* Nếu vì thường ăn uống đồ sống lạnh hoặc đờm ẩm ứ đọng tụ sẵn bên trong, lại cảm nhiễm Phong Hàn tà thì sẽ sinh ra chứng Lãnh háo.. * Nếu vì đàm nhiệt tích ở bên trong, lại cảm nhiễm Ph
Trang 1HEN PHẾ QUẢN
(Kỳ 5)
B NGUYÊN NHÂN VÀ SINH BỆNH:
1 Nguyên nhân:
- Cảm nhiễm ngoại tà thường là Phong, Hàn tà
- Ăn uống đồ lạnh
- Ăn quá nhiều chất chua, mặn, ngọt, uống nhiều rượu, tích nhiệt, thương
âm, hóa đờm thành chất ứ đọng sinh bệnh
- Lao nhọc thái quá
- Mắc bệnh đã lâu mà Tà còn ẩn phục trong Phế lạc
* Nếu vì thường ăn uống đồ sống lạnh hoặc đờm ẩm ứ đọng tụ sẵn bên trong, lại cảm nhiễm Phong Hàn tà thì sẽ sinh ra chứng Lãnh háo
* Nếu vì đàm nhiệt tích ở bên trong, lại cảm nhiễm Phong tà mà phát bệnh thì gọi là Nhiệt háo
Trang 2* Nếu Phong Hàn xâm nhập uất lại bên trong, khí nghịch lên, bệnh đến gấp rút, há miệng so vai để thở gọi là Thực suyễn
* Nếu chân khí đã hư sẵn, thêm đàm ẩm đọng lại, thêm cảm nhiễm ngoại
tà làm Thận không nạp khí được, bệnh đến từ từ, tiếng nhỏ, thở ra hít vào không liên tục với nhau, gọi là Hư suyễn
2 Bệnh sinh:
- Theo Trần Tú Viên đời Thanh, viết trong Y Học Thực Tại Trị:
* Hàn tà xâm nhập nằm sẵn ở Phế du
* Đờm ẩm được kết tụ sinh ra ở Phế
* Trong ngoài cùng ứng, có điều kiện Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa làm tổn thương là phát cơn ngay
* Ngoài lục dâm, nếu uống rượu, ăn đồ lạnh, lao động vất vả, nhập phòng quá nhiều … cũng có thể phát cơn được
Khi phát cơn thì khí lạnh ở Phế du, cùng với đàm ẩm tại Phế, cùng dựa vào nhau, ngăn lấp các cửa ngõ thông điều Phế khí không để cho thở hít, ráng sức thở hít thì phát ra tiếng khò khè
- Chu Đan Khê luận về chứng suyễn:
Trang 3* Theo Nội Kinh, mọi xung ngược lên đều thuộc về Hỏa, hơi thở ngắn gấp
mà luôn luôn không đủ hơi thở gọi là Suyễn Suyễn thở cấp bức ấy là do khí bị hỏa uất mà đờm ẩm nhầy dính ở Phế Vị
* Hàn tà xâm phạm, đàm ẩm ứ đọng bên trong quyết lạnh ở Thái âm, Khí
bị uất, Hàn tà cũng làm bí bế Phế khiếu, khí của 2 kinh Thủ dương minh và Thái dương là phần biểu của Phế, ngược lên hung cách mà sinh ra Thực suyễn
* Người có tinh huyết hư kém, âm hư, hư hỏa bốc, khí hỏa không trở về nguồn đưa ngược lên, thường thì Phế phát khí ra, Thận nạp khí vào Vì Thận hư, không thực hiện được chức năng bế tàng do đó Lôi Long Hỏa bốc lên dẫn đến Phế
bị thương làm cho thở ra hít vào gấp rút Hỏa không bị Thủy ức chế, dương không
bị âm liễm nạp lại, do đó nguy cơ âm vong dương thoát chết trong chốc lát
- Dù là Hen hay Suyễn, bệnh lâu ngày cũng tổn thương Phế - Tỳ - Thận sinh ra Phế âm hư, Phế khí hư, Tỳ khí hư, Tỳ dương hư, Thận âm hư và Thận dương hư
C THỂ LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ:
1 Thể Lãnh háo:
- Triệu chứng: Người lạnh, sắc mặt trắng bệch, đờm loãng có bọt dễ khạc, không khát, thích uống nước nóng, đại tiện nhão nát, chất lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng, mạch huyền tế
Trang 4- Phép trị: Ôn Phế, tán hàn, trừ đàm, định suyễn
- Bài thuốc: Xạ can ma hoàng thang gia giảm gồm Xạ can 6g, Khoản đông
hoa 12g, Ma hoàng 10g, Ngũ vị tử 8g, Sinh khương 4g, Bán hạ chế 8g, Tế tân 12g,
Đại táo 12g
Phân tích bài thuốc:
Ma hoàng Phát hãn, giải biểu, bình suyễn Quân Quế chi Phát hãn, ôn kinh, giải biểu Thần Thược dược Điều hòa dinh vệ Thần Bán hạ Giáng khí nghịch, tiêu đờm thấp Tá
Tế tân Tán phong hàn, khai khiếu Tá
Trang 5Ngũ vị tử
Liễm Phế, chỉ ho, sáp tinh
Ích Thận, sinh tân dịch
Tá
Xạ can Thanh nhiệt, giải độc, tiêu đờm Quân Can khương Ôn trung, tán hàn Tá Cam thảo Ôn trung hòa vị Sứ
Khoản đông
hoa
Nhuận Phế, hạ khí, hóa đàm, chỉ khái Tá
* Bài Tô tử giáng khí thang gồm Tô tử 12g, Hậu phác 8g, Quất bì 8g, Quế
chi 8g, Bán hạ chế 8g, Ngải cứu 12g, Đương quy 10g, Gừng 4g, Tiền hồ 10g, Đại táo 12g, Ngũ vị tử 16g, Cam thảo 4g, Hạnh nhân 8g
* Châm cứu: Châm bổ các huyệt Thiên đột, Chiên trung, Phong môn, Định suyễn, Liệt khuyết, Tam âm giao, Phong long, Túc tam lý
Cứu các huyệt Cao hoang, Phế du, Thận du
* Châm loa tai: Bình suyễn, Tuyến thượng thận, Giao cảm, Thần môn, Phế