chính phủ còn "chủ quản" nhiều doanh nghiệp nhà nước nên đôi khi NHNN rất khó xử khi có "mệnh lệnh" trái ngược với sứ mệnh và các chính sách tiền tệ và các quy chế điều tiết hệ thống ngân hàng thương mại của mình Có thể nêu ra quá nhiều các tình huống như vậy đã từng xảy ra trong vài chục năm qua

Trang 9

Khoanh nợ là một thí dụ Cách đây hơn chục năm NHNN đã nhận được lệnh khoanh

nợ các khoản nợ của rất nhiều doanh nghiệp nhà nước Giải quyết việc khoanh nợ đã kéo dài cả chục năm rất tốn kém và phức tạp Lẽ ra việc khoanh nợ, hoãn nợ, thậm chí xoá nợ là việc thường xuyên của các NHTM phải làm trong hoạt động bình thường của mình

Tuy nhiên, trong quá khứ nhiều ngân hàng quốc doanh đã phải cho khách hàng này, khách hàng nọ vay theo mệnh lệnh hành chính từ trên xuống Hiện nay việc này đã giảm đi, song vẫn còn có khả năng xảy ra và gây méo mó cho hoạt động của hệ thống ngân hàng

Trong tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu, với gói kích thích kinh tế bằng hỗ trợ lãi suất 4% rất có khả năng hiện tượng trên lại tái xuất hiện Gói hỗ trợ lãi suất ngắn hạn chủ yếu để cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp xuất khẩu, v.v Còn gói hỗ trợ lãi suất 4% trung dài hạn đã được mở ra cho các dự án đầu tư, đóng tàu, v.v và khả năng đó càng tăng cao hơn

Rất có thể xảy ra tình huống giả định sau Để giúp đỡ các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn Chính phủ có thể "chỉ thị" hay "thông báo" cho NHNN Việt Nam hướng dẫn các NHTM: cho vay có hỗ trợ lãi suất cho DN cụ thể nào đó (bình thường các NHTM có thể rất đắn đo, cân nhắc và có thể không cho vay); nếu dư nợ của một

DN vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng (theo quy định thì không ngân hàng nào được cho 1 khách hàng hay nhóm khách hàng có liên quan, thí dụ các công ty trong 1 tập đoàn, vay quá 15% vốn tự có của mình) thì bằng mệnh lệnh hành chính có thể vượt qua quy chế này; khoanh nợ cho doanh nghiệp đó; nếu có nợ quá hạn thì chưa đưa doanh nghiệp đó vào danh sách có nợ xấu (và vì thế các khoản vay mới sẽ rất khó); v.v Tình huống như thế đã từng xảy ra rất nhiều lần trong quá khứ

Gặp tình huống như vậy NHNN thực sự khó xử, cứ như phải "đứng trước hai làn đạn": làm theo mệnh lệnh hành chính thì trái với các quy định, không làm theo thì bị tội "bất tuân lệnh" cấp trên Đấy là những tình huống khó xử cần tránh

Trang 10

Hiện nay cũng rất có thể xảy ra các mệnh lệnh hành chính như đã từng xảy ra thời xưa Giả như việc đó thực sự xảy ra, thì không hiểu NHNN ứng xử ra sao Thật khó Phải loại bỏ sự nhập nhằng và mơ hồ này, không tạo điều kiện cho bất cứ ai vi phạm quy định Nếu NHNN là cơ quan điều tiết độc lập và luật cấm sự can thiệp hành chính như vậy của cơ quan hành pháp thì những cơ hội như thế không còn hay được giảm rất nhiều, hệ thống có khả năng vận hành lành mạnh.

2 Mức độ độc lập của NHNN Việt Nam thể hiện chỗ nào?

Về địa vị pháp lý: Trong dự thảo Luật NHNN sửa đổi, được NHNN soạn thảo chuẩn

bị trình Chính phủ, địa vị pháp lý của NHNN vẫn được giữ nguyên, tức là cơ quan ngang bộ của Chính phủ Điều này cho thấy chính bản thân NHNN vẫn chưa sẵn sàng cho một địa vị mới có tính độc lập hơn đối với Chính phủ Tuy nhiên, cho dù NHNN

đã sẵn sàng cho một vị thế độc lập mới thì với cấu trúc thể chính trị hiện nay cộng với những quan hệ có tính "thông lệ" giữa NHNN với các cơ quan khác của Chính phủ thì mục tiêu độc lập hoàn toàn với các quyết sách Chính phủ là chưa khả thi

Khi địa vị pháp lý không được độc lập thì khả năng độc lập về mục tiêu và quá trình thực thi chính sách cũng ít nhiều bị giới hạn Áp dụng cách thức gián tiếp theo hướng làm tăng tính độc lập của NHTƯ trong điều kiện môi trường kinh tế - chính trị như hiện nay ở Việt Nam, có vẻ là cách thức có hiệu quả nhất trong ngắn hạn và trung hạn Bước đi đầu tiên có tính thử nghiệm cho một NHTƯ độc lập là cho phép NHNN được độc lập trong việc lựa chọn mục tiêu chính sách ưu tiên trong nhóm các mục tiêu được chọn lựa phù hợp với điều kiện nền kinh tế vĩ mô mà không nhất thiết phải phù hợp với các chính sách khác của Chính phủ

Về mục tiêu: Luật cần đưa ra một hoặc một nhóm các mục tiêu chính sách cụ thể, rõ ràng và thống nhất Quốc hội cần loại bỏ những mục tiêu chung và không rõ ràng như đảm bảo quốc phòng an ninh hay nâng cao đời sống nhân dân Nghiên cứu mục tiêu chính sách của các NHTƯ trên thế giới cho thấy chúng thường tập trung vào các mục tiêu chính như kiểm soát lạm phát, duy trì công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế, ổn định hệ thống tiền tệ và thị trường tài chính (Cecchetti, 2008) NHNN nên được trao quyền lựa chọn mục tiêu cho từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế vĩ mô mà không chịu sự can thiệp hay chỉ đạo từ phía Chính phủ hay các cơ quan liên quan khác

Về quyết định thực thi chính sách: Thống đốc phải được trao quyền quyết định trong việc thực thi các chính sách tiền tệ và tự chịu trách nhiệm về các quyết định đó chứ không nên thông qua Chính phủ Điều này không những góp phần làm tăng tính chủ

Trang 11

động cho NHNN mà còn làm giảm độ trễ ngoài của chính sách tiền tệ - một yếu tố quan trọng làm giảm tính hiệu lực của chính sách.

Về quan hệ với ngân sách: Để đảm bảo hiệu quả của chính sách tiền tệ, những nhiệm

vụ khác như tạm ứng chi ngân sách cũng nên được quy định lại để Thống đốc có quyền từ chối trong mục tiêu thâm hụt ngân sách được Quốc hội phê duyệt hàng năm

và chủ động trong việc điều hành cung, cầu tiền trên thị trường

Về tổ chức và cơ chế tài chính: Thực hiện tốt chính sách tiền tệ đòi hỏi NHNN phải thu hút được đội ngũ lớn những chuyên gia đầu ngành về tài chính, ngân hàng nên cần phải cạnh tranh với các ngân hàng thương mại trong việc thu hút chuyên gia về môi trường làm việc và chế độ lương thưởng Hơn nữa, để cho việc thực thi chính sách có tính phản biện cao, Thống đốc cần được trao quyền chủ động trong việc thành lập Ban

tư vấn chính sách tiền tệ, trong đó quy tụ khoảng 10 người, gồm những chuyên gia đầu ngành có kinh nghiệm quản lý và tư vấn tại các NHTƯ của các nước phát triển am hiểu về điều kiện kinh tế Việt Nam

Thống đốc cần được trao quyền trong việc quy định sử dụng những khoản thặng dư trong hoạt động ngân quỹ, chuyển tiền điện tử hay quản lý quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia, để có thể có cơ chế tiền lương phù hợp hơn Hơn nữa, các khoản thu chi sẽ hợp lý hơn khi NHNN được quyền tự chủ trong thu chi đặc biệt là trong việc quản lý biên chế các chi nhánh và vụ, cục

Về trách nhiệm giải trình: Nâng cao tính độc lập và tự chủ của NHNN đối với các mục tiêu và quyết định chính sách phải đi kèm với trách nhiệm giải trình đầy đủ và minh bạch Thống đốc NHNN theo định kỳ hoặc theo đề nghị phải có trách nhiệm giải trình trước Quốc hội về các quyết định chính sách trong giới hạn chức năng và thẩm quyền được giao phó

3 Ảnh hưởng của tính độc lập tới việc điều hành chính sách tiền tệ:

3.1 Lãi suất:

Công cụ lãi suất tín dụng là công cụ gián tiếp trong điều tiết chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay

Vai trò của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế

+ Là công cụ diều tiết kinh tế vĩ mô

+ Là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô

+ Là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại

Trang 12

+ Là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

Công cụ lãi suất tín dụng được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất.Có thể nối đây là một công cụ rất quan trọng trong diều hành chính sách tiền tệ Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định

Các yếu tố ảnh hưởng tới lãi suất tín dụng.

+Cung và cầu về tiền vay

+Mức độ rủi ro trong việc hoàn trả vốn

+Số lượng vay và thời hạn vay

+Mức sinh lời cảu nền kinh tế

+Thu chi ngân sách

+Chi phí hoạt động ngân hàng

+Lạm phát

Thực trạng lãi suất tín dụng ở Việt Nam

** Cơ chế thức thi chính sách lãi suất cố định (1989-5.1992):

Đây là cơ chế lãi suất đã có từ trước nhưng có sự thay đổi căn bản, theo nguyên tắc của việc xác định lãi suất là: Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế

Dân chúng mất niềm tin đối với hệ thống ngân hàng Nền kinh tế suy giảm Một số nghiên cứu lúc đó cho rằng sự mất niềm tin này cùng với lãi suất thực âm vào lúc đó khiến rất nhiều người dân rút tiền tiết kiệm của mình và chuyển sang vàng hay đô-la

Mỹ Mức độ phát triển tài chính theo chiều sâu (biểu diễn bằng tỷ lệ M3/GDP) giảm

từ 27,8% năm 1989 xuống 24,6% năm 1992 (NHTG, 1994)

Tình trạng này làm cho lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó; lãi suất không còn là đòn bẩy kích thích nhu cầu gửi tiền của công chúng, phát huy tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng

Trang 13

** Cơ chế điều hành khung lãi suất (6.1992-1995):

Đặc trưng của cơ chế này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi suất theo

khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo cho các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

** Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-7.2000):

Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất, bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu ra) Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh

tế, kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam

Á

** Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8.2000-5.2002):

Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất trần Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời

Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới

** Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002 – 2008):

Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được NHNN chuyển đổi từng bước bắt đầu từ tháng 5.2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp theo 5.2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong nước Nhìn một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở VN bước đầu đã có kết quả nhất định Trong năm 2008, NHNNViệt Nam đã tăng lãi suất cơ bản 3 lần và tới thời điểm tháng 6/2008, mức lãi suất đang là 14%, mức cao nhất ở Châu Á, từ mức 12% trước đó

Ngày đăng: 06/07/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sự sở hữu NHTW của 1 số nước trên TG - Tính độc lập của NHNN Việt Nam pptx
Hình 1 Sự sở hữu NHTW của 1 số nước trên TG (Trang 5)
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC - Tính độc lập của NHNN Việt Nam pptx
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC (Trang 7)
Bảng 3: Những dấu mốc thay đổi lãi suất dự trữ bắt buộc từ tháng 9 – đến tháng - Tính độc lập của NHNN Việt Nam pptx
Bảng 3 Những dấu mốc thay đổi lãi suất dự trữ bắt buộc từ tháng 9 – đến tháng (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w