1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghiên cứu test kích thích với Metacholin trong chấn đoán sớm cơn hen phế quản pdf

5 794 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 144,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước đầu nghiên cứu test kích thích với Metacholin trong chẩn đoán sớm cơn Hen phế quản Nguyễn Thị Vân Đại học Y Hà Nội Một số lớn bệnh nhân trong nghiên cứu này 81% có giảm đi một

Trang 1

Bước đầu nghiên cứu test kích thích với Metacholin

trong chẩn đoán sớm cơn Hen phế quản

Nguyễn Thị Vân

Đại học Y Hà Nội

Một số lớn bệnh nhân trong nghiên cứu này (81%) có giảm đi một cách có ý nghĩa lưu lượng cũng như thể tích của phổi trong đó lưu lượng giảm nhiều hơn khi chúng tôi tiến hành test kích thích phế quản không đặc hiệu với Metacholin Đây là một phương pháp

được sử dụng phổ biến trên thế giới trong việc chẩn đoán hiện tượng tăng tính phản ứng phế quản ở những bệnh nhân có dấu hiệu Hen tiềm tàng Sự tìm kiếm tăng tính phản ứng phế quản không đặc hiệu bằng Metacholin là một kỹ thuật được sử dụng thường xuyên, kỹ thuật này có giá trị âm tính chính xác cao Test âm tính cung cấp một giá trị tốt cho việc loại trừ Hen phế quản giai đoạn đầu Việc sử dụng test Metacholin để phát hiện sớm hiện tượng co thắt phế quản, đảm bảo sự an toàn, tiện lợi, cho độ nhạy cao và phương tiện sử dụng phù hợp với điều kiện kinh tế của nước ta

I Đặt vấn đề

Test kích thích (Test provocation) là một

thử nghiệm tạo lại bệnh [1] Đây là một kỹ

thuật đã có từ lâu Ban đầu người ta sử

dụng dị nguyên đặc hiệu khi tiến hành test

này vì vậy đã gây ra nhiều nguy hiểm cho

bệnh nhân Mặt khác việc sử dụng dị

nguyên đặc hiệu đòi hỏi một quá trình sản

xuất tốn kém, phức tạp Để khắc phục

những nhược điểm này hiện nay người ta

đã sử dụng Metacholin để tiến hành test

kích thích không đặc hiệu Metacholin là

một dẫn xuất của acétylcholine nó có thể

gây ra một cơn co thắt phế quản khi được

khí dung [2] Nó giúp cho việc chẩn đoán

sớm cơn hen phế quản Tại các nước trên

thế giới nhất là cộng hoà Pháp kỹ thuật

này đã là một xét nghiệm thường quy đối

với các bệnh nhân hen giai đoạn đầu khi

triệu chứng chưa rõ ràng và với những vận

động viên thể thao có tăng tính phản ứng

phế quản (tiền hen) nhằm cho phép họ

được dùng kích thích β2 trong thi đấu Tại

Pháp nếu người bệnh chưa có cơn khó thở

đình thêm vào đó lại có test kích thích Metacholin dương tính đều được đưa vào chương trình quản lý và phòng cơn hen một cách chặt chẽ [1, 3] Kỹ thuật này không yêu cầu các máy móc phức tạp đắt tiền mà chỉ dùng một máy gọn nhỏ xách tay rất tiện lợi trong việc chẩn đoán cơn HPQ sớm tại cộng đồng

Trong việc điều trị phòng và quản lý cơn hen phế quản hiện nay còn gặp nhiều khó khăn Phần lớn bệnh nhân đến các cơ sở

điều trị đều trong tình trạng khó thở nặng, việc cắt cơn rất khó, tỷ lệ tử vong cao Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm các mục đích: “Phát hiện sớm cơn hen phế quản không điển hình”

II Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu:

26 bệnh nhân đến khám và tiến hành nghiên cứu tại phòng thăm dò chức năng hô hấp Bệnh viện Cochin - Paris - Cộng hoà Pháp trong thời gian từ 2001- 2002

Trang 2

TCNCYH 26 (6) - 2003

Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân như

sau:

+ Có cơn ho kéo dài hơn 1 tháng mặc

dù chưa có cơn khó thở

+ Có tiền sử dị ứng bản thân cũng như

gia đình rõ như mày đay, viêm mũi dị ứng

hoặc dị ứng thức ăn

+ Tuổi từ 15 - 25 tuổi

+ Không dùng các thuốc sau đây trước

khi tiến hành làm test:

• Kích thích Bêta 2 (12h trước đó)

• Kháng Cholin (12h trước đó)

• Nhóm Xanthin (12h trước đó hoặc

24h đối với loại chậm)

• Kháng Histamin (5 ngày trước đó)

+ Không tiến hành làm test nếu bệnh

nhân đang điều trị corticoides theo đường

uống hoặc đang dùng các thuốc ức chế

Bêta (Bêtabloquant)

+ Cần chờ đợi bệnh nhân trong các

trường hợp sau đây:

• Nhiễm trùng đường hô hấp mới đây

(ít nhất sau 6 tuần)

• Mới thử test da với dị nguyên 1 tuần

• Bệnh nhân vừa lao động gắng sức

nhiều trước đó (chờ ít nhất sau 2h)

• Ngừng hút thuốc lá 12h trước đó

+ Cần chuẩn bị các thuốc dãn phế quản

để tiến hành làm test dãn phế quản sau

khi test với Metacholin dương tính

2 Phương pháp nghiên cứu:

2.1 Phép đo phế lưu

(pneumotachography) là phép đo lưu

lượng dòng thở, có thể ghi thành đồ thị

Sau các động tác hít vào, thở ra gắng sức

người ta có thể đo được lưu lượng và các

thể tích khí của phổi Trong đó thông số

quan trọng nhất dùng trong test kích thích

đó là VEMS (thể tích thở ra tối đa /giây) [1, 2]

2.2 Test kích thích (test provocation):

+ Nguyên tắc tiến hành:

Đo VEMS mỗi lần với liều tăng dần của chất kích thích Acetylcholin hoặc các dẫn chất của nó (Carbacholine, Metacholine) Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng Metacholine Sau khi tổng hợp acetylcholin

được lưu trữ trong các nang có đường kính khoảng 300-600 A° ở ngọn dây cholinergic dưới thể phức hợp không có hoạt tính Dưới tác dụng của các xung đột thần kinh và của ion Ca++ , chúng được giải phóng ra dưới dạng tự do đóng vai trò như một chất trung gian hoá học có tác dụng làm chậm nhịp tim, hạ huyết áp, tăng nhu động ruột,

co thắt phế quản gây ra cơn hen, co thắt

đồng tử, tăng tiết dịch ở niêm mạc phế quản Người ta sử dụng Metacholin để tiến hành test kích thích tạo lại bệnh (tạo lại cơn hen phế quản) trong chẩn đoán sớm cơn hen vì chúng bền vững hơn acetylcholin, ít chịu tác dụng của cholinesterase nên tác dụng kéo dài và mạnh hơn

+ Đo đáp ứng: Người ta xác định liều

hoặc nồng độ của yếu tố kích thích gây giảm VEMS 20% so với giá trị lý thuyết (PD20)

+ Cách làm: Sử dụng máy FDC 88

Medifrom

• Đo VEMS trên máy đo phế lưu để

được kết quả thực sự hay kết quả ban đầu của bệnh nhân

• Lấy Metacholin 2% (2ml) vào bình khí dung

• Cho bệnh nhân thở ra vào bình khí dung rồi hít thật sâu Mỗi lần cách nhau từ 1- 2 phút Liều dùng theo thứ tự:

Trang 3

- Lần đầu tiên không có Metacholin

(thay bằng Nacl 0,9%)

2.3 Test phục hồi (test réversibilité)

* Mục đích:

- 100 àg Metacholin sau đó 10 phút đo

VEMS

+ Tiến hành sau test kích thích dương tính để trả lại thông khí bình thường cho người được làm test

- 200 àg Metacholin sau đó 10 phút đo

tăng tính phản ứng phế quản

- 400 àg Metacholin sau đó 10 phút đo

- Kiểm tra hiệu lực của thuốc dãn phế quản

Tổng số được phép được dùng là 3100

àg

- Đánh giá lợi ích của điều trị corticoides khí dung trong thời gian dài

Trong quá trình đo VEMS người ta đều

so sánh với kết quả của VEMS thực sự của

bệnh nhân ở lần đo đầu tiên khi chưa có

Metacholin Nếu VEMS của lần đo nào

giảm từ 20% trở lên thì phản ứng dương

tính ở đó

* Nguyên tắc: Sau khi test kích thích dương tính cho bệnh nhân khí dung với liều tăng dần của thuốc dãn phế quản (kích thích β2) Chúng ta thu được sự tăng dần của VEMS

+ Chỉ định làm test kích thích với

Metacholin: * Đo đáp ứng: Người ta nhận thấy rằng

sự đảo ngược hoàn toàn hoặc từng phần hiện tượng tắc nghẽn phế quản sau khi khi dùng β2 adrenergique hoặc anticholinergique được xác định bởi tăng VEMS ≥ 12% so với giá trị lý thuyết và ≥

200 ml so với giá trị tuyệt đối ban đằu (các giá trị DEP, DEMM 25-75% của CVF cũng

được tính đến như VEMS)

• Người có tiền sử dị ứng nhưng chưa

có cơn hen rõ chỉ có ho kéo dài trên 3

tuần, có cảm giác khó chịu trong đường

thở khi thay đổi thời tiết

• Người bệnh nhân có kết quả thăm

dò chức năng phổi giảm so với giá trị lý

thuyết mà chưa có dấu hiệu lâm sàng về

hen

III Kết quả

+ Đánh giá:

Chúng tôi chọn 3 thông số chức năng hô hấp để khảo sát đó là: VEMS, DEP, CVF

Nếu dương tính có nghĩa là :

• Bệnh nhân có tăng tính phản ứng

phế quản (hyperreactibilité bronchique)

• Khẳng định dấu hiệu tiền hen (nếu

tiền sử không rõ)

Bảng 1: Tỷ lệ % bệnh nhân có sụt ≥ 12% so với giá trị lý thuyết và ≥ 200ml so với giá

trị ban đầu của VEMS, DEP, CVF sau dùng Metacholin

Các thông số Số bệnh nhân có giảm CNHH % Độ giảm trung bình

Trang 4

TCNCYH 26 (6) - 2003

Nhận xét: + Trên 80% số bệnh nhân nghiên cứu có test dương tính + Độ giảm trung bình của VEMS trên 25% so với giá trị ban đầu

Bảng 2: Sự thay đổi của VEMS, DEP, CVF ở các nhóm khảo sát

VEMS (l/giây) DEP (lít/phút) CVF (lít) Thời điểm nghiên

cứu Giá trị

tuyệt đối

tuyệt đối

tuyệt đối

%

Trước dùng

Metaholin

5,12±0,32 114 6,10±0,15 110 5,31±0,44 111

Sau dùng

Metaholin

4,02±0,25 80%

(-34%)

4,53±0,63 80

(-29%)

3,93±0,1 84

(-26,85%) Sau dùng

dãn PQ

4,82±0,53 120

(+40%)

5,05±0,52 111

(+30,3%)

4,29±1,7 109

(+24,8%)

Nhận xét: + Giảm VEMS trung bình –34% sau khí dung Metacholine

+ Sự cải thiện TK phổi thể hiện ở VEMS +40% và DEP +30%

Bảng 3: Nhận xét về liều Metacholin được sử dụng

Liều Metacholin Số bệnh nhân có

giảm CNHH

Độ giảm trung bình của VEMS

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân có giảm

VEMS ở nồng độ dưới 1000àg

IV Bàn luận

Căn cứ vào sự lựa chọn bệnh nhân

chúng ta nhân thấy lợi ích rất lớn của test

kích thích với Metacholin Nó góp phần

khẳng định hoặc loại bỏ sớm chẩn đoán

hen phế quản, xác định dấu hiệu tiền hen

hoặc theo dõi hiệu quả của điều trị cơn

HPQ Sau khi khí dung Metacholin (một

dẫn chất của acetylcholin) người ta nhận

thấy có sự xuất hiện co thắt phế quản, một

biểu hiện của tiền hen Điều đó thể hiện rõ

nét ở việc sụt ≥ 12% so với giá trị lý thuyết

và ≥ 200ml so với giá trị tuỵêt đối ban đầu của VEMS, DEP, CVF

Chúng ta gặp một tần suất cao của việc giảm VEMS, DEP (81%) sau khi dùng Metacholin Đó là kết quả của việc làm tăng tính phản ứng PQ của Metacholin Hơn nữa qua việc so sánh các thời điểm trước và sau khi dùng Metacholin người ta cũng nhận thấy một sự khác nhau rõ rệt của các thông số trên một cách có ý nghĩa thống kê Sự giảm VEMS 34%), DEP (-29%), CVF (-26%) sau khi khí dung Metacholin

Trang 5

Sau khi test kích thích dương tính,

chúng tôi đã tiến hành phục hồi khả năng

thông khí phổi bằng Salbutamol Hầu hết

các bệnh nhân này đều có đáp ứng tốt với

các thuốc dãn phế quản bởi vì chúng ta

nhận thấy một sự gia tăng có ý nghĩa của

VEMS, DEP và CVF sau dùng Salbutamol:

Với VEMS: + 40%, DEP: + 30,3%, CVF:

+ 24,8%

Điều đó càng khẳng định tính phản ứng

của phế quản trên những người bệnh có

tiềm tàng cơn hen

Một việc đáng lưu ý đó là hầu hết bệnh

nhân có triệu chứng lâm sàng tiền hen hay

tăng tính phản ứng PQ thì chỉ cần liều thấp

của Metacholin cũng gây ra giảm VEMS

và DEP một cách có ý nghĩa: Khi dùng liều

thấp thì 94% số người đã có giảm VEMS

và DEP

V Kết luận

1- Sau khi khí dung Metacholin (dẫn

xuất của acetylcholin), một hoạt chất đóng

vai trò quan trọng trong hen PQ người ta

nhận thấy sự giảm đi một cách có ý nghĩa

thống kê (p < 0,001) của các thể tích và

lưu lượng phổi

2- Sự cải thiện rất có ý nghĩa của các thể tích và lưu lượng phổi này sau khi đối tượng nghiên cứu được khí dung thuốc dãn phế quản (Salbutamol)

3- Phần lớn bệnh nhân chọn trong nghiên cứu có sự sụt đi của VEMS rõ rệt chỉ với liều thấp của Metacholin

4- Đây là một thử nghiệm đặc hiệu có

độ nhạy cao trong việc phát hiện sớm tăng tính phản ứng PQ hoặc dấu hiệu tiền hen, góp phần tích cực trong phòng và quản lý bệnh nhân hen Trang bị đơn giản chỉ cần

1 máy FDC 88 Medifrom chúng ta có thể làm test một cách lưu động điều này phù hợp với việc quản lý bệnh nhân hen tại cộng đồng ở Việt Nam

Tài liệu tham khảo

1 Aubier, Pariente R (1996):

“pneumologie” 1996 - medecine sciences flammarion 731-740

2 Cremmoux H, Defouilloy.C (1993): l’asthme de l’adulte,” astra france” -ed,

1993, 2-8

3 Tillie - Leblond I (1996): “les asthmes allergique” - rev Prat Paris,

1996, n08 , 949-945

Résumé Test metacholin dans le dianostique précese de

l’asthme

Un nombre important de patient dans l’étude (81%) présentait une chute significative des débits et volumes respiratoire (VEMS, DEP, CVF) dans le test provocation avec Metacholine

C’est un meilleur méthode dans le diagnostique d’une hyperréactibilité bronchique La recherche un HRB non spécifique est la technique le plus souvent utilisé Cette méthode

a une valeur pédictif négatif élevés qui fournit un bon argument contre une maladie asthmatique

Ngày đăng: 11/03/2014, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ % bệnh nhân có sụt  ≥  12% so với giá trị lý thuyết và  ≥  200ml so với giá - Bước đầu nghiên cứu test kích thích với Metacholin trong chấn đoán sớm cơn hen phế quản pdf
Bảng 1 Tỷ lệ % bệnh nhân có sụt ≥ 12% so với giá trị lý thuyết và ≥ 200ml so với giá (Trang 3)
Bảng 2: Sự thay đổi của VEMS, DEP, CVF ở các nhóm khảo sát - Bước đầu nghiên cứu test kích thích với Metacholin trong chấn đoán sớm cơn hen phế quản pdf
Bảng 2 Sự thay đổi của VEMS, DEP, CVF ở các nhóm khảo sát (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w