1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luyện thi đại học môn lịch sử

118 343 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 388,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ngày 6/1 đến ngày 3/2/1930, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản cộng sản, soạn thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam… Tác dụng của nhữn

Trang 1

CÁCH MẠNG KHOA HỌC- CÔNG NGHỆ

VÀ XU THẾ TOÀN CẦU HÓA NỬA SAU THẾ KỶ XX

I CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ.

1 Nguồn gốc và đặc điểm:

A Nguồn gốc:

- Do đòi hỏi của cuộc sống và của sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người

- Do sự bùng nổ dân số, sự vơi cạn tài nguyên thiên nhiên,

do nhu cầu của chiến tranh…

- Cuộc cách mạng KH-KT lần thứ nhất là tiền đề thúc đẩy cách mạng KH-KT lần II và cách mạng công nghệ bùng nổ

B Đặc điểm:

- KH-KT trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

- Mọi phát minh kỹ thuật đều bắt nguồn từ nghiên cứu khoa học

- Khoa học gắn liền với kỹ thuật, đi trước mở đường cho kỹ thuật

- Kỹ thuật lại đi trước mở đường cho sản xuất

- Khoa học tham gia trực tiếp vào sản xuất, là nguồn gốc chính của những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ

2 Những thành tựu tiêu biểu :

A Thành tựu:

Trang 2

- Khoa học cơ bản: có nhiều phát minh lớn trong các lĩnh vực toán, lý, hóa, sinh…(3-1997 cừu Đô ly sinh ra bằng phương pháp sinh sản vô tính, tháng 4-2003 công bố “Bản đồ gen người” hoàn chỉnh… )

- Công cụ sản xuất mới: máy tính điện tử, máy tự động, hệ thống máy tự động, robot

- Năng lượng mới: nguyên tử, nhiệt hạch, mặt trời, thủy

- Chinh phục vũ trụ: vệ tinh nhân tạo, thám hiểm mặt trăng,

du hành vũ trụ, phóng thành công vệ tinh nhân tạo (1957); con người bay vào vũ trụ (1961); con người đặt chân lên mặt trăng ( 1969)

Trang 3

- Thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa.

*Tiêu cực:

- Ô nhiễm môi trường, tai nạn lao động và giao thông, các dịch bệnh mới, chế tạo vũ khí hủy diệt đe dọa sự sống trên hành tinh

II XU THẾ TOÀN CẦU HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ.

Xu thế toàn cầu hóa từ sau chiến tranh lạnh :

A Bản chất

- Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, dân tộc trên thế giới

B Biểu hiện của toàn cầu hóa:

- Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế.( giá trị trao đổi tăng lên 12 lần )

- Sự phát triển và tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia

- Sự sáp nhập và hợp nhất các công ty thành những tập đoàn lớn

- Sự ra đời của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực (EU, IMF, WTO, APEC, ASEM…)

=> Là xu thế khách quan không thể đảo ngược

C Ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa:

Trang 4

* Tiêu cực:

- Đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo và bất công xã hội

- Làm cho mọi mặt của cuộc sống con người kém an toàn, tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ của các quốc gia

- Toàn cầu hóa vừa là thời cơ, cơ hội lớn cho các nước phát triển mạnh, đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là nếu

bỏ lỡ thời cơ sẽ tụt hậu nguy hiểm

(Sưu tầm)

Trình bày quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc

Đề bài: Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại ra đi tìm con đường cứu nước mới ? Trình bày về quá trình hoạt động từ năm 1911 – 1930 và những cống hiến của Nguyễn Ái

Quốc đối với cách mạng Việt Nam.

Trang 5

Nguyễn Tất Thành,sinh ngày 19/5/1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An Cha là Nguyễn Sinh Sắc, mẹ là Hoàng Thị Loan, một người phụ nữ đảm đang, chăm lo chồng con hết mực…

Nguyễn Tất Thành từ rất sớm có trí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào…

Người khâm phục tinh thần yêu nước của các chí sĩ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, nhưng lại không tán thành con đường cứu nước của

họ Các phong trào Đông Du, Duy Tân, các cuộc khởi nghĩa đều bị thực dân Pháp dập tắt cách mạng lâm vào tình trạng khủng hoảng, thiếu hẵn một phương pháp cách mạng khoa học Một đòi hỏi tất yếu là phải tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc

Trong bối cảnh lịch sử đó, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã ra

đi tìm đường cứu dân, cứu nước, giải phóng cho dân tộc Việt Nam

2) Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 – 1930 :

a Từ năm 1911 đến 1918 :

- Ngày 5/6/1911, Người lấy tên là Ba, xin làm việc phụ bếp trên tàu đô đốc Latusơ Tơrêvin, rời bến cảng Nhà Rồng bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước Tháng 7/1911, Người cập cảng Mácxây của Pháp

- Năm 1912, Người tiếp tục đi một số nước ở châu Âu, châu Phi và châu Mĩ…

- Năm 1917, Nguyễn Ái Quốc trở lại Pháp Tại đây, Người tích cực hoạt động tố cáo thực dân Pháp và tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, tham gia vào phong trào công nhân Pháp, tiếp nhận ảnh hường Cách mạng Tháng Mười Nga =>

Trang 6

Tư tưởng của Người dần dần biến đổi.

- Tháng 11/1917, Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã ảnh hưởng quyết định đến xu hướng hoạt động của Người

b Từ năm 1919 đến 1923 :

- Ngày 18/6/1919 các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị Vécxai (Verseille) để chia nhau thị trường thế giới Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị này Bản yêu sách gồm 8 điểm đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam

- Tháng 7/1920, Người đọc Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba

Sự kiện đó cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc.∨- Tháng

12/1920, tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua,

Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba và lập

ra Đảng Cộng sản Pháp Sau đó Người đã tham gia Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động Nguyễn Ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo cách mạng vô sản

- Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa ở Pari để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc

- Năm 1922, ra báo Người Cùng Khổ (Le Paria)

c Từ năm 1923 đến 1924 :

- Tháng 6/1923, Người đi Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân, sau đó làm việc ở Quốc tế cộng sản viết nhiều cho báo Sự Thật (Paravda) và Tạp chí Thư tín quốc tế

Trang 7

- Năm 1924, Người dự và đọc tham luận tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V Sau đó, Người từ Liên Xô về Quảng Châu để trực tiếp chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập chính đảng vô sản ở Việt Nam.

d Từ năm 1924 đến 1930 :

- Ngày 11/11/1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc) trực tiếp tuyên truyền, giáo dục lý luận, xây dựng tổ chức cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam

- Tháng 6/1925 : Thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên nhằm tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống Pháp

- Ngày 9/7/1925, Người và một số nhà yêu nước Triều Tiên, Inđônêxia lập ra Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông

- Ngày 6/1 đến ngày 3/2/1930, Người chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản cộng sản, soạn thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam…

Tác dụng của những hoạt động trên đối với cách mạng Việt Nam :

* Về chính trị : Trong giai đoạn này, những hoạt động của

Người chủ yếu trên mặt trận chính trị tư tưởng nhằm truyền

bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta nư viết bài cho báo

“Nhân đạo”, “Đời sống công nhân” và “Bản án chế độ thực dân Pháp” Những tư tưởng mà người truyền bá sẽ là nền tảng tư tưởng của Đảng ta sau này Những tư tưởng đó là:

Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung của giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa

Chỉ có làm cách mạng đánh đổ chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa

đế quốc thì mới có thể giải phóng giai cấp vô sản và nhân

Trang 8

dân các nước thuộc địa Đó chính là mối quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa.

Xác định giai cấp công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt của cách mạng

Giai cấp công nhân có đủ khả năng lãnh đạo cách mạng

thông qua đội tiên phong là Đảng cộng sản được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin

* Về tổ chức :

- Khi về tới Quảng Châu (Trung Quốc), người đã tập hợp một

số thanh niên Việt Nam yêu nước thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong đó có hạt nhân là Cộng sản Đoàn

=>Tóm lại, những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã có tác dụng quyết định trong việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và

tổ chức cho việc thành lập chính Đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam

3) Những cống hiến to lớn của Nguyễn Ái Quốc đối với dân tộc :

Tìm được con đường cứu nước đúng đắn : Kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản

Chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930

Cùng Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo Cách mạng

tháng Tám 1945 thành công, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc.Cùng Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo đấu tranh bảo

vệ thành quả cách mạng, xây dựng chế độ mới trong những

Trang 9

năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám.

Cùng Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) thắng lợi

Cùng Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước và xây dựng chế độ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc…

=> Mở rộng : Theo anh (chị), công lao to lớn nhất của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đối với dân tộc Việt Nam là

a Sự ra đời : Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng

Châu, tiếp xúc với Tâm tâm xã ; tháng 6/1925, sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chuẩn bị điều kiện cho

sự ra đời của một đảng Cộng sản ở Việt Nam

b Hoạt động :

- Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Tổng bộ (Nguyễn Ái Quốc,

Trang 10

Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn) Trụ sở đặt tại Quảng Châu

- Nguyễn Ái Quốc mở các lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu, từ năm 1925 đến năm 1927 đã đào tạo được 75

người Số lượng hội viên tăng nhanh, nhất là từ khi có

phong trào “vô sản hóa” (1928) Hội đã xây dựng cơ sở khắp cả nước: các kỳ bộ Trung, Bắc, Nam…

- Ra báo Thanh niên và xuất bản tác phẩm Đường cách

mệnh để phục vụ công tác huấn luyện, tuyên truyền Tác phẩm Đường cách mệnh vạch ra những vấn đề cơ bản về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam Việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin được đẩy mạnh qua phong trào “vô sản hoá”

- Đến năm 1929, đáp ứng yêu cầu của phong trào công

nhân và phong trào yêu nước, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập tại Hà Nội (3/1929) Sau Đại hội lần thứ nhất

(5/1929), Hội phân hóa thành hai tổ chức: Đông Dương

cộng sản đảng (6/1929) và An Nam cộng sản đảng

(8/1929)

=> Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam…

=> Mở rộng : Vai trò của Hội Việt Nam Cách mạng thanh

niên và sự xuất hiện 3 tổ chức Cộng sản đối với sự phát triển của phong trào công nhân :

- Hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên và Tân Việt Cách mạng Đảng đã có tác dụng thúc đẩy phong trào công nhân phát triển từ “tự phát” lên “tự giác” : mở lớp huấn luyện cán bộ nhằm truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin, ra báo

“Thanh niên”, phong trào “Vô sản hoá” Phong trào từ năm

1928 phát triển cả về số lượng và chất lượng

- Sự xuất hiện của 3 tổ chức Cộng sản là một biểu hiện

trưởng thành của giai cấp công nhân Giai cấp công nhân

Trang 11

đang trở thành một lực lượng chính trị độc lập ngày càng lớn mạnh đi đầu trên trận tuyến đâú tranh chống đế quốc và phong kiến tay sai ở nước ta Đây chính là bước chuẩn bị trực tiếp cho sự thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương.

(Sưu tầm)

Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới II

1 Những quyết định quan trọng của hội nghị I-an-ta:

Từ ngày 4 đến 11 - 2 - 1945, ba nước Anh, Mĩ, Liên Xô họp hội nghị quốc tế tại I-an-ta ( Liên Xô ) Hội nghị diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nước và cuối cùng đã dẫn tới

những quyết định quan trọng:

- Xác định mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa

phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản Để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, từ 2 đến 3 tháng sau khi đánh bại nước Đức phát xít, Liên Xô sẽ tham chiến với Nhật ở

2 Mục đích và hoạt động của Liên hợp quốc:

* Mục đích:

Duy trì hòa bình và an ninh thế giới, phát triển các mối quan

Trang 12

hệ hữu nghị giữa các dân tộc và tiến hành sự hợp tác quốc

tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng

và quyền tự quyết của các dân tộc

* Hoạt động:

Các cơ quan chuyên môn hoạt động có hiệu quả cao:

- UNICEF ( Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc ) đưa ra luật, quyền của trẻ em và có tài trợ, giúp đỡ đối với giáo dục nhi đồng các nước thành viên

- FAO ( Tổ chức về nông nghiệp - lương thực Liên hợp

quốc ): điều phối lương thực và hỗ trợ cho sự phát triển của nền nông nghiệp cho các nước thành viên, cứu trợ cho các quốc gia nghèo đặc biệt là các nước ở Châu Phi

- IMF ( Quỹ tiền tệ Liên hợp quốc ): xóa đói giảm nghèo cho các quốc gia, cấp nguồn vốn đáng kể cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

- UNISCO ( Tổ chức văn hóa - khoa học - giáo dục Liên hợp quốc ): có các chương trình bảo tồn các di sản văn hóa trên thế giới

- WHO ( Tổ chức y tế thế giới ): đưa ra chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ em toàn cầu trong đó có Việt Nam, tham gia giải quyết bệnh dịch do thiên tai gây ra

Trong hơn nửa thế kỉ qua, Liên hợp quốc đã trở thành một diễn đàn quốc tế vừa hợp tác, vừa đấu tranh nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới Liên hợp quốc đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột ở nhiều khu vực, thúc đẩy các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, giúp đỡ các dân tộc về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y

tế, nhân đạo,

(Sưu tầm)

Trang 13

Liên Xô và các nước Đông Âu (1945 - 1991)-Liên Bang Nga

(1991 - 2000 )

1 Những thành tựu chính trong công cuộc XD XHCN ở L.Xô ( 1945 - giữa những năm 70 ):

a Công cuộc khôi phục kinh tế ( 1945 - 1950 ):

- Liên Xô bước ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai với

tư thế của người chiến thắng Nhưng chiến tranh cũng đã gây ra nhiều tổn thất nặng nề cho đất nước Xô viết

Hơn 27 triệu người chết; 1710 thành phố, hơn 70 000 làng mạc, gần 32 000 nhà máy, xí nghiệp bị tàn phá Đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn

- Sau chiến tranh, các nước phương Tây do Mĩ cầm đầu lại theo đuổi chính sách chống cộng, tiến hành chiến tranh

lạnh, bao vây kinh tế Liên Xô Trước tình hình đó, Liên Xô vừa phải chú ý đến nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, vừa phải thực hiện nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh

và phát triển kinh tế Với tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ, nhân dân Xô viết đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm ( 1946 - 1950 ) trước thời hạn 9 tháng

- Liên Xô đã phục hồi nền sản xuất công nghiệp, năm 1947 đạt mức trước chiến tranh

Đến năm 1950, tổng sản lượng công nghiệp tăng 73 % so với mức trước chiến tranh ( kế hoạch dự kiến là 48 % ), hơn

6200 xí nghiệp được phục hồi hoặc xây mới đi vào hoạt

động Nhiều nghành công nghiệp nặng tăng trưởng nhanh ( dầu mỏ tăng 22 %, thép 49 %, than 57 % )

- Một số ngành sản xuất nông nghiệp cũng vượt mức trước chiến tranh, thu nhập quốc dân tăng 66 % so với năm 1940 ( kế hoạch dự kiến tăng 38 % ) Năm 1949, Liên Xô chế tạo

Trang 14

thành công bom nguyên tử, đánh dấu bước phát triển nhanh chóng của khoa học - kĩ thuật Xô viết, phá vỡ độc quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ.

b Liên Xô tiếp tục XD cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH ( 1950 - nửa đầu những năm 70 ):

- Kinh tế:

Sau hơn hai thập kỉ, thu nhập quốc dân tăng 46 lần với năm 1913

+ Công nghiệp:

Được phục hồi, Liên Xô đẩy mạnh sản xuất công nghiệp

nặng như chế tạo máy, điện lực, hóa dầu, hóa chất, thực hiện cơ giới, điện khí hóa, hóa học hóa Đến nửa đầu những năm 70, Liên Xô là cường quốc công nghiệp đứng thứ hai trên thế giới ( sau Mĩ ), chiếm khoảng 20 % tổng sản lượng công nghiệp toàn thế giới

Từ năm 1951 đến năn 1975, tốc độ tăng trưởng hằng năm của công nghiệp Xô viết bình quân là 9,6 % Năm 1970, sản lượng một số nghành công nghiệp quan trọng như điện lực đạt 704 kw/h ( bằng sản lượng điện của bốn nước Anh,

Pháp, CHLB Đức, I-ta-li-a cộng lại ), dầu mỏ đạt 353 triệu tấn, than đạt 624 triệu tấn, lần đầu tiên vượt Mĩ

+ Nông nghiệp:

Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng sản xuất nông nghiệp của Liên Xô cũng thu được nhiều thành tích nổi bật Sản lượng nông phẩm trong những năm 60 tăng trung bình khoảng 16

%/ năm Năm 1970 đạt 186 triệu tấn ngũ cốc và năng suất trung bình là 15,6 tạ/ ha

- Khoa học - kĩ thuật:

Trang 15

Liên Xô đạt những thành tựu rực rỡ:

+ Năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ về khoa học - kĩ thuật và phá vỡ thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ

+ Năm 1957, Liên Xô là nước đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo Spút-nic

+ Năm 1961, Liên Xô phóng con tàu Phương Đông I đưa nhà

du hành vũ trụ Ga-ga-rin bay vòng quanh Trái Đất, mở đầu

kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người, sau đó đã tiến hành nhiều chuyến bay dài ngày trong vũ trụ

+ Đầu những năm 70, bằng việc kí với Mĩ các hiệp ước về hạn chế hệ thống phòng, chống tên lửa và về một số biện pháp trong lĩnh vực hạn chế vũ khí tiến công chiến lược ( gọi tắt là hiệp ước ABM và hiệp định SALT - 1 và SALT - 2 ), Liên

Xô đã đạt được thế cân bằng chiến lược về sức mạnh quân

sự nói chung và sức mạnh lực lượng hạt nhân nói riêng với các nước phương Tây Đây là một thành tựu có ý nghĩa to lớn, làm đảo lộn toàn bộ chiến lược của Mĩ và đồng minh của Mĩ

+ Liên Xô đã chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao khoa học - kĩ thuật thế giới ở các lĩnh vực vật lí, hóa học, điện tử, điều khiển học, khoa học vũ trụ,

Trang 16

2 Sự khủng hoảng của chế độ XHCN ở Liên Xô và Công cuộc cải tổ ( 1985 - 1991 ):

a Sự khủng hoảng của chế độ XHCN ở Liên Xô:

- Năm 1973, cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng bùng

nổ, báo hiệu bước khởi đầu của cuộc khủng hoảng chung đối với thế giới trên nhiều mặt kinh tế, chính trị và tài chính Vì vậy, nó đã đặt ra vấn đề phải cải cách kinh tế, chính trị và tài chính, xã hội để thích nghi với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học - kĩ thuật và sự giao lưu hợp tác quốc tế ngày càng mạnh mẽ

- Trước tình hình ấy, Đảng và Nhà nước Liên Xô lại cho rằng quan hệ xã hội chủ nghĩa không chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng chung, hơn nữa nguồn tài nguyên của Liên Xô vẫn dồi dào nên đã chậm đề ra đường lối cải cách

- Thực tế, mô hình CNXH ở Liên Xô và những cơ chế của nó vẫn chưa đựng những sai lầm, thiếu sót được tích tụ từ lâu

Nó cản trở sự phát triển đất nước, xã hội lâm vào tình trạng thiếu dân chủ và công bằng, kỉ cương và pháp chế bị vi

phạm nghiem trọng, tệ nạn xã hội gia tăng, sản xuất tăng trưởng chậm, nặng suất lao động thấp,

Nền kinh tế Liên Xô ngày càng mất cân đối nghiêm trọng, nợ nước ngoài nhiều và làm phát tăng Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn, thiếu thốn

b Công cuộc cải tổ ( 1985 - 1991 ):

- Tháng 3 - 1985, M.Goóc-ba-chốp lên nắm quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô, đã đưa ra đường lối tiến hành cải

tổ

- Mục đích của công cuộc cải tổ là nhằm đổi mới mọi mặt đời sống của xã hội Xô viết, sửa chữa những thiếu sót, sai lầm trước đây, đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ và xây dựng

Trang 17

chủ nghĩa xã hội đúng như bản chất của nó

- Nội dung:

+ Về kinh tế: đẩy nhanh việc ứng dụng thành tựu mới về khoa học - kĩ thuật, đưa nền kinh tế phát triển theo chiều sâu, đạt mức cao nhất thế giới về nặng suất lao động xã hội, chất lượng sản phẩm và hiệu quả, xây dựng nền kinh tế thị trường có điều tiết, bảo đảm cơ cấu tối ưu về tính cân đối của nền kinh tế quốc dân thống nhất

+ Về chính trị - xã hội: mở rộng chế độ tự quản xã hội chủ nghĩa của nhân dân, củng cố kỉ luật và trật tự, mở rộng tính công khai phê bình và tự phê bình, bảo đảm mức độ mới về phúc lợi nhân dân, thực hiện triệt để nguyên tắc phân phối theo lao động

- Kết quả:

+ Trong sáu năm thực hiện, do những tác động tiêu cực của sai lầm trước kia, do chưa được chuẩn bị đầy đủ và nhất là lại mắc phải những sai lầm mới trầm trọng hơn nên công cuộc cải tổ ngày càng trục trặc, bế tắc và càng rời xa những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội

+ Thánh 12 - 1990, công cuộc cải tổ về kinh tế thực sự thất bại Sự cải tổ chính trị đã thiết lập quyền lực của tổng thống

và chuyển sang chế độ đa đảng, thu hẹp và sau đó thủ tiêu chính quyền Xô viết, vì vậy đã thủ tiêu vai trào lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên Xô

+ Xã hội lầm vào rối loạn với những xung đột gay gắt giữa các dân tộc và các phe phái trên toàn liên bang

3 Nguyên nhân sụp đổ của XHCN ở Liên Xô và Đông Âu:

- Trong một thời kì dài, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 18

đem lại nhiều thành tựu to lớn nhưng càng ngày càng bộc lộ nhiều sai lầm thiếu xót dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu Có nhiều lí do dẫn đến sự sụp đổ của XHCN ở Liên Xô và Đông Âu:

+ Thiếu tôn trọng đầy đủ các quy luật phát triển khách quan

về kinh tế - xã hội, chủ quan duy ý chí, thực hiện cơ chế tập trung quan liêu bao cấp thay cho cơ chế thị trường

Điều đó làm cho nền kinh tế đất nước thiếu tính năng động, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân không được cải thiện Về mặt xã hội thì thiếu dân chủ và công bằng, vi phạm pháp chế XHCN Tình trạng đó kéo dài đã khơi sâu lòng bất mãn trong quần chúng

+ Không bắt kịp sự phát triển của cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại, đưa tới khủng hoảng về kinh tế - chính trị Chậm sửa chữa, thay đổi trước những biến động lớn của tình hình thế giới, và khi đã sửa chữa, thay đổi thì lại rời bỏ

những nguyên lí đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê Nin

+ Khi tiến hành cải tổ lại phạm sai lầm trên nhiều mặt, làm cho khủng hoảng càng thêm nặng nề Những sai lầm và sự tha hóa về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng của một số người lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong một số nước

xã hội chủ nghĩa

+ Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước ( cuộc tấn công hòa bình mà họ thường gọi là cuộc cách mạng nhung ) có tác động không nhỏ làm cho tình hình càng thêm rối loạn

- Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong những năm 1989 - 1991 đã gây nên những hậu quả hết sức nặng nề Đó là một tổn thất lớn

trong phong trào cộng sản - công nhân quốc tế Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn tồn tại Trật tự thế giới hai cực đã kết thúc Nhưng đây chỉ là sự sụp đổ tạm thời của

Trang 19

một mô hình chủ nghĩa xã hội chưa khoa học, chưa nhân văn và một bước lùi tạm thời của chủ nghĩa xã hội - như V.I Lênin đã nói: Nếu người ta nhận xét thực chất của vấn đề, thì có bao giờ người ta thấy rằng trong lịch sử có một

phương thức sản xuất mới nào lại đứng vững ngay được, mà lại không liên tiếp trải qua nhiều thất bại, nhiều sai lầm và tái phạm không ?

4 Những nét chính về Liên Bang Nga ( 1991 - 2000 ):

Sau khi Liên Xô tan rã, Liên Bang Nga là quốc gia kế tục Liên

Xô nghĩa là được kế thừa địa vị pháp lí của Liên Xô tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cũng như tại các cơ quan ngoại giao của Liên Xô ở nước ngoài

* Kinh tế:

Từ 1992, Chính phủ Nga đề ra cương lĩnh tư nhân hóa nền kinh tế nước Nga, cố gắng đưa đất nước đi vào kinh tế thị trường Nhưng việc tư nhân hóa ồ ạt càng làm cho kinh tế rồi loạn hơn:

- Sản xuất công nghiệp năm 1992 giảm xuống còn 20 %

- Mức lương trung bình của công nhân viên chức thấp hơn người Mĩ 25 lần

- Một tầng lớp tư sản mới khá đông đảo hình thành trong xã họi Nga

- Từ năm 1990 đến 1995 tốc đọ tăng trưởng GDP luôn luôn

là số âm: năm 1990 là - 3,6 %, năm 1995 là - 4,1 %

- Năm 1997, nền kinh tế dần dần được hồi phục, tốc độ tăng trưởng đã tăng lên 0,5 % và năm 2000 là 9 %

* Chính trị:

Trang 20

- Sau một thời gian đấu tranh gay gắt giữa các đảng phái, tháng 12 - 1993 bản Hiến pháp của Liên bang Nga được ban hành:

+ Tổng thống do dân trực tiếp bầu là người đứng đầu nhà nước, là người điều hành chung mọi hoạt động của tất cả các

cơ quan chính quyền

+ Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ, thực thi chức

năng của cơ quan hành pháp

+ Hệ thống lập phát gồm hai viện là Hội đồng Liên bang

( Thượng viện ) và Đuma Quốc gia ( Hạ viện )

+ Hệ thống tư pháp gồm Tòa án Hiến pháp và Tòa án tối cao

- Thời Tổng thống En-xin ( 1992 - 1999 ):

+ Về đối nội:

Đối mặt với hai thách thức lớn:

• Tình trạng không ổn định về chính trị do sự tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn tài chính - chính trị và do đòi hỏi dân chủ hóa của nhân dân

• Những cuộc xung đột sắc tộc, nổi bật là phong trào li khai của vùng Tréc-xni-a Những lực lượng li khai đã tiến hành nhiều vụ khủng bố nghiêm trọng, gây nên nhiều tổn thất nặng nề

+ Về đối ngoại:

Trong những năm 1992 - 1993, Nga theo đuổi chính sách định hướng Đại Tây Dương, ngả về các cường quốc phương Tây với hi vọng giành được sự ủng hộ về chính trị và sự viện trợ kinh tế Nhưng sau hai năm, nước Nga chỉ nhận được

Trang 21

những khoản tín dụng và viện trợ tài chính rất ít ỏi Từ năm

1994, nước Nga chuyển sang chính sách định hướng Âu - á, trong khi vẫn tranh thủ phương Tây phải khôi phục và phát triển quan hệ với các nước trong khu vực Châu Á ( các nước SNG, Trung Quốc, ấn Độ, các nước ASEAN, )

- Thời Tổng thống Pu-tin ( 2000 - ):

+ Từ đầu năm 2000, chính phủ của Tổng thống Pu-tin cố gắng phát triển kinh tế, củng cố nhà nước pháp quyền, ổn đinh tình hình xã hội và nâng cao vị thế quốc tế của nước Nga

+ Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu về mọi mặt nhưng nước Nga vẫn phải đương đầu với xu hướng li khai và nạn khủng bố ngày càng nghiêm trọng, phải tiếp tục duy trì và nâng cao địa vị của nước Nga - một cường quốc Âu - Á

(Sưu tầm)

Trung Quốc

1 Sự thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa:

- Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân phiệt Nhật, ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến giữa

Đảng Quốc dân và Đảng Cộng sản Cuộc nội chiến kéo dài hơn 3 năm ( 1946 - 1949 )

+ Ngày 20 - 7 - 1946, Tưởng Giới Thạch đã huy động toàn

bộ lực lượng quân đội chính quy ( 113 lữ đoàn, khoảng 160 vạn quân ) tấn công toàn diện vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Chính thức phát động cuộc nội chiến chống Đảng Cộng sản

+ Do tương quan lực lượng nên từ tháng 7 - 1946 đến tháng

6 - 1947, quân giải phóng Trung Quốc thực hiện chiến lược phòng ngự tích cực, không giữa đất đai mà chủ yếu nhằm

Trang 22

tiêu diệt sinh lực địch và xây dựng lực lượng mình.

+ Từ tháng 6 - 1947, quân giải phóng chuyển sang phản công, tiến quân vào giải phóng các vùng do Đảng Quốc dân kiểm soát

+ Bằng ba chiến dịch lớn ( Liêu - Thẩm, Hoài - Hải, Bình - Tân ) từ 9 -1948 đến 1 - 1949, quân giải phóng đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.540.000 tên địch ( gần 144 sư đoàn quân chính quy, 29 sư đoàn quân địa phương ) làm cho lực lượng chủ lực của địch bị tổn thất nghiêm trọng

- Tháng 4 - 1949, quân giải phóng vượt sông Trường Giang; ngày 23 - 4 - 1949, Nam Kinh được giải phóng Cuộc nội chiến kết thúc, toàn bộ lục địa Trung Quốc được giải phóng Tập đoàn Tưởng Giới Thạch thất bại, phải tháo chạy sang Đài Loan

Ngày 1 - 10 - 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức thành lập, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông

- Ý nghĩa:

+ Thắng lợi này đã chấm dứt hơn 100 năm nô dịch của đế quốc, xóa bỏ tàn dư phong kiến, đưa nước Trung Hoa bước vào kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội

+ Sự kiện này đã tạo điều kiện nối liền chủ nghĩa xã hội từ

Âu sang Á và ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào giải phóng dân tộc thế giới

2 Mười năm đầu xây dựng chế độ mới ( 1949 - 1959 ):

Sau khi hoàn thành các mạng dân tộc dân chủ, nhiệm vụ trọng tâm của nhân dân Trung Quốc là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa

và giáo dục

Trang 23

- Kinh tế:

+ Từ năm 1950, nhân dân Trung Quốc bước vào giai đoạn khôi phục kinh tế, tiến hành những cải cách quan trọng: cải cách ruộng đất và hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo công - thương nghiệp tư bản tư doanh, tiến hành công nghiệp hóa

xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hóa, giáo dục,

+ Đến cuối năm 1952, công cuộc khôi phục kinh tế đã kết thúc thắng lợi

+ Từ năm 1953, Trung Quốc thực hiện kế hoạch 5 năm đầu tiên ( 1953 - 1957 ) Nhờ nỗ lực lao động của toàn dân và sự giúp đỡ của Liên Xô, kế hoạch 5 năm đã thu được những thành tựu to lớn Bộ mặt Trung Quốc có nhiều thay đổi rõ rệt:

• Trong những năm 1953 - 1957, 246 công trình đã được xây dựng và đưa vào sản xuất; đến năm 1957, sản lượng công nghiệp tăng 140 %, sản lượng nông nghiệp tăng 25 % ( so với năm 1952 )

• Các nghành công nghiệp nặng như chế tạo cơ khí, luyện kim, điện lực, khai thác than, phát triển nhanh Trung

Quốc đã tự sản xuất được 60 % máy móc cần thiết

• Trong mười năm đầu xây dựng chế độ mới, tổng sản lượng công - nông nghiệp tăng 11,8 lần; riêng công nghiệp tăng 10,7 lần

• Nền văn hóa - giáo dục cũng đạt được những bước tiến vượt bậc Đời sống nhân dân được cải thiện

- Về đối ngoại:

+ Trong những năm 1949 - 1959, Trung Quốc thi hành

chính sách ngoại giao tích cực nhằm củng cố hòa bình và thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới

Trang 24

Địa vị quốc tế của Trung Quốc ngày càng được nâng cao.

+ Ngày 14 - 2 - 1950, Trung Quốc kí với Liên Xô Hiệp ước hữu nghị, đồng minh và tương trợ Trung - Xô và nhiều hiệp ước kinh tế, tài chính khác; phái quân chí nguyện sang giúp nhân dân Triều Tiên chống Mĩ ( 1950 - 1953 ); tham gia Hội nghị các nước Á - Phi tại Băng-đung ( 1955 ); giúp đỡ nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp, ủng hộ các nước Á, Phi

và Mĩ La-tinh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Trong thập niên đầu sau khi cách mạng thắng lợi, địa vị của Trung Quốc đã được nâng cao trên trường quốc tế

+ Ngày 18 - 1 - 1950, Trung Quốc thiết lập quan hệ với Việt Nam

3 Công cuộc cải cách mở cửa ( 1978 - 2000 ):

tâm

- Kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản:

+ Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa

+ Kiên trì chuyên chính dân chủ nhân dân

+ Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sán Trung Quốc

+ Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Mao Trạch Đông

- Tiến hành cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế

Trang 25

hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn nhằm hiện đại hóa và xây dựng chủ

nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc với mục tiêu biến Trung Quốc thành quốc gia giàu mạnh, dân chủ và văn

minh

* Thành tựu:

- Sau 20 năm ( 1979 - 1998 ), nền kinh tế Trung Quốc có bước tiến nhanh chóng, đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới:

+ Tổng sản phẩm trong nước ( GDP ) tăng trung bình hàng năm trên 8 %, đạt giá trị 7.974 tỉ nhân dân tệ, đứng thứ 7 thế giới

+ Năm 2000, GDP của Trung Quốc vượt ngưỡng nghìn tỉ

đôla Mĩ ( USD ), tức là đạt 1.072 tỉ USD ( tương đương 8.900

- Khoa học - kĩ thuật, văn hóa và giáo dục đạt được nhiều thành tựu quan trọng:

Trang 26

+ Năm 1964, Trung Quốc thử thành công bom nguyên tử.

+ Từ năm 1922, chương trình thám hiểm không gian được thực hiện Từ tháng 11 - 1999 đến tháng 3 - 2003, Trung Quốc đã phóng với chế độ tự động 4 con tàu Thần Châu và ngày 15 - 10 - 2003, tàu Thần Châu 5 cùng nhà du hành Dương Vĩ Lợi đã bay vào không gian vũ trụ Với sự kiện này, Trung Quốc trở thành quốc gia thứ ba trên thế giới ( sau Nga

và Mĩ ) có tàu cùng với người bay vào vũ trụ

- Đối ngoại:

+ Từ những năm 80 của thế kỉ XX, Trung Quốc đã bình

thường hóa quan hệ với Liên Xô, Việt Nam, Mông Cổ, Lào, In-đô-nê-xi-a; khôi phục quan hệ ngoại giao với In-đô-nê-xi-a; thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước, mở rộng

quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nươc trên thế giới, có

nhiều đóng góp trong công việc giải quyết các tranh chấp quốc tế

+ Trung Quốc đã thu hồi chủ quyền với Hồng Công ( 7 -

1997 ) và Ma Cao ( 12 - 1999 ) Những vùng đất này trở thành khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

(Sưu tầm)

Các nước Đông Nam Á

1 Những biến đổi của Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai:

- Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước

trong khu vực ( trừ Thái Lan) đều là nước thuộc địa của đế quốc Âu - Mĩ Khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ,

Nhật Bản xâm chiếm cả vùng Đông Nam Á và thiết lập trật

tự phát xít Từ cuộc chiến tranh chống thực dân Âu - Mĩ,

nhân dân Đông Nam á chuyển sang đấu tranh chống quân

Trang 27

phiệt Nhật, giải phóng đất nước Ngày sau khi Nhật đầu

hàng lực lượng Đồng minh, một số quốc gia đã tuyên bố độc lập:

+ Ngày 17 - 8 - 1945, nhân dân In-đô-nê-xi-a tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a

+ Ngày 19 - 8 - 1945, Cách mạng tháng Tám của Việt Nam thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ( 2 - 9

rộng lớn của đất nước

Nhưng ngay sau đó, các nước thực dân Âu - Mĩ ( Pháp, Hà Lan, Anh, ) quay trở lại xâm lược Đông Nam Á Nhân dân Đông Nam Á lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống xâm

lược Trải qua cuộc kháng chiến kiên cường và gian khổ, vào giữa những năm 50, nhân dân In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia đã lần lượt đánh đuổi bọn thực dân ra khỏi đất nước Cũng vào thời gian đó, các nước đế quốc Âu - Mĩ công nhận độc lập của Phi-líp-pin, Miến Điện, Mã Lai, Xin-ga-po:

+ Tháng 10 - 1944, Mĩ trở lại Phi-líp-pin tuyên bố trao trả độc lập cho nước này ( 4 - 7 - 1946 ) Tuy vậy, Mĩ vẫn xây dựng nhiều căn cứ quân sự ở Phi-líp-pin Đến năm 1992, Mĩ mới rút khỏi các căn cứ quân sự cuối cùng ở nước này là Clác

và Su-bíc

+ Phong trào chống thực dân Anh diễn ra mạnh mẽ ở Miến Điện Tháng 10 - 1947, Anh buộc phải kí Hiệp ước Anh -

Miến công nhận Miến Điện là nước độc lập và tự chủ Tháng

1 - 1948, Liên bang Miến Điện tuyên bố độc lập Từ tháng 6

Trang 28

- 1989 đổi lại là Liên bang Mi-an-ma.

+ Tháng 9 - 1945, thực dân Anh tái chiếm Mã Lai Trước sức

ép của phong trào đấu tranh quần chúng, chính phủ Anh phải đồng ý để cho Mã Lai độc lập Ngày 31 - 8 - 1957, Mã Lai tuyên bố độc lập Năm 1963, Liên bang Ma-lai-xi-a ra đời bao gồm miền Đông ( Xa-ba, Xa-ra-oắc ) và miền Tây ( Mã Lai, Xin-ga-po )

+ Xin-ga-po được Anh trao trả quyền tự trị ( 1959 ), sau đó tham gia Liên bang Ma-lai-xi-a, nhưng đến năm 1965 lại tách ra thành nước cộng hòa độc lập

- Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi ( 1954 ):

+ Nhân dân Việt Nam và Lào, tiếp đó là Cam-pu-chia phải trải qua một cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ, đến năm 1975 mới giành được thắng lợi hoàn toàn

+ Bru-nây, tới tháng 1 - 1984 tuyên bố là quốc gia độc lập nằm trong khối Liên hiệp Anh

+ Sau cuộc trưng cầu dân ý tháng 8 - 1999 tác khỏi nê-xi-a, ngày 20 - 5 - 2002, Đông Ti-mo trở thành một quốc gia độc lập

In-đô Trong bối cảnh của cuộc chiến tranh lạnh, đồng thời

để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội và hạn chế thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, tháng 9 - 1954,

Mĩ cùng Anh, Pháp và một số nước đã thành lập khối quân

sự mang tên Tổ chức hiệp ước Đông Nam á ( viết tắt theo tiếng Anh là SEATO ) Nhưng sau thắng lợi của cách mạng

ba nước Đông Dương vào giữa năm 1975, khối SEATO phải giải thể ( 6 - 1976 )

2 In-đô-nê-xi-a:

Trang 29

- Giai đoạn đấu tranh giành độc lập:

+ Ngày 17 - 8 - 1945, sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng trước khí thế cách mạng của quần chúng, bác sĩ Xu-các-nô

đã soạn thảo và kí vào bản Tuyên ngôn Độc lập, sau đó bác

sĩ Xu-các-nô đọc bản Tuyên ngôn trước cuộc mít tinh của đông đảo quần chúng ở thủ đô Gia-các-ta, tuyên bố thành lập nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a

Hưởng ứng Tuyên ngôn Độc lập, trong cả nước, trước hết là nhân dân ở các thành phố Gia-các-ta, Xu-ra-bay-a, đã nổi dậy chiếm đóng các công sở, đài phát thanh và giành chính quyền từ tay Nhật Ngày 18 - 8 - 1945, lãnh tụ các chính đảng và các đoàn thể mở hội nghị của ủy ban trù bị độc lập In-đô-nê-xi-a, thông qua bản Hiến pháp, bầu Xu-các-nô là Tổng thống nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a

+ Tháng 11 - 1945, với sự giúp đỡ của quân Anh, Hà Lan quay trở lại xâm lược In-đô-nê-xi-a Cuộc kháng chiến chống thực dân Hà Lan, bảo về độc lập của nhân dân In-đô-nê-xi-a bùng nổ

+ Tháng 5 - 1949, Hà Lan và In-đô-nê-xi-a kí hiệp định đình chiến tại Gia-các-ta

+ Tháng 11 - 1949, hai bên kí Hiệp ước La Hay, theo đó đô-nê-xi-a nằm trong khối Liên hiệp Hà Lan - In-đô-nê-xi-a

In-và phụ thuộc nhiều mặt In-vào Hà Lan

+ Ngày 15 - 8 - 1950, do cuộc đấu tranh của nhân dân đòi độc lập thật sự và thống nhất thì nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a thành lập

- Giai đoạn 1953 đến 1965:

+ Từ năm 1953, chính phủ của Đảng Quốc dân do Xu-các-nô đứng đầu đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm củng cố nền độc lập của đất nước:

Trang 30

• Năm 1953, phế bỏ phái đoàn cố vấn quân sự của Hà Lan ở In-đô-nê-xi-a.

• Năm 1956, hủy bỏ Hiệp ước La Hay

• Năm 1963, thu hồi miền Tây I-ri-an, thực hiện rộng rãi các quyền tự do, dân chủ,

+ Ngày 30 - 9 - 1965, đơn vị quân đội bảo vệ Phủ Tổng

thống tiến hành cuộc đảo chính quân sự lật đổ Xu-các-nô nhưng thất bại

- Giai đoạn 1967 - 1997:

+ Chính phủ mới được thành lập, đến năm 1967 tướng hác-tô lên làm Tổng thống Tình hình chính trị dần dần ổn định, In-đô-nê-xi-a bước vào giai đoạn phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục

Xu-+ Năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông Nam á làm cho In-đô-nê-xi-a rơi vào tình trạng rối loạn: Xu-hác-tô rời khỏi chức vụ Tổng thống, mâu thuẫn sắc tộc gay gắt, kinh tế suy sụp,

- Giai đoạn 2001 - 2004:

Đây là thời cầm quyền của bà Mê-ga-wa-ti, đất nước dần dần được phục hồi nhưng những vụ khủng bố ở Ba-li, Gia-các-ta, nạn động đất, sóng thần nên In-đô-nê-xi-a vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức

3 Lào ( 1945 - 1975 ):

- Tuyên bố độc lập:

+ Giữa tháng 8 - 1945, Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện Nắm thời cơ thuận lợi, ngày 23 - 8 - 1945, nhân dân Lào nổi

Trang 31

dậy và thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều nơi.

+ Ngày 12 - 10 - 1945, nhân dân thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giành chính quyền, chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọng tuyên bố trước thế giới nền độc lập của nước Lào

- Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1946 -

1954 ):

+ Tháng 3 - 1946, thực dân Pháp trở lại tái chiếm Lào Nhân dân Lào một lần nữa phải cầm súng kháng chiến bảo vệ nền độc lập của mình

+ Từ năm 1947, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Lào ngày càng phát triển, lực lượng cách mạng ngày càng trưởng thành:

• Các chiến khu lần lượt được thành lập ở Tây Lào, Thượng Lào và Đông Bắc Lào

• Ngày 20 - 1 - 1949, quân giải phóng nhân dân Lào vông được thành lập do Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn chỉ huy

+ Tháng 7 - 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được

kí kết Hiệp định đã thừa nhận độc lập, chủ quyền và toàn

Trang 32

vẹn lãnh thổ của Lào, công nhân địa vị hợp pháp của lực lượng kháng chiến Lào.

- Giai đoạn kháng chiến chống Mĩ ( 1954 - 1975 ):

+ Ngay sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương vừa kí kết, Mĩ đã lập tức hất cẳng Pháp, âm mưu biến Lào thành nước thuộc địa kiểu mới Từ đây, nhân dân Lào lại phải cầm súng chống kẻ thù mới là đế quốc Mĩ

+ Thông qua viện trợ kinh tế và quân sự, đế quốc Mĩ đã

dựng lên chính quyền, quân đội tay sai và nắm quyền chi phối mọi mặt ở Lào Giữa năm 1955, Mĩ điều khiển quân đội tay sai Viêng Chăn tấn công vào hai tỉnh tập kết của lực

lượng các mạng Lào ở Sầm Nưa và Phôngxali; tiến hành càn quét, đàn áp lực lượng kháng chiến cũ ở khắp các tỉnh trong nước, mở cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Lào

+ Ngày 22 - 3 - 1955, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào thì cuộc đấu tranh của nhân dân Lào diễn ra trên cả ba mặt trận: quân sự - chính trị - ngoại giao, đã

đánh bại các cuộc tấn công quân sự của Mĩ và tay sai, giải phóng thêm nhiều vùng rộng lớn ở Thượng Lào, Trung Lào

và Hạ Lào Đến đầu những năm 60 đã giải phóng 2/3 lãnh thổ, hơn 1/3 dân số cả nước

+ Từ giữa năm 1964, Mĩ bắt đầu sử dụng không quân ném bom tàn phá dã man các vùng giải phóng, phái hàng ngàn

cố vấn quân sự Mĩ sang trực tiếp điều khiển cuộc chiến tranh

và đưa nhiều đơn vị lính thuê Thái Lan sang tham chiến ở Lào Cũng từ đó, cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Lào chính thức chuyển sang hình thái Chiến tranh đặc biệt và từ năm 1969 được nâng thành Chiến tranh đặc biệt tăng

cường, sau khi Ních-xơn trúng cử lên làm Tổng thống Mĩ Mĩ

đã ném 3 triệu tấn bom xuống Lào ( tính trung bình mỗi người dân Lào phải chịu đựng 1 tấn bom ), và liên tiếp mở những cuộc hành quân lớn nhằm đánh chiếm vùng giải

phóng, tiêu diệt lực lượng cách mạng Tuy nhiên, nhân dân

Trang 33

Lào đã từng bước đánh bại các kế hoạch chiến tranh của Mĩ

và lực lượng phái hữu

+ Tháng 2 - 1973, Hiệp định Viêng Chăn về lập lại hòa bình

và thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào được kí kết giữa mặt trận Lào yêu nước và phái hữu Viêng Chăn Chính phủ Liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng Quốc gia chính trị liên hiệp được thành lập

+ Mùa xuân năm 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân Việt Nam thắng lợi đã cổ vũ và tạo điều kiện cho cách mạng Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn Từ tháng

5 đến tháng 12 - 1975, quân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng đã nổi dậy giành chính quyền trong cả nước

+ Ngày 2 - 12 - 1975, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào chính thức thành lập Từ đó, nước Lào bước sang thời kì mới - xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội

4 Cam-pu-chia ( 1945 - 1993):

- Giai đoạn kháng chiến chống Pháp ( 1945 - 1954 ):

+ Tháng 10 - 1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược và thống trị Cam-pu-chia Triều đình phong kiến nhanh chóng quy thuận Pháp, và ngày 7 - 4 - 1946, kí với Pháp hiệp ước chấp nhận sự thống trị trở lại của Pháp ở Cam-pu-chia

+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, từ năm

1951 là Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia, nhân dân Cam-pu-chia đã anh dũng đứng dậy tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Trong những năm đầu, phong trào kháng chiến còn mang tính tự phát, cục bộ trong từng địa phương, chưa có một trung tâm lãnh đạo thống nhất Cục diện kháng chiến ngày càng được mở rộng, đòi hỏi bức thiết phải thống nhất tất cả lực lượng cách mạng trong cả nước

Trang 34

+ Từ ngày 17 đến ngày 19 - 4 - 1950, những người kháng chiến Cam-pu-chia đã tiến hành đại hội quốc dân, thành lập

ủy ban Mặt trận dân tộc thống nhất ( Mặt trận Khơ - me ) và chính phủ kháng chiến do Sơn Ngọc Minh đứng đầu

+ Ngày 19 - 6 - 1951, trên cơ sở thống nhất các lực lượng

vũ trang trong cả nước, quân đội cách mạng chính thức

thành lập lấy tên là Quân đội It-xa-rắc

+ Tháng 7 - 1951, Hội nghị đại biểu các đảng viên cộng sản toàn Cam-pu-chia đã chính thức thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia theo quyết định của Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương ( tháng 2 - 1951 )

+ Bước vào những năm 1953 - 1954, phong trào kháng

chiến của nhân dân Cam-pu-chia phát triển mạnh mẽ ở khắp mọi nơi và thu được những thắng lợi to lớn: vùng giải phóng được mở rộng, chiếm khoảng 1/4 lãnh thổ Cam-pu-chia với

số dân ước chừng 2 triệu người

+ Cuối năm 1952, tình thế quân sự, chính trị và tài chính của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương đã trở nên hết sức nguy kịch Trong bối cảnh đó,

ngày 9 - 11 - 1953, Xi-ha-núc tiến hành cuộc vận động

ngoại giao ( thường được gọi là cuộc thập tự chinh của Quốc vương vì nền độc lập của Cam-pu-chia ) gây sức ép buộc chính phủ Pháp phải kí hiệp ước trao trả độc lập cho Cam-pu-chia Tuy vậy, quân đội Pháp vẫn chiếm đóng Cam-pu-chia và Pháp vẫn nắm mọi quyền hành ở Cam-pu-chia

+ Sau thất bại ở Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp phải kí hiệp ước Giơ-ne-vơ về Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Cam-pu-chia, Lào và Việt Nam Hiệp định cũng quy định tất cả các đơn vị quân đội Pháp rút ra khỏi lãnh thổ Cam-pu-chia, vĩnh viễn chấm dứt chế độ thống trị thực dân của Pháp ở Cam-pu-chia

Trang 35

- Giai đoạn hòa bình trung lập ( 1954 - 1970 ):

+ Từ năm 1954 đến đầu năm 1970, chính phủ Xi-ha-núc thực hiện đường lối hòa bình trung lập, không tham gia bất

cứ khối liên minh quân sự hoặc chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía miễn là không có điều kiện rằng buộc Nhờ vào đường lối này, Cam-pu-chia đã trải qua một thời kì phát triển hòa bình và có điều kiện đẩy mạnh công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục của đất nước

+ Sau cuộc đảo chính lật đổ Xi-ha-núc ngày 18 - 3 - 1970 của thế lực tay sai Mĩ nhằm phá hoại nền hòa bình, trung lập

và đưa Cam-pu-chia vào quỹ đạo của cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới của Mĩ trên bán đảo Đông Dương

- Giai đoạn kháng chiến chống Mĩ ( 1970 - 1975 ):

Ngay sau cuộc đảo chính, với sự giúp đỡ của bộ đội tình

nguyện Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược của nhân dân Cam-pu-chia vẫn có những bước phát triển nhanh chóng, lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh và vùng giải phóng được mở rộng ở khắp mọi miền đất nước

+ Từ tháng 9 - 1973, lực lượng vũ trang Cam-pu-chia đã chuyển sang tấn công, bao vây thủ đô Phnôm Pênh và các thành phố khác

+ Mùa xuân năm 1975, quân dân Cam-pu-chia mở cuộc tấn công vào sào huyệt cuối cùng của địch

+ Ngày 17 - 4 - 1975, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân Cam-pu-chia kết thúc thắng lợi

- Giai đoạn thống trị của tập đoàn Khơ-me đỏ và cuộc

đấu tranh của nhân dân Cam-pu-chia lật đổ chúng ( 1- 1979 đến 7 - 1 - 1979 ):

Trang 36

+ Liền ngay sau khi Phnôm Pênh được giải phóng, tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêng Xari đứng đầu là Pôn Pốt đã quay lại phản bội cách mạng, chúng thi hành chính sách diệt

chủng, tàn sát hàng triệu người dân vô tội:

• Chúng xua đuổi nhân dân ra khỏi các thành phố, buộc về lao động và sinh sống trong những trang trại tập trung ở nông thôn

• Chúng tán phá chùa chiền, trường học, cấm chợ búa và tàn sát dã man hàng triệu người dân Cam-pu-chia vô tội

• Về đối ngoại: chúng gây ra cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam, kích động sự thù hằn dân tộc chống Việt Nam

+ Trước thảm họa diệt chủng, nhân dân Cam-pu-chia sôi sục căm thù, nổi dậy đấu tranh chống lại chế độ Khơ-me đỏ Ngày 3 - 12 - 1978, Mặt trận dân tộc cứu nước Cam-pu-chia thành lập Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận, được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, quân và dân Cam-pu-chia nổi dậy ở nhiều nơi

+ Ngày 7 - 1 - 1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng khỏi chế độ Khơ-me đỏ diệt chủng, Cam-pu-chia bước vào thời kì hồi sinh, xây dựng lại đất nước

- Giai đoạn diễn ra cuộc nội chiến ở Cam-pu-chia

( 1979 - 1992 ):

Từ năm 1979 ở Cam-pu-chia đã diễn ra cuộc nội chiến giữa lực lượng của Đảng Nhân dân cách mạng với phe phải đối lập, chủ yếu là lực lượng Khơ-me đỏ Cuộc nội chiến kéo dài hơn một thập kỉ, gây nhiều tổn thất cho đất nước

- Giai đoạn xây dựng đất nước ( 1993 - 2000 ):

Trang 37

+ Với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, các bên chia đi đến thỏa thuận hòa giải và hòa hợp dân tộc.

Cam-pu-+ Ngày 23 - 10 - 1991, Hiệp định hòa bình về Cam-pu-chia được kí kết tại Pa-ri

+ Sau cuộc tổng tuyển cử tháng 9 - 1993, Quốc hội mới đã thông qua Hiến pháp, tuyên bố thành lập Vương quốc Cam-pu-chia do N.Xi-ha-núc làm Quốc Vương Từ đó, Cam-pu-chia bước sang một thời kì mới

+ Tháng 10 - 2004, vua Xi-ha-núc tuyên bố thoái vị Hoàng

tử Xi-ha-mô-ni lên kế ngôi, trở thành quốc vương của pu-chia

Cam-5 ASEAN:

* Hoàn cảnh ra đời:

Nửa sau thập niên 60 của thế kỉ XX, tình hình Đông Nam Á

và thế giới có nhiều biến chuyển tác động mạnh mẽ tới các nước trong khu vực Sau hơn 20 năm đấu tranh và bảo về độc lập cũng như xây dựng kinh tế, nhiều nước trong khu vực bước vào thời kì ổn định, dốc sức phát triển kinh tế Vì vậy:

- Các nước trong khu vực thấy cần có sự hợp tác để xây dựng đất nước, cùng hợp tác phát triển kinh tế,

- Đồng thời, các nước muốn hạn chế ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài đối với khu vực, nhất là khi thấy cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Đông Dương vấp phải những khó khăn và sự thất bại là khó tránh khỏi

- Xu thế xuất hiện các tổ chức khu vực trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là thành tựu của Khối thị trường chung Châu Âu ( EEC ) đã cổ vũ rất lớn đối với các nước Đông Nam Á

Trang 38

Ngày 8 - 8 - 1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á ( viết tắt theo tiếng Anh là ASEAN ) được thành lập tại Băng Cốc

( Thái Lan ) với sự tham gia của 5 nước: In-đô-nê-xi-a, lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan và Phi-líp-pin

Ma-* Mục tiêu:

Xây dựng những mối quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các nước trong khu vực, tạo nên một cộng đồng Đông Nam Á hùng mạnh trên cơ sở tự cường khu vực và thiết lập một khu vực hòa bình, tự do, trung lập ở Đông Nam Á Như thế, ASEAN là một tổ chức liên minh chính trị - kinh tế của khu vực Đông Nam Á

* Cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập ASEAN:

Với chính sách đối ngoại mong muốn là bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã gia nhập ASEAN năm 1995 Đây là sự kiện đánh dấu bước phát triển quan trọng trong mối quan hệ giữa Việt Nam với tổ chức đó với nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức đặt ra:

- Cơ hội:

Tham gia ASEAN, Việt Nam có điều kiện rút ngắn khoảng cách về cơ sở vật chất kĩ thuật so với các nước trong khu vực và tên thế giới Đặc biệt, đây là cơ hội của Việt Nam có thể hội nhập hơn nữa với khu vực và thông qua khu vực để tạo dựng những mối quan hệ với thế giới, từng bước thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, xã hội

Trang 39

hút đầu tư, chuẩn bị mọi điều kiện để có thể hội hập sâu hơn vào nền kinh tế của khu vực và thế giới Tuy vậy, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới thì Việt Nam vẫn phải cảnh giác trước nguy cơ bị hòa tan, làm mất đi bản sắc của chính mình

+ Trong khoảng nửa sau những năm 40, tổng sản phẩm

quốc dân tăng trung bình là 6 %

+ Sản lượng công nghiệp Mĩ chiếm tới hơn một nửa sản

lượng công nghiệp toàn thế giới ( 56,6 % năm 1948 )

+ Sản xuất nông nghiệp tăng 27 % so với trước chiến tranh Năm 1949, sản lượng nông nghiệp Mĩ bằng 2 lần sản lượng của năm nước Anh, Pháp, CHLB Đức, I-ta-li-a và Nhật Bản cộng lại

+ Mĩ có hơn 50 % tàu bè đi lại trên mặt biển, 3/4 dự trữ

vàng của thế giới ( khoảng 24,6 tỉ USD năm 1949 ) và nền kinh tế Mĩ chiếm tới gần 40 % tổng sản phẩm kinh tế thế giới

- Trong khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mĩ trở thành trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới Sở dĩ kinh tế Mĩ có được sự phát triển và sức mạnh to lớn như vậy là do một số yếu tố sau:

Trang 40

+ Lãnh thổ Mĩ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hậu khá thuận lợi.

+ Mĩ có nguồn nhân lực dồi dào, trình độ kĩ thuật cao, năng động, sáng tạo

+ Mĩ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai muộn hơn, tổn thất ít hơn so với nhiều nước khác Hơn nữa, Mĩ còn lợi dụng chiến tranh để làm giàu, thu lợi nhuận từ buôn bán vũ khí: tính đến ngày 31 - 12 - 1945 các nước Đồng minh châu Âu phải nợ Mĩ về vũ khí tới 41,751 tỉ USD trong đó Anh nợ 24 tỉ; Liên Xô 11,141 tỉ; Pháp 1,6 tỉ,

+ Mĩ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại của thế giới Việc áp dụng thành công những thành tựu của cuộc cách mạng này đã cho phép Mĩ nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và điều chỉnh hợp lí cơ cấu sản xuất

+ Trình độ tập trung tư bản và sản xuất ở Mĩ rất cao Các tổ hợp công nghiệp - quân sự, các công ti và tập đoàn tư bản lũng đoạn ở Mĩ ( như Giê-nê-ran Mô-tô, Pho, Rốc-pheo-

lơ, ) có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và hiệu quả ở cả

trong và ngoài nước

+ Các chính sách và hoạt động và hoạt động điều tiết của Nhà nước cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế Mĩ phát triển

* Thành tựu khoa học - kĩ thuật:

- Mĩ đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại:

+ Trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nhà khoa học nổi tiếng của thế giới đã di cư sang Mĩ vì ở đây có điều kiện hòa bình và những phương tiện đầy đủ nhất để làm

Ngày đăng: 05/07/2014, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w