Vì vậy muốn phân bố hợp lý nền kinh tế nông nghiệp của một nước một vùng, cần phảing/cứu kỹ và hiểu rõ những điều kiện tự nhiên để phân bố các loại cây trồng-vật nuôi thích hợp;đồng thời
Trang 1ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM 2 (Tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế)
CHƯƠNG 3
TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG - LÂM - NGƯ
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG
3.1.1 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp (SXNN)
- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên phạm vi không gian rộng lớn Đối với
SXNN thì đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản nhất, ở đâu có đất đai thích hợp ở đó có thể phát triểnnông nghiệp Vì vậy, trong việc phát triển và phân bố cần chú ý những vùng đất có qui mô lớn(đồng bằng châu thổ) nên tổ chức thành những vùng CMH’ SXNN để tạo ra khối lượng hàng hoálớn; Những vùng đất hẹp cần phát triển nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ ở mức
độ nhất định Phân bố nông nghiệp cần chú ý đến việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm đất
- Sản xuất nông nghiệp gắn chặt với môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên (đặc biệt
là đất đai, khí hậu, nguồn nước) tác động mạnh và thường xuyên đến phát triển và phân bố nôngnghiệp Vì vậy muốn phân bố hợp lý nền kinh tế nông nghiệp của một nước (một vùng), cần phảing/cứu kỹ và hiểu rõ những điều kiện tự nhiên để phân bố các loại cây trồng-vật nuôi thích hợp;đồng thời phải có kế hoạch phòng chống, hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường tàinguyên đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, thời gian lao động ngắn hơn thời gian sản xuất Thời vụ là đặc trưng của sản xuất nông nghiệp, mỗi loại cây trồng đều phát triển theo mùa
và thời gian sinh trưởng nhất định Trong thời gian đó, cây trồng có thể tự phát triển mà khôngcần tới sự tác động của con người Vì vậy lao động trong nông nghiệp có lúc dồn dập, có lúcnhàn rỗi, thời gian lao động bao giờ cũng ngắn hơn thời gian sản xuất Để giảm tính thời vụ, sửdụng hợp lý nguồn lao động ở nông thôn cần xác định một cơ cấu cây trồng - vật nuôi hợp lý, kếthợp lao động với thời vụ Để đạt hiệu quả cao trong SXNN cần thực hiện CMH’ với phát triểntổng hợp, đa dạng hoá SXNN, kết hợp giữa trồng trọt với chăn nuôi, thực hiện các biện phápluân-xen-tăng-gối vụ, kết hợp tốt giữa N-L-N nhằm đa dạng hoá cơ cấu kinh tế nông thôn
- Sản xuất nông nghiệp cần phải gắn CNCB’ và thị trường tiêu thụ (CNCB’) Gắn với
CNCB’ sẽ tạo chu trình sản xuất nông- CN hợp lý Hình thức tổ chức này sẽ làm tăng giá trị củasản phẩm nông nghiệp, nâng cao trình độ CMH’ sản xuất Nước ta có nhiều vùng có thể hìnhthành chu trình nông – CN về sản xuất – chế biến như cao su, chè, cà phê, mía đường.v.v
3.1.2 Đặc điểm tổ chức lãnh thổ các ngành sản xuất nông - lâm – ngư (N-L-N)
a Ngành trồng cây lương thực (LT) Cây LT có địa bàn phân bố rộng thường trùng với
địa bàn phân bố dân cư Do đó cần phát triển cây LT (cả lúa và màu) nhằm giải quyết nhu cầu LT
ở trong nước; Mặt khác còn tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị, giải quyết nhu cầu tiêudùng tại chỗ, hạn chế vận chuyển xa.Cây lương thực (trừ sắn) đều có thời vụ ngắn Vì vậy, phân
Trang 2bố nên chú ý tới việc xen canh - gối vụ - thâm canh - tăng vụ, rút ngắn thời vụ; đồng thời tuỳ theođiều kiện sinh thái ở mỗi vùng mà bố trí cây trồng thích hợp Sản phẩm cây lương thực khó bảoquản và chuyên chở, có nhiều phụ phẩm cho phát triển chăn nuôi Vì vậy, phân bố cây lương thựcphải kết hợp với các cơ sở công nghiệp chế biến; phải kết hợp với phân bố các cơ sở chăn nuôigia súc, gia cầm tạo ra sự cân đối giữa trồng trọt - chăn nuôi trong từng vùng.
b Ngành trồng cây công nghiệp và cây ăn quả (cây CN)
- Đối với cây công nghiệp ngắn ngày, nên bố trí ở những vùng có độ dốc thấp, ở đồng
bằng, nên xen – luân - gối vụ với cây lương thực
- Đối với cây công nghiệp dài ngày (cả cây ăn quả), nên bố trí thành các vùng chuyên
canh rộng lớn trên các loại thổ nhưỡng thích hợp với từng loại cây nhằm tạo ra khối lượng hànghóa và giá trị sản phẩm cao nhất Độ dốc có thể cao hơn cây hàng năm
- Phân bố cây công nghiệp (đặc biệt là cây công nghiệp lâu năm) cần chú ý tới số lượng
và chất lượng của nguồn lao động, truyền thống nghề nghiệp của dân cư Bởi vì, sản xuất câycông nghiệp lâu cần nhân công có kĩ thuật, có tập quán kinh nghiệm và hao phí nhiều lao độnghơn so với trồng cây lương thực, số ngày lao động thường gấp 2-3 lần so với trồng cây lươngthực, điều kiện cơ giới hoá cũng khó khăn hơn; Khi mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp phảitính đến việc bố trí lại nguồn lao động và sử dụng hợp lý các nguồn lao động theo thời vụ Câycông nghiệp lâu năm đòi hỏi vốn đầu tư lớn, lâu thu hồi vốn; khi phân bố cần điều tra, tính toán tỉ
mỉ hiệu quả sử dụng đất-vốn-lao động phù hợp với các điều kiện tự nhiên - kinh tế trong sử dụnglâu dài, ổn định Phân bố cây công nghiệp phải đảm bảo đạt sản lượng hàng hoá cao (vì phần lớncác sản phẩm đều đưa ra khỏi vùng, chủ yếu để xuất khẩu), vì vậy phải lựa chọn những loại câythích hợp với điều kiện tự nhiên cụ thể, chọn những giống tốt nhất, và đáp ứng được với nhu cầuthị trường Sản phẩm cây công nghiệp rất đa dạng, phức tạp, khó chuyên chở và bảo quản, dễ hưhao và giảm chất lượng Vì vậy, khi phân bố cây công nghiệp phải chú ý xây dựng đồng bộ các
cơ sở CNCB’, tạo thành các hình thức liên kết nông – công nghiệp đa dạng
c Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản Hoạt động chăn nuôi diễn ra liên tục
không mang tính thời vụ như trồng trọt, nhưng ít nhiều cũng phụ thuộc vào tính thời vụ của trồngtrọt Tính chất 2 mặt của ngành chăn nuôi đòi hỏi phải bố trí LLLĐ thích hợp, ổn định từ khâugieo trồng cây thức ăn, chế biến thức ăn đến chăn nuôi; phòng trừ dịch bệnh; tiêu thụ sản phẩm.Ngành chăn nuôi có quan hệ chặt chẽ với ngành trồng trọt (chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bóncho trồng trọt; ngược lại, trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn nuôi) Như vậy, cần cân đối về sứckéo - phân bón - thức ăn giữa chăn nuôi - trồng trọt Ngành chăn nuôi có thể tạo ra nhiều sảnphẩm có giá trị khác nhau như sức kéo, phân bón, thịt, sữa, trứng, bơ, da, lông, v.v Tuỳ theo nhucầu của thị trường và tiêu dùng của xã hội mà xác định cơ cấu, qui mô vật nuôi phù hợp vớiĐKTN, kinh tế của từng vùng Ví dụ: Những vùng thiếu sức kéo, thiếu phân bón, lại có đồng cỏnên phân bố loại gia súc lớn Những vùng có đồng cỏ nhân tạo nên phát triển đàn bò sữa Nhữngvùng công nghiệp tập trung và các thành phố lớn nên phân bố cơ sở chăn nuôi lợn, gia cầm, thịt
bò, bò sữa v.v Các sản phẩm của ngành chăn nuôi (thịt, trứng, sữa ) cần được chế biến và vậnchuyển kịp thời Vì vậy, cần bố trí gần các cơ sở chế biến, gần vùng tiêu thụ
3.2 CÁC NGÀNH SẢN XUẤT
Trang 3Nguyên có vị trí quan trọng đối với việc hình thành nền "Văn minh lúa nước sông Hồng" Cách đây
trên 4.000 năm, ở lưu vực S.Hồng và các phụ lưu, các bộ tộc Phùng Nguyên với kĩ thuật luyệnkim và trồng lúa nước đã tạo nên những tiền đề vật chất và tinh thần đầu tiên cho thời đại cácVua Hùng Tổ tiên ta từ Văn hóa Phùng Nguyên đã sớm chọn cây lúa nước làm nguồn SX chính,đặt nền móng cho nông nghiệp của nước ta phát triển như ngày nay (Lê Quốc Sử, 1998) Với sựphát triển của KH-KT, nông nghiệp ngày càng được mở rộng; các giống cây trồng-vật nuôi ngàycàng đa dạng và phong phú LT-cái ăn của con người thường được đặt lên hàng đầu
• Vai trò của sản xuất nông nghiệp
- Nông nghiệp sản xuất ra LT - TP đáp ứng nhu cầu hàng ngày của con người Đối với cả
nước (nói chung) và từng thành viên cụ thể (nói riêng), LT có ý nghĩa rất quan trọng Nhờ cóchính sách phù hợp và sự tiến bộ trong sản xuất mà nền nông nghiệp nước ta phát triển khôngngừng, từ chỗ thiếu đói triển miên, đến nay không chỉ đáp ứng đủ cho nhu cầu trong nước mà còntham gia vào xuất khẩu với số lượng lớn nông nghiệp còn có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu dinhdưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày thông qua việc trồng các cây TP giàu đường, đạm, lipitcũng như việc chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản
- Nông nghiệp đảm bảo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp CB’LT–TP: Các ngành công
nghiệp CB’TP, đồ uống, dệt, giấy, đồ dùng bằng da, đều sử dụng nguồn nguyên liệu từ nôngnghiệp Vì thế trong chừng mực nhất định, nông nghiệp có ảnh hưởng đến sự phát triển và phân
bố ngành CNCB’ Để đáp ứng cho nhu cầu của việc chế biến, các vùng chuyên canh đã đượchình thành ở đồng bằng, TD-MN' (2 vùng trọng điểm lúa; 3 vùng chuyên canh cây công nghiệp;các vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản)
- Nông nghiệp góp phần vào việc phục vụ nhu cầu tái sản xuất mở rộng các ngành kinh
tế Hiện nay, nông nghiệp vẫn chiếm trên 60,0% LĐXH Khả năng thúc đẩy tái sản xuất mở rộng
của ngành này thể hiện ở chỗ: nông nghiệp cung cấp lao động dư thừa cho các ngành nhờ vàoviệc áp dụng những tiến bộ của KH-KT (tất nhiên, đó là lao động thủ công, muốn sử dụng cóhiệu quả, cần phải có chiến lược đào tạo) Mặt khác, việc đẩy mạnh nông nghiệp tạo điều kiệncho nhiều ngành cùng phát triển Trong mối quan hệ đó, bản thân nông nghiệp lại là thị trườngrộng lớn để tiêu thụ sản phẩm của hàng loạt các ngành kinh tế khác
Trang 4- Nông nghiệp sản xuất ra những mặt hàng có giá trị xuất khẩu nhằm tăng thêm nguồn ngoại tệ cho đất nước Năm 2002, trị giá hàng XK trong N - L - N đạt 5.011,7 triệu USD (chiếm
30% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước), riêng hàng nông sản là 2.422,0 triệu USD Gần đây,
tỉ trọng của nông nghiệp trong cơ cấu GDP có xu hướng giảm, nhưng giá trị tuyệt đối của ngànhvẫn tăng liên tục (đây là một xu thế tất yếu, phản ánh trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội)
Nông nghiệp giữ vị trí quan trọng trong nền KTQD do vai trò của nó đối với xã hội nuôi sống con người là không thể thay thế được Trong công cuộc CNH’ và HĐH’ đất nước, thì
-nông nghiệp được coi là đối tượng chủ yếu Vì vậy, -nông nghiệp sẽ được trang bị lại từ công cụcho đến các phương tiện SX; Bằng việc mở mang các ngành nghề mới, hướng vào SX các nôngphẩm hàng hóa Bản thân nông nghiệp đang tự mình cải tạo và chuyển hướng SX, sử dụng laođộng cho phù hợp với cơ chế thị trường, tạo ra bộ mặt mới cho từng vùng nông thôn của cả nước
2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (ĐKTN - TNTN)
▪ Đất miền núi, chủ yếu là đất feralit Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới-ẩm-gió mùa, phần
lớn vùng đồi núi của nước ta là đất feralit, lượng khoáng nguyên thấp, hàm lượng mùn không
cao, đất chua và có màu đỏ, hoặc đỏ-vàng của ôxyt sắt thích hợp với cây công nghiệp Ngoài ra, còn có một số loại đất khác: Đất xám phù sa cổ (rìa ĐB sông Hồng và nhiều nhất ở Đông Nam
Bộ) Đất này thích hợp với cây CN và cây ăn quả Đất đen (macgalit) phát triển trên đá ba zơ (đá
ba dan, đá vôi), thường gặp ở thung lũng đá vôi (nhiều nhất ở miền Bắc), diện tích tuy không lớn
nhưng rất thích hợp với các cây CN có giá trị (quế, chè, thuốc lá, ) Tốt nhất trong các loại đất đồi núi nước ta là đất ba dan (2,0 triệu ha), tập trung ở Tây Nguyên, một phần Đông Nam Bộ
và có một vệt từ Phủ Quì (Nghệ An) kéo dài đến Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị), loạiđất này rất thuận lợi cho cây CN (cao su, cà phê ) qui mô lớn
▪ Đất ở đồng bằng, quan trọng nhất là đất phù sa 3,40 triệu ha (9,5% diện tích cả nước),
đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính, rất thích hợp cho trồng lúa
Ngoài ra, ở các vùng đồng bằng còn có các loại đất khác như đất chua mặn, đất mặn, ven biển,
đất cát, đất glây hoá trong các vùng trũng, đất lầy thụt than bùn, loại đất này ít có giá trị đối vớisản xuất nông nghiệp và việc cải tạo cần nhiều vốn đầu tư
Trang 5▪ Thực trạng của việc sử dụng đất hiện nay: Qúa trình khai thác lãnh thổ cho đến nay
(2008) chúng ta mới đưa vào sử dụng 80,0% diện tích đất tự nhiên (trong đó 28,45% là đất nôngnghiệp) Vốn đất thuận lợi cho trồng lúa hầu như đã khai thác hết, để tận dụng tiếm năng của tựnhiên ở ĐB sông Hồng nhân dân đã tìm mọi biện pháp để tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng đấtbằng cách thâm canh và đầu tư lao động sống để nâng cao năng suất Phần lớn đất nông nghiệpđược trồng cây hàng năm, có thể luân canh - tăng vụ với lúa (như lúa - đay, lúa - thuốc lá); phầncòn lại chủ yếu trồng cây lâu năm, nhiều nhất là Tây Nguyên, Đ.Nam Bộ trên vùng đất bazan
Vốn đất và khả năng mở rộng lại có sự khác nhau giữa các vùng lãnh thổ Năm 2008, cảnước có trên 33,0 triệu ha đất tự nhiên; sử dụng vào SXNN 9,42 triệu ha (28,45%), đất lâmnghiệp 14,8 triệu ha (44,74 %), đất chuyên dùng và thổ cư 407,0 nghìn ha (6,56%), đất chưa sửdụng 6,7 triệu ha (20,24%) Như vậy đất chưa sử dụng còn lớn, nhưng việc mở rộng diện tích lạirất khó khăn, chủ yếu là đất dốc, thiếu nước, xói mòn và thoái hoá; Đất đồng bằng chưa sử dụngcòn rất ít, chủ yếu là đất phèn, đất mặn, đất ngập úng đòi hỏi phải đầu tư lớn Hiện nay, đất nôngnghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa) sử dụng vào mục đích khác như công nghiệp, GT, đô thị ngàycàng nhiều Theo dự báo trong vòng 10 năm tới, đất nông nghiệp có thể mất đi mỗi năm ~ 2,8vạn ha (trong đó đất trồng lúa ~ 1,0 vạn ha) Điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp
b Khí hậu
- Nằm trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, khí hậu nước ta cơ bản là nhiệt đới.
Nhưng do hình thể trải dài theo nhiều vĩ tuyến ở rìa Đông Nam lục địa châu Á, cho nên chế độnhiệt có sự phân hóa khác nhau giữa các vùng Từ đèo Hải Vân trở ra chịu ảnh hưởng của khốikhông khí lạnh cực đới (NPc) tràn xuống, hàng năm có một mùa đông lạnh và một mùa hè nóng
Từ đèo Hải Vân trở vào nóng quanh năm với một mùa khô và một mùa mưa Tính chất nhiệt đớilàm cho tổng lượng bức xạ mặt trời lớn Chế độ mưa phong phú (1.500 - 2.000mm/năm)
- Khí hậu nước ta lại có sự phân hoá đa dạng theo chiều Bắc - Nam, theo mùa và theo độ
cao Ở miền Bắc có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa với một mùa Đông lạnh Ở vùng núi cao cósương giá và rét đậm Ở miền Nam khí hậu nhiệt đới điển hình với một mùa khô và mùa mưa Ởmiền Trung là nơi giao thoa khí hậu giữa 2 miền Nam-Bắc
▪ Ảnh hưởng của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp
- Trước hết là việc cung cấp lượng bức xạ lớn, nguồn ánh sáng dồi dào, nguồn nhiệt
phong phú cho cây trồng phát triển quanh năm và cho năng suất cao Độ ẩm không khí cao,lượng mưa dồi dào cho phép cây trồng có sức tái sinh mạnh mẽ, thúc đẩy nở hoa, kết trái Cũngtrong điều kiện nóng - ẩm còn giúp cho cây ngắn ngày tăng thêm từ 1 đến 2 vụ/năm; đối với câydài ngày có thể khai thác được nhiều đợt, nhiều lứa/năm Do các đặc trưng của khí hậu nước ta,
đã tạo điều kiện để bố trí một tập đoàn cây trồng - vật nuôi đa dạng bao gồm cả nhiệt đới, cậnnhiệt và ôn đới với hệ sinh thái phát triển bền vững (ở vùng núi cao 1.500m, khí hậu mát mẻcho phép phát triển tập đoàn cây trồng-vật nuôi cận nhiệt và ôn đới; ở miền Bắc có mùa Đônglạnh là tiền đề để phát triển cây vụ đông)
- Ở mỗi vùng khí hậu lại có sự tác động khác nhau đến sản xuất nông nghiệp: Lãnh thổ
trải dài 15 vĩ độ trong vùng nội chí tuyến BBC, hẹp ngang, lượng phân bố bức xạ và nhiệt - ẩm sẽ
Trang 6khác nhau (cả về thời gian và không gian giữa các vùng lãnh thổ), mối quan hệ giữa các khối khícũng vậy Vì vậy: Ở phía bắc đèo Hải Vân , tính chất chí tuyến được tăng cường thêm bởi cáckhối khí lạnh-khô vào mùa Đông (mỗi năm ~20 đợt) Biên độ nhiệt TB chênh lệch tới 110C, còngiữa cực trị nhiệt (tối thiểu và tối cao) lên tới 400C Sự nhiễu loạn về thời tiết đã tạo cho nửa phầnphía Bắc nước ta một hệ sinh thái cực đoan giữa 2 mùa nóng-lạnh Ở đây thích hợp hơn cả là cáccây ngắn ngày và cây ngày ngắn; đối với cây dài ngày và cây lâu năm, nên chọn cây có biên độsinh thái rộng của vùng cận nhiệt (chè, hồi ) thì mới cho năng suất cao Ở phía nam đèo Hải Vân: nền sinh thái ổn định hơn về thời tiết, về nhịp điệu mùa cũng như nền nhiệt-ẩm, điều này
cho phép nền nông nghiệp có tính chất ổn định hơn Sự phân hoá cây trồng ở đây chỉ đơn thuần là
phân theo loại đất từ cây hàng năm đến cây lâu năm Tuy nhiên, còn có sự khác biệt về thời tiết ở sườn Tây (giữa Tây Bắc – phía Bắc, giữa Tây Nguyên – phía Nam) trên diện tích 26% lãnh thổ
lại có ý nghĩa đáng kể trong việc điều khiển thời vụ đối với cây ngắn ngày và lựa chọn cây dàingày Ví dụ, ở Đông Nam Bộ có một mùa khô sâu sắc tương phản với một mùa mưa cường độcao là điều cần quan tâm đối với cây trồng lấy mủ
▪ Trở ngại của khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa: Tính chất biến động và sự phân hoá về khí
hậu đã dẫn đến các tai biến thiên nhiên như bão, lũ, khô hạn trong những năm gần đây lại cóchiều hướng gia tăng Độ ẩm không khí lớn cũng là điều kiện để sâu bệnh lây lan, phát triển
c Nguồn nước
+ Nước trên mặt: Nằm trong vùng nhiệt đới, vì vậy nước ta có nguồn nước khá dồi dào.
Nhưng các hệ thống sông lớn đều bắt nguồn từ nước ngoài: S.Hồng từ Trung Quốc; S.Mã, S.Cả
từ Lào; S.Cửu Long từ Mianma, nếu như ở thượng nguồn việc sử dụng không hợp lý sẽ nằmngoài tầm kiểm soát của nước ta Lượng mưa TB năm khá lớn càng làm cho nguồn nước trên cácsông của Việt Nam thêm phong phú Đối với sản xuất nông nghiệp, nước rất cần thiết, ông cha ta
đã khẳng định “Nhất nước, nhì phân” Với mức tiêu thụ nước trong nông nghiệp khoảng 60 tỉ m3
thì về nguyên tắc chỉ cần khai thác 10-15% trữ lượng nước là đủ cho nhu cầu sản xuất và đờisống Mạng lưới sông ngòi phân bố rộng khắp và khá dày đặc, các hệ thống sông lớn lại bao phủtoàn bộ các vùng nông nghiệp trù phú Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sôngngòi còn cung cấp lượng phù sa lớn Trong phạm vi cả nước, dòng chảy cát bùn là 300 - 400 triệutấn/năm (hệ thống S.Hồng 130 triệu tấn; S.Cửu Long 100 triệu tấn) Về mùa lũ, lượng phù sa trênS.Hồng (tại Sơn Tây) đã lên tới 3.500 gr/cm3, mùa cạn 500 gr/cm3 Lượng cát bùn lớn đã khiếncho các đồng bằng châu thổ lấn ra biển hàng năm từ vài chục tới hàng trăm mét
+ Nước ngầm: cũng rất phong phú, mặc dù chưa thăm dò đánh giá đầy đủ Trữ lượng đã
thăm dò khoảng 3,3 tỉ m3 Nước ngầm tập trung ở các phức hệ rời bở (ở Đồng bằng sông Hồng vàĐồng bằng sông Cửu Long); Trong phức hệ trầm tích cácbônat (ở Đông Bắc, Tây Nguyên vàBTBộ) Trong phức hệ phun trào ba dan (ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ), đã được khai thácphục vụ cho tưới tiêu và sinh hoạt
+ Hạn chế: Tài nguyên nước phong phú, nhưng phân bố không đều cả về thời gian và
không gian Vào mùa lũ, lượng nước chiếm tới 70 - 80%, mùa kiệt chỉ 20 - 30% tổng lượngnước Đây là một khó khăn rất lớn đối với nền nông nghiệp, để hạn chế việc thiếu và dư thừa
Trang 7nước phải xây dựng các công trình thuỷ lợi để chủ động tưới - tiêu nước Ngoài ra, chất lượngnước ở một số sông, hồ nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng Ở các khu vực ven biển, nước mặn cóchiều hướng lấn sâu vào đất liền (ở S.Hồng lấn sâu tới 20 km; S.Thái Bình 40 km; S.Tiền 50 km;S.Hậu 40 km) Điều này lại càng khó khăn hơn đối với ĐB sông Cửu Long vào mùa khô.
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội (KT - XH)
a Nguồn lao động
Trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển, LLLĐ nước ta vẫn tập trung nhiều trongkhu vực nông nghiệp và mức độ tập trung sẽ còn cao hơn nữa khi các ngành kinh tế khác chỉ thuhút lao động trong các đô thị và lao động có trình độ chuyên môn – kĩ thuật Trong nông nghiệp,tình trạng phân công lao động diễn ra chậm chạp, mặc dù trong những năm gần đây lao độngtrong nông nghiệp có chiều hướng giảm về tỉ trọng, nhưng vẫn còn cao Số dân nước ta đông, giatăng còn lớn Vì vậy, nguồn lao động rất dồi dào và thường xuyên được bổ sung (3%/năm), chấtlượng cũng đã được nâng hơn Tuy chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới, song nó vẫn đượccoi là nhân tố quan trọng để phát triển nông nghiệp cả theo chiều rộng (khai hoang mở rộng diệntích) và theo chiều sâu (thâm canh) Nguồn lao động đông cũng là một khó khăn cho nôngnghiệp, số lao động hàng năm tăng với nhịp độ nhanh, phần lớn lại là lao động phổ thông, kĩthuật thấp đã làm nóng thêm tình hình việc làm ở khu vực này Mặt khác, nguồn lao động sửdụng chưa hợp lý; phân bố cũng không đều giữa các ngành và các vùng (tập trung quá đông ở 2đồng bằng) và chủ yếu lại ở trong ngành trồng trọt
Từ sau đổi mới (đặc biệt từ đầu thập kỷ 90), trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn cónhiều thay đổi, bắt nguồn từ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Cụ thể là sự ra đời củacác hoạt động kinh doanh mới như nuôi gia cầm gia súc theo hướng chuyên môn hóa; nuôi trồngđặc sản gắn với nhu cầu thị trường; trồng cây ăn quả, cây thực phẩm, cây cảnh; Sự hình thành cácdịch vụ nông nghiệp và nông thôn như cung ứng phân bón, giống cây - con, bảo vệ cây trồng, vậtnuôi, vận tải nông sản và nhiều dịch vụ khác Sự khôi phục các ngành nghề thủ công truyền thốngsau một thời bị mai một.v.v Các hoạt động trên đã góp phần làm thay đổi cơ cấu sử dụng laođộng nông nghiệp, đã xuất hiện nhiều lao động phi nông nghiệp, tỉ trọng lao động phi nôngnghiệp tăng dần từ vùng ven đô thị đến vùng thuần nông
Về trình độ tiếp thu kĩ thuật, thì LLLĐ (nhất là lao động trẻ) trong nông nghiệp có đủ sứcđón nhận các chương trình khuyến nông, có kinh nghiệm thâm canh trong SXNN Như vậy,nguồn lao động với tính chất 2 mặt của nó đã tạo ra cả những thuận lợi và KK đối với SXNN
b Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất, kỹ thuật (CSHT, CSVC - KT)
Về CSVC-KT bước đầu đã được hình thành và hoàn thiện Một trong nhiệm vụ quantrọng hàng đầu là thuỷ lợi hoá Vấn đề tưới - tiêu về cơ bản đã được giải quyết ở các vùng đồngbằng Hệ thống đồng ruộng đã được cải tạo đảm bảo cho việc thâm canh, cơ giới hoá Công tácphòng trừ dịch bệnh cho cây trồng - vật nuôi được triển khai có thể nhanh chóng dập tắt cácnguồn gây bệnh Các loại giống mới cho năng suất cao đã dần dần thay thế các giống cũ Bướcvào thời kỳ CNH’- HĐH’, nền nông nghiệp được tăng cường đáng kể (nhất là về thuỷ lợi, điện,
Trang 8phân bón, vật tư nông nghiệp, cơ giới hoá) Vào giữa thập kỷ 1990, trên 90% diện tích lúa đượctưới bằng các công trình thuỷ nông lớn, phần lớn các vùng nông thôn đã có điện Một bộ phậndiện tích được cơ giới hoá Nhiều tiến bộ của khoa học – kĩ thuật được đưa vào sản xuất tạo rabước chuyển biến mới về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nông nghiệp
Về CSHT và dịch vụ nông thôn cũng có nhiều tiến bộ Nếu xét theo từng vùng, thì ởvùng núi của Trung du – miền núi phía Bắc và Tây Nguyên một số chỉ tiêu thấp hơn các vùngkhác, đặc biệt là chỉ tiêu về điện và giáo dục Trung học cơ sở Ở ĐB sông Hồng các chỉ tiêu đềuđạt ở mức cao và đồng đều, vì đây là khu vực được khai thác sớm nhất, có trình độ phát triển tốt
Ở ĐB sông Cửu Long vào loại thấp (do sự thuận lợi và cả khó khăn về giao thông đường sông,kênh rạch tại địa bàn này) Ở miền Trung, CSHT nông thôn còn yếu, trong khi những tuyến liên
hệ cơ bản (quốc lộ, phủ sóng truyền thông ) đều do TW trợ giúp
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu về CSHT nông thôn phân theo vùng năm
2002 (đơn vị: %)
điện
Xã cóđường ô tô
Xã có trạm
y tế
Xã có trườngtiểu học
Xã có trườngTHCS
sử dụng 1.700 tỉ đồng và thu hút 48 vạn LĐ nông nghiệp, khoảng 80% việc làm mới được tạo ra
từ N-L-N, điều đó có ý nghĩa to lớn trong việc cải thiện đời sống cư dân nông thôn
Trang 9Ngoài ra, thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước được mở rộng Những tiến bộcủa khoa học – kĩ thuật trong nông nghiệp được áp dụng rộng rãi tạo thành một hệ thống thúcđẩy sự phát triển của ngành kinh tế vào loại quan trọng hàng đầu này.
2.3 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
a Nền nông nghiệp nước ta phát triển tương đối ổn định và vững chắc
- Nhờ thực hiện công cuộc đổi mới mà nông nghiệp nước ta đã phát triển khá ổn định Tốc
độ tăng trưởng GDP/năm dao động từ 3 - 5%; năm 1994 tăng (3,9%), 1995 (5,1%), 1996 (4,4%),
1997 (4,3%), 1998 (2,7%), 1999 (5,2%), 2002 (4,06%), năm 2008 (3,83%) So với các ngànhcông nghiệp, xây dựng, dịch vụ con số này thấp, nhưng phải đặt nó vào trong hoàn cảnh cụ thể,
sự tăng trưởng của ngành là rất khó vì ngành này phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Nông nghiệpđược chú trọng đầu tư cả về kĩ thuật lẫn kết cấu hạ tầng và phát huy hiệu quả của việc thâm canhtrong sản xuất Thị trường nông phẩm được mở rộng (cả trong nước và ngoài nước) là động lựcthúc đẩy sản xuất phát triển Tác động của các chủ trương chính sách đã được ban hành (luật đấtđai, khoán 10, xoá đói, giảm nghèo, mở rộng tự do kinh doanh, xây dựng các mô hình sản xuất).Bảng 3.2 GDP và tỉ trọng của nông nghiệp so với cả nước từ 1985 - 2008.
Năm GDP NN giá hiện hành
- Nguyên nhân dẫn tới SXNN của nước ta phát triển nhanh chủ yếu là do: nông nghiệp
được chú trọng đầu tư cả về kỹ thuật lẫn kết cấu hạ tầng và phát huy hiệu quả của việc thâm canhtrong sản xuất Thị trường nông phẩm được mở rộng (cả trong nước và ngoài nước) là động lựcthúc đẩy SX phát triển Tác động của các chủ trương chính sách đã được ban hành (luật đất đai,khoán 10, xoá đói, giảm nghèo, mở rộng tự do kinh doanh, xây dựng các mô hình sản xuất )
- Tuy nhiên, tốc độ phát triển của nông nghiệp chưa cao Bởi vì, những năm đầu chuyển
đổi từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, nông nghiệp chưa khẳng định rõ đượchướng phát triển, thị trường chưa được khai thác, còn mới mẻ đối với nông dân Tính chất CMH’trong SX hàng hoá còn yếu Trồng trọt và chăn nuôi phát triển chưa đều ở nhiều vùng, chăn nuôichưa trở thành ngành SX chính, kinh doanh độc lập, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên
Để phát triển bền vững, trong những năm tới cần tiếp tục đổi mới trong nông nghiệp; giải phóng
mọi lực lượng sản xuất; phát triển kinh tế nhiều thành phần; hình thành một số vùng động lực vàngành kinh tế mũi nhọn nhằm phát triển hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội với bảo vệ môitrường sinh thái Dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP của nông nghiệp hàng năm phải đạt 4,0- 4,5%
Trang 10gắn với công nghiệp chế biến (tăng 10 - 12%) Đảm bảo an toàn về lương thực và đến 2010 phảiđạt 38,0 - 40,0 triệu tấn (lúa 32,0- 33,0 triệu tấn trên diện tích 4,2 - 4,3 triệu ha).
b Nông nghiệp nước ta đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu theo hướng nền kinh
tế hàng hóa
- Đối với một nước mà nông nghiệp vẫn giữ địa vị trọng yếu như nước ta, thì việc chuyển đổi cơ cấu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và cấp thiết Vì thế, việc tổ chức lại nền nông nghiệp
tạo ra cơ cấu hợp lý trở thành vấn đề cấp thiết
+ Trong phạm vi toàn ngành: cơ cấu nông nghiệp và cơ cấu nông thôn đã chuyển dịch
đúng hướng và có hiệu quả rõ rệt Hướng sản xuất hàng hoá, mở mang ngành nghề, dịch vụ đang được coi trọng Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt quan tâm tới việc đa dạng hóa cơ cấucây trồng - vật nuôi gắn với công nghiệp chế biến; phát triển mạnh các ngành nghề, nhất là cácnghề truyền thống; mở rộng các loại hình dịch vu nhằm thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triểntoàn diện, tạo tiền đề cho quá trình CNH’ và HĐH’ nông thôn
+ Về cơ cấu ngành: đang có xu thế chuyển dịch giảm tỉ trọng của ngành trồng trọt, tăng
dần tỉ trọng của ngành chăn nuôi (hiện nay, trồng trọt vẫn chiếm 3/4 giá trị sản xuất) Như vậy,cần đẩy mạnh chăn nuôi để có thể đạt tỉ trọng trên 30% vào sau những năm 2000
+ Trong nội bộ từng phân ngành:
Ngành trồng trọt: giảm dần tỉ trọng của ngành trồng cây lương thực, tăng dần tỉ trọng của
ngành trồng cây CN Cụ thể năm 1990, trong tổng GTSX của ngành trồng trọt, thì cây lương thực(67,11%), cây công nghiệp (13,49%), cây ăn quả (10,14%), rau đậu (9,26%); đến năm 2008 tỉtrọng tương ứng là (57,25%, 25,34%, 7,42% và 8,63%) phần còn lại thuộc nhóm cây trồng khác
Trong chăn nuôi: chăn nuôi gia cầm giảm chút ít, gia súc và sản phẩm không qua giết mổ
tăng Cụ thể, năm 1990, giá trị SX của chăn nuôi đạt 10.283,2 tỉ đồng (trong đó, gia súc lớn(63,87%), gia cầm (19,26%) và sản phẩm không qua giết thịt (12,92%), đến năm 2008, con sốnày là 30.938,6 tỉ đồng (70,39% - 14,21% - 13,54%)
- Nền nông nghiệp nước ta đang hướng tới nền sản xuất hàng hoá, nhiều thị trường mới
đang được khai thác đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn Trước đổi mới (1985), giá trị hàng hoá nôngsản xuất khẩu đạt 274,2 triệu USD (gạo 59.400 tấn; chè 10.400 tấn; cà phê 9.200 tấn) Sau đổimới (1995), giá trị nông sản xuất khẩu đã đạt 1.745,8 triệu USD (chiếm 32,0% xuất khẩu của cảnước); đến năm 2008, giá trị xuất khẩu đạt 100.400,0 triệu USD (16,6%); trong đó: gạo 4741,9ngàn tấn; cao su 658,3 ngàn tấn tấn; cà phê 1059,5 ngàn tấn, hàng thủy sản đạt 4510,1 triệu USD.Như vậy, từ 1985 – 2008 giá trị xuất khẩu hàng nông sản tăng 366,0 lần, nhiều mặt hàng truyềnthống và mặt hàng mới có mặt trên thị trường quốc tế (gạo, lạc, chè, cà phê, hạt điều , tiêu…)Bảng 3.3 Cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp theo giá hiện hành từ 1990 - 2008
Trang 11- Về LT-TP: đã hình thành 2 vùng trọng điểm LT-TP: ĐB sông Cửu Long là vùng trọng
điểm số 1 (chiếm trên 50,0% diện tích và sản lượng lúa cả nước), dẫn đầu cả nước về sản xuấtcây đậu tương, mía, cây ăn quả, về nuôi trồng và đánh bắt thuỷ - hải sản ĐB sông Hồng là vùngtrọng điểm số 2 về LT-TP (14,2% diện tích và 18.4% sản lượng lúa), thế mạnh của vùng, ngoàilúa là rau quả, lợn, gia cầm
- Về cây công nghiệp: đã hình thành 3 vùng CC cây CN lớn: Đông Nam Bộ là vùng số 1
(cả cây lâu năm và hàng năm); vùng có thế mạnh về tự nhiên, kinh tế, đất đai phần lớn là đất xámbằng phẳng; nguồn lao động dồi dào; có trình độ phát triển mạnh cùng với nhiều cơ sở chế biếntại chỗ Tây Nguyên là vùng số 2 về qui mô; các sản phẩm chính là cà phê, cao su, hồ tiêu, chè,dâu tằm, tiềm năng của vùng còn rất lớn, nhưng khó khăn lớn nhất là thiếu nước tưới trong mùakhô MN-TDPB’ là vùng số 3, đây là vùng chè nổi tiếng được trồng ở hầu hết các khu vực đồitrung du và một số cao nguyên (Hà Giang; Nghĩa Lộ; Sơn La ); vùng còn thế mạnh để phát triểncác cây trồng khác như lạc, thuốc lá (Lạng Sơn, Bắc Giang); Hồi (Lạng Sơn, Cao Bằng)
- Ngoài ra, còn có các vùng chăn nuôi đại gia súc (TD-MN’PB’), gia cầm ở các đồng
bằng, vùng nông nghiệp - thực phẩm (vành đai xanh) ven TP lớn; các vùng nuôi trồng thuỷ sảnđang phát triển mạnh ở 2 đồng bằng châu thổ lớn và các tỉnh duyên hải miền Trung
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp ở nước ta Theo anh (chị) nhân tố nào
có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc đảm bảo an ninh về lương thực Tại sao?
3 Khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp của cả nước cũng nhưtừng vùng lãnh thổ nước ta Để khai thác tốt nguồn tài nguyên này, việc bố trí cây trồng nhu thếnào được coi là hợp lí ?
4 Bằng kiến thức đã có, hãy trình bày những vấn đề đã và đang đặt ra đối với việc sửdụng nguồn lao động trong nông nghiệp nước ta
5 Trình bày sự chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ trong nông nghiệp Mốiquan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ
6 Phân tích đặc điểm phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta
Trang 127 Dựa vào bảng 3.3 Vẽ biểu đồ thể hiện sự thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệpcủa nước ta thời kì trên Cho nhận xét và giải thích tại sao có sự chuyển dịch đó.
8 Trình bày đặc trưng của nền nông nghiệp cổ truyền với nền nông nghiệp, hiện đại
- Về mặt tự nhiên: Cây lúa được trồng trên nhiều địa bàn khác nhau, thích hợp nhất là ở 2
đồng bằng châu thổ lớn, các đồng bằng nhỏ hẹp ở DHMT và ở các thung lũng miền núi
- Về mặt kinh tế - xã hội: người dân có kinh nghiệm và truyền thống lâu đời cùng đức tính
cần cù, chịu khó; nhân tố kinh tế, kỹ thuật, các chính sách khuyến nông cùng sự đầu tư đúng mức
đã thúc đẩy ngành trồng lúa tăng đều qua các năm Nếu lấy mốc năm 1985 để so sánh, thì năm
2005 diện tích lúa tăng 128%, sản lượng lúa tăng 225%, năng suất tăng 176%
- Về cơ cấu mùa vụ, nước ta có 3 vụ kế tiếp nhau là vụ mùa, đông-xuân và hè-thu (quan
trọng nhất là vụ mùa và vụ đông xuân) Do sự phân hóa của khí hậu nên trong phạm vi cả nước,lúc nào cũng có các hoạt động (trồng lúa) như gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch
- Các tỉnh có sản lượng lúa đạt trên 1,0 triệu tấn/năm: ĐB sông Cửu Long (2008) có 9
tỉnh là An Giang (3,51 triệu tấn), Kiên Giang (3,38), Đồng Tháp (2,72), Long An (2,17), SócTrăng (1,74), Tiền Giang (1,32), Cần Thơ (1,19), Hậu Giang (1,02), Trà Vinh (1,08) Bắc Trung
Bộ có Thanh Hóa (1,40 triệu tấn), ĐB sông Hồng có Hà Nội (1,17) và Thái Bình (1,01 triệu tấn)
- Về phân bố
+ ĐB sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất Năm 2008, diện tích trồng lúa 3.85 triệu ha; sản
lượng 20,68 triệu tấn (52,0% diện tích và 53,41% sản lượng cả nước), năng suất 53,6 tạ/ha, mỗinăm xuất khẩu trên 3,0 triệu tấn/năm Địa hình đồng bằng thấp, ngập nước, độ cao TB chỉ 2 - 4m/biển, phù sa mới có nguồn gốc hỗn hợp sông-biển Chiều dày của lớp phù sa mới càng ra biểncàng lớn, ở phía Nam châu thổ, phù sa dày hơn phía bắc (Long An 20m, Mĩ Tho 70m, Bạc Liêu110m, Cà Mau 200m, Năm Căn 260m) Đồng bằng được khai thác cách đây 400 năm
+ ĐB sông Hồng là sản phẩm bồi tụ của hệ thống S.Hồng và Thái Bình, đất đai màu mỡ.
Diện tích đất tự nhiên 1,5 triệu ha Vùng có lịch sử khai thác lâu đời cách đây hàng vạn năm Vớinhững thế mạnh về tự nhiên (tuy thua kém hơn so với ĐB sông Cửu Long), nhưng bù lại, đây là
Trang 13vùng có trình độ thâm canh cao nhất cả nước, ngành trồng lúa rất phát triển Năm 2008, diện tích1,15 triệu ha, sản lượng 6,77 triệu tấn (15,56% và 17,50% cả nước), năng suất 58,8 tạ/ha.
+ Các ĐB nhỏ hẹp ở DHMT kéo dài ~100 vĩ tuyến (1000 km) dọc ven biển, qui mô nhỏvới các ĐB Thanh - Nghệ - Tĩnh, Bình - Trị - Thiên, Nam - Ngãi - Định, Phú Yên - Khánh Hòa,Ninh - Bình Thuận Diện tích 14.560 km2 ( diện tích ĐB S.Hồng), các đồng bằng này đều làđịa bàn trồng lúa và các loại cây trồng khác với qui mô và ý nghĩa khác nhau: ĐB Thanh Hoá(diện tích lớn nhất 2.900 km2), là ĐB chuyển tiếp từ châu thổ S.Hồng sang ĐB Nghệ Tĩnh, đượcphù sa S.Mã và S.Chu bồi đắp, đất đai khá màu mỡ, có khả năng phát triển nông nghiệp; có thểcoi là vựa lúa lớn của vùng B.Trung Bộ Ở DH Nam Trung Bộ, đồng bằng khá màu mỡ là PhúYên, Bình Định và Quảng Nam, riêng ĐB Ninh - Bình Thuận, kém màu mỡ, khô hạn, ít có điềukiện để trồng lúa Năm 2008, diện tích đất lúa của DH miền Trung 1,21 triệu ha (16,4% cả nước),sản lượng lúa 6,12 triệu tấn (15,82%), năng suất 50,5 tạ/ha
+ Ở MN’&TD phía Bắc có một số cánh đồng: Đông Bắc (có Trùng Khánh, Quảng Uyên,
Đông Khê, Thất Khê); Tây Bắc (có Than Uyên, Nghĩa Lộ, Điện Biên) Năm 2008, diện tích trồnglúa của vùng 715,0 nghìn ha, sản lượng 3,09 triệu tấn, năng suất 43,3 tạ/ha, đây là cơ sở LT quantrọng cho một số tỉnh miền núi
Bảng 3.4 Diện tích, sản lượng và năng suất cây lương thực và cây lúa thời kỳ
1985 - 2008
Năm Diện tích (1000 ha) Sản lượng (1000 tấn) Năng suất (tạ/ha)
Cây L.Thực Cây lúa Cây L.Thực Cây lúa Cây LT Cây lúa
b Cây màu lương thực Là loại cây cung cấp một phần cái ăn cho con người và là cơ sở
thức ăn cho chăn nuôi gia súc Ở một mức độ nhất định, nó còn là cơ sở cung cấp nguyên liệu chocác ngành CNCB' Trong gần 2 thập kỷ qua (1985 - 2005), cả diện tích và sản lượng tuy có tăngnhưng không lớn Trong cơ cấu diện tích có sự thay đổi rõ rệt theo chiều hướng tăng diện tích câyngô và giảm diện tích trồng sắn và khoai
- Quan trọng nhất là cây ngô: từ 1985 - 2005, diện tích tăng 2,62 lần, sản lượng tăng 6,4
lần, điều này liên quan đến việc đưa tiến bộ của KH - KT vào sản xuất mà đặc biệt là khâu giống.Năm 2008, diện tích, sản lượng và năng suất ngô cả nước là (1,12 triệu ha, 4,53 triệu tấn và 40,2tạ/ha); diện tích nhiều nhất là Đông Bắc (chiếm 22,3% cả nước), Tây Nguyên (21,0%), BắcTrung Bộ (12,6%); sản lượng cao nhất là Tây Nguyên (24,1% cả nước), Đông Bắc (18,1%), TâyBắc (15,1%); năng suất cao nhất là ĐB sông Cửu Long (56,1 tạ/ha), Đông Nam Bộ (50,3 tạ/ha),Tây Nguyên (46,2 tạ/ha) Tỉnh có sản lượng ngô cao nhất là Đắc Lắc 577,1 nghìn tấn, Sơn La441,3 nghìn tấn, Đồng Nai 313,3 nghìn tấn
Trang 14- Khoai lang, thường trồng luân canh với lúa vào vụ đông - xuân trên đất pha cát Năng
suất rất cao (72 tạ/ha), chủ yếu làm thức ăn cho chăn nuôi Diện tích trồng khoai lang có xuhướng giảm, thay vào đó là những cây trồng khác có giá trị cao hơn Sản lượng cả nước (2008) là1,32 triệu tấn, cao nhất là Bắc Trung Bộ (23,7%), ĐB sông Hồng (20,1%), Đông Bắc (19,4%)
- Cây sắn, diện tích cũng giảm Hạn chế chính của cây sắn là chiếm diện tích đất quanh
năm, thường trồng trên các vùng đồi thoải đã bạc màu Cây sinh trưởng tốt, nhưng không có khảnăng bảo vệ đất khi mưa nhiều với cường độ cao, đất dễ bị xói mòn rửa trôi
Bảng 3.5: Diện tích và sản lượng cây màu lương thực thời
kỳ 1985 – 2008
3.1.2 Ngành trồng cây công nghiệp (cây CN)
a Khái quát chung
Cây công nghiệp còn gọi là cây kĩ thuật để chỉ mục đích và tính chất của việc gieo trồngnhằm cung cấp nguyên liệu cho CNCB’ nông sản Là loại cây có ý nghĩa quan trọng đối với sựphát triển KT-XH Các SP của nó là nguồn nguyên liệu cung cấp cho CNCB’, là nguồn xuất khẩukhẩu quan trọng
Cây công nghiệp ở nước ta tăng (cả về diện tích và sản lượng), năm 1980, diện tích là627,7 nghìn ha, năm 2005 tăng lên 2,49 triệu ha và năm 2008 tăng lên 4,39 triệu ha Trong đó câycông nghiệp lâu năm chiếm 82,8% tổng diện tích cây công nghiệp nhờ vào ĐKTN thuận lợi, việchình thành các vùng chuyên canh lớn và nhu cầu cho xuất khẩu tăng, còn cây công nghiệp hàngnăm lên xuống thất thường, thiếu vững chắc
Bảng 3.6 Diện tích cây công nghiệp thời kỳ 1985 – 2008 (nghìn ha)
Tổng số Cây công nghiệp lâu năm Cây công nghiệp hàng năm
Trang 151995 1619.0 902.3 716.7
Cây công nghiệp được chia thành 2 nhóm: Nhóm cây công nghiệp hàng năm (hay còn
gọi là cây công nghiệp ngắn ngày), chu kỳ gieo trồng - thu hoạch là 1 năm (đay, cói, bông, lạc,đậu tương, mía ) Nhóm cây công nghiệp lâu năm (dài ngày) trồng một lần, thu hoạch nhiều chu
kỳ Trong nhóm này lại chia ra làm 2 phân kỳ: phân kỳ kiến thiết cơ bản (từ lúc trồng đến lúc cho thu hoạch) và phân kỳ kinh doanh (từ lúc cho thu hoạch trở đi), cây ăn quả xếp trong nhóm này
Ngoài ra, còn có cách phân loại khác: Nhóm cây lấy sợi (bông, đay, cói); Nhóm cây kích
thích (cà phê, thuốc lá, chè); Nhóm cây lấy dầu (lạc, vừng, đậu tương, dừa); Nhóm cây lấy nhựa(cao su, thông, bồ đề, cánh kiến); Nhóm cây lấy đường (mía, thốt nốt)
b Nhóm cây công nghiệp hàng năm
- Cây mía: là cây lấy đường có thể trồng được ở tất cả mọi nơi Năm 2008, diện tích là
266,3 ngàn ha, sản lượng 16128,0 ngàn tấn Vùng trồng nhiều mía nhất là ĐB sông Cửu Long(24,1% diện tích, 31,50% sản lượng cả nước), Bắc Trung Bộ (23,20%, 21,80%), DH Nam Trung
Bộ (18,70%, 15,10%), Tây Nguyên (12,60%, 11,00%), Đông Nam Bộ (11,60%, 11,50%) Cáctỉnh trồng nhiều nhất là Thanh Hoá (32,3 ngàn), Nghệ An (29,9 ngàn), Gia lai (19,3 ngàn ha),Tây Ninh (18,9 ngàn ha), Phú Yên (18,1 ngàn), Khánh Hoà (16,9 ngàn), Cần Thơ (15,9 ngàn),Long An (15,4 ngàn),…
- Cây lạc có 2 loại (3 tháng, 6 tháng) Cây lạc có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ở Bắc
Áchentina và Nam Bôlivia, đòi hỏi nhiệt độ TB ~ cao, ổn định và đủ ẩm Năm 2008, diện tích lạc
cả nước là 256,0 ngàn ha, sản lượng 529,2 ngàn tấn Các vùng trồng nhiều nhất B.Trung Bộ(28,8% diện tích & 27,70% sản lượng cả nước), Đông Bắc (17,4% % & 14,7% ), DH Nam Trung
Bộ (13,1% & 10,9%), ĐB sông Hồng (12,3% & 14,70%), Đông Nam Bộ (11,6% & 16,0%) Cáctỉnh có diện tích và sản lượng cao nhất là: Tây Ninh (73,9 ngàn tấn), Nghệ An (52,1), Hà Tĩnh(44,6), Thanh Hoá (28,8), Bắc Giang (25,8), Nam Định (25,7)
- Cây đậu tương: là cây cho hạt làm thực phẩm, ép lấy dầu, còn khô dầu dùng cho chăn
nuôi, hạt có chất đạm cao nhất trong các loại đậu Đây là cây điển hình của vùng châu Á gió mùa.Đậu tương cũng có nhiều loại thích nghi với nhiều vùng khí hậu khác nhau từ ôn đới đến nhiệtđới, cây ưa ẩm nhưng không đòi hỏi nhiều nhiệt Ở nước ta, đậu tương được trên phạm vi rộngsuốt từ Bắc vào Nam Năm 2008, diện tích của cả nước là 191,5 ngàn ha, sản lượng 268,6 ngàntấn Tỉnh có diện tích và sản lượng cao nhất là Hà Nội (34,8 ngàn ha và 43,9 ngàn tấn)), HàGiang (19,9 ngàn ha và 20,9 ngàn tấn), Đắc Nông ( 15,7 ngàn ha và 32,6 ngàn tấn)
- Cây thuốc lá: là cây thích hợp với loại đất giàu N, P, K, Ca, nhiều mùn với nhiệt độ 180
- 270C Ở nước ta, các khu vực MN’ và TD thuộc một số vùng có nhiều thuận lợi để trồng thuốc
lá Diện tích trồng thuốc lá không ổn định Năm 1985 diện tích 42,6 ngàn ha và sản lượng 38,4ngàn tấn, thì đến năm 2008 giảm xuống còn 16,4 ngàn ha và 28,7 ngàn tấn Vùng trồng nhiềunhất Đông Nam Bộ (57,4% diện tích và 52,7% sản lượng cả nước), Đông Bắc (21,2% , 22,7%),
DH Nam Trung Bộ (8,0%, 8,5%) Tỉnh trồng nhiều nhất Tây Ninh, Đồng Nai, Lạng Sơn
Trang 16- Cây bông: là nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp kéo sợi, dệt vải Cây bông ưa khí
hậu nóng, nhiệt độ thích hợp nhất là 250-300C; ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ dưới 170C, có thểchết nếu nhiệt độ dưới 50C kéo dài, cây cần nhiều ẩm lượng mưa từ 800 - 1.000mm là đủ, mùa raquả cần nhiều mưa, nhưng lúc quả chín cần thời tiết tuyệt đối khô hanh Vì vậy ở nước ta, chỉmột số vùng là thích hợp với cây bông Diện tích bông năm 2005 là 25,8 ngàn ha, sản lượng 33,5ngàn tấn Tỉnh trồng nhiều bông nhất là Đắc Lắc, Bình Thuận
Bảng 3.7 Diện tích và sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm 1985 – 2008
Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)
Ngoài ra, một số cây CN hàng năm cũng đang được phát triển ở các vùng khác nhau nhu
cây dâu tằm (Tây Nguyên), đay (ĐB sông Hồng, ĐB sông Cửu Long), cói (ĐB sông Hồng)
c Ngành trồng cây công nghiệp lâu năm
Về mặt kinh tế, đây là cây trồng lấy nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, chu kỳ kinhdoanh nhiều năm Sinh trưởng và phát triển trong điều kiện sinh thái nhất định, vì vậy phải lựachọn địa bàn phân bố phù hợp thì mới cho năng suất và chất lượng cao Do mục tiêu là làmnguyên liệu cho công nghiệp chế biến, nhưng sản phẩm cũng dễ bị hư hỏng; vì vậy việc bố tríhợp lý từ khâu gieo trồng - thu hoạch - bảo quản - vận chuyển nối liền với công nghiệp chế biến
để đảm bảo chất lượng của nguyên liệu
Với điều kiện sinh thái khác nhau cho từng loại cây cùng với sự phân hóa khí hậu đã tạonên những tiền đề để có thể trồng được từ giống cây có nguồn gốc nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới.Mỗi cây trồng đòi hỏi điều kiện sinh thái nhất định (nếu một số loại cây có sự tương đối đồngnhất về điều kiện sinh thái; thì đất với tính chất lý - hóa khác nhau lại có ý nghĩa to lớn trong việcphân hóa cây trồng) Ví dụ, cây chè và cao su đòi hỏi độ pH là 4,0-4,5; cây cao su lại sống đượctrên đất kiềm, còn cây chè lại kỵ canxi
Điều kiện sinh thái của một số loại cây công nghiệp lâu năm.
Cần nhiệt của cận nhiệt.Cần ẩm của nhiệt đới.Hồi Nhiệt độ (giống như chè), 2
mùa khô, mưa rõ rệt
Hơi chua đến kiềm, pH 5,0 - 6,5, nước ngầm sâu, tơi xốp
Nếu mưa ít thì hoa íttinh dầu
Cà
phê
Nhiệt độ 20-300C, độ ẩm
80%, 2 mùa khô, mưa rõ rệt
Kiềm, sinh trưởng tốt trên đất ba dan
Không chịu lạnh, bị bệnh,cần có cây che bóng
Trang 17Cao
su
Nhiệt độ 20- 400C, độ ẩm
80%, không chịu được
gió mạnh, mưa đều càng
tốt
Chua đến hơi kiềm, pH 5,0 - 6,5, nước ngầm sâu, thoát nước, đất thoáng
Nên phân bố từ 180B vào phía Nam
● Một số loại cây chính
- Cao su: Là loại cây lấy mủ ở miền rừng cận nhiệt đới (Nam Mỹ, Trung Mỹ, châu Phi
nhiệt đới và vùng rừng Đông Nam Á) Cây này được biết đến vào cuối thế kỷ XIX, khi CN ô tô
ra đời và đòi hỏi nhiều săm lốp, thì cao su mới được phát triển Ở nước ta, cao su được trồng từcuối TK 19 ở Thủ Dầu Một và Khánh Hoà; các đồn điền được hình thành ở Đ.Nam Bộ và TâyNguyên Năm 1920: diện tích 7,2 ngàn ha; năm 1963 tăng lên 14,0 ngàn ha Trong chiến tranh,một số rừng cao su già cỗi, một số khác bị tàn phá (năm 1975 chỉ còn 8.000 ha) Từ năm 1980 trởlại đây diện tích & sản lượng tăng nhanh, năm 1990 (211,7 ngàn ha & sản lượng 57,9 ngàn tấn),đến 2005 (482,7 ngàn ha - 481,6 ngàn tấn) và năm 2008 (631,5 ngàn ha - 659,6 ngàn tấn) Vùngtrồng nhiều nhất Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh), chiếm khoảng80% diện tích cho sản phẩm (mủ) cả nước Ngoài ra, cao su đang phát triển mạnh ở Tây Nguyên(Gia Lai) Ở Bắc Trung Bộ (Quảng Trị và Phủ Quì, Nghệ An) Đây là loại cây mang lại hiệu quảkinh tế tổng hợp (gỗ, nhựa ), nước ta diện tích trồng cao su còn nhiều Vì vậy, cần tìm kiếm và
mở rộng thị trường…
- Cà phê: Là loại cây ưa nhiệt (trên 150C), cần ẩm (lượng mưa > 1.250 mm/năm), là câylấy hạt, có thể trồng từ vĩ tuyến 200B trở vào Cà phê nhập vào nước ta có 3 loại là: Cà phê chè(Coffea Arabica) nguồn gốc từ Êtiôpi; Cà phê vối (coffea Robusta) nguồn gốc từ Công Gô; Càphê mít (coffea excelea) nguồn gốc Libêria Trong 3 giống này, cà phê chè ưa khí hậu chí tuyến(cây này xuất xứ ở các vùng núi cao, nếu đưa xuống trồng ở các thung lũng có biên độ nhiệt hàngngày lớn, cây hay có bệnh rỉ sắt)
Diện tích cà phê tăng khá nhanh: năm 1976 là 18,8 ngàn ha, 1985 tăng lên 44,7 ngàn ha,năm 2005 tăng lên 497,4 ngàn ha và đến năm 2008 là 530,9 ngàn ha Sản lượng năm 1990 là 92,0ngàn tấn thì đến năm 2005 tăng lên 752,1 ngàn tấn và năm 2008 là 1.055,8 ngàn tấn Vùng trồngnhiều nhất là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Các tỉnh có diện tích nhiều nhất là Đắc Lắc (3/4diện tích cả nước), Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước…
Cây cà phê mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhu cầu thị trường TG lớn (mặc dù giá cả cónhiều biến động; nhưng thị trường xuất khẩu vẫn được mở rộng) Năm 1985, xuất khẩu mới đạt9,2 ngàn tấn thì đến 1990 tăng lên 89,6 ngàn tấn, năm 2002 là 719,0 ngàn tấn và năm 2005 là912,7 ngàn tấn và năm 2008 là 1.059,5 ngàn tấn (*) Diện tích trồng cà phê trong những năm quatăng quá nhanh đã làm cung vượt quá cầu Khi giá cà phê trên TG giảm mạnh đã làm cho ngườisản xuất gặp nhiều khó khăn Hướng phát triển trong những năm tới là ổn định diện tích và tậptrung vào loại cà phê có chất lượng (cà phê chè)
- Cây chè: Là loại cây bụi của miền nhiệt đới và cận nhiệt gió mùa, có mùa đông lạnh và
khô, có thể chịu được lạnh tới -100C (đặc biệt là giống chè Shan Ấn Độ chịu lạnh rất giỏi) ChèTrung Quốc lá to (còn gọi là chè trung du ở trung du phía Bắc) và chè Shan (ở MNPB’ và LâmĐồng) Chè là cây có biên độ sinh thái rộng, mưa rải đều thì kéo dài thời gian cho búp Biên độ
Trang 18dao động nhiệt ngày - đêm cao thì chè tích luỹ được nhiều dầu thơm Vì vậy, cây chè phát triểntốt nhất là từ vĩ độ 180B trở ra Trước kia, cây chè chỉ được trồng ở Phú Thọ và Buôn Hồ (ĐắcLắc) kinh doanh theo hình thức đồn điền Năm 1930 chỉ có 8.000 ha và sản lượng 6.000 tấn Hiệnnay cây chè được trồng rộng rãi khắp cả nước; năm 1976 cả nước có 38,7 ngàn ha, sản lượng18,0 ngàn tấn chè khô, năm 1985 tăng lên 50,8 ngàn ha và 28,2 ngàn tấn, năm 2005 tăng lên122,5 ngàn ha và 570,0 ngàn tấn và năm 2008 (129,3 ngàn ha – 760,5 ngàn tấn), xuất khẩu đạt104,5 ngàn tấn Vùng chè lớn nhất là MNTDPB’, Tây Nguyên và một số nơi (Nghệ An, ThanhHoá, ) Lâm Đồng là tỉnh có diện tích chè lớn nhất cả nước
Bảng 3.8 Diện tích gieo trồng và sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm
3.1.3 Ngành trồng cây ăn quả
Ngành này được phát triển khá sớm với nhiều sản phẩm nổi tiếng như cam Xã Đoài, bưởiĐoan Hùng, Phúc Trạch, Biên Hoà, nhãn Hưng Yên, xoài Lái Thiêu (Bình Dương), đào Sa Pa,mận Lạng Sơn Tuy nhiên, ngành này phát triển chậm và thiếu ổn định Năm 1990, cả nước mới
có 281,2 ngàn ha cây ăn quả các loại, năm 2005 là 767,4 ngàn ha và 2008 là 775,3 ngàn ha Cácvùng trồng cây ăn quả hàng hoá: xoài ở Đông Nam Bộ, ĐB sông Cửu Long; cam Phủ Quì (NghệAn); mận Bắc Hà (Lào Cai); vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang)
3.2 NGÀNH CHĂN NUÔI
3.2.1 Đặc điểm chung
Trước đây, ngành này chưa được coi là ngành sản xuất độc lập, chủ yếu là ngành hỗ trợcho trồng trọt Khi chăn nuôi người ta chỉ nghĩ đến sức kéo, vận tải cùng các chợ bán trâu, bò,ngựa còn nuôi gia cầm là chỉ dùng khi cơ nhỡ, hay dùng trong việc cưới xin, ma chay, giỗ tết nhu cầu này không đủ để kích thích sản xuất hàng hoá Khi cơ chế thị trường mở ra, người dân đãquen với sản xuất nông phẩm hàng hoá, thì hình thức chăn nuôi đã thay đổi (chăn nuôi côngnghiệp đã phổ biến đến các hộ gia đình), sản phẩm cung cấp cho công nghiệp chế biến và choxuất khẩu ngày càng tăng Trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi, thì giá trị sản xuất củachăn nuôi gia súc chiếm tỉ trọng lớn nhất ( 70,0%), gia cầm có xu hướng giảm, các sản phẩmkhông qua giết thịt có xu hướng tăng, nhưng chưa ổn định Tỉ trọng giá trị sản xuất chăn nuôitrong nông nghiệp cũng chỉ dao động ở gần 20,0% (năm 1990 là 16,63%, 2000 là 16,51%, 2008
là 19,75%)
Trang 19Bảng 3.9 Cơ cấu giá trị SX ngành chăn nuôi theo vật nuôi và theo sản phẩm 1990 - 2008 (%).
Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng Nghìn tấn 1418.1 1795.0 2288.3 2771Sản lượng thịt gia cầm hơi giết, bán " 292.9 372.7 321.9 417.0
3.2.2 Chăn nuôi gia súc lớn
- Chăn nuôi trâu: Trâu là vật nuôi rất gần gũi với người nông dân, chủ yếu dùng làm sức
kéo trong nông nghiệp, lấy thịt, sữa Nước ta có nhiều giống trâu tốt như trâu Nghệ An, TuyênQuang, gần đây chúng ta nhập giống trâu Mura có kết quả tốt Về số lượng (2008) là 2,89 triệucon, nhiều nhất Đông Bắc (1,2 triệu con – 42,1%), Bắc Trung Bộ (25,3%), Tây Bắc (16,2%); tỉnhnuôi nhiều nhất là Nghệ An 296,5 ngàn con (10,2% cả nước), Thanh Hoá (227,3 ngàn con), LạngSơn (160,9 ngàn), Sơn La (158,6 ngàn), Hà Giang (146,4 ngàn), Tuyên Quang (145,1 ngàn)
- Ngành chăn nuôi bò: Bò là vật nuôi đã được thuần dưỡng cách đây 25.000 năm, dùng
làm sức kéo, lấy thịt, sữa Tùy theo từng điều kiện cụ thể, mỗi địa phương lại có hướng CMH’khác nhau: Ba Vì (Hà Tây) chăn nuôi bò giống kết hợp lấy thịt, sữa; Mộc Châu (Sơn La) bò sữa
và sinh sản; Đức Trọng (Lâm Đồng) nuôi lấy sữa và sinh sản; ngoại ô các TP lớn Hà Nội, TPHCM (chủ yếu là lấy sữa); đồng bằng Bắc Bộ dùng sức kéo; DH miền Trung (cày kéo, sinh sản,lấy thịt) Tổng đàn bò cả nước năm 2008 là 6,33 triệu con; DH Nam Trung Bộ (1,43 triệu con–22,7%), Bắc Trung Bộ (1,18 triệu con–18,6%), Tây Nguyên (721,3 ngàn con–11,4%), ĐB sôngCửu Long (713,5 ngàn con–11,3%) Các tỉnh nuôi nhiều nhất là Nghệ An (408,9 ngàn con),Thanh Hóa (351,3 ngàn), Gia Lai (327,6 ngàn), Bình Định (307,5 ngàn)
- Ngựa: nuôi phổ biến ở miền núi dùng vận chuyển hàng hoá Đàn ngựa có xu hướng
giảm Năm 1985 cả nước có ~ 132,7 ngàn con, đến năm 2008 giảm xuống còn 121,0 ngàn con.Các giống ngựa tốt có ở Hát Lót (Sơn La), Nước Hai (Cao Bằng)
Địa bàn chăn nuôi gia súc không có nhiều thay đổi đã tạo nên một số mâu thuẫn: Hai
đồng bằng lớn có nhu cầu về sức kéo, thì 60% đàn trâu lại tập trung ở TDMNPB’, nhu cầu tiêuthụ SP thịt tập trung ở vùng đông dân cũng là một vấn đề cần đặt ra trong thời gian tới
Bảng 3.11 Số lượng đàn gia súc, gia cầm thời kỳ 1990 - 2008 (Nghìn con)
Trâu Bò Lợn Ngựa Dê, cừu Gia cầm
Trang 203.2.3 Chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm
- Đàn lợn: chăn nuôi lợn gắn liền với các vùng sản xuất lương thực Đàn lợn tăng khá
nhanh và vững chắc Năm 2008, cả nước có trên 26,7 triệu con (tăng 2,3 lần so với 1985) Cácvùng nuôi nhiều nhất là ĐB sông Hồng (6,79 triệu con – 25,4% cả nước), Đông Bắc (18,7%),Bắc Trung Bộ (13,3%), ĐB sông Cửu Long (13,6%) Các tỉnh – thành phố có số đầu lợn nhiềunhất Hà Nội (1,66 triệu con), Nghệ An (1,17 triệu), Thanh Hoá (1,14 triệu), Đồng Nai (1,08triệu), Nam Định (1,02 triệu), Bắc Giang (1,05 triệu)
- Dê, cừu: là loại mắn đẻ, cho năng suất cao Riêng về cừu, chủ yếu để lấy lông, ở nước ta
còn đang thử nghiệm, nhưng ít hiệu quả Đàn dê chăn thả chủ yếu ở các vùng núi đá Đàn cừuchủ yếu nuôi ở vùng cao nguyên Năm 1990 tổng đàn dê cừu là 372,3 ngàn con, đến năm 2008tăng lên 1,48 triệu con (tăng 4,0 lần)
- Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm thường gắn liền với việc tận dụng nguồn lao
động phụ, phế liệu của ngành trồng trọt, là ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao (do chu kỳ sinhtrưởng ngắn) Nhờ phát triển CNCB’ thức ăn kết hợp với nhu cầu ngày càng cao của thị trường,đàn gia cầm liên tục tăng Năm 2008 là 247,3 triệu con Đàn gà, được nuôi ở đồng bằng, TDMN’;ven các TP lớn có hình thức nuôi công nghiệp Đàn vịt, nhiều nhất ở ĐB sông Cửu Long Ngan,ngỗng được nuôi ở nhiều vùng, nhưng nhiều nhất thuộc về ĐB sông Hồng và DHMT Vào cuốinăm 2002 đầu năm 2003 dịch cúm gia cầm bùng phát (tiêu hủy tới 35,0 triệu con) Vì vậy việcphát triển đàn gia cầm nên dự kiến là 340-350 triệu con vào năm 2010, trong đó đẩy mạnh liêndoanh chăn nuôi gà ở các TP HCM, Đồng Nai, Ninh Bình, Hải Dương
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Tại sao việc sử dụng hợp lý đất đai là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hộicủa cả nước cũng như đối với từng vùng lãnh thổ ?
2 Tại sao nói việc đảm bảo an toàn về lương thực là cơ sở để đa dạng hóa nông nghiệp
3 Tình hình sản xuất lương thực của nước ta Các vùng chuyên canh cây lương thực Tạisao cơ cấu cây lương thực (lúa) lại rất khác nhau giữa các vùng lãnh thổ ?
4 Chứng minh rằng nước ta đang phát huy tốt thế mạnh của nền nông nghiệp nhiệt đới
5 Y nghĩa của việc đẩy mạnh sản xuất TP Hiện trạng và khả năng giải quyết đề
LT-TP Nguyên nhân dẫn tới sản lượng lương thực ở nước ta tăng lên không ngừng
6 Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong phát triển ngành chăn nuôi Tình hình pháttriển và phân bố một số gia súc - gia cầm chủ yếu ở nước ta
7 Giải thích tại sao ngành chăn nuôi nước ta vẫn chiếm tỉ trọng nhỏ trong cơ cấu nôngnghiệp Định hướng phát triển chăn nuôi trong những năm tiếp theo
8 Ý nghĩa của việc phát triển cây công nghiệp ở nước ta Tình hình phát triển và phân bốcác cây công nghiệp chủ yếu
Trang 219 Tại sao phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
là một phương hướng lớn trong chiến lược phát triển nông nghiệp ở nước ta Những điều kiệnphát triển cây công nghiệp và những khó khăn cần khắc phục
10 Thế nào là vùng chuyên canh cây công nghiệp, những điều kiện đề hình thành cácvùng chuyên canh cây công nghiệp Các vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn ở nước ta
B NGÀNH LÂM NGHIỆP.
1 Vai trò của lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân (KTQD)
- Lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển KT-XH và đặc biệt là môitrường sinh thái Môi trường sinh thái đã và đang là vấn đề mang tính toàn cầu chứ không phảiđối với mỗi quốc gia, một trong những nguyên nhân cơ bản làm suy thoái môi trường sinh thái làlớp phủ rừng bị tàn phá mạnh gây hậu quả rất lớn; mất rừng dẫn tới phá vỡ cân bằng sinh thái,không còn khả năng bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất và các nguồn gien sinh vật; mất rừng sẽ ảnhhưởng lớn đến việc phòng hộ (chắn sóng, chặn cát bay, chống lũ ); mất rừng, đồng nghĩa vớigiảm tuổi thọ của các hồ thủy điện và thủy lợi và gây ra nhiều hậu quả khác kèm theo nó
- Rừng là nguồn cung cấp gỗ, lâm sản cho nhu cầu đời sống và sản xuất; cung cấp các mặthàng xuất khẩu quan trọng (gỗ, lâm sản); Đối với các vùng cao, rừng còn là nguồn sống chủ yếucủa đồng bào dân tộc Trong quá trình CNH’ và ĐTH', nhu cầu gỗ phục vụ cho nhu cầu xây dựng
cơ bản cần phải được ưu tiên phát triển Nếu mỗi năm nhu cầu gỗ cho xây dựng cơ bản ~ 30 triệu
m3,thìcần phải ổn định qui mô rừng sản xuất ~ 5,0 triệu ha; trên thực tế nếu tính cả gỗ, củi khaithác (cả khai thác không có tổ chức) thì chúng ta chỉ đạt ~ 25 triệu m3/năm Vì vậy, việc quihoạch, chăm sóc, tu bổ, trồng mới, khai thác, CB' với nước ta hiện nay là rất quan trọng
2 Tình hình khai thác – chế biến gỗ, lâm sản
2.1 Thực trạng nguồn tài nguyên rừng
Năm 2008, diện tích rừng của cả nước 13,11 triệu ha (rừng tự nhiên là 10,3 triệu ha), độche phủ gần 39,0% Sự phát triển của ngành lâm nghiệp gắn liền với tài nguyên rừng, nguồn tàinguyên rừng lại biến động rất mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, cả theo hướng tích cực vàtiêu cực Chỉ tính từ sau 1975, thì thời kỳ từ 1976 - 1990 mỗi năm rừng nước ta mất ~ 1,2% diệntích; từ năm 1991 - 1995 tỉ lệ rừng bị mất trung bình 0,88%/năm Tây Nguyên và các tỉnh Nam
Bộ, rừng mất nhanh nhất; Trong khi đó, các tỉnh miền Bắc rừng có xu thế ổn định và tăng lên
▪ Rừng tự nhiên: Liên tục giảm suốt thời kỳ từ 1976 cho đến 1995 Theo kết quả điều tra,
đánh giá của Viện điều tra, qui hoạch rừng 1995, thì chỉ sau 14 năm (1976-1990), rừng tự nhiêngiảm ~ 2,0 triệu ha (190.000ha/năm); từ sau 1990, diện tích rừng giảm chậm hơn và bằng ~ 1/4thời kỳ trước đó Trong các kiểu rừng trên (trừ rừng lá rộng rụng lá và rừng hỗn giao gỗ và tre,nứa) thì tất cả các kiểu rừng còn lại đều giảm về diện tích Cụ thể:
- Rừng lá rộng thường xanh và nửa rụng lá giảm nhanh nhất, đặc biệt là ở Đắc Lắc và
Gia Lai (từ 1976-1995) giảm 32,2% diện tích Thời kỳ 1976-1995, Tây Nguyên giảm 60,9 vạn ha(1976-1990 giảm 54,6 vạn ha; 1991-1995 giảm 6,3 vạn ha Trước năm 1990, loại rừng này giảm
Trang 22sút ở tất cả các vùng Thời kỳ 1991-1995, Tây Nguyên, ĐNBộ và NTBộ vẫn tiếp tục giảm, thì ởBTBộ có xu hướng ổn định và Tây Bắc có xu hướng tăng lên.
- Rừng tre, nứa cũng giảm khá nhanh (Tây Nguyên, đến B.Trung Bộ, Đông Bắc) Bên
cạnh việc đốt rẫy làm nương, một phần diện tích rừng bị phá để trồng cây công nghiệp (chè, càphê, ) vì thế rừng tre nứa lại giảm nhanh hơn vào thời kỳ 1991 - 1995 so với 1976 - 1990
- Rừng ngập mặn, chua phèn cũng giảm mạnh vào thời kỳ 1991-1995 So với năm 1990,
diện tích rừng ngập mặn chỉ còn ~50%, rừng chua phèn chỉ còn ~ 30% Tốc độ giảm nhanh nhất
là ở Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang (do cháy rừng và nuôi trồng thuỷ sản)
Bảng 3.12 Biến động một số kiểu rừng tự nhiên thời kỳ 1976-1995 (1.000 ha)
▪ Rừng trồng: Trong những năm qua có xu hướng tăng nhanh (đó là do chính sách giao
đất, giao rừng, hỗ trợ vốn, kỹ thuật của Nhà nước và các tổ chức quốc tế) Mặt khác, còn do việc
ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc miền núi Đến năm 2006, cả nước có 12.663.900 ha rừng(rừng tự nhiên là 10.177.700 ha, rừng trồng là 2.486.200 ha)
Bảng 3.13 Diện tích rừng trồng, bị cháy và chặt phá phân theo vùng năm
▪ Vấn đề tu bổ, bảo vệ rừng Bắt đầu từ năm 1992, Nhà nước đã tiến hành XD các khu
bảo tồn tự nhiên Năm 2007 cả nước có 30 vườn quốc gia, 65 khu dự trữ thiên nhiên và bảo tồn
Trang 23loài – sinh cảnh, 6 khu được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới với tổngdiện tích trên 2,09 triệu ha (năm 05/2009 UNESCO công nhận thêm Cù Lao Chàm và Cà Mau)
2.2 Tình hình khai thác – chế biến gỗ, lâm sản
- Về cơ cấu: rừng chia làm 3 loại ( phòng hộ, đặc dụng và kinh doanh sản xuất)
- Rừng kinh doanh bao gồm: Rừng gỗ phục vụ cho xây dựng cơ bản; Rừng nguyên liệu
giấy; Rừng gỗ trụ mỏ; Rừng tre, nứa cho nhu cầu xây dựng và nguyên liệu giấy; Rừng đặc sản(thông, quế, hồi, cánh kiến ); Rừng gỗ gia dụng và lấy củi
- Về sản lượng gỗ khai thác (do có chủ trương đóng cửa rừng, cấm xuất khẩu gỗ tròn và
gỗ xẻ), vì vậy sản lượng gỗ khai thác giảm Thời kỳ 1991-1995 khai thác ~ 14,4 triệu m3,(BQ/năm 2,8 triệu m3, năm 1998 còn 2,2 triệu m3, năm 2002 là 2,5 triệu m3/năm, năm 2005 là2,99 triệu m3), năm 2008 là 3,56 triệu m3 Vùng khai thác nhiều gỗ là: Đông Bắc (29,5 sản lượng
cả nước), DH Nam Trung Bộ (18,8%), ĐB sông Cửu Long (17,7%) Về củi ~ 26 triệu ste Tre,nứa, luồng ~ 300 triệu cây Các sản phẩm gỗ chủ yếu là gỗ tròn, gỗ xẻ, ván sàn, đồ gỗ, gỗ lạng,
gỗ dán Cả nước có vài trăm xí nghiệp cưa xẻ, vài ngàn xưởng thủ công
Bảng 3.14 Sản lượng gỗ khai thác phân theo địa phương từ 1995 - 2008 (Nghìn m3)
ĐB sông Cửu Long 520,7 527,9 462,2 458,8 581,8 609,8 632,1
- Các lâm trường lớn hoạt động dưới dạng Liên hiệp L-N-CN đó là Liên hiệp nguyên liệu
giấy Bãi Bằng, Liên hiệp các xí nghiệp gỗ trụ mỏ, Liên hiệp nông-công nghiệp Sông Hiếu, Liênhiệp Kôn Hà Nừng, Liên hiệp Easúp, Liên hiệp Gia Nghĩa, Liên hiệp La Ngà
- Những xưởng cưa xẻ lớn thường tập trung ở những nơi có điều kiện thuận tiện tập trung
gỗ (ở hợp lưu các sông, hoặc nơi có điều kiện xuất khẩu): Hà Nội, Hải Phòng, Hàm Rồng, Vinh,
Đà Nẵng, Qui Nhơn, Biên Hòa, TP HCM là những nơi tập trung nhiều xưởng cưa xẻ lớn Ngoài
ra, ở các địa phương cũng có những xưởng cưa xẻ nhỏ phục vụ chủ yếu nhu cầu dân dụng
- Về gỗ dán, có một số cơ sở sản xuất như xí nghiệp gỗ dán Cầu Đuống (Hà Nội), Bến
Thủy (Vinh), Biên Hòa, TP HCM Các xưởng đồ gỗ phát triển mạnh ở các thành phố lớn, nơi cónhu cầu tiêu thụ cao như Hà Nội, Đà Nẵng, Biên Hòa và TP HCM
Trang 24- Ngành sản xuất mây, tre, trúc phổ biến ở Cao bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên,
Hà Giang, Sơn La, Hoà Bình, Hà Nội, Nghệ-Tĩnh, Bình-Trị-Thiên, Biên Hòa, TP HCM Các mặthàng thường làm bằng phương pháp thủ công để xuất khẩu
- Ngành sản xuất diêm, các xí nghiệp phân bố ở Hà Nội, Biên Hòa và TP HCM, hàng năm
sản xuất > 350 triệu bao
- Ngành sản xuất giấy: Lớn nhất là nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ) và Tân Mai (Đồng Nai) Ở miền Bắc có những nhà máy giấy như Hoàng Văn Thụ (Thái Nguyên); Việt Trì (Phú
Thọ); Lam Sơn (Thanh Hóa), riêng nhà máy giấy Bãi Bằng (Phú Thọ) thuộc loại hiện đại nhất,công suất 60.000 tấn/năm; nhà máy nằm trên hợp lưu của 3 con sông Chảy, Lô, Gâm, hợp điểm
của nhiều nguồn gỗ, tre, nứa cung cấp cho nhà máy Ở miền Nam có tới ~ 10 nhà máy làm giấy
có máy móc tối tân (COGIVINA; NAGICO; COGIMEKO; Nam Việt; Long Thành v.v.) phầnlớn ở TP HCM, Biên Hòa và Tân Mai (Đồng Nai) Trước đây, các nhà máy này dùng bột giấynhập và chỉ SX đạt ~ 60% so với công suất thiết kế; ngày nay đã dùng nguồn nguyên liệu tại chỗlấy từ nguồn thông Lâm Đồng, tre, nứa từ lưu vực sông Đồng Nai và cả nguồn phế liệu dồi dào ởnông thôn như rơm, rạ, bã mía
3 Định hướng phát triển
- Chuyển từ khai thác sang phục hồi, bảo vệ tài nguyên sinh thái, tính đa dạng sinh học cũng như các hệ động - thực vật quí hiếm
- Sẽ phủ xanh phần lớn diện tích đất trống đồi núi trọc, đưa diện tích rừng lên ~ 15 triệu
ha, độ che phủ là 45% (năm 2005, độ che phủ rừng 38%)
- Trồng 50 vạn ha rừng nguyên liệu giấy ở Đông Bắc và Đông Nam Bộ để cung cấp chocác nhà máy giấy trong vùng (Bãi Bằng, Tân Mai)
- Trồng 30 vạn ha rừng phục vụ xây dựng cơ bản ở DH miền Trung và Tây Nguyên
- Trồng 30 vạn ha rừng đặc sản (quế, hồi, trẩu, cánh kiến đỏ ) cung cấp cho các xí nghiệpCB' vừa và nhỏ với công nghệ tiên tiến ở Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Quảng Bình
- Trồng 10 vạn ha rừng nguyên liệu và dược liệu và làm giàu 70 vạn ha rừng tự nhiên đểcung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Vai trò của ngành lâm nghiệp đối với kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái
2 Trình bày thực trạng về tài nguyên rừng ở nước ta Vấn đề đặt ra trong việc khai thác
và sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên này Nêu định hướng phát triển
3 Trình bày những hoạt động chính của ngành lâm nghiệp nước ta
4 Dựa vào bảng số liệu: 3.14 Hãy phân tích tình hình khai thác gỗ ở nước ta thời kì trên
Trang 255 Dựa vào kiến thức đã học, hãy trình bày những nét cơ bản về Vườn quốc gia, Khu dựtrữ sinh quyển thế giới Kể tên các Vườn quốc gia và Khu dự trữ sinh quyển thế giới ở nước ta(tính đến năm 12/2009).
C NGÀNH NGƯ NGHIỆP
1 Vai trò của ngư nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Vai trò của ngành này thể hiện rất rõ trong cơ cấu bữa ăn của nhân dân (thực phẩm có dinh dưỡng cao) Tiêu thụ BQ cả nước 14kg cá /người (thành thị 17kg, nông thôn 13 kg) Góp phần tạo ra mặt hàng xuất khẩu quan trọng (năm 1995 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 621,4 triệu
USD, chiếm 11,4% tổng giá trị hàng xuất khẩu cả nước, đến năm 2000 tăng lên 1.478,5 triệuUSD (10,1%), năm 2005 là 2.723,5 triệu USD (8,4%) và năm 2008 là 4.510,1 triệu USD (7,2%).Tốc độ tăng từ 1995 – 2008 là 7,3 lần (đứng hàng thứ 5 sau hàng dệt, may, dầu thô, giày dép,
gạo) Thị trường được mở rộng tới 90 quốc gia và vùng lãnh thổ Ngoài ra, ngành này đã thu hút 3,1% số lao động có việc làm của cả nước (1,1 triệu lao động), bao gồm 45,0 vạn lao động làm
nghề đánh bắt, 56,0 vạn lao động làm nghề nuôi trồng và 6 vạn lao động trong lĩnh vực chế biến
2 Tình hình phát triển
2.1 Sản lượng thủy sản
Sản lượng thủy sản ở nước ta tăng khá nhanh năm 1990 sản lượng đạt 890,6 ngàn tấn (khaithác 728,5 ngàn tấn, nuôi trồng 162,1 ngàn tấn), đến 1995 sản lượng là 1584,4 ngàn tấn (1195,3ngàn tấn và 389,1 ngàn tấn) Năm 2008, sản lượng thủy sản tăng lên 4,60 triệu tấn (khai thác2136,4 ngàn tấn, nuôi trồng 2465,6 ngàn tấn) Trong cơ cấu, thủy sản nuôi trồng tăng nhanh về tỉtrọng từ 18,2% (năm 1990) tăng lên 53,58% (năm 2008)
Sản lượng cao nhất là ĐB sông Cửu Long 2,70 triệu tấn (58,70% cả nước), DH Nam Trung
Trang 26Đông Nam Bộ 157,60 194,26 310,77 338,0Đồng bằng sông Cửu Long 819,20 1169,0 1845,82 2701,9
2.2 Đánh bắt hải sản (chủ yếu là cá biển)
Tất cả các tỉnh ven biển đều có ngành khai thác phát triển đặc biệt phát triển mạnh ở DHNam Trung Bộ và Nam Bộ Năm 2008, sản lượng cá biển của cả nước đạt 1,47 triệu tấn ĐB sôngCửu Long (38,15% cả nước), DH Nam Trung Bộ (30,42% cả nước), Đông Nam Bộ (14,30% cảnước) Các tỉnh dẫn đầu về khai thác cá biển vẫn là Kiên Giang (253,0 ngàn tấn), Bà Rịa - VũngTàu (199,1 ngàn), Cà Mau (101,3 ngàn tấn)
Bảng 3.16 Sản lượng cá biển phân theo vùng 1995, 2000, 2005 và 2008 (nghìn tấn)
Đồng bằng sông Cửu Long 312,5 465,7 529,1 563,0
- Trong cơ cấu, cá biển chiếm tỉ trọng tuyệt đối (74,0%) Trong đó, cá nổi (53,2%), cá đáy
(36,3%); phần còn lại là tôm và mực (26,0%)
- Về phạm vi khai thác, thì 75 - 80% sản lượng khai thác ở ven bờ (tính đến độ sâu 30m),
số còn lại 20 - 25% là ở độ sâu 30 - 50m và các vùng biển tương đối xa Trong năm có 2 vụ đánhbắt chính: vụ Nam từ tháng 4 - 9 (55%) và vụ Bắc từ tháng 10 - 3 năm sau (45% sản lượng)
- Về ngư cụ: Đánh bắt bằng lưới kéo (kéo cá, tôm, te, xiệp) chiếm 27,5% sản lượng khai
thác; Bằng lưới vó (vó ánh sáng, vó mành đèn, mành chà) 27%; Bằng lưới rê (rê thu, lưới quàng,lưới gộc, lưới the) 24,5%; Bằng lưới vây (xăm, rùng) 10%; Bằng lưới cố định (lưới đáy, lướiđăng) 6,8%; Bằng câu trực tiếp (câu vàng, câu tay) 4,2%
Tình hình khai thác hải sản có nhiều biến động Khó khăn nhất là thời kỳ 1976-1980, sản
lượng sa sút do thiếu nhiên liệu, phụ tùng thay thế, phương tiện đánh bắt và LLLĐ giảm Sau đổimới, nhờ thử nghiệm mô hình “ tự cân đối, tự trang trải” với động lực là xuất khẩu Sản lượng bắtđầu tăng nhanh, nhưng cho đến 1995, ngư nghiệp vẫn còn trong tình trạng chậm phát triển, hiệuquả kinh tế thấp, sự bành trướng của tàu thuyền cỡ nhỏ làm cho nguồn lợi hải sản (nhất là ven bờ)
bị suy giảm nhanh, nhiều vùng có nguy cơ cạn kiệt Trước tình hình đó, Nhà nước đã tập trungđầu tư cho việc đóng mới và nâng cấp hàng trăm tàu thuyền đánh cá xa bờ, trang bị các phươngtiện hiện đại, từ đó ngư nghiệp đã bắt đầu phát triển, hiệu quả kinh tế cao hơn
Bảng 3.17 Số tàu đánh bắt hải sản xa bờ và tổng công suất theo vùng từ 2000 - 2008
Số tàu (nghìn Số tàu (nghìn Số tàu (nghìn Số tàu (nghìn
Trang 27(chiếc) CV) (chiếc) CV) (chiếc) CV) (chiếc) CV)
▪ Các ngư trường khai thác chính
- Ngư trường vùng vịnh Bắc Bộ: Nguồn lợi khá phong phú, độ sâu trung bình 50m, có
nhiều đảo lớn như Cát Bà, Bạch Long Vĩ Trữ lượng chiếm ~ 24,9% cả nước Khả năng cho khaithác 32,5 vạn tấn/năm (49,2% cá nổi, 50,8% cá đáy) Tuy nhiên, mới khai thác 35,5% (11,4 vạntấn) Phương tiện đánh bắt chủ yếu là các tàu thuyền công suất nhỏ Việc đánh bắt bằng cácphương tiện trên đã làm cho nguồn hải sản ven bờ suy giảm nhanh, nhiều dấu hiệu cho thấy đãkhai thác quá mức Vì vậy phải vươn ra ngoài khơi, nhưng lại gặp khó khăn trong việc trang bịcác tàu có công suất lớn, vốn đầu tư vượt quá khả năng của ngư dân
- Ngư trường vùng biển Trung Bộ: do thềm lục địa hẹp, nên hầu hết việc khai thác lại tập
trung ở ven bờ Tiềm năng ở đây hạn chế hơn, khả năng khai thác hàng năm chỉ đạt 24,0 vạn tấn(cá nổi 83,3% và cá đáy 16,7%), chiếm 18,4% trữ lượng cả nước Sản lượng đánh bắt mới đạtkhoảng 83% của khả năng cho phép (gần 20,0 vạn tấn)
- Ngư trường vùng biển Đông Nam Bộ: Giàu tiềm năng nhất với phần lớn diện tích ở độ
sâu dưới 60m Trữ lượng khai thác có thể đạt 49,0 vạn tấn/năm (42,9% cá nổi và 57,1% cá đáy),chiếm 37,5% trữ lượng cả nước Sản lượng khai thác hiện nay đạt 40,1 vạn tấn (đạt 82,3% củakhả năng cho phép) Tốc độ gia tăng hàng năm ~ 9,2%
- Ngư trường vùng biển Tây Nam Bộ: độ sâu TB là 50m, thềm lục địa rộng (chiếm 19,2%
trữ lượng cả nước) Khả năng khai thác 25,0 vạn tấn (52% cá nổi và 48% cá đáy) Sản lượngđánh bắt là 21,3 vạn tấn, đạt 83,5% khả năng cho phép Tốc độ 9,5%/năm cao nhất cả nước
2.3 Nuôi trồng thủy sản
▪ Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng phát triển với tốc độ nhanh chóng Nuôi
trồng thủy sản liên quan chặt chẽ với diện tích mặt nước, diện tích mặt nước cho nuôi trồng thủysản liên tục tăng Năm 1987 cả nước mới có 249,0 ngàn ha, thì đến 1995 tăng lên 453,6 ngàn ha,năm 2005 là 952,6 ngàn ha và năm 2008 là 1.052,6 nghìn ha; ĐB sông Cửu Long (71,5% diệntích cả nước), Đồng bằng sông Hồng (9,7%) Các tỉnh có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất:
Cà Mau (293,2 ngàn ha – 27,9% cả nước), Bạc Liêu (125,6 ngàn ha – 12,0%), Kiên Giang (134,6ngàn ha – 12,8%)
Bảng 3.18 Diện tích mặt nước và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của các vùng từ 1995 - 2008
Diện tích (1000 ha) Sản lượng (1000 tấn)
Cả nước 453,60 524,60 952,60 1052,6 389,07 480,77 1477,98 2465,6
ĐB sông Hồng 58,80 66,80 89,20 121,2 53,38 96,99 215,10 322,14
Trang 28- Nuôi trồng (cá, tôm, nhuyễn thể, rong biển nước ngọt, lợ, mặn) năm 2008 cả nước là
2,46 triệu tấn; ĐB sông Cửu Long 74,6%, ĐB sông Hồng 13,1% cả nước Cao nhất là An Giang(315,44 ngàn tấn – 12,80% cả nước), Đồng Tháp (281,33 ngàn tấn – 11,4%), Cần Thơ (181,74ngàn tấn), Cà Mau (174,47 ngàn tấn), Bến Tre (157,0 ngàn tấn)
- Sản lượng cá nuôi cả nước 1,86 triệu tấn; ĐB sông Cửu Long chiếm 76,16% cả nước,
ĐB sông Hồng 13,10% Cao nhất là An Giang (313,7 ngàn tấn), Đồng Tháp (279,65 ngàn tấn),Cần Thơ (181,65 ngàn tấn), Bến Tre (117,45 ngàn tấn)
- Sản lượng tôm nuôi của cả nước 388,35 ngàn tấn ĐB sông Cửu Long (79,0% cả nước),
DH Nam Trung Bộ (9,65%); các tỉnh có sản lượng cao nhất là Cà Mau (94,2 ngàn tấn - 24,28%của cả nước), Bạc Liêu (63,98 ngàn tân – 16,48%), Sóc Trăng (58,79 ngàn tấn – 15,14%)
Gần đây, nghề nuôi tôm đang phát triển khá mạnh (chủ yếu là tôm nước lợ) do nhu cầuxuất khẩu lớn, tôm là mặt hàng xuất khẩu quan trọng đem lại hiệu quả kinh tế Nuôi tôm nước lợthích hợp nhất là ở các tỉnh phía nam có thể khai thác 2 - 3 vụ/năm (phía bắc chỉ khai thác được 1vụ/năm) Vì lợi ích kinh tế, cho nên diện tích rừng ngập mặn ở Nam Bộ đang bị tàn phá mạnh đãảnh hưởng đến môi trường sinh thái; ở miền Trung, một vài nơi các vuông tôm vượt qua cả QL1A và đường sắt Thống nhất dẫn tới những tác hại nghiêm trọng về cảnh quan môi trường
Bảng 3.19 Sản lượng cá nuôi và tôm nuôi phân theo địa phương từ 1995 –
Trang 29- Ngoài ra, nghề nuôi cua cũng đang phát triển tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía nam
(78%) Nghề nuôi nhuyễn thể (ngao, sò lông, trai ngọc ) đang phát triển mạnh ở Quảng Ninh,Khánh Hoà Nuôi rong biển phát triển ở các tỉnh ven biển miền Bắc và miền Trung
3 Định hướng phát triển
- Đối với đánh bắt hải sản Khuyến khích ngư dân trang bị ngư cụ, tàu thuyền để đánh
bắt xa bờ Qui hoạch, mở rộng, quản lý tốt việc khai thác từng ngư trường bảo đảm sự sinh sản vàphát triển đàn cá Đầu tư xây dựng các cơ sở dịch vụ (ưu tiên XD kết cấu hạ tầng trên các đảo Cô
Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Phú Quí, Phú Quốc, Thổ Chu, Côn Đảo) phục vụ cho đánh bắt xa bờ
và bảo vệ an ninh vùng biển Nâng cấp các cảng cá ở các tỉnh dọc DH miền Trung Đầu tư pháttriển đội tàu thuyền đánh bắt xa bờ hiện đại, trang bị các thiết bị đồng bộ về thăm dò, hàng hải
Tổ chức thu mua-CB’-xuất thẳng trên biển đối với sản phẩm cá tươi để thực hiện được việc đánhbắt dài ngày
- Đối với chương trình nuôi trồng thuỷ sản Chú trọng phát triển các sản phẩm có giá trị
xuất khẩu (tôm càng xanh, cá ba sa, ), có hình thức nuôi thích hợp đối với từng vùng như cálồng, cá bè Tổ chức tốt các dịch vụ về giống, thức ăn, phòng trừ dịch bệnh Nuôi trồng thuỷ sảnnước lợ ven biển, tập trung vào tôm Hình thành vùng nguyên liệu phục vụ cho xuất khẩu Nuôitrồng thuỷ sản nước mặn, tập trung vào các loại cá như cá cam, cá song, tôm hùm Có thể nuôi bènổi như ở Khánh Hoà, Đà Nẵng, Quảng Nam Thử nghiệm nuôi trai ngọc và nhân đại trà ở các
eo, vịnh kín, ít chịu ảnh hưởng của sóng gió
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển ngành thủy sản nước ta
2 Dựa vào bảng 3.15 Vẽ biểu đồ thể hiện rõ nhất sự thay đổi về sản lượng thủy sản của
cả nước Giải thích tại sao có sự thay đổi đó
3 Giải thích tại sao Đồng bằng sông Cửu Long chiếm ưu thế về sản lượng thủy sản (cảkhai thác và nuôi trồng) so với các vùng khác?
4 Những vấn đề đã và đang đặt ra trong việc đẩy mạnh phát triển ngành nuôi trồng thủysản nước ta
5 Dựa vào bảng 3.21 Hãy so sánh nghề nuôi cá và tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long,Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sồng Hồng
Trang 30D TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP (TCLTNN) 1.1 Tổng quan
- TCLTNN “Là hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp
và các lãnh thổ dựa trên qui trình kĩ thuật mới nhất, chuyên môn hóa, tập trung hoá, liên hợp hoá và hợp tác hoá sản xuất, cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về điều kiện tự nhiên, kinh tế, lao động và đảm bảo NSLĐ xã hội cao nhất” (K.I.Ivanov-1974)
- Từ quan niệm trên, có thể rút ra một số điểm then chốt về TCLTNN: Phân công lao động
theo lãnh thổ cùng với việc kết hợp giữa tài nguyên - kinh tế - lao động là cơ sở để hình thành cácmối liên hệ qua lại theo không gian (lãnh thổ) Các khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ quyệnchặt với nhau trong quá trình TCLTNN Các đặc điểm không gian của SX phần lớn bắt nguồn từtính chất của việc khai thác và sử dụng các điều kiện SX hiện có Hiệu quả (kinh tế, xã hội ) làtiêu chuẩn hàng đầu trong việc TCLTNN
TCLTNN không phải là bất biến, ở hình thái KT-XH nào thì có kiểu TCLTNN tương
ứng TCLTNN gắn bó mật thiết với cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật và đang trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp TCLTNN liên quan chặt chẽ với hệ thống SXNN; đây là các phân hệ sảnxuất – chế biến nông sản có mối quan hệ khăng khít với nhau; hệ thống nông nghiệp bao gồmnhóm xí nghiệp liên quan trực tiếp với đất đai, nhóm xí nghiệp liên quan gián tiếp với đất đai vànhóm xí nghiệp có 2 đặc điểm này tuỳ thuộc vào từng thời kỳ Các xí nghiệp như là thành phầncủa hệ thống liên hệ với nhau thông qua dòng vận chuyển nguyên liệu - bán thành phẩm - thànhphẩm nhằm đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của cả hệ thống Cơ sở của mối liên hệ này làquy trình kĩ thuật và CMH' của các xí nghiệp trong việc sản xuất sản phẩm do những khác biệt vềlãnh thổ tạo nên
1.2 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp tiêu biểu
- Xí nghiệp nông nghiệp: Xí nghiệp nông nghiệp có thể coi là hình thức cơ sở, trong đó
có sự thống nhất giữa lực lượng lao động và đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất cho xãhội (đó là các nông trường, nông trại, đồn điền) Hình thức nông trại thường gặp ở Tây Âu, Bắc
Mỹ, diện tích có thể từ vài ha đến hàng trăm ha; Các kiểu đồn điền thường gặp ở các thuộc địa cũvùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
- Thể tổng hợp nông nghiệp: thực chất là sự kết hợp một số loại xí nghiệp có mối quan
hệ và liên kết với nhau về mặt lãnh thổ Có 2 nhóm thể tổng hợp nông nghiệp: Nhóm thể tổnghợp nông nghiệp mà sản phẩm hàng hoá được sản xuất ra trước hết do các điều kiện tự nhiênphân bố có tính chất đới quyết định Nhóm thể tổng hợp nông nghiệp ngoại thành do nhu cầu cácthành phố chi phối
Trang 31- Băng chuyền địa lý: dựa trên cơ sở sự khác biệt lãnh thổ về tự nhiên theo thời gian và
không gian Các băng chuyền địa lý trong nông nghiệp thường thấy ở các nước có lãnh thổ rộnglớn, hoặc kéo dài theo vĩ tuyến và được chia làm 2 loại: Băng chuyền địa lý sử dụng có hiệu quả
sự khác biệt theo vùng trong việc sản xuất nông phẩm (hay còn gọi là băng chuyền sản xuất lãnh thổ) và băng chuyền sử dụng có hiệu quả sự thay đổi mùa của tự nhiên (thực hiện công việcđồng áng, sản xuất và cung cấp rau quả tươi)
Vùng nông nghiệp: là một lãnh thổ có sự lặp lại của các kiểu sản xuất tương đối giống
nhau, hoặc của các kiểu sản xuất khác nhau nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau
2 TỔ CHỨC LÃNH THỔ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 2.1 Khái quát chung
- Về phương diện lý luận, ở nước ta có rất ít tài liệu nghiên cứu sâu về TCLTNN Liên
quan đến vấn đề này chỉ có một vài nghiên cứu về phân vùng NN Việt Nam (Minh Chi -1960),Nhà giáo Nguyễn Văn Quang đã đưa vào giảng dạy giáo trình “Phân vùng nông nghiệp” ở ĐHSP
Hà Nội Vận dụng lý luận của nước ngoài vào thực tiễn sinh động trong TCLTNN của nước ta;
có thể thấy nổi lên một số hình thức TCLTNN cụ thể như: Xí nghiệp nông nghiệp (nông trường,HTX, hay các trang trại đang xuất hiện gần đây); Thể tổng hợp nông nghiệp (mà manh nha là cácvành đai xanh xung quanh các TP lớn, các vùng chuyên canh cây LT, cây công nghiệp ), vàVùng nông nghiệp sinh thái Tất nhiên, lý luận về TCLTNN Việt Nam còn là mảng trống khálớn, đòi hỏi công sức của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
- Sau 1975, Nhà nước đã công bố 7 vùng nông nghiệp - sinh thái căn cứ vào đặc điểm tự
nhiên, kinh tế, kỹ thuật cũng như định hướng phát triển KT-XH (nói chung) và phát triển nông
nghiệp (nói riêng) Hiện nay, TCLTNN của nước ta được xác định theo 7 vùng nông nghiệp sinh thái Các vùng này có điều kiện sinh thái nông nghiệp khác nhau, các điều kiện tự nhiên,
-kinh tế - xã hội cho phát triển nông nghiệp cũng phân hoá; Trình độ thâm canh, CMH' sản xuấtkhông giống nhau Trong đó, điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên là nền tảng của sự phânhoá lãnh thổ nông nghiệp (bản thân nông nghiệp là ngành kinh tế hướng tài nguyên); Còn điềukiện KT - XH là các nhân tố động làm cho sự phân hoá lãnh thổ nông nghiệp trở thành sự tổ chứclãnh thổ nông nghiệp, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và bảo đảm cho phát triển bền vững
2.2 Những đặc trưng chính của từng vùng
2.2.1 Vùng Miền núi và trung du Bắc Bộ
- Các thế mạnh và hạn chế chính: Tài nguyên đất NN của vùng chủ yếu dựa vào đất
feralit hình thành trên các cao nguyên đá vôi như Mộc Châu, Nà Sản, Bắc Hà , đất feralit hìnhthành trên đá sa thạch và những cánh đồng giữa núi, các dải phù sa cổ ở rìa giáp Đồng bằng sôngHồng Địa hình bị chia cắt mạnh, có cả địa hình núi thấp, TB và cao Khí hậu nhiệt đới núi cao,
có mùa đông lạnh, ở vùng núi trong mùa đông có sương giá, sương muối, ngay trong mùa đôngcòn có mưa phùn cung cấp ẩm cho cây trồng (các cây ngắn ngày vụ đông) Trong vùng có một sốđồng cỏ liền dải, đồi thấp thuận lợi cho phát triển chăn nuôi
Trang 32- Các sản phẩm nông nghiệp CMH’: Tập trung vào cây công nghiệp dài ngày ưa khí hậu
ôn đới và cận nhiệt (chè, hồi, trẩu, sở ) và một số cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, đậu tương,thuốc lá, ) Về chăn nuôi (trâu, bò lấy thịt, sữa) và lợn Ngoài ra, vùng có thế mạnh về các câydược liệu quí (tam thất, sa nhân ) Các cây ăn quả cận nhiệt (đào, mận, lê, hồng ) đang pháttriển mạnh ở các vùng như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái
2.2.2 Vùng đồng bằng sông Hồng
- Thế mạnh & hạn chế Là đồng bằng phù sa liền dải, diện tích 1,5 triệu ha (1/3 ĐB sông
Cửu Long), ĐB có hướng nghiêng từ tây bắc - đông nam Do được khai thác sớm cho nên đồngruộng cơ bản đã thuỷ lợi hoá, đất đai được sử dụng ở mức độ cao Có hệ thống đê điều để ngăn
lũ, hạn chế việc bồi đắp phù sa vào đồng bằng (có nhiều ô trũng, sâu) Nét đặc sắc của đồng bằng
là có mùa đông lạnh (luân phiên các ngày lạnh và các ngày nắng ấm) Vì vậy, vùng có điều kiệnphát triển các loại cây trồng - vật nuôi đa dạng cả nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới Mật độ dân cưtập trung đông nhất cả nước Người dân cần cù, có kinh nghiệm thâm canh, có các làng nghề thủcông rất phát triển Là nơi có mật độ các đô thị dày đặc nhất cả nước, có nhiều TP lớn
- Sản phẩm nông nghiệp CMH': Lúa gạo (là vùng trọng điểm LT - TP số 2 cả nước, sản
lượng lương thực chiếm 18% cả nước, nhưng BQLT/ng lại thấp hơn mức TB của cả nước) Cácloại thực phẩm (đàn lợn, gia cầm, các loại rau vụ đông là thế mạnh của vùng, bò sữa ven các TPlớn) Cây CN (đay, cói, )
2.2.3 Vùng Bắc Trung Bộ
- Thế mạnh và hạn chế chính: Địa hình phía tây là dãy Trường Sơn Bắc, tiếp đến là vùng
đồi trung du, đến đồng bằng nhỏ hẹp chạy sát ven biển, phía Đông là Biển Đông Các đồng bằngthu hẹp dần về phía Nam Tài nguyên đất NN dựa trên các vùng đất phù sa có nguồn gốc sông -biển, chủ yếu là đất cát pha Đất feralit tập trung ở vùng trung du và có một ít đất đỏ ba dan ở PhủQuì (Nghệ An) đến Quảng Trị Như vậy, địa hình, đất đai của vùng có những nét khá đặc biệt, cóthế mạnh để khai thác tổng hợp cả Lâm-Nông-Ngư Khí hậu có tính chất chuyển tiếp của khí hậuBắc Bộ với khí hậu Nam Bộ, vẫn có mùa đông lạnh (nhưng ngắn ~ 90 ngày), vì vậy cũng có thểphát triển các cây trồng - vật nuôi ưa nhiệt độ 200C Vào tháng 5 - 7, gió mùa tây nam hoạtđộng, thời tiết rất khô, nóng, hạn hán xảy ra ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi Có nhiều sôngnhưng ngắn và dốc, thuỷ chế chênh lệch giữa mùa lũ và kiệt, công tác thuỷ lợi gặp nhiều KK,chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất Ven biển (Quảng Bình) chịu ảnh hưởng của cát bay vào đấtliền Người dân có kinh nghiệm đấu tranh chống thiên tai và chinh phục thiên nhiên Trong vùng
đã có một số cơ sở CNCB' nông sản, một số đô thị vừa và nhỏ
- Sản phẩm nông nghiệp CMH': Các sản phẩm nông nghiệp của vùng chủ yếu cung cấp
cho CNCB’ TP Sản phẩm chính của ngành trồng trọt là lạc, mía, cam, có một ít hồ tiêu, cao su,
cà phê Chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, có một ít hươu, dê Thủy - hải sản
2.2.4 Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
- Thế mạnh và hạn chế chính: Dãy Trường Sơn chạy sát gần biển, sườn dốc về phía đông
(biển) Đồng bằng nhỏ, hẹp, ven biển có nhiều cồn cát (Ninh Thuận, Bình Thuận), nhiều vũng
Trang 33vịnh thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ hải sản Sông ngắn, dốc Quĩ đất nông nghiệp hạn chế Khí hậunóng quanh năm, nhiệt độ TB 25-270C Lượng mưa giảm dần từ Bắc vào Nam, khô hạn thườngxuyên xảy ra, đặc biệt là phía nam của vùng Có nhiều đô thị dọc ven biển, GTVT khá thuận lợi.
- Sản phẩm nông nghiệp CMH': Quan trọng nhất là thuỷ sản Về chăn nuôi, đây là vùng
CMH' về chăn nuôi bò thịt; sản phẩm yến sào trên các đảo đá của Khánh Hoà, Phú Yên, BìnhĐịnh, Quảng Nam Về trồng trọt, sản phẩm hàng hoá đáng kể là dừa và mía Ngoài ra, trong vùng
có một ít dâu tằm ở Quảng Nam, Bình Định
2.2.5 Vùng Tây Nguyên
- Thế mạnh và hạn chế chính: Đây là vùng cao nguyên xếp tầng rộng lớn, độ cao trung
bình 700 - 800m/biển Địa hình thấp dần từ đông sang tây Khí hậu nhiệt đới trên núi, nhiệt độtrung bình năm 19 - 200C, điều hoà quanh năm Là đầu nguồn của nhiều sông suối Khí hậu phân
ra 2 mùa khô - mưa rõ rệt Mùa khô rất thiếu nước, mực nước ngầm hạ thấp nên công tác thuỷ lợigặp nhiều khó khăn Là vùng có nhiều dân tộc ít người, sau 1975, người Việt di cư lên xây dựngvùng kinh tế mới khá đông, chủ yếu là ở các tỉnh phía bắc và ven biển miền Trung Về trình độphát triển KT-XH nói chung còn thấp, CSHT yếu kém, GTVT mới đang được nâng cấp, các CSCNCB' chưa phát triển Tây Nguyên vẫn còn tồn tại hình thức canh tác thô sơ (phát, đốt rừng,chọc, trồng tỉa) Hiện nay đang chuyển dần sang sản xuất hàng hoá với các vùng CMH' cây dàingày và chăn nuôi bò Sự suy thoái lớp phủ rừng đang là vấn đề đặt ra đối với vùng
- Sản phẩm nông nghiệp CMH': Cà phê, cao su, cây chè, chăn nuôi bò sữa và bò thịt.
Ngoài ra, còn có các vùng CMH' rau, hoa ở Đà Lạt chuyên SX các loại rau, hoa cao cấp phục vụcho các thành phố và xuất khẩu
2.2.6 Vùng Đông Nam Bộ
- Thế mạnh và hạn chế chính: Địa hình là vùng đồi lượn sóng thuộc sườn Tây Nam dãy
Trường Sơn Độ cao ~ 200 - 300m/biển Đất trồng chủ yếu là đất ba dan và đất xám phù sa cổ
Có một số vùng trũng để nuôi trồng thuỷ sản Khí hậu cận xích đạo, nóng quanh năm, nhiệt độtrung bình 22-250C Có hai mùa khô - mưa rõ rệt Có nhiều sông ngắn cùng đổ ra cửa Soi Rạp(như sông Đồng Nai, Bé, La Ngà, Vàm Cỏ Đông) các sông này có ý nghĩa lớn về thuỷ điện vàthuỷ lợi, tuy nhiên vào mùa khô có hiện tượng thiếu nước Là vùng được khai thác sớm, có các
TP, TTCN lớn là thị trường tiêu thụ nông sản, có nhiều các cơ sở CNCB’
- Sản phẩm nông nghiệp CMH': Đây là vùng cao su lớn nhất cả nước Cây cà phê, phát
triển mạnh từ sau 1980, hồ tiêu Các cây công nghiệp hàng năm (lạc, đậu tương, mía, thuốc lá).Vùng cây ăn quả (xoài, bưởi, măng cụt v.v.)
2.2.7 Vùng đồng bằng sông Cửu Long
- Thế mạnh & những hạn chế Là ĐB rộng lớn nhất của nước ta Phù sa màu mỡ, lại được
bồi đắp hàng năm Tiềm năng nông nghiệp lớn nhất là dải phù sa ngọt tập trung giữa S.Tiền vàS.Hậu Những vùng đất bị nhiễm phèn và mặn đang được cải tạo để mở rộng diện tích Khí hậucận xích đạo, nguồn nhiệt phong phú (9.500-10.0000C/năm), nhiệt độ trung bình 25-270C, lượngmưa tập trung theo mùa (mùa mưa chiếm 85-90%), có 2 mùa (lũ và kiệt), ít chịu ảnh hưởng củabão Vùng rừng ngập mặn dọc duyên hải (bán đảo Cà Mau) là những hệ sinh thái có năng suất rất
Trang 34cao, ý nghĩa kinh tế lớn, đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản Do đặc điểm về hình thái của các cửasông và chế độ thuỷ triều, nên đồng bằng chịu ảnh hưởng mạnh của sự xâm nhập mặn (nhất làtrong mùa kiệt) Vùng có khả năng phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới với cơ cấu cây trồng -vật nuôi đa dạng Thuỷ sản đã trở thành thế mạnh đặc sắc của vùng Mặt khác, thiên nhiên đã tạo
ra tập quán canh tác đặc trưng của vùng “con người sống chung với lũ, tránh lũ vụ chính” Việccải tạo đất phèn-mặn, chống xâm nhập mặn có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển NN của vùng
Về điều kiện KT-XH, vùng được khai thác mạnh từ thế kỷ 17; người dân có kinh nghiệm canhtác cây lúa nước, cây ăn quả, chăn nuôi, nuôi trồng và khai thác thuỷ hải sản; sớm tiếp cận vớinền kinh tế thị trường, lại nằm kề với vùng tiêu thụ hàng nông sản (Đ.Nam Bộ) GTVT đườngthuỷ rất thuận lợi Đã hình thành mạng lưới các đô thị và các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ
- Sản phẩm nông nghiệp CMH': Lúa gạo (chiếm ưu thế cả về diện tích và sản lượng của
cả nước, là vùng xuất khẩu gạo chủ yếu của nước ta) Về sản xuất thực phẩm (thuỷ sản, chăn nuôigia súc, gia cầm (đặc biệt là vịt) Là vùng cây ăn quả nhiệt đới lớn nhất cả nước; cây công nghiệpngắn ngày (mía, đay, cói) Các cơ sở công nghiệp chế biến được phát triển rộng khắp đã góp phầntạo thế ổn định cho các vùng nông nghiệp CMH'
2.3 Những thay đổi trong tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở nước ta
a Về tổ chức lãnh thổ, trong những năm gần đây thay đổi theo 2 xu hướng chính:
- Tăng cường CMH’sản xuất, phát triển các vùng chuyên canh qui mô lớn với các sản
phẩm nông nghiệp chủ yếu tập trung ở những vùng có tiềm năng đế sản xuất nông nghiệp hànghoá (Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long )
- Đẩy mạnh đa dạng hoá nông nghiệp, đa dạng hoá kinh tế nông thôn Việc đẩy mạnh đa
dạng hoá nông nghiệp cho phép khai thác hợp lí sự đa dạng, phong phú của các ĐKTN, sử dụngtốt hơn nguồn lao động, tạo việc làm và hàng hoá nông sản; Mặt khác, cũng giảm thiểu rủi ro nếuthị trường nông sản có biến động bất lợi, quá trình này sẽ tăng cường thêm sự phân hoá LTNN
b Xu hướng thay đổi trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp theo vùng
Bảng 3.20 Xu hướng thay đổi trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp theo vùng
Trang 35Chú thích: mức độ tập trung SX theo vùng lãnh thổ
Rất cao +++ Cao ++ Trung bình + Không đáng kể
c Kinh tế trang trại – thúc đẩy sản xuất N – L - TS theo hướng sản xuất hàng hoá
Kinh tế trang trại ở nước ta phát triển từ kinh tế hộ gia đình Trang trại phát triển sớm nhất
ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Thời kì đầu tập trung phát triểntrang trại trồng cây lâu năm (Tây Nguyên & Đông Nam Bộ) sau đó (gần đây) là trang trại nuôitrồng thuỷ sản (chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long) rồi đến trang trại chăn nuôi, trồng cây lâunăm và kinh doanh tổng hợp
Bảng 3.21 Số lượng trang trại phân theo ngành sản xuất năm 2000 – 2008 (trang trại)
Câyhàng năm
Câylâu năm
Chăn nuôi Thủy sản
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Lấy ví dụ chứng minh rằng các điều kiện tự nhiên tạo nền chung cho sự phân hóa lãnhthổ nông nghiệp, còn các nhân tố kinh tế - xã hội làm phong phú và biến đổi sự phân hóa đó
2 Hãy tìm sự khác nhau trong chuyên môn hóa NN giữa vùng: TD & MN Bắc Bộ vớiTây Nguyên; giữa ĐBS Hồng với ĐBS Cửu Long Giải thích nguyên nhân của sự khác biệt đó
3 Tại sao việc phát triển các vùng chuyên canh nông nghiệp kết hợp với công nghiệp chếbiến lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với tổ chức lãnh thổ nông nghiệp và phát triển kinh tế - xãhội nông thôn ?
Trang 364 Dựa vào bảng 3.22 Trình bày xu hướng thay đổi trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệpnước ta Giải thích tại sao có sự thay đổi đó.
CHƯƠNG 4.
TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
4.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 4.1.1 Đặc điểm sản xuất công nghiệp (SXCN)
- Sản xuất công nghiệp có tính chất tập trung cao theo lãnh thổ Tính tập trung cao của
công nghiệp thể hiện ở qui mô và mật độ của xí nghiệp trên một đơn vị lãnh thổ Nếu trên mộtđơn vị lãnh thổ phân bố nhiều xí nghiệp, mà đa phần là các xí nghiệp có qui mô lớn thì mức độtập trung công nghiệp ở vùng đó rất cao (và ngược lại) Tuy nhiên, hiệu quả của sản xuất lại phụthuộc rất lớn vào việc xác định giới hạn hợp lý của sự tập trung lãnh thổ đó Tập trung hoá côngnghiệp theo lãnh thổ sẽ tạo khả năng hiện đại hoá thiết bị, tăng NSLĐ, tạo thuận lợi để thực liênhiệp hoá, CMH’ và hiệp tác hoá, hạ giá thành sản phẩm, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên, nhiênliệu, năng lượng, v.v Nếu tập trung quá mức, vượt sức chứa của một lãnh thổ sẽ gây khó khănlớn như làm tiêu hao nhanh chóng các nguồn nguyên liệu trong vùng, khó lựa chọn địa điểm, đòihỏi tập trung công nhân lành nghề, hình thành các trung tâm dân cư lớn, những TP quá đông dân,gây khó khăn, tốn kém cho việc tổ chức, sinh hoạt và môi trường Vì vậy, việc đánh giá trình độtập trung CN theo lãnh thổ của mỗi nước, mỗi vùng còn tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triểnkinh tế, tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dân cư, kinh tế, chính trị của nước đó, vùng đó
- Sản xuất công nghiệp có khả năng liên hợp lớn Quá trình liên hợp hoá được thể hiện
rõ nhất trong nền công nghiệp hiện đại Đó là, nhiều cơ sở sản xuất có mối quan hệ với nhau vềmặt kĩ thuật – công nghệ, cùng sử dụng chung một nguồn nguyên liệu ban đầu để sản xuất ra cácsản phẩm khác nhau Liên hợp hoá là một đặc trưng của SXCN, đặc điểm này đòi hỏi trong phân
bố công nghiệp, thì các xí nghiệp (nhất là các xí nghiệp có gắn bó với nhau về qui trình côngnghệ) cần được phân bố trên cùng một lãnh thổ để vừa đảm bảo quá trình công nghiệp - côngnghệ, vừa thuận tiện trong việc quản lý Liên hợp hoá SXCN sẽ thúc đẩy sự tập trung côngnghiệp theo lãnh thổ, đây chính là yếu tố để nâng cao hiệu quả của sản xuất công nghiệp, làmgiảm chi phí đầu tư xây dựng, sử dụng toàn diện và tổng hợp các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu,rút ngắn quá trình sản xuất, giảm bớt chi phí lao động, tăng NS LĐXH, giảm giá thành sản phẩm
- Sản xuất công nghiệp mang tính chất chuyên môn hoá sâu và hiệp tác rộng (CMH’).
Trong sản xuất công nghiệp, tính chất CMH' được thể hiện rất rõ không chỉ theo từng sản phẩm,từng chi tiết, từng bộ phận, từng công đoạn của sản phẩm; mà còn diễn ra liên tục quanh năm.Đồng thời với CMH’ sâu, sản xuất công nghiệp đòi hỏi thực hiện sự hiệp tác rộng rãi giữa nhiều
xí nghiệp, nhiều ngành khác nhau để tạo ra sản phẩm cuối cùng Như vậy, CMH’ và hiệp tác hoá
là 2 bộ phận không tách rời nhau: CMH’ càng sâu thì hiệp tác hoá càng rộng Trình độ hiệp táchoá được xác định bởi số lượng các xí nghiệp tham gia vào việc tạo ra sản phẩm cuối cùng Cũng
do yêu cầu của CMH’-hiệp tác hoá, nên công nghiệp được phân bố tập trung, hình thành các hình
Trang 37thức tổ chức lãnh thổ đa dạng như cụm, khu, vùng công nghiệp v.v Để nâng cao hiệu quả củaphân bố công nghiệp, cần XD những phương án qui hoạch tổng thể các xí nghiệp có liên quan vớinhau nhằm đảm bảo yêu cầu hiệp tác hoá sản xuất, trong đó hạt nhân là xí nghiệp đầu não (hoặcngành CMH’) Ngày nay hiệp tác hoá SXCN đang diễn ra trên qui mô khu vực và toàn cầu.
4.1.2 Đặc điểm tổ chức lãnh thổ từng ngành công nghiệp (CN)
Phát triển công nghiệp hay CNH’đất nước là con đường tất yếu và duy nhất để nâng cao
không ngừng tiềm lực kinh tế và đẩy nhanh tiến bộ xã hội, có tác dụng lớn trong việc cải tạo vàhiện đại hoá nền kinh tế, làm cho các ngành kinh tế được SX, tổ chức và quản lý theo phươngpháp CN; thúc đẩy nhanh quá trình PCLĐ ngành và theo lãnh thổ, hình thành cơ cấu ngành và cơcấu lãnh thổ tiến bộ, có hiệu quả; tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia ngày càngtích cực vào quá trình phát triển kinh tế-XH; tạo ra môi trường thuận lợi để đẩy mạnh cách mạngKH-KT–CN và ứng dụng những thành tựu của nó vào nền KTQD Góp phần nâng cao tiềm lựcquốc phòng và khả năng phòng thủ của đất nước Tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư
trong và ngoài nước và mở rộng các quan hệ kinh tế - thương mại với nước ngoài Như vậy, để đạt hiệu quả cao về KT-XH và MT, việc TCLT CN, cần lưu ý những vấn đề cơ bản sau:
- Đối với ngành CN điện lực Về phân bố, phải kết hợp tác cơ sở SX điện lực thành một
hệ thống điện thống nhất trên những vùng rộng lớn (gọi là lưới điện quốc gia) Như vậy sẽ tậndụng công suất, điều hòa nhu cầu, an toàn khi sử dụng, mở rộng diện phân bố các xí nghiệp tiêuthụ, đưa điện lực đến các vùng nông thôn rộng lớn và có lợi về mặt quốc phòng Nên xây dựngnhững cơ sở SX điện lớn cung cấp cho cả một vùng rộng lớn; kĩ thuật tải điện cho phép vận tảiđiện năng đi xa (hàng ngàn km) mà tỉ lệ hao hụt không lớn Tuy nhiên, khi xây dựng các đườngdây tải điện đi xa (qua những vùng có địa hình phức tạp, đòi hỏi chi phí lớn) cần phải chọn qui
mô thích hợp với nhu cầu và khả năng tải điện cho từng vùng Các nhà máy điện lớn nên đặt tạinơi có sẵn nguồn nhiên liệu (hoặc khu vực giàu thủy năng) Các nhà máy nằm xa nguồn nhiênliệu thì công suất không nên quá lớn Cần kết hợp giữa nhiệt điện với thủy điện, bởi vì nhà máynhiệt điện XD ngắn ngày, ít vốn nhưng giá thành một đơn vị điện lực lại cao, còn các nhà máythủy điện thời gian XD dài ngày, cần nhiều vốn nhưng giá thành một đơn vị điện lực lại thấp và
sử dụng tổng hợp được sức nước
- Đối với ngành CN luyện kim Các xí nghiệp luyện kim thường đặt ở vùng mỏ kim loại,
cũng có khi đặt ở trung tâm cơ khí, nơi tiêu thụ hoặc gần các trung tâm điện lực lớn, rẻ tiền, gần
mỏ than lớn Đây là ngành gồm nhiều giai đoạn SX phức tạp, vì vậy phải phân bố thành loại hình
xí nghiệp liên hợp, có qui mô lớn mới áp dụng được kĩ thuật cao và hạ giá thành sản phẩm Riêngngành luyện kim màu, khi phân bố thường chia làm 2 khâu (làm giàu quặng (sơ chế) và tinhluyện kim loại); các xí nghiệp làm giàu quặng được phân bố tại nơi khai thác; còn xí nghiệp tinhluyện kim loại thì tùy theo phương pháp tinh luyện có thể đặt ở gần nơi làm giàu quặng hoặc gầntrung tâm thủy điện rẻ tiền, hoặc gần các trung tâm KH-KT Kim loại màu thường ở dạng đa kim,
có nhiều khả năng hỗn hợp để tạo thành các hợp kim mới; Vì vậy, nên XD những xí nghiệp liênhợp luyện kim màu để sử dụng nhiều nguồn quặng và tạo ra nhiều kim loại và hợp kim có giá trị
Trang 38- Đối với ngành CN cơ khí Ngành này thường phân bố gần nơi tiêu thụ sản phẩm (các
khu vực tập trung đông dân cư, văn hóa, khoa học) Là ngành có nhiều khả năng nhất để CMH'sâu và hiệp tác rộng, có thể vừa phân bố tập trung, vừa phân tán (tập trung để tiện việc tổ chứcCMH' và hiệp tác hóa, còn phân tán để phục vụ kịp thời nhu cầu thị trường) Công nghiệp cơ khí
có thể phân thành 4 nhóm: Nhóm cơ khí nặng nên phân bố gần nơi có cơ sở luyện kim; Nhóm cơkhí trung bình nên bố trí gần nơi tiêu thụ; Nhóm cơ khí tinh vi chính xác nên phân bố ở trung tâmdân cư, văn hóa – khoa học; Nhóm cơ khí sửa chữa lắp ráp nên phân bố rộng khắp
- Đối với ngành CN hóa chất Ngành này cần phân bố gần các nguồn nhiên liệu động lực
rẻ tiền và gần nguồn nước dồi dào Những xí nghiệp hóa chất có sản phẩm khó chuyên chở thìnên phân bố gần nơi tiêu thụ Với ngành này, khi phân bố phải chú ý tới việc bảo vệ môi trường
và chống gây ô nhiễm, không để gần khu vực đông dân
- Đối với ngành công nghiệp VLXD Các cơ sở sản xuất VLXD chủ yếu được phân bố
gần nguồn nguyên liệu và các khu vực tiêu thụ Đối với các xí nghiệp (xi măng, sành sứ lớn) tiêuthụ nhiều nguyên liệu rẻ tiền, khó chuyên chở so với thành phẩm nên phân bố ở nơi có nguồnnguyên liệu Đối với các xí nghiệp sản xuất các VLXD có khối lượng thành phẩm cồng kềnh, dễ
vỡ, khó chuyên chở phải phân bố gần các trung tâm tiêu thụ lớn, gần những điểm xây dựng côngnghiệp mới, các khu tập trung đông dân cư và công nghiệp; Các xí nghiệp thuộc nhóm này rấtphong phú (bê tông đúc sẵn, tấm lợp, trụ điện, thủy tinh, ván tường, gạch ngói, gạch chịu lửa, );một số xí nghiệp trong nhóm này có thể sử dụng vật liệu phế thải của công nghiệp và sinh hoạtdân cư (thủy tinh, gạch xỉ, ván tường ép, ) Còn các xí nghiệp sản xuất VLXD thông thường vàqui mô nhỏ, thì nên phân bố rộng rãi theo các điểm nguyên liệu và dân cư
- Đối với ngành các ngành công nghiệp nhẹ Các ngành công nghiệp nhẹ nói chung có thể
phân bố rộng khắp Tuy nhiên, nên chia làm 3 nhóm: Nhóm sử dụng những nguyên liệu dễ hưhỏng, khó vận chuyển, phân bố ở vùng giàu nguyên liệu (mía, cá hộp ); nhóm có khối lượngthành phẩm lớn khó chuyên chở và bảo quản, dễ hư hỏng hoặc phải sử dụng nhiều nhân côngthành thạo hoặc thành phẩm đòi hỏi phải có giá trị thẩm mĩ cao, nên phân bố ở các trung tâm dân
cư, trung tâm VH; nhóm có nguồn nguyên liệu ở nhiều nơi, sử dụng ít nhân công thành thạo nênphân bố rộng rãi ở nhiều nơi, có thể kết hợp với các cơ sở SXNN địa phương hình thành các tổhợp nông – công nghiệp Những ngành CN nhẹ sử dụng nguồn nguyên liệu có tính chất thời vụ,hoặc tiêu thụ sản phẩm theo mùa thì nên phân bố gần nhau để tiện sử dụng chung nguồn nhânlực Một số ngành có khả năng sử dụng tổng hợp nguyên liệu và liên hợp sản xuất, thì nên phân
bố thành các xí nghiệp liên hợp, các cụm xí nghiệp và các TTCN nhẹ có phối hợp SX với nhau
Như vậy, việc phân bố các ngành CN gây tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới sự phân bố của
các ngành SX khác, tới toàn bộ tổ chức lãnh thổ một xã hội, tới môi trường sinh thái Các TTCNđược phân bố ở đâu thường làm biến đổi theo nó sự phân bố CN, GTVT, các ngành dịch vụ, hìnhthành ở đó các điểm dân cư lớn, tập trung, đẩy mạnh quá trình ĐTH', làm thay đổi rõ rệt bộ mặt
xã hội và môi trường thiên nhiên Phân bố CN là một bộ phận quan trọng trong tổ chức xã hộitheo lãnh thổ Nếu phân bố hợp lý sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho toàn xã hội, ảnh hưởng tới
sự hình thành các tổng thể lãnh thổ vùng Ngược lại, sai lầm trong phân bố CN sẽ gây tác hại lâu
Trang 39dài không chỉ cho bản thân xí nghiệp mà còn có tác hại tới các ngành SX khác và tới đời sốngnhân dân, gây ô nhiễm và hủy hoại môi sinh
4.1.3 Vai trò của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, công nghiệp được định nghĩa là một tập hợp cáchoạt động sản xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các quá trình công nghệ cao để tạo rasản phẩm Hoạt động công nghiệp bao gồm cả 3 loại hình: công nghiệp khai thác tài nguyên, chếbiến và dịch vụ sản xuất theo sau nó Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước,vai trò của công nghiệp thể hiện:
- Công nghiệp giữ vai trò động lực trong guồng máy của nền kinh tế quốc dân, kích thíchnhu cầu sử dụng nguyên liệu, máy móc, trang thiết bị; nuôi dưỡng hoạt động thương mại, vận tải,khai thác triệt để các nguồn đầu tư tài chính và kĩ thuật
- Công nghiệp la tác nhân quyết định đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóanền kinh tế - xã hội; thúc đẩy mở rộng thị trường để áp dụng rộng rãi nền sản xuất lớn với dâychuyền sản xuất hàng loạt nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm
- Với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường,công nghiệp đóng vai trò đầu mối trong việc tổ chức cơ cấu, tạo dựng các mối liên hệ theo chiềudọc (từ nơi khai thác đến nơi chế biến và phân phối sản phẩm cuối cùng), theo chiều ngang (từphạm vi một xí nghiệp chuyên môn hóa sâu mở sang nhiều xí nghiệp có mối liên hệ về sản phẩm
và thị trường) Từ đó, công nghiệp thúc đẩy sự phân công lao động xã hội (cả chiều sâu và chiềurộng) vươn tới thị trường khu vực và quốc tế
- Công nghiệp biến đổi sâu sắc không gian kinh tế, tạo dựng các trung tâm kinh tế mới,chuyển hóa chức năng của nhiều đô thị (từ hành chính sang kinh tế - dịch vụ hiện đại) Về lĩnhvực này, công nghiệp đóng vai trò hạt nhân trong sự phát triển vùng, khai thác có hiệu quả nộilực (nhất là nguồn lao động và chất xám) của từng vùng và phạm vi cả nước
- Công nghiệp là động lực để cải tạo xã hội, tức là làm thay đổi nề nếp sản xuất đến lề lốilàm việc, từ cách xuy nghĩ đến tác phong người lao động theo hướng hài hòa và hiện đại hóađồng thời bảo tồn những đặc trưng quí báu truyền thống của dân tộc
4.1.4 Các nhân tố ảnh huởng đến sự phát triển công nghiệp
a Tài nguyên thiên nhiên (TNTN)
TNTN được coi là cơ sở hàng đầu để phát triển công nghiệp Bởi vì, trên thực tế một sốngành công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào TNTN như công nghiệp khai khoáng, luyện kim, sảnxuất VLXD, công nghiệp CB’N-L-TS Số lượng, chất lượng, phân bố và sự kết hợp của chúngtrên lãnh thổ trong chừng mực nhất định đều ảnh hưởng rõ rệt đến cơ cấu và tình hình phát triểncủa nhiều ngành công nghiệp Như vậy, nguồn tài nguyên có ý nghĩa hàng đầu đối với sản xuấtcông nghiệp là khoáng sản; Với nước ta, nhìn chung tài nguyên khoáng sản phong phú về chủngloại, đa dạng về loại hình, nhưng không đều về trữ lượng, khó khăn trong chế biến và sử dụng; Sốlượng các mỏ nhiều, trữ lượng nhỏ, phân tán, khó khăn trong khai thác, chế biến và sử dụng Tuy
Trang 40vậy, chúng ta cũng có một số loại tài nguyên khoáng sản có giá trị đối với công nghiệp như than,dầu mỏ, một số khoáng sản kim loại và phi kim loại Các loại tài nguyên thiên nhiên chủ yếu
▪ Nhiên liệu - năng lượng: Về than nước ta có 4 loại: Than antraxit (còn gọi là than gầy),
chất lượng tốt, nhiệt lượng cao (7000-7500kcal/kg), tỉ lệ tro thấp, đốt ít có khói, ít khí xunphua,tập trung ở Quảng Ninh (trên 3,5 tỉ tấn, tính đến - 300 m) Than mỡ (Thái Nguyên, Lạng Sơn),trữ lượng không lớn, nhưng đây là loại than cần thiết để luyện thành than cốc cho công nghiệpluyện kim Than nâu tập trung nhiều nhất ở ĐB sông Hồng, trữ lượng lên tới hàng chục tỉ tấn(chưa có điều kiện khai thác) Than bùn phân bố chủ yếu ở ĐB sông Cửu Long, trữ lượng vài
trăm triệu tấn (nhiều nhất ở U Minh) Dầu mỏ và khí đốt: tập trung ở vùng thềm lục địa, đã thăm
dò từ cuối thập kỷ 60 đến nay Trữ lượng dầu mỏ 4 - 5 tỉ tấn dầu (qui đổi) khí đốt khoảng
250-300 tỉ m3, tập trung nhiều nhất ở bể trầm tích Nam Côn Sơn
▪ Về khoáng sản kim loại Có giá trị CN là quặng sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), trữ lượng 554
triệu tấn (đến độ sâu 750 m), hàm lượng sắt 60% Ngoài ra, còn có ở một số nơi khác như YênBái, Thái Nguyên (trữ lượng không lớn) Thiếc có ở Quì Hợp (Nghệ An) Bô xít ở Tây Nguyên.Ngoài ra, còn có một số mỏ quặng kim loại khác, nhưng trữ lượng nhỏ, có ý nghĩa địa phương
▪ Khoáng sản phi kim loại Có ý nghĩa CN bao gồm apatit (Cam Đường, Lào Cai), trữ
lượng lớn, chất lượng cao, dễ khai thác Đá vôi chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc Đất hiếm ở LaiChâu Cát thuỷ tinh dọc ven biển (quan trọng là cát Vân Đồn, Quảng Ninh và cát Thuỷ Triều,Cam Ranh) Xen lẫn cát là các sa khoáng titan, zircon phân bố ở Bình Định, Hà Tĩnh
Bảng 3.1: Sự phân bố một số khoáng sản theo vùng lãnh thổ (%)
-▪ Tài nguyên nước: Ở nước ta nguồn tài nguyên này tương đối phong phú Sông ngòi khá
dày đặc, mật độ 0,5-1,0 km/km2, chảy trên những vùng có địa hình khác nhau tạo nên nhiều thácgềnh Tiềm năng thuỷ điện khá lớn, trữ lượng lý thuyết có thể đạt tới 30 triệu kw, hệ thống sôngHồng (37%), sông Đồng Nai (19%) Tổng lượng nước trên mặt 900 tỉ m3, đủ để phục vụ cho sảnxuất công nghiệp, nông nghiệp, cho sinh hoạt ở các đô thị và các vùng nông thôn Tuy nhiên,nguồn nước phân bố không đều theo vùng, theo mùa đã gây nên tình trạng mất cân đối giữanguồn cung cấp nước và sự phát triển công nghiệp giữa các vùng Nước ta có 2 vùng trong tìnhtrạng thiếu nước phục vụ cho công nghiệp (vùng công nghiệp Phả Lại-Quảng Ninh và vùng côngnghiệp Biên Hoà-TP Hồ Chí Minh)
▪ Tài nguyên sinh vật Rừng và hoạt động lâm nghiệp là cơ sở cung cấp VLXD (gỗ, tre,
nứa), cung cấp nguyên liệu cho các ngành tiểu thủ công nghiệp (song, mây, giang, vầu, trúc) và