Nghiên cứu này nhằm làm rõ những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, phân bố LN; những đặc điểm nổi bật về phát triển, phân bố LN trong xây dựng NTM; những
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ THANH THỦY
PHÂN TÍCH DƯỚI GÓC ĐỘ ĐỊA LÝ KINH TẾ - XÃ HỘI LÀNG NGHỀ TỈNH NAM ĐỊNH TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1- PGS.TS NGUYỄN MINH TUỆ
2- TS LÊ VĂN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận án
Trần Thị Thanh Thủy
Trang 4Lời cảm ơn
Đến nay, luận án “Phân tích d-ới góc độ địa lý kinh tế – xã hội làng nghề
ơn tất cả những ng-ời giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Tôi xin đặc biệt cảm ơn PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, TS Lê Văn H-ơng – những ng-ời đã trực tiếp h-ớng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành công trình này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Địa Lý, đặc biệt là các thầy, cô giáo trong Tổ Địa lý Kinh tế – Xã hội - Khoa Địa Lý - Tr-ờng Đại học s- phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi và
đóng góp những ý kiến quý báu để luận án của tôi có thể đạt đ-ợc kết quả tốt nhất Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Công th-ơng, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi tr-ờng, Liên Minh Hợp tác xã, Cục thống kê tỉnh Nam Định, cán bộ lãnh đạo
và nhân dân xã Yên Tiến, Yên Ninh, Yên Xá (huyện ý Yên), xã Mỹ Thắng (huyện Mỹ Lộc) đã cung cấp nhiều thông tin quý báu về đề tài tôi nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè đã luôn
động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Hà Nội, tháng năm 2018
Trần Thị Thanh Thuỷ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các bản đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LÀNG NGHỀ VÀ NÔNG THÔN MỚI 10
1.1 Tổng quan 10
1.1.1 Về làng nghề 10
1.1.2 Về nông thôn mới 16
1.1.3 Về mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới 19
1.2 Cơ sở lí luận 21
1.2.1 Làng nghề 21
1.2.2 Nông thôn mới 35
1.2.3 Mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 37
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới vận dụng trên địa bàn cấp tỉnh 41
1.3 Cơ sở thực tiễn 46
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 49
Chương 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ LÀNG NGHỀ TỈNH NAM ĐỊNH 50
2.1.Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ 50
2.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 51
2.3 Kinh tế - xã hội 54
2.3.1 Nguồn nguyên, vật liệu 54
2.3.2 Dân cư và lao động 55
2.3.3 Lịch sử, văn hóa 57
2.3.4 Thị trường tiêu thụ 60
Trang 62.3.5 Nguồn vốn 60
2.3.6 Chính sách 61
2.3.7 Cơ sở hạ tầng 63
2.3.8 Khoa học công nghệ 66
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN, PHÂN BỐ LÀNG NGHỀ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÀNG NGHỀ VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH NAM ĐỊNH 69
3.1 Khái quát chung 69
3.1.1 Tình hình phát triển kinh tế và kết quả xây dựng nông thôn mới tỉnh Nam Định giai đoạn 2010 - 2015 69
3.1.2 Lịch sử phát triển làng nghề tỉnh Nam Định 73
3.2 Thực trạng phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định 75
3.2.1 Số lượng làng nghề 75
3.2.2 Lao động làng nghề 78
3.2.3 Nguyên, vật liệu 83
3.2.4 Nguồn vốn đầu tư 84
3.2.5 Công nghệ sản xuất 85
3.2.6 Giá trị sản xuất 87
3.2.7 Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh 89
3.2.8 Sản phẩm và thị trường tiêu thụ sản phẩm 93
3.2.9 Môi trường làng nghề 98
3.2.10 Những khó khăn, hạn chế trong phát triển làng nghề 99
3.3 Mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định 103
3.3.1 Làng nghề với xây dựng nông thôn mới 103
3.3.2 Xây dựng nông thôn mới với làng nghề 115
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 124
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN, PHÂN BỐ LÀNG NGHỀ TỈNH NAM ĐỊNH TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ĐẾN NĂM 2025 125
4.1 Định hướng phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới đến năm 2025 125
4.1.1 Cơ sở xây dựng định hướng 125
4.1.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển 127
4.1.3 Định hướng phát triển 129
Trang 74.2 Giải pháp phát triển làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới 135
4.2.1 Về vốn đầu tư 135
4.2.2 Về nguyên, vật liệu 136
4.2.3 Về thị trường, xúc tiến thương mại, xây dựng và phát triển thương hiệu 137 4.2.4 Về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 138
4.2.5 Về ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ sản xuất 140
4.2.6 Về phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, kĩ thuật và quy hoạch sản xuất 141
4.2.7 Về giảm thiểu ô nhiễm môi trường 142
4.2.8 Về tổ chức sản xuất kinh doanh 143
4.2.9 Về tăng cường hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất, kinh doanh 144 TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 146
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 151 PHỤ LỤC
Trang 8Danh môc c¸c CH÷ viÕt t¾t
TiÕng ViÖt
BVMT B¶o vÖ m«i tr-êng
TN - MT Tµi nguyªn – M«i tr-êng
OVOP One Village One Product Mçi lµng mét s¶n phÈm
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DN 25
Bảng 2.1: Một số yếu tố khí tƣợng trung bình giai đoạn 1985-2015 tại trạm Nam Định 52
Bảng 2 2: Một số chỉ tiêu dân số tỉnh Nam Định giai đoạn 2010 – 2015………… 56
Bảng 2 3: Vốn đầu tƣ trên địa bàn phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2010 – 2015 61
Bảng 2 4: Kết quả hỗ trợ trình diễn kĩ thuật, chuyển giao công nghệ ở LN 66
Bảng 3 1: GRDP tỉnh Nam Định giai đoạn 2010-2015 69
Bảng 3 2: Số xã, thị trấn đạt chuẩn NTM ở Nam Định (2015) 72
Bảng 3 3: Số lƣợng LN phân theo đơn vị hành chính (2015) 76
Bảng 3 4: Số lƣợng LN phân nhóm ngành và theo đơn vị hành chính (2015) 77
Bảng 3 5: Quy mô nguồn vốn của ngành nghề TTCN tỉnh Nam Định 84
Bảng 3 6: GTSX toàn tỉnh và GTSX của LN giai đoạn 2010-2015 87
Bảng 3 7: Các hình thức tổ chức SXKD ở LN (năm 2010 và 2015) 89
Bảng 3 8: Đặc điểm của DN tại các xã có LN đƣợc điều tra 92
Bảng 3 9: Sản phẩm làng nghề đƣợc công nhận là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu tỉnh Nam Định - 2014 95
Bảng 3 10: Sản phẩm của LN Nam Định giai đoạn 2010 – 2015 96
Bảng 3 11: Một số sản phẩm xuất khẩu của LN qua các năm 97
Bảng 3 12: Nguyên, vật liệu sử dụng chính của các LN đƣợc điều tra .101
Bảng 3 13: Đóng góp của cơ sở SXKD đối với phong trào xây dựng NTM 105
Bảng 3 14: Đặc điểm lao động tại một số LN đƣợc điều tra .108
Bảng 3 15: Phân loại LN theo các nhóm có tiềm năng gây ô nhiễm 110
Bảng 3 16: Tỉ lệ LN phân theo nhóm ngành và theo tỉ lệ hộ chuyên nghề (2015) .114
Bảng 3 17 Biến động số lƣợng LN phân theo đơn vị hành chính 117
Bảng 3 18: Kết quả dạy nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 119
Bảng 4 1: Dự kiến vốn đầu tƣ phát triển LN đến năm 2020, 2025 129
Bảng 4 2: Quy hoạch LN phục hồi, nhân cấy mới giai đoạn 2016 – 2025 130
Trang 10DANH MỤC CÁC HèNH
Trang
Hỡnh 3 1: Cơ cấu GRDP phõn theo nhúm ngành kinh tế tỉnh Nam Định giai đoạn
2010 – 2015 70
Hỡnh 3 2: Số LN, LNTT phõn theo nhúm ngành chớnh (2015) 75
Hỡnh 3 3: Lao động LN Nam Định qua cỏc năm 79
Hỡnh 3 4: Lao động bỡnh quõn theo nhúm LN (2015) 80
Hỡnh 3 5: Tỉ lệ lao động LN phõn theo đơn vị hành chớnh 80
Hỡnh 3 6: GTSX LN phõn theo đơn vị hành chớnh (2015) 89
Hỡnh 3 7: Đỏnh giỏ về khú khăn trong quỏ trỡnh SXKD nghề 100
Hỡnh 3 8: Thu nhập bỡnh quõn hàng thỏng của lao động thường xuyờn phõn theo nhúm nghề (2015) .106
Hỡnh 3 9: Bỡnh quõn lao động theo DN ở khu vực LN (2015) 108
Hỡnh 3 10: Tỉ lệ xó đạt tiờu chớ NTM về tỉ lệ lao động cú việc làm thường xuyờn ở Nam Định .109
Hỡnh 3 11:Tỉ lệ xó, thị trấn cú LN đạt chuẩn NTM và chưa đạt chuẩn NTM phõn theo nhúm ngành (2015) .113
Hỡnh 3 12: Hệ số tương quan giữa tỉ lệ xó đạt chuẩn NTM với tỉ lệ cỏc tiờu chớ LN .114 Hỡnh 3.13: Số lượng LN qua cỏc năm (2005-2015) 116
Hỡnh 3 14: Biến động về số lượng LN phõn theo nhúm ngành chớnh giai đoạn 2010 – 2015 116
Danh mục CáC bản đồ
Sau trang
2.2 Bản đồ các nhân tố ảnh h-ởng đến phát triển và phân bố làng nghề
tỉnh Nam Định
67
3.1 Bản đồ kết quả xây dựng nông thôn mới tỉnh Nam Định 71 3.2 Bản đồ hiện trạng phát triển, phân bố làng nghề tỉnh Nam Định 98 3.3 Bản đồ làng nghề trong xây dựng nông thôn mới tỉnh Nam Định 122 4.1 Bản đồ định h-ớng phát triển và phân bố làng nghề trong xây dựng
nông thôn mới tỉnh Nam Định đến năm 2025
134
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thực hiện nghị quyết lần thứ 7 – Ban chấp hành Trung ương khoá X của Đảng
về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành chương trình hành động và Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010 - 2020 Tuy mới đi nửa chặng đường nhưng những kết quả đạt được đã cho thấy đây là hướng đi đúng đắn có thể tạo nên một diện mạo mới cho khu vực nông thôn Việt Nam Trong đó, làng nghề (LN) được xem là nhân tố cơ bản LN ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy sự phát triển kinh
tế nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc và phát triển nông thôn bền vững theo các tiêu chí NTM Đồng thời, chủ trương xây dựng NTM cũng có những tác động nhất định đến
sự phát triển và phân bố của LN so với thời kỳ trước Một mặt, các chính sách xây dựng NTM tạo nhiều điều kiện giúp khôi phục, phát triển và nhân cấy LN, nhưng mặt khác cũng đòi hỏi LN phải có sự chuyển biến mạnh mẽ nếu muốn tồn tại, phát triển bền vững Do đó, sự phát triển và phân bố LN hiện nay có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với chủ trương xây dựng NTM
Ở vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), Nam Định là tỉnh đông dân với 1.850,6 nghìn người (2015), đứng thứ 3 sau Hà Nội và Hải Phòng Trong đó, dân nông thôn chiếm 81,7% dân số, 60,8% lao động đang làm việc trong các ngành nông – lâm, thủy sản [14] Để giải quyết được các vấn đề kinh tế - xã hội (KT - XH) trước sức ép của dân số, phát triển LN từ lâu đã được xác định là một chiến lược quan trọng Mặc
dù có tốc độ phát triển nhanh và mang lại hiệu quả kinh tế cao, song trong thời gian qua, việc phát triển LN ở đây cũng bộc lộ nhiều bất cập LN càng phát triển thì đô thị hóa ở khu vực nông thôn càng cao Vì thế những đặc điểm và chức năng của khu vực nông thôn nói chung và NTM nói riêng (nhất là chức năng sinh thái) cũng bị thay đổi
LN, do hình thành và hoạt động trong khu vực nông thôn nên sự phát triển cũng
Trang 12mang một số đặc trưng của kinh tế nông thôn Đó là tính tự phát và phân tán trong sản xuất Sự phát triển LN hiện nay vừa manh mún, thiếu quy hoạch, thiếu liên kết vừa gây ô nhiễm môi trường
Vì vậy, việc phân tích sự phát triển, phân bố LN trong bối cảnh xây dựng NTM ở tỉnh Nam Định có ý nghĩa quan trọng Nghiên cứu này nhằm làm rõ những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, phân bố LN; những đặc điểm nổi bật về phát triển, phân bố LN trong xây dựng NTM; những biểu hiện của mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM và những giải pháp phát triển LN bền vững, theo các tiêu chí NTM ở tỉnh Nam Định Đây cũng chính là những câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ lí do nêu trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài "Phân tích dưới góc độ địa lý kinh tế - xã hội làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới"
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Vận dụng cơ sở khoa học về LN, về NTM, mục tiêu của luận án là đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng phát triển, phân bố LN và mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM ở tỉnh Nam Định Từ đó đề xuất một số giải pháp phát
triển LN theo hướng bền vững, gắn với quá trình xây dựng NTM của địa phương 2.2 Nhiệm vụ
Luận án tập trung giải quyết những vấn đề sau:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu và hệ thống hóa có chọn lọc các vấn đề
lí luận về LN, về NTM dưới góc độ địa lý KT – XH, để làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM, xác định các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển, phân bố LN và mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố LN ở tỉnh Nam Định
- Vận dụng các tiêu chí đã lựa chọn, phân tích thực trạng phát triển và phân bố LN; mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM ở tỉnh Nam Định trong giai đoạn
2010 - 2015
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển LN ở tỉnh Nam Định theo hướng bền vững, gắn với các mục tiêu công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH)
- Phân tích thực trạng phát triển, phân bố LN theo thời gian, theo nhóm ngành và theo lãnh thổ Trong đó, đi sâu nghiên cứu 4 nhóm nghề tiêu biểu trong phát triển LN ở tỉnh Nam Định là chế biến gỗ; mây tre đan, thủ công mĩ nghệ (TCMN); dệt, may; cơ khí
- Làm rõ mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM ở tỉnh Nam Định trên cơ sở: (1) so sánh kết quả thực hiện một số tiêu chí NTM ở các xã, thị trấn có LN với các xã, thị trấn không có LN; (2) phân tích sự thay đổi các tiêu chí phát triển, phân
bố LN trước và sau khi triển khai xây dựng NTM
3.3 Về thời gian
Đề tài tập trung nghiên cứu LN Nam Định trong giai đoạn 2010 – 2015 (tương ứng với thời gian triển khai xây dựng NTM), có so sánh với sự phát triển của LN trước năm 2010 để thấy được mối quan hệ gắn bó giữa LN với xây dựng NTM và định hướng đến năm 2025
Trang 144 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Trong quá trình nghiên cứu, các LN không chỉ được đặt trong mối quan hệ với
hệ thống KT - XH ở địa phương mà còn được nghiên cứu trong mối quan hệ với các
LN ở tiểu vùng phía Nam vùng ĐBSH Ngoài ra, để thấy được vai trò quan trọng của LN trong xây dựng NTM, LN ở những xã, thị trấn đã đạt chuẩn NTM cần được xem xét bên cạnh LN ở những xã, thị trấn chưa đạt chuẩn NTM Và ở ngay những
xã xây dựng NTM thành công, cũng cần xem xét sự phát triển của LN trước và sau khi thực hiện chương trình này
4.1.2 Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ
Đối tượng nghiên cứu của luận án là LN tỉnh Nam Định, được hình thành bởi sự tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, văn hoá, lịch sử, con người… Vì thế LN tỉnh Nam Định được nghiên cứu trong các mối quan hệ với tất cả các chỉnh thể mà bản thân nó là một bộ phận cấu thành để từ đó xác định chính xác các nhân tố tác động và đánh giá đúng mức độ tác động của từng nhân tố, gọi tên các nhân tố có vai trò quyết định đối với sự phát triển của LN trong bối cảnh nghiên cứu
Tuy không phân hóa thành những vùng chuyên canh như nông nghiệp, song
do chịu nhiều tác động bởi các yếu tố tự nhiên, dân cư và KT - XH nên LN cũng là một hoạt động kinh tế mang tính lãnh thổ Do đó, vận dụng quan điểm tổng hợp – lãnh thổ khi nghiên cứu phát triển LN trong bối cảnh xây dựng NTM nhằm đánh giá những tác động của các nhân tố, đặc biệt là chủ trương xây dựng NTM đến sự phát triển LN, từ đó đề xuất giải pháp phát triển bền vững LN trong tương lai
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh cho phép cắt nghĩa được sự biến động của đối tượng nghiên cứu trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai Tiếp cận theo quan điểm này là để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình hình thành và phát triển của LN Nam Định, đánh giá một cách khách quan, khoa học mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM ở địa phương trong thời gian qua Trên cơ sở phát hiện
Trang 15được tính quy luật của mối quan hệ này, dự đoán và đề xuất các giải pháp để phát huy những yếu tố tích cực, phát triển LN trong thời gian tới
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển LN không chỉ đơn thuần nhằm giải quyết các bài toán về kinh tế mà còn phải là giải pháp thực hiện hiệu quả các mục tiêu xã hội, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường (BVMT) Trên quan điểm phát triển bền vững, trong quá trình nghiên cứu, đề tài cố gắng đưa ra những đánh giá, nhận định và đề xuất những giải pháp cơ bản, khả thi để sự phát triển kinh tế của các LN tỉnh Nam Định hài hòa trong mối quan hệ với những cải thiện về điều kiện xã hội và môi trường
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu
Đây là phương pháp truyền thống và được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu địa lý KT - XH Phương pháp này được tiến hành theo các bước như sau:
- Xác định đối tượng, nội dung và dạng thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu Đó là các bài viết, bản đồ, tranh ảnh, số liệu được trình bày trong các sách chuyên khảo, các luận án, dự án, kỉ yếu hội thảo, bài viết, giáo trình, có liên quan đến cơ sở lí luận về LN, về NTM; về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT - XH của tỉnh Nam Định, về hiện trạng phát triển LN và xây dựng NTM của tỉnh, về định hướng, quy hoạch phát triển LN và xây dựng NTM của địa phương
- Tiến hành thu thập tài liệu theo kế hoạch và theo danh mục đã lập
+ Tài liệu thứ cấp: thường được thu thập từ 3 nguồn cơ bản: (1) Từ các các cơ quan lưu trữ (thư viện quốc gia, thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội, thư viện tỉnh Nam Định); (2) Từ các cơ quan chuyên môn của tỉnh Nam Định (Cục thống kê,
Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN - PTNT), Sở Công thương, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên – Môi trường (TN – MT), Liên minh hợp tác xã, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh ) (3) Từ mạng Internet
+ Tài liệu sơ cấp: được thu thập dưới 2 hình thức: (1) Quan sát, ghi chép ngoài thực địa; (2) Phỏng vấn, tham vấn ý kiến của cán bộ xã và các cơ sở làm nghề
- Xử lí các tài liệu đã thu thập được Đối với một đối tượng còn chưa được
Trang 16thống nhất trong cả cách gọi và cơ quan quản lí như LN, để có được số liệu chính xác, người nghiên cứu cần phải chọn lọc, xử lí các số liệu, tài liệu đã thu thập được
4.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Các tài liệu, số liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích, so sánh (theo thời gian, theo nhóm ngành, theo lãnh thổ), tổng hợp để rút ra những kết luận, nhận định về điều kiện, đặc điểm phát triển, phân bố của LN và mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM ở tỉnh Nam Định
4.2.3 Phương pháp thống kê
Số liệu thống kê gồm: số liệu tuyệt đối, số liệu tương đối Sau khi thu thập, số liệu được chia thành các nhóm, phù hợp với các tiêu chí đánh giá Việc thống kê số liệu theo các mốc thời gian từ năm 2010 đến năm 2015, dưới hình thức là các bảng
số liệu, biểu đồ, bản đồ không chỉ giúp mô tả thực trạng phát triển, phân bố LN ở tỉnh Nam Định mà còn giúp phân tích, nhận định về mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM ở địa phương Xử lý các số liệu thu thập được bằng các phần mềm thống kê chuyên dụng như Excel, SPSS
4.2.4 Phương pháp nghiên cứu thực địa
Thực địa là phương pháp nghiên cứu đặc trưng của khoa học địa lý Thông qua quá trình quan sát, điều tra, ghi chép, gặp gỡ, trao đổi, phỏng vấn , tác giả đã tiếp cận vấn đề một cách chủ động và khách quan hơn Nhờ khảo sát ngoài thực địa, các nhận định, giải thích có cơ sở khoa học, giúp tác giả nhanh chóng, kịp thời điều chỉnh hướng nghiên cứu cho phù hợp và hiệu quả
4.2.5 Phương pháp điều tra xã hội học
Điều tra xã hội học là một trong những phương pháp quan trọng được sử dụng khi nghiên cứu đề tài Phương pháp này sẽ giúp thu thập những thông tin thực tiễn
mà các số liệu thứ cấp không có được Quá trình điều tra xã hội học được thực hiện theo các bước như sau:
a Xác định nội dung điều tra
- Mục đích điều tra: nhằm bổ sung những thông tin còn thiếu và giúp tác giả nhanh chóng, kịp thời điều chỉnh hướng nghiên cứu cho phù hợp và hiệu quả
Trang 17- Đối tượng điều tra: các hộ làm nghề Đây là hình thức sản xuất phổ biến nhất
ở LN và có quan hệ mật thiết với các hoạt động ở nông thôn
- Nội dung điều tra, gồm:
+ Thông tin chung về chủ cơ sở (họ tên, giới tính, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, số năm làm nghề ); về cơ sở sản xuất (số năm hoạt động nghề của cơ
sở, diện tích, loại hình nhà xưởng, )
+ Thông tin về tình hình sản xuất của cơ sở: thời gian sản xuất, quy trình sản xuất một số sản phẩm cơ bản, nguyên, vật liệu sử dụng, thị trường tiêu thụ, nguồn vốn, mối liên kết sản xuất, các vấn đề BVMT, khó khăn trong quá trình sản xuất + Thông tin về lao động: tổng số lao động, đặc điểm của lao động (tuổi, công việc, thu nhập, nguyện vọng )
+ Thông tin về những hỗ trợ của chương trình xây dựng NTM đối với cơ sở và đóng góp của cơ sở đối với phong trào này ở địa phương
- Địa điểm điều tra: LNTT đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên (xã Yên Ninh – huyện Ý Yên), LNTT sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến – huyện Ý Yên), LN chăn, ga, gối, đệm, quần áo Làng Sắc (xã Mỹ Thắng – huyện Mỹ Lộc), LNTT đúc kim loại Tống Xá (xã Yên Xá – huyện Ý Yên) Trong đó Yên Ninh, Yên Tiến (huyện Ý Yên) là những xã
đã đạt chuẩn NTM Đây là những LN tiêu biểu cho truyền thống nghề và điển hình cho quá trình xây dựng NTM ở những địa phương có LN của tỉnh Nam Định
- Chọn mẫu điều tra: Số lượng phiếu điều tra được xác định là khoảng 10%
tổng số cơ sở sản xuất trên địa bàn (144 phiếu) (Phụ lục 3.4) Các cơ sở điều tra
được chọn ngẫu nhiên để đảm bảo tính khách quan của quá trình nghiên cứu
- Thời gian điều tra: Tháng 10 - 11 năm 2016
b Xây dựng phiếu điều tra
Trên cơ sở mục đích, đối tượng, nội dung cần điều tra, tác giả đã xây dựng
phiếu điều tra như trong Phụ lục 3.3
c Tiến hành điều tra theo kế hoạch
Tại mỗi cơ sở sản xuất, việc điều tra được tiến hành theo phương thức phỏng vấn chủ (hoặc người quản lý) cơ sở sản xuất kinh doanh (SXKD) và điền thông tin vào phiếu điều tra Ngoài ra, tác giả còn tham vấn cán bộ phụ trách tài chính, xây
Trang 18dựng NTM của 4 xã nêu trên về các vấn đề phát triển LN và xây dựng NTM (giai đoạn 2010 - 2015) như: nguồn vốn xây dựng NTM (tổng số vốn và mục đích sử dụng vốn đã huy động), công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại địa phương (số lớp dạy nghề đã tổ chức, số người được học nghề, các nghề được học), tình hình SXKD của LN tại địa phương (số LN, giá trị sản xuất (GTSX), số cơ sở SXKD )
d Xử lí kết quả điều tra
Xử lí kết quả điều tra bằng phần mềm SPSS, theo các bước: khởi tạo biến, nhập dữ liệu, “làm sạch”, mã hóa dữ liệu, xử lí, phân tích dữ liệu theo nhóm LN, theo địa bàn xã đã đạt chuẩn NTM và xã chưa đạt chuẩn NTM
4.2.6 Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí (Geographic Information
System – GIS) là phương pháp hiện đại, đặc trưng trong nghiên cứu địa lý Cơ sở dữ
liệu GIS được thu thập, phân tích, quản lý theo từng “lớp” gồm: dữ liệu nền (hành chính, giao thông, thủy văn, địa danh ); dữ liệu chuyên đề (mật độ dân số, tỷ lệ xã, thị trấn đạt chuẩn NTM theo các nhóm tiêu chí, các điểm LN ) Các kết quả nghiên cứu được trực quan hóa bằng phần mềm Map Info với hệ thống 6 bản đồ, gồm: Bản
đồ hành chính tỉnh Nam Định, Bản đồ các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân
bố làng nghề tỉnh Nam Định, Bản đồ kết quả xây dựng nông thôn mới tỉnh Nam Định, Bản đồ thực trạng phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định, Bản đồ làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới, Bản đồ định hướng phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới đến năm 2025
4.2.7 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã trao đổi và tham vấn ý kiến nhiều chuyên gia và nhà khoa học Đây là những người đã và đang thực hiện các đề tài, dự án
có liên quan hoặc trực tiếp quản lí LN ở Sở NN - PTNT, Sở Công thương, Trung tâm khuyến công, Ban điều phối Chương trình xây dựng NTM, Sở TN - MT Đó sẽ là những ý kiến quý báu, giúp tác giả tháo gỡ được những vướng mắc và có thêm cách tiếp cận cũng như phương pháp triển khai thực hiện đề tài một cách hiệu quả, sát thực với đối tượng nghiên cứu
Trang 195 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về LN, về NTM và mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM; lựa chọn các tiêu chí đánh giá và phương pháp nghiên cứu phù hợp để vận dụng vào địa bàn nghiên cứu tỉnh Nam Định
- Giải thích rõ mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM ở tỉnh Nam Định theo
hệ thống tiêu chí đã lựa chọn và trên cơ sở điều tra xã hội học
- Đề xuất được một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển LN theo hướng bền vững trong tương lai
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về làng nghề và nông thôn mới
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố làng nghề tỉnh Nam Định
Chương 3: Thực trạng phát triển, phân bố làng nghề và mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Nam Định
Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển, phân bố làng nghề tỉnh Nam Định trong xây dựng nông thôn mới đến năm 2025
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LÀNG NGHỀ VÀ NÔNG THÔN MỚI
1.1 Tổng quan
1.1.1 Về làng nghề
1.1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Xuất phát từ nông thôn và gắn bó chặt chẽ với khu vực này nên trên thế giới
đã có nhiều nghiên cứu về vị trí, vai trò của LN trong quá trình phát triển nông thôn Ngay từ thế kỉ thứ XIX, K Mác đã khẳng định, LN là một đặc trưng quan trọng của kinh tế nông thôn (dẫn theo [1]) Theo cách nói của ông thì đây chính là một đặc trưng của nông thôn Châu Á, của phương thức sản xuất Châu Á Một số sản phẩm của LN khi ấy (dệt may, chế biến thực phẩm, làm đồ gốm, xứ ) được đặc biệt chú ý
vì có quá trình sản xuất gần gũi với quá trình sản xuất trong công nghiệp Ranis, Gustav và Frances Stewart (1993) [102] cũng cho rằng LN là một loại hình công nghiệp nông thôn đặc biệt, có vai trò quan trọng trong quá trình CNH nông nghiệp, cải thiện, nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng (CSHT) ở khu vực nông thôn
Cùng quan điểm này, có nghiên cứu của Harry T Oshima [50] Theo ông, duy trì mô hình kinh tế hai tầng (gồm công nghiệp lớn ở thành thị và phát triển, nhân cấy các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn) là giải pháp hiệu quả nhất để thực hiện CNH ở các nước châu Á gió mùa Bởi lẽ, với tính mùa vụ của lao động, để giải quyết vấn đề thiếu hụt lao động lúc chính vụ nhưng dư thừa lao động lúc nông nhàn, cải thiện và nâng cao thu nhập, người dân nông thôn “không có cách lựa chọn nào khác là tiếp tục những công việc phi nông nghiệp cổ truyền”
Kinh nghiệm phát triển LN được đặc biệt nghiên cứu sâu ở các nước trong khu vực châu Á gió mùa
Ở Nhật Bản, phát triển LN gắn liền với phong trào Mỗi làng một sản phẩm (One Village One Product – OVOP) xuất hiện những năm 70 của thế kỷ XX
OVOP được đề xuất thực hiện bởi Morihiko Hiramatsu, người đứng đầu tỉnh Oita lúc bấy giờ Những nét khái quát về OVOP nguyên thủy Nhật Bản và OVOP đã
Trang 21được cải tiến khi áp dụng ở nhiều nước trong nghiên cứu Challenges for the OVOP
movement in Sub-Saharan Africa - Insights from Malawi, Japan and Thailand [101]
đã cho thấy mục tiêu chính của phong trào này là tận dụng nguồn lực tại chỗ, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn các LNTT, qua đó làm tăng thu nhập và cải thiện
bộ mặt nông thôn Mục tiêu sâu sa hơn chính là tạo sức hấp dẫn của khu vực nông thôn, hạn chế di dân tự do, tạo nguồn lực đủ mạnh để CNH, HĐH nông thôn Ngoài đặc sản (rau, quả, đồ gỗ ), còn có các sản phẩm văn hóa, du lịch, dịch vụ đặc sắc được khuyến khích phát triển Trong đó, sản phẩm LN được đặc biệt nhấn mạnh vì những giá trị kinh tế và bản sắc văn hóa chứa đựng trong đó Sau OVOP, nhiều ngành nghề truyền thống tưởng mai một đã được phục hồi lại, nhiều nghề mới được phát triển Đáng chú ý nhất trong nghiên cứu này là kinh nghiệm của các quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan, Malawi ) trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm thủ công truyền thống vùng nông thôn
Ở khu vực châu Á gió mùa, Ấn Độ cũng là quốc gia có nhiều nghề thủ công
phát triển Vai trò của các ngành nghề này, thậm chí, còn được ví như là “một sản
phẩm di sản, vừa mang tính "dân tộc" vừa có giá trị đạo đức” [100]. Tuy nhiên, do những đặc điểm cố hữu như: giới hạn về thị trường và mối liên kết trong sản xuất; nguồn lao động dồi dào, nhưng sự khan hiếm về vốn; sử dụng công nghệ thấp các nghề thủ công ở Ấn Độ cũng gặp không ít những thách thức khi nước này tham gia
quá trình toàn cầu hóa Vì thế công trình nghiên cứu The Khadi and Village
Industries in Globalized India: Role, Challenges, and Future Ahead [100] cũng đã chỉ rõ những vấn đề cơ bản cần khắc phục là: vốn, công nghệ sản xuất, quảng bá thương hiệu và mở rộng thị trường Đây cũng là những vấn đề mà LN Việt Nam cần giải quyết trong bối cảnh hiện nay
1.1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Ngay từ thế kỉ XV, trong tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi, thế kỉ thứ XIX, Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú, LN đã được nghiên cứu dưới góc
độ văn hóa và lịch sử (dẫn theo [51]) Tuy nhiên, cho đến tận những năm cuối của thế kỷ XX, LN và vai trò của LN trong quá trình phát triển KT - XH mới thực sự
Trang 22được quan tâm Đáng chú ý nhất là công trình Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của
Pierre Gourou (1936) [29] Trong tác phẩm này, P.Gourou đã phân chia các LN thủ công Bắc Kỳ thành 9 loại ngành nghề cơ bản: nghề dệt; nghề chế biến thực phẩm; nghề đan lát; nghề mộc; nghề sản xuất vôi, gạch ngói, thợ nề; nghề làm giấy, đồ vàng mã; nghề rèn, đúc, chế tác kim loại; nghề làm nông cụ và nghề gốm Tuy chưa thấy hết được vai trò của tất cả các ngành nghề nông thôn (NNNT) như hiện nay nhưng ông đã phân tích khá rõ vai trò của việc phát triển ngành nghề thủ công như
là sự tận dụng sức lao động lúc nông nhàn và là giải pháp để tăng cường hiệu suất
sử dụng sức lao động ở nông thôn
Về chủ trương, đường lối, phát triển LN lần đầu tiên được nhấn mạnh trong Đại hội Đảng lần thứ VIII Phát triển LN được xác định là một nhiệm vụ cơ bản của quá trình CNH nông nghiệp, nông thôn Tinh thần này cũng xuyên suốt nhiệm kì
thứ IX của Đảng Đến Đại hội X, Đảng ta đã đặt ra vấn đề "Phát triển bền vững các
làng nghề” làm cơ sở cho quá trình xây dựng NTM được đề cập trong Đại hội Đảng
NN - PTNT (2002) [99] Với 3 mẫu phiếu điều tra trên 9.400 xã tại 61 tỉnh thành, song song với các dự án thí điểm, 7 cuộc hội thảo, thảo luận theo chuyên đề và các cuộc thi sản phẩm TCMN Việt Nam Kết quả khảo sát là cơ sở xây dựng các tiêu
chí công nhận LN sau này Gần đây (4/2014) Hội thảo Làng nghề và phát triển du
lịch [66] đã được tổ chức Kỷ yếu của Hội thảo là một công trình khoa học có giá trị
thực tiễn cao với 17 bài viết của nhiều học giả trong và ngoài nước về xu hướng phát triển mới của LN Tại Hội thảo này, phát triển du lịch LN đã được xem xét một cách toàn diện dưới góc nhìn địa lý học, văn hóa, chính trị và kinh tế học Trong đó nhiều ý tưởng về mô hình du lịch LN đã được đề xuất
Trang 23Có ý nghĩa khoa học cao là các công trình nghiên cứu của Dương Bá Phượng
[51], Mai Thế Hởn [32] , Đặng Kim Chi [18] Ngoài hệ thống cơ sở lí luận về LN (khái niệm, phân loại, vai trò, đặc điểm, nhân tố ảnh hưởng, điều kiện hình thành ), các công trình này còn phân tích khá sâu về thực trạng cũng như xu hướng vận động của LN ở nước ta trong bối cảnh đẩy mạnh CNH, HĐH nông thôn Trên cơ sở đó các tác giả đã đề xuất nhiều giải pháp quan trọng
Bàn cụ thể về sự phát triển LN ở ĐBSH, có:
- Công trình nghiên cứu của Trần Văn Chử [19], của Nguyễn Vĩnh Thanh [67]
có giá trị cao trong việc mở rộng thị trường LN Trong đó, vai trò của thương hiệu đối với các sản phẩm của LNTT, chiến lược quảng bá thương hiệu được đặc biệt nhấn mạnh Cùng quan điểm này, có Vũ Thị Thoa [69] Ngoài việc làm rõ vai trò về kinh tế, văn hóa của thương hiệu đối với các sản phẩm của LNTT sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đề tài còn tập trung phân tích những tác động của quá trình hội nhập đối với các LNTT nói chung và LNTT vùng ĐBSH nói riêng Từ đó, công trình đề xuất nhiều giải pháp thiết thực
- Nguyễn Tấn Trinh [78] lại đi sâu phân tích quá trình hình thành và phát triển của các LN mới cũng như những tác động của chúng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng nông thôn các tỉnh ĐBSH Đây cũng là một công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao Vì hiện nay, sự phát triển của LN không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn và phát triển các LNTT mà còn phải đảm bảo mục tiêu mở rộng các ngành nghề mới, LN mới đem lại hiệu quả kinh tế cao
- Cũng mang tính thời sự là công trình của Hoàng Văn Châu [17] Ông đã đưa
ra khái niệm cơ bản về LN du lịch; nêu bật được tiềm năng và sự cần thiết phải phát triển mô hình LN du lịch ở một số địa phương vùng đồng bằng Bắc Bộ Đặc biệt, trong công trình này, đã có những tour du lịch với những mô hình LN du lịch rất có giá trị được đề xuất như: Homestay, LN du lịch trên cơ sở hiện có, khu LN tập trung Theo mạch này còn có nghiên cứu của Sylvie Fanchettle và Nicolas Stedman [28] Đây được coi là cẩm nang du lịch của nhiều người nước ngoài và cả người Việt Nam khi đến thăm các LN ở xung quanh Hà Nội
Trang 24- Gần đây nhất, luận án Tiến sỹ của tác giả Đỗ Việt Hùng [33], đã cho thấy bức tranh toàn cảnh, chi tiết về hoạt động công nghiệp trong khu vực LN ở vùng ĐBSH Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về LN, công nghiệp
nông thôn, công trình đã nêu lên một khái niệm tương đối mới: công nghiệp làng
nghề với hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển công nghiệp LN được xây dựng
Nghiên cứu có ý nghĩa lớn trong việc hoạch định các chính sách phát triển công nghiệp LN ở vùng ĐBSH
Ở phạm vi nhỏ hơn, có thể kể tới các nghiên cứu gần đây của Bạch Thị Lan Anh [1], Lê Văn Hương [36], Trịnh Kim Liên [44]và Bùi Văn Tiến [63]… Đáng chú
ý nhất là luận án Tiến sỹ của Lê Văn Hương Dưới góc nhìn địa lý học, tác giả nhận định: dù ở trình độ phát triển nào, quá trình CNH nông thôn cũng gắn bó mật thiết với sự phát triển của LN Bởi phát triển LN chính là biện pháp then chốt giải quyết các mục tiêu cơ bản của CNH nông thôn Đó là tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn mà vẫn đảm bảo sự phát triển của ngành nông nghiệp trên địa bàn [36]
Như vậy, có thể thấy, ngoài những vấn đề lí luận cơ bản (khái niệm, đặc điểm, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng của LN) được đề cập đến, các công trình nghiên cứu
kể trên đã cho thấy nhiều kinh nghiệm phát triển LN ở các địa phương Bên cạnh việc bảo tồn, phát triển LNTT, việc phát triển các LN mới đang được chú trọng Ngoài đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, phát triển LN gắn với du lịch cũng là xu hướng được quan tâm trong bối cảnh đẩy mạnh CNH và hội nhập quốc tế Đây là những kinh nghiệm, những tài liệu quý tác giả có thể tham khảo, kế thừa và vận dụng trong quá trình nghiên cứu luận án
1.1.1.3 Nghiên cứu tại Nam Định
Đại Nam nhất thống chí là tài liệu đầu tiên có ghi chép rõ ràng về các NNNT
ở Nam Định trong thời kì phong kiến Tuy nhiên đây chỉ là những mô tả hết sức khái quát về nghề dệt và nghề nấu rượu Cũng trong thời kì này, Vũ Huy Trác (thế
kỉ XVIII) đã nghiên cứu nghề đúc đồng dưới góc độ lịch sử và soạn thảo thành công
Phong Doanh huyện, Tống Xá xã liệt vị thánh tổ từ sự tích (Sự tích các vị đền thờ
Trang 25thánh tổ làng Tống Xá - huyện Phong Doanh) [79] Đến cuối thế kỉ XIX, những nghiên cứu của P Gourou [29] đã khiến người Pháp chú ý tới nghề ươm tơ, dệt lụa
và xây dựng ở Nam Định một nhà máy dệt lớn nhất Đông Nam Á trong thời kỳ này Nghiên cứu về LN Nam Định dưới góc nhìn văn hóa, gần đây còn có nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thị Lan Hương [37], Đỗ Đình Thọ và cộng sự [68] Trong đó, nghiên cứu của Đỗ Đình Thọ có tính khái quát cao Tác giả không chỉ dừng lại ở việc khảo cứu lịch sử hình thành, phát triển của các LNTT ở Nam Định
mà còn phân tích, nhận định sâu sắc về xu hướng vận động, biến đổi của từng LN, qua đó chỉ ra được nét đặc sắc riêng có của truyền thống LN ở địa phương
Về các khía cạnh KT - XH khác của LN Nam Định cũng có nhiều nghiên cứu
Năm 1995 - 1996, UBND tỉnh Nam Hà tiến hành khảo sát và tổ chức Hội thảo Hiện
trạng và các giải pháp phát triển làng nghề sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp nông thôn tỉnh Nam Hà (dẫn theo [92] ) Trên cơ sở này, một số tiêu chí LN
đã được xác định Kết quả nghiên cứu bước đầu đem lại cho nhiều người quan tâm những hiểu biết tương đối đầy đủ về LN để từ đó hoàn thiện thêm khái niệm vốn gây nhiều tranh cãi này
Sau năm 2005, các LN Nam Định phát triển mạnh nhưng môi trường LN lại
chưa được quan tâm đúng mức Nghiên cứu của Lê Thị Lài [43] cùng các đề tài nghiên cứu khác của Trường Đại học điều dưỡng Nam Định đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng ô nhiễm môi trường LN, đặc biệt là các LN cơ khí Nếu không có biện pháp giảm thiểu hợp lý, môi trường sẽ bị ô nhiễm nghiêm trọng
và gây hậu quả xấu đối với sức khỏe của nhân dân
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định: LN là một nhân tố quan trọng trong quá
trình CNH, HĐH vùng nông thôn tỉnh Nam Định như: nghiên cứu của các tác giả
Nguyễn Minh Văn [92] , Trần Quốc Hùng [34], Trần Lê Đoài [27] và gần đây nhất là
của tác giả Vũ Ngọc Hoàng [31] Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Trần Lê
Đoài Trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách đến sự phát triển
LN TCMN tỉnh Nam Định (giai đoạn 2006 - 2012) và dưới góc nhìn của một nhà quản lý kinh tế, tác giả đã đề xuất được các chính sách cụ thể tác động vào nguồn
Trang 26nhân lực, nguồn vốn, nguồn nguyên liệu, thị trường phù hợp với mục tiêu, phương
hướng phát triển LN TCMN của tỉnh Nam Định đến năm 2020
Các nghiên cứu kể trên đã cho thấy Nam Định là vùng đất “trăm nghề” ở ĐBSH Không chỉ là hoạt động kinh tế quan trọng mà LN còn là đặc trưng văn hóa của vùng nông thôn tỉnh Nam Định Phát huy những lợi thế về tự nhiên, dân cư và
xã hội, trong thời gian qua, LN đã phát triển mạnh và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển KT - XH ở địa phương
1.1.2 Về nông thôn mới
1.1.2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Phát triển nông thôn là một phần quan trọng trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia Ở các nước Châu Á gió mùa, phát triển nông thôn lại càng có ý nghĩa lớn, do sức ép của dân số đông, do sản xuất nông nghiệp bấp bênh và do tính mùa
vụ trong vấn đề sử dụng lao động Trong số các chương trình phát triển nông thôn
tiêu biểu ở khu vực này, có thể kể đến Saemaul Undong ở Hàn Quốc hay xây dựng
NTM xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Trung Quốc
Ở Hàn Quốc, Saemaul Undong (SU) hay còn gọi là Làng mới đã thành công
vang dội và được đánh giá là mô hình phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng tiêu biểu trên thế giới Không dựa vào những báo cáo của chính phủ mà tiếp cận SU dưới góc độ kinh tế thuần túy, trên cơ sở thu thập các tài liệu có liên quan (gồm các tin, bài được đăng tải trên truyền thông), gặp gỡ và phỏng vấn 2 quan chức chính
phủ tham gia SU, 2 cựu lãnh đạo của phong trào những năm 70, The Saemaul
Undong Movement in the Republic of Korea - Sharing Knowledge on Driven Development [98] đã giới thiệu những nét khái quát về phong trào này Đó là
Community-công cuộc phát triển nông thôn do Tổng thống Park Chung Hee khởi xướng trong bối cảnh vùng nông thôn Hàn Quốc bị phá hoại nặng nề sau trận lũ lụt năm 1969 Phong trào ban đầu nhằm khắc phục sự chênh lệch về mức sống giữa các đô thị và những làng nhỏ vẫn còn sa lầy trong nghèo khó Mục tiêu cơ bản của phong trào đúng như tên gọi là đổi mới nông thôn, bao gồm: cải thiện môi trường sống và CSHT cơ bản ở nông thôn; tạo thu nhập; thay đổi hành vi và xây dựng năng lực Để
Trang 27đạt các mục tiêu này, SU được thực thiện theo 3 giai đoạn, với các nhiệm vụ tương ứng là: xây dựng CSHT; phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập và hoàn chỉnh hệ thống dịch vụ phúc lợi xã hội Chỉ sau thời gian ngắn, thu nhập và mức sống ở nông thôn đã được cải thiện, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn cũng được thu hẹp đáng kể Từ một chương trình, SU đã phát triển thành một cuộc cải tổ ý thức, một phong trào thi đua sâu rộng, lan tỏa từ nông thôn đến các thành phố trên toàn quốc Yếu tố tạo nên thành công của SU chính là tăng cường tính tự chủ cho cộng đồng dân cư Nhà nước nên hạn chế tham gia vào các công việc của làng mà hãy để cồng đồng chủ động lựa chọn những dự án phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của địa phương; để họ tự làm và tự giám sát Đây cũng chính là kinh nghiệm mà nghiên cứu muốn chia sẻ và nhân rộng trong cộng đồng các nước đang phát triển ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, công trình Lí
luận và thực tiễn xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa [39] đã tổng kết 4 vấn đề
cơ bản về xây dựng NTM XHCN Đó là: b
Theo đó, khởi đầu của xây dựng NTM mang màu sắc Trung Quốc hiện nay là từ giai đoạn hướng lên
gia WTO, Trung Quốc mới chính thức đưa ra chủ trương xây dựng nông thôn XHCN giai đoạn mới với mục tiêu cơ bản là: “sản xuất phát triển, đời sống sung túc, thôn làng văn minh, thôn xã gọn gàng, quản lý dân chủ” [39] Cụ thể hơn, công
trình Lí luận, thực tiễn và các chính sách xây dựng nông thôn mới Trung Quốc [40]
đã có những phân tích, nhận định cụ thể về hiện trạng, nguyên nhân và giải pháp thực hiện từng chính sách xây dựng NTM ở nước này Nghiên cứu nhấn mạnh: đẩy mạnh phát triển dịch vụ công hay xây dựng, cải tạo CSHT nông thôn phải đi trước một bước để thu hút doanh nghiệp (DN) đầu tư xây dựng NTM Mặc dù chưa kết thúc, nhưng quá trình xây dựng nông thôn kiểu mới ở Trung Quốc trong thời gian
Trang 28qua đã đạt được những kết quả quan trọng Trước hết là CSHT vùng nông thôn
được cải thiện đáng kể Diện mạo nông thôn có những khởi sắc mới Công tác xã
hội ở nông thôn có những thay đổi nhanh chóng Việc xây dựng chính trị xã hội dân chủ ở nông thôn được tăng cường
Qua các nghiên cứu này, có thể thấy thời gian, bối cảnh và điều kiện xây dựng, phát triển nông thôn khác nhau ở mỗi quốc gia Biện pháp thực hiện cũng không giống nhau Song, thành công của các phong trào này đều để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý mà Việt Nam có thể vận dụng cho xây dựng NTM hiện nay
1.1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Mục tiêu xây dựng NTM được chính thức đặt ra tại Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa thứ X và tiếp tục được nhấn mạnh trong Đại hội lần thứ XI (2011) của Đảng Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, xây dựng NTM được xác định là nhiệm vụ chiến lược và được đặt ra một cách toàn diện nhất [53]
Chính thức được triển khai từ năm 2010, đến nay, xây dựng NTM đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và và thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả Ngay từ những ngày đầu thí điểm mô hình này, với cái nhìn khách quan và tư duy biện chứng logic, Vũ Trọng Khải [42] đã có các phân tích, đánh giá đúng những tác động và khiếm khuyết của các chính sách vĩ mô về nông nghiệp và phát triển nông thôn (trong đó có cả chương trình trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM) Từ những trăn trở này, nghiên cứu đã chỉ ra nhiều nội dung cần phải thay đổi cho phù hợp hơn với quy luật phát triển cũng như những đòi hỏi của thực tiễn sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Theo ông, cần
phải thay đổi tư duy, thay đổi cách thức xây dựng NTM, coi đây là một tiến trình
phát triển lâu dài và toàn diện Cùng quan điểm này còn có Tô Xuân Dân, Lê Văn
Viện, Đỗ Trọng Hùng [21] Các tác giả nhấn mạnh, muốn xây dựng NTM thành công
cần phải có tầm nhìn mới, cách thức tổ chức quản lý mới và các bước đi mới
Các nội dung xây dựng NTM được đề cập trong công trình do Vũ Văn Phúc chủ biên [53] khá đa dạng, phong phú và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ Từ cơ sở
Trang 29khoa học của chương trình, kinh nghiệm phát triển trên thế giới và kết quả xây dựng NTM bước đầu tại một số địa phương như: Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An , các tác giả đã chỉ ra được nhiều vấn đề còn vướng mắc, cần tiếp tục trao đổi, nghiên cứu Các tác giả Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung [20] lại đi sâu phân tích sự khác
biệt giữa yếu tố mới trong nông thôn mới ở Việt Nam với yếu tố mới trong mô hình
phát triển làng mới - Saemaul Undong của Hàn Quốc và Tam nông của Trung Quốc
Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về điểm khởi đầu trong phát triển nông thôn ở các
nước Trong khi ở Hàn Quốc bắt đầu từ làng, ở Trung Quốc bắt đầu từ hương trấn thì ở Việt Nam lại bắt đầu từ cấp xã Từ đó, những vấn đề chưa phù hợp cần được điều
chỉnh trong quá trình xây dựng NTM ở Việt Nam đã được chỉ rõ là: tiêu chí đánh giá chung chung thiếu thực tiễn (đặc biệt là tiêu chí số 1, 2, 7, 8, 9,10, 12, 13, 14 và 15), cách tiếp cận chưa phát huy được nội lực của cộng đồng ở địa phương
Tác giả Trần Minh Yến [97], sau khi khảo sát tại xã Tân Thịnh – huyện Lạng Giang – tỉnh Bắc Giang, xã Tam Phước – huyện Phú Ninh – tỉnh Quảng Nam và xã
Mỹ Long Nam – huyện Cầu Ngang – tỉnh Trà Vinh, cũng đã tổng kết nhiều vấn đề
lí luận và thực tiễn xây dựng NTM Trong đó, đáng chú ý nhất là các giải pháp đề xuất nhằm đảm bảo tính đúng đắn, tính khả thi và tính bền vững của chương trình Nhìn chung, ngoài những vấn đề lí luận (như khái niệm, chức năng, đặc trưng NTM), kinh nghiệm xây dựng NTM của các quốc gia trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam, các nghiên cứu đều tập trung phân tích những tồn tại, vướng mắc khi thực hiện bộ tiêu chí NTM giai đoạn này, từ đó đề xuất nhiều giải pháp quan trọng
1.1.3 Về mối quan hệ giữa làng nghề với xây dựng nông thôn mới
Từ lâu, phát triển LN đã được xem là giải pháp quan trọng trong phát triển
KT - XH, xây dựng NTM ở nhiều địa phương
Một trong số ít các nghiên cứu về xây dựng NTM có chú ý đến vai trò quan trọng của LN là công trình của Vũ Trọng Khải [41] Ngay từ những năm đầu thí điểm xây dựng NTM, trong nghiên cứu của mình, ông đã đưa ra được nhiều mô hình phát triển KT - XH có sự kết hợp giữa truyền thống của vùng nông thôn với
Trang 30những tiến bộ của thời đại mới Tiêu biểu là mô hình LN kết hợp với du lịch sinh thái - văn hóa, nhân văn
Tuy nhiên, phải đến khi chính thức triển khai xây dựng NTM trên diện rộng, phát triển LN trong xây dựng NTM mới được coi trọng Tháng 12/2010, Hội thảo
Mỗi làng một sản phẩm do Bộ NN - PTNT phối hợp với hiệp hội Mỗi làng một sản phẩm Oita và cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia
của 14 quốc gia: Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia, Malaixia, Kênia, Malawi Tại hội thảo, Bộ NN - PTNT Việt Nam đã khẳng định, OVOP có ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy NNNT, bảo tồn và phát triển LN, góp phần thiết thực triển khai
có hiệu quả Nghị quyết Trung ương số 26 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng như Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 [6]
Những xu hướng chính được đề cập tại Hội thảo Phát triển làng nghề gắn với du
lịch [8] (tháng 9/2012) là: phát triển LN gắn với du lịch và phát triển LN gắn với
xây dựng NTM Kỷ yếu của Hội thảo gồm 13 bài viết đã phân tích sâu về cơ hội, thách thức và những giải pháp phát triển LN theo các xu hướng này
Luận án Tiến sỹ của Lê Xuân Tâm [62] là nghiên cứu mới và cụ thể nhất về sự phát triển LN gắn với xây dựng NTM cho đến thời điểm này Kế thừa những nghiên cứu về LN và xây dựng NTM trước đó, tác giả đã phân tích khá rõ mối quan hệ giữa LN và xây dựng NTM; từ đó, chỉ ra những 8 yếu tố chính ảnh hưởng đến phát triển LN gắn với xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Ninh Đó là: chính sách phát triển LN, công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch, các yếu tố đầu vào, các yếu tố đầu ra, môi trường và BVMT, thiết chế xã hội và truyền thống văn hóa, các hình thức liên kết trong phát triển LN Trong đó, ảnh hưởng mạnh nhất là các yếu tố đầu vào Trên
cơ sở lồng ghép các tiêu chí đánh giá phát triển LN với bộ tiêu chí NTM, tác giả đã xây dựng được hệ thống các tiêu chí đánh giá sự phát triển LN gắn với xây dựng NTM trên cả 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường Nghiên cứu đã khẳng định, xây dựng NTM không làm ảnh hưởng và phá vỡ kết cấu của LN mà ngược lại, quá trình xây dựng NTM còn là cơ hội để LN có thể phát triển mạnh và các tiêu chí xây dựng NTM là phù hợp với sự phát triển LN trên địa bàn Vì thế phát triển LN gắn với xây dựng NTM là chủ trương đúng đắn Luận án cũng đề xuất 6 nhóm giải
Trang 31pháp nhằm phát triển bền vững LN theo các tiêu chí NTM ở tỉnh Bắc Ninh
Như vậy, việc tổng quan các công trình nghiên cứu đã định hướng cho tác giả tham khảo, chọn lọc, kế thừa những vấn đề lí luận và thực tiễn về LN, về NTM để vận dụng vào tỉnh Nam Định Cụ thể là: khái niệm, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố LN; khái niệm, chức năng, đặc trưng của NTM; kinh nghiệm phát triển LN, phát triển nông thôn ở các nước trên thế giới và các địa phương ở Việt Nam
Tuy nhiên, trong các nghiên cứu kể trên, mối quan hệ giữa LN với xây dựng NTM và các tiêu chí đánh giá mối quan hệ này chưa được xác định rõ Dưới góc độ địa lí KT – XH cũng chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về LN trong bối cảnh xây dựng NTM ở tỉnh Nam Định
Từ điển Tiếng Việt giải thích: Làng là một khối dân cư nông thôn làm thành
một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt, cùng tiến hành một nghề (dẫn theo [36])
Làng là thuật ngữ thuần Việt dùng để chỉ một lãnh thổ nhất định (đã có thời được coi
là đơn vị hành chính của Nhà nước ở khu vực nông thôn) và được xem là biểu trưng liên kết xã hội của một bộ phận dân cư Những người này, ngoài sống chung cùng một mảnh đất, còn có thể cùng một huyết thống, cùng làm một nghề, cùng chung một truyền thống văn hóa, xã hội hay tôn giáo Vì thế, không chỉ có LN, làng gốm mà còn
có làng quan họ, làng khoa bảng Hiện nay, khái niệm này còn được dùng để chỉ cả những cộng đồng người ở khu vực thành thị (làng quốc tế, làng sinh viên, …) Mặc
dù vậy, các nghiên cứu đều thống nhất rằng: Làng là một đơn vị cư trú và là một hình thức tổ chức xã hội quan trọng ở vùng nông thôn Việt Nam
- Làng nghề
Theo Dương Bá Phượng [51], làng nghề trước hết phải là một tổ chức xã hội ở vùng nông thôn và phải gắn bó chặt chẽ với một nghề nhất định Nhưng nghề đó là
Trang 32nghề nào thì hiện nay các nghiên cứu vẫn còn chưa thống nhất
Theo Pierre Gourou [29], LN thường gắn bó chặt chẽ với các ngành nghề phi
nông nghiệp mà ông gọi là các nghề thủ công thôn dã Có cùng quan điểm này có
Trần Quốc Vượng [96], tuy nhiên ông nhấn mạnh: LN là nơi sản xuất ra những sản
phẩm mang bản sắc văn hoá riêng, nổi tiếng và tồn tại từ hàng trăm, nghìn năm Ngày nay, ở LN không chỉ có những người chuyên làm nghề thủ công nghiệp
mà do sự phát triển của sản xuất, trong làng còn xuất hiện nhiều người, nhiều hộ, nhiều cơ sở chuyên làm dịch vụ đầu vào, đầu ra [51] Có những làng mà sản phẩm làm ra lại không phải là các sản phẩm thủ công nghiệp như trồng hoa, kinh doanh
sinh cật cảnh, trồng và chế biến nấm… cũng được gọi là làng nghề
Hiện nay, cách hiểu tương đối đầy đủ và khái quát nhất được quy định trong thông tư 116/2006 của Bộ NN - PTNT [7] Theo đó, Làng nghề là một hoặc nhiều
cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương
tự trên địa bàn một xã, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau
Theo Nghị định 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ [7], các NNNT bao gồm: 1- Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản;
2- Sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD), đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thuỷ tinh, dệt may, cơ khí nhỏ;
3- Xử lí, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất NNNT;
4- Sản xuất hàng TCMN;
5- Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh;
6- Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản xuất, đời sống dân cư;
7- Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực NNNT
Nghị định cũng chỉ rõ, không phải bất kì một làng quê nào có các NNNT nêu
trên cũng được công nhận là làng nghề Bởi vì, về mặt định lượng phải đảm bảo
được các tiêu chí trong thông tư 116/2006 [7] Đó là: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động NNNT
Trang 33Thực tế hình thành và phát triển của các LN cho thấy, các chỉ tiêu định lượng nêu trên cũng chỉ mang tính chất tương đối Nhất là tỉ lệ hộ chuyên làm nghề Bởi vì trên thực tế, tại các địa bàn khảo sát, phần lớn số dân vẫn giữ đất nông nghiệp và do
đó về mặt hành chính họ thường nhận mình là nông dân Vì vậy, những LN mặc dù không đạt được tiêu chí 1,2 như đã nêu nhưng có ít nhất một nghề truyền thống
(nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công
nhận; nghề tạo ra những sản phẩm mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc và nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề) thì vẫn được
coi là LN và được gọi là làng nghề truyền thống [7]
Một số LN có tỉ lệ hộ tham gia SXKD thấp hơn quy định, hoặc chưa hoàn
thiện hồ sơ để được công nhận thường được xếp vào nhóm làng có nghề Hiện nay,
nhóm này khá phổ biến do sự phát triển của các ngành nghề du nhập theo chủ trương xây dựng NTM Một số LN, do quá trình đô thị hóa, đã được nâng cấp thành
phường nên LN khi ấy sẽ là phố nghề (nếu nghề vẫn phát triển mạnh) [7]
Dù là làng nghề, làng có nghề, LNTT hay nghề truyền thống cũng đều được xem xét như làng nghề bởi nó mang 3 đặc trưng cơ bản Đó là: nguồn gốc hình
thành, công nghệ sản xuất và hiệu quả kinh tế so với nông nghiệp thuần túy Như
vậy, để phân biệt với làng thuần nông và phố nghề, có thể hiểu khái niệm làng nghề
theo như thông tư 116/2006 của Bộ NN - PTNT Trong quá trình nghiên cứu, luận
án cũng thống nhất sử dụng khái niệm làng nghề theo cách hiểu này
b Các khái niệm có liên quan
- Công nghiệp nông thôn
Công nghiệp nông thôn được định nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào cách tiếp cận, nghiên cứu, điều kiện cũng như chính sách phát triển ở mỗi quốc gia Những năm 70 của thế kỉ XX, trên thế giới thường sử dụng những khái niệm tương đồng như công
nghiệp làng xã (village industry), công nghiệp nông thôn (rural industry) hoặc các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn (non – farm activities) [52]
Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của kết cấu ngành công nghiệp, được
hình thành và phát triển ở nông thôn; bao gồm các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công
Trang 34nghiệp (TTCN) tồn tại dưới nhiều hình thức, thuộc nhiều thành phần kinh tế, có quy
mô vừa và nhỏ; hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, nhưng gắn bó mật thiết với sản xuất nông nghiệp và KT - XH nông thôn, do địa phương quản lý về mặt nhà nước [30]
Theo định nghĩa này, SXKD trong các LN TTCN được xem là một trong những hoạt động cơ bản của công nghiệp nông thôn Cùng với các hoạt động khác của công nghiệp nông thôn, phát triển LN TTCN chính là tiền đề cho quá trình CNH không chỉ ở nông thôn
- Công nghiệp hóa nông thôn
Từ một nền nông nghiệp đi lên, việc thực hiện CNH là một tất yếu khách quan
ở Việt Nam Trong đó, CNH nông thôn và phát triển toàn diện kinh tế nông thôn có vai trò đặc biệt quan trọng
CNH nông thôn được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ kĩ thuật - công nghệ và tổ chức sản xuất của các ngành kinh tế ở nông thôn [26]
Thực chất, CNH nông thôn chính là quá trình phát triển nông thôn theo hướng CNH [52] với 3 nội dung cơ bản Đó là: i) Phát triển các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp (bao gồm các ngành nghề TTCN và công nghiệp nông thôn, các hoạt động dịch vụ kinh tế kĩ thuật vào nông thôn); ii) Trang bị công nghệ và vật tư thiết
bị tiên tiến cho nông nghiệp; và iii) Tăng cường CSHT kinh tế, xã hội nông thôn
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong quá trình CNH nông thôn hiện nay, với những ưu thế lớn trong việc phát huy nội lực, các DN nhỏ và vừa đang rất được chú ý
Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP [75], DN nhỏ và vừa được định nghĩa như
sau: DN nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp
luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)
Trang 35Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DN
(tỉ đồng)
Số lao động
(người)
Tổng nguồn vốn
(tỉ đồng)
Số lao động
DN nhỏ và vừa ngày càng thể hiện rõ vai trò trong việc phát triển SXKD và là
hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả được ưu tiên phát triển ở các LN hiện nay
1.2.1.2 Vai trò và phân loại làng nghề
cả người già, trẻ em, thương, bệnh binh và người tàn tật
LN đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động không những của riêng làng
đó mà còn cho dân cư của các làng ở xung quanh Sự phát triển LN còn kéo theo sự
Trang 36phát triển của nhiều ngành, nghề khác Chẳng hạn như ngành chế biến lương thực thực phẩm (LTTP) phát triển sẽ tạo điều kiện cho ngành cơ khí chế tạo nông cụ và ngành chăn nuôi phát triển Ngành tái chế nguyên vật liệu phát triển đã tạo điều kiện cho mạng lưới thu gom nguyên liệu, phế liệu phát triển Như vậy, ngoài tác động về kinh tế, mạng lưới này còn góp phần quan trọng vào việc làm sạch môi trường [11]
Mở rộng phạm vi và phát triển LN, thông qua giải quyết việc làm, tăng thu nhập còn góp phần giải quyết căn bản nạn di dân tự do từ nông thôn vào các thành phố lớn Đây sẽ là hướng đi đúng đắn có thể giải quyết được vấn đề lao động nông thôn nhất
là trong điều kiện sức ép dân số ngày càng lớn như ở nước ta hiện nay [51]
* Làng nghề đã tạo ra khối lượng hàng hoá lớn, đa dạng, phong phú phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị
Nếu như trước đây, LN chỉ được xem là nghề phụ, tận dụng thời gian nông nhàn, cải thiện thêm thu nhập và đời sống, thì nay các ngành nghề này đều được đầu
tư phát triển theo hướng CNH Các LN đã tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng Trong đó, 40% là nguồn hàng xuất khẩu mang về cho đất nước nguồn ngoại tệ lớn Chỉ tính riêng hàng TCMN giá trị xuất khẩu năm 2015 đã đạt 1,9 tỉ USD chiếm 1,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước [73]
Thực tế cho thấy, tuy quy mô sản xuất nhỏ nhưng LN đã có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế ở các địa phương Sản phẩm của LN chính là nhân tố thúc đẩy sản xuất ở nông thôn phát triển theo hướng hàng hoá Vì thế, nơi nào có nhiều
LN thì nơi đó kinh tế hàng hoá phát triển mạnh Và ở nơi đó, bộ mặt nông thôn cũng có những thay đổi rõ rệt so với các làng thuần nông
* Làng nghề góp phần xoá đói giảm nghèo ở vùng nông thôn
Thực tế, thu nhập bình quân của một lao động làm nghề bao giờ cũng cao hơn lao động thuần nông (thường là gấp 2 - 3 lần) [11] Thu nhập từ nghề cao đã đem lại cho người dân trong các LN một cuộc sống đầy đủ, phong lưu cả về vật chất lẫn tinh thần Nhiều hộ đã mua sắm được những phương tiện đắt tiền như ô tô, xe máy
và nhiều vật dụng gia đình hiện đại khác Những vùng có LN phát triển đều thể hiện
sự văn minh, giàu có, dân trí cao hơn hẳn so với các vùng thuần nông Tại đây, tỉ lệ
hộ khá và giàu tương đối cao, tỉ lệ hộ nghèo thấp và gần như không còn hộ đói
Trang 37Phát triển LN, đồng thời tạo ra nguồn tích luỹ khá lớn Với khoảng 20,7 triệu đồng/hộ/năm tích lũy được (trong khi hộ nông nghiệp là 12,9 triệu đồng/năm) [72], ngân sách của địa phương cũng như của các gia đình nhờ thế tăng lên rõ rệt Do đó, việc xây dựng nguồn vốn để đầu tư cho CSHT trở nên dễ dàng Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn được thu hẹp dần
* Làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Kinh tế ở LN không chỉ thay đổi về lượng mà còn thay đổi về chất Ở những địa phương có nghề, tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng lên 60 - 80%, sản xuất nông nghiệp giảm xuống còn 20 - 40% [11] Tập quán sản xuất độc canh, quy mô nhỏ, tự cấp, tự túc đã được thay thế bằng sản xuất hàng hoá với sự hỗ trợ đắc lực của máy móc và công nghệ, thiết bị mới Nhiều hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả cao, nhất là các DN nhỏ và vừa xuất hiện ngày càng nhiều Dù hiện nay mới chỉ chiếm tỉ
lệ thấp, nhưng các hình thức này có vai trò rất quan trọng Đây chính là cầu nối giữa các hộ gia đình làm nghề trong làng với các DN lớn ở thành thị; là yếu tố cơ bản giúp các địa phương chuyển từ sản xuất thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn, hiện đại và đô thị hoá như P Gourou đã khẳng định [29]
* Làng nghề truyền thống góp phần bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc
Giá trị văn hoá của LNTT không chỉ thể hiện trong các sản phẩm mà trong cả các yếu tố phi vật thể khác của làng
Lịch sử nông thôn Việt Nam đã ghi nhận, sự hình thành và phát triển của các LNTT là một thành tố quan trọng tạo nên những nét đặc sắc của văn hoá làng Mỗi
LN đều thờ cúng một ông tổ nghề riêng, hoặc một thành hoành làng [51] Không gian văn hoá khó có thể trộn lẫn với những phong tục, tập quán, luật lệ và lễ hội đặc sắc Hội làng không chỉ là sinh hoạt văn hoá cộng đồng mà còn là lễ báo công tổ tiên, trình diễn các kĩ thuật làm nghề mới, đặc sắc của người thợ làm nghề Do đó hội làng có sức hấp dẫn lớn với du khách trong và ngoài nước [1]
Bản sắc văn hoá dân tộc còn được thể hiện thông qua những sản phẩm của
LN Những đường nét, hoa văn tinh xảo trên các sản phẩm TCMN hay những dáng, những thế cây mang tính nghệ thuật cao, mang tính đơn chiếc nên vượt qua giá trị hàng hoá đơn thuần, chúng trở thành sản phẩm văn hoá, thành những bảo vật, được
Trang 38coi là biểu tượng của truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam [51] Thông qua các sản phẩm đặc sắc của LN, văn hoá Việt Nam đã được lưu giữ một cách cụ thể, bền vững và được quảng bá rộng rãi đến nhiều nước trên thế giới
LN không chỉ đơn thuần là môi trường kinh tế, xã hội mà còn là môi trường văn hoá độc đáo Bảo tồn và phát triển LN cũng sẽ góp phần đắc lực vào việc giữ gìn văn hoá của dân tộc trong quá trình CNH và hội nhập quốc tế
* Phân loại làng nghề theo thời gian hình thành và phát triển
- LNTT là LN có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời Theo thông tư 116/2006 của Bộ NN - PTNT thì thời gian hình thành ít nhất là 50 năm [5]
- LN mới là LN được hình thành trong những năm gần đây, chủ yếu là trong thời kì đổi mới, thời kì chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường [51]
Hiện nay, cả 2 loại LN này đều có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển KT - XH, đặc biệt là chủ trương xây dựng NTM ở các địa phương
* Phân loại làng nghề theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm
Theo đó, LN được chia thành 6 ngành chính, mỗi ngành chính gồm nhiều ngành nhỏ với những yêu cầu khác nhau về nguyên, nhiên liệu, quy trình, công nghệ sản xuất và cả thị trường tiêu thụ sản phẩm: LN chế biến LTTP, chăn nuôi, giết mổ; LN dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da; LN sản xuất VLXD và khai thác đá;
LN tái chế phế liệu; LN TCMN và LN khác
Các cách phân loại nêu trên cũng chỉ mang tính chất tương đối Ngoài sự phụ thuộc vào mục đích phân loại, lựa chọn cách phân loại nào còn căn cứ vào đặc điểm
Trang 39phát triển LN của từng địa phương Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi phân loại LN thành các nhóm như sau: (1) LN chế biến LTTP; (2) LN sản xuất VLXD; (3)
LN chế biến gỗ (gỗ mỹ nghệ và mộc dân dụng); (4) LN mây tre đan, TCMN (mây tre đan, đay, cói, thủy tinh, gốm sứ, thêu, nón lá ); (5) LN dệt, may (ươm tơ, dệt vải, dệt khăn, dệt vải màn, đăng – ten, băng giang, may ); (6) LN cơ khí (cơ khí, đúc, rèn, tái chế kim loại ); (7) LN trồng, kinh doanh sinh vật cảnh, (8) LN khác (tái chế nhựa, trồng, chế biến nấm, trồng chế biến dược liệu, xây dựng, đan lưới )
1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố làng nghề
* Vị trí địa lý
Sự phát triển và phân bố của LN chịu ảnh hưởng lớn bởi vị trí địa lý Nơi nào
có vị trí địa lý thuận lợi, nơi ấy có nhiều LN phát triển và ngược lại
Các cụ tổ nghề, ngay từ đầu đã quan tâm đến yếu tố bến sông, bãi chợ khi
quyết định mở nghề, lập nghiệp [95] Thực tế cũng cho thấy, LN thường tập trung ở những vị trí “đắc địa”, hoặc gần đường giao thông hoặc gần nguồn nguyên liệu [51] Bên cạnh vị trí địa lý tự nhiên, vị trí địa - chính trị cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển của mỗi LN Những trung tâm hành chính, chính trị cũng đồng thời là những trung tâm kinh tế của khu vực Do đó, đây sẽ là thị trường,
là đầu mối tiêu thụ sản phẩm, là nơi hỗ trợ, cung cấp các điều kiện phát triển thiết yếu khác cho sản xuất ở LN
Ngày nay do sự phát triển của khoa học, công nghệ và các loại hình vận tải, vị trí địa lý, tuy không còn giữ vai trò quyết định, nhưng các điều kiện này vẫn rất quan trọng (kể cả với các LN được hình thành một cách có chủ ý theo chủ trương nhân cấy nghề mới)
* Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên vừa là nguồn lực vừa là lợi thế so sánh của mỗi vùng trong phát triển LN [33]
Ngoài vị trí địa lý, địa hình bằng phẳng, giao thông thuận tiện với nhiều loại hình, di chuyển dễ dàng, chi phí thấp được coi là lý do chính giải thích cho sự tập trung LN ở vùng đồng bằng và thưa thớt ở vùng đồi núi [51] Kết hợp với tài nguyên
về thổ nhưỡng, nguồn nước và sinh vật , điều kiện tự nhiên có thể tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sản xuất nghề thông qua những tác động đến nguồn nguyên, vật
Trang 40liệu liệu Kể cả trong điều kiện nhiều LN đã bớt lệ thuộc vào nguồn nguyên, vật liệu sẵn có, thì sự phong phú và giàu có về tài nguyên thiên nhiên cũng sẽ ảnh hưởng đến
số lượng và chủng loại LN Nhất là các LN sử dụng nguyên liệu đặc trưng địa phương khó có thể thay thế như LN ươm tơ, gốm sứ, chế tác đá
* Kinh tế - xã hội
- Nguồn nguyên,vật liệu
Một trong những điều kiện hình thành của LN là nằm gần nguồn nguyên, vật liệu Phần lớn các LN (nhất là các LN TTCN, chế biến LTTP) đều hình thành nghề chính của mình trên cơ sở nguồn nguyên, vật liệu sẵn có tại địa phương Nơi nào nguồn nguyên, vật liệu tại chỗ đã cạn kiệt, phải vận chuyển từ nơi khác về, nơi ấy sản xuất cũng bị ảnh hưởng không nhỏ Với nguồn nguyên vật liệu mới ngày càng
đa dạng, phong phú, các LN có thể lựa chọn và sử dụng nhiều nguyên liệu thay thế phù hợp để không chỉ giảm áp lực đầu vào mà còn đa dạng hoá, hạ giá thành sản phẩm Việc sử dụng nguyên, vật liệu mới còn có thể tạo ra những ngành nghề mới,
LN mới [36] Khối lượng, chủng loại, phẩm cấp và khoảng cách từ cơ sở sản xuất tới nguồn nguyên vật liệu có ảnh hưởng đến chất lượng, giá thành của sản phẩm, đến lợi nhuận của DN; do đó cũng sẽ ảnh hưởng đến số lượng, chủng loại và sự phát triển của các LN ở mỗi địa phương [51]
- Dân cư và lao động
Dân cư được coi là động lực thúc đẩy sự phát triển KT - XH trên cả hai phương diện Dân cư vừa là lực lượng lao động, vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩm
Do đó, không chỉ những yếu tố tích cực của dân cư mới được coi là nguồn lực mà ngay cả những nhược điểm nhiều khi lại là nguyên nhân trực tiếp của quá trình hình thành và phát triển LN [29]
Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các nghệ nhân và những người thợ lành nghề của mỗi làng Dù được hình thành theo con đường nào thì sự phát triển của LN cũng phải gắn liền với những hạt nhân, nòng cốt là các nghệ nhân hoặc gia đình, dòng họ [51]…Đây là những người tâm huyết với nghề; những người luôn cải tiến, sáng tạo trong quá trình sản xuất; những người có tài ứng phó với các tình huống bất lợi và có cả uy tín đối với làng xã Họ không chỉ là người tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế, giá trị nghệ thuật cao mà còn là người truyền nghề, dạy