Có những bản đồ phân tích chỉ quan tâm đến việc thể hiện một mặt cụ thể nào đó của đề tài như: bản đồ phân bố các thành phần dân tộc, bản đồ mật độ dân số vv...,nhưng cũng có những bả
Trang 1NGUYỄN DƯỢC (chủ biên) TRUNG HẢI
Trang 2-THUẬT NGỮ ĐỊA LÍ
A
các loại đá núi lửa và được dùng để chế tạo các bộ phận máy móc, thiết bị chịu ma sát Agat thuộcloại đá quý, loại đẹp có thể dùng để làm các đồ trang sức
ALIT : thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau:
1 Sản phẩm phong hoá hoá học có thành phần chủ yếu là các hydrat của ôxyt nhôm (Al2O3) (theo Haratxôvich 1927)
2 Các đá trầm tích có tương quan trọng lượng các thành phần AL2O3/SiO2 > 1 Nếu có lượng
Fe2O3 bằng hoặc lớn hơn Al2O3 thì gọi là Pheralit (theo Malapkina 1937)
ALIT HOÁ : kiểu phong hoá hoá học của các loại đá và đất ở nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm, trong đó xảy ra quá trình phá huỷ các loại silicat, rửa trôi các chất kiềm, kiềm thổ, silic, tích tụ các ôxyt nhôm, sắt và titan Kết quả của kiểu phong hoá này là sự hình thành một lớp vỏ phong hoá dày và các sản phẩm alit
ALƠRIT : (đá bột) đá trầm tích có cấu trúc gồm những hạt (thạch anh, phenxpat, mica) mịn, kích thước
từ 0,1 đến 0,05mm
ALUMINÔ- SILICAT : khoáng vật tham gia vào cấu trúc của hầu hết các loại đá trong lớp vỏ Trái Đất Thành phần chủ yếu gồm có các ôxyt nhôm (Al2O3) và silic (SiO2)
ALUVI : X Trầm tích sông
màu từ xám đến xanh vàng , thường có trong các loại đá phún xuất và trầm tích Nhờ đặc tính cách điện, cách nhiệt, nen được dùng phổ biến trong công nghiệp chế tạo các vật liệu xây dựng (tấm lợp amiăng), vật liệu cách điện, cách nhiệt, quần áo cứu hoả vv Còn có các tên gọi khác: đá sợi, thạch miên, atbet
AMPHIBÔN : nhóm khoáng vật gồm có các silicat canxi, natri, manhê, sắt, nhôm Có cấu trúc tinh thểdạng kim, dạng sợi màu xanh, nâu, đen hoặc dạng hạt gắn kết Amphibôn là thành phần
của nhiều loại đá măcma và biến chất Khối lượng chiếm khoảng 10% lớp vỏ Trái Đất
ANBÊĐÔ : phần bức xạ của Mặt Trời do mặt đất hoặc các vật thể khác phản xạ lại không trung
Anbêđô được tính bằng tương quan (%) giữa lượng phản xạ của mặt đất hoặc của các vật thể khác
so với toàn bộ lượng bức xạ của Mặt Trời (A (%) = PX / BX ), trong đó PX là lượng phản xạ, còn
BX là lượng bức xạ Ví dụ : ở đất ẩm ướt A= 5 - 10%, ở lớp tuyết phủ A= 70 - 90%
có dung nham núi lửa cổ và hiện đại Dùng làm vật liệu xây dựng, chịu được môi trường axit
Bắc đế quốc La Mã (vào thế kỉ 6) đã xâm nhập đảo Anh (Grit Britên) và trở thành tổ tiên của người Anh hiện nay
ANH ĐIÊNG : (Indien) tên chỉ người dân sinh sống trên lãnh thổ Ân Độ Từ cuối thế kỉ 15, thuật ngữ Anhđiêng còn chỉ người dân bản địa ở châu Mĩ Khi C Côlômbô đặt chân lên các quần đảo Trung
Trang 3Mĩ, chính vì ông tưởng là đất Ân Độ, nên đã gọi người dân bản xứ là Anh điêng Tên đó tồn tại đến ngày nay Người Anh điêng châu Mĩ vốn có da màu vàng xẫm, nhưng người châu Âu lại nhầm tướng là màu đỏ xẫm, nên cũng gọi là người da đỏ
ANPHA : tên một loại cỏ gai ở Bắc Phi dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy và đan, dệt
từng vỉa giữa các lớp đá trầm tích Antraxit là loại than có chất lượng tốt, hàm lượng nước thấp, khi cháy có ngọn lửa ngắn và không khói Nhiệt lượng từ 8.000 đến 8.200 Kcal/kg Nước ta có nhiều Antraxit ở khu mỏ Quảng Ninh
này thì người da màu không thể bình đẳng được với người da trắng ở bất cứ đâu và trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào (chính trị, kinh tế, văn hoá )
APATIT : khoáng vật có màu khác nhau : từ xanh xám đến hồng nhạt ,thường gặp trong các loại đá phún xuất Tuy nhiên, Apatit cũng có trong các loại đá trầm tích như trong mỏ Cam Đường (Lào Cai) ở nước ta Apatit là nguyên liệu chủ yếu để chế tạo phân lân Thành phần chính của khoáng vật là phôtphat canxi Ca5 [(PO4)3(F,Cl,OH)]
phát triển nhanh của cà phê Rôbuxta Giống cà phê này tỏ ra có nhiều triển vọng tốt về mặt kinh tế
Nó được tạo ra trong những năm gần đây do các nhà nông học Capôt và Đubelin
lẽ họ là dân cư gốc ở vùng bờ biển phía đông Địa Trung Hải, gần gũi với tổ tiên những người sống
ở vùng núi Anpơ Ngôn ngữ thuộc nhóm Ân-Âu Sau nay,đôi khi thuật ngữ Arian cũng được dùng một cách không có cơ sở đẻ chỉ các bộ tộc người da trắng nói chung và tổ tiên của những người da trắng ở Bắc Âu nói riêng
Từ Arian có nghĩa là "người cao quý", vì vậy phát xít Đức trước đây đã dựa vào ý nghĩa này để
tự coi là dân tộc thượng đẳng và biện hộ cho hành động tàn sát các dân tộc khác mà họ cho là hạ đẳng
ATLAT : tên chung chỉ các tập bản đồ địa lí, lịch sử, thiên văn vv vì trên bìa của những tập bản đồ xuất bản lần đầu tiên có vẽ tượng thần Atlat vác quả địa cầu trên vai (Trong thần thoại Hi Lạp, Atlat là con của thần Titang Đapê và là anh em ruột với thần Prômêtê, người đã đem ngọn lửa cho loài người Do thần Atlat chống lại Dơt, vị thần chúa tể thế giới, nên đã bị trừng trị phải giơ vai gánh đỡ cả bầu trời) Tất cả các tập bản đồ in sau này, tuy bìa không vẽ tượng thần Atlat nữa, nhưng
Trang 4theo thói quen, người ta vẫn gọi chung là Atlat (kể cả một số tập tranh ảnh của các môn khoa học khác, như sinh học vv ).
lượng riêng bằng: 13,5951 g/cm3,ở nhiệt độ 0o C và tại nơi có gia tốc trọng trường bằng 980,665 cm/s2)
tương đối bằng phẳng, chỉ cao hơn mặt biển khoảng vài mét Chu vi đảo có thể từ 2 đến 90km Đảođược hình thành do sự tích luỹ xác các loại san hô,sinh sống ở vùng biển nóng, bám quanh sườn những đỉnh núi đá ngầm dưới đáy đại dương Khi trồi lên mặt nước, các đảo này bao giờ cũng có hình vành khăn Dừa là loại thực vật sinh sống phổ biến trên các atôn
một tổ chức chính trị, một nền văn hoá khá cao và chữ viết riêng Từ thế kỉ 16, quốc gia của ngườiAxơtêch đã bị bọn thực dân Tây Ban Nha xâm lược và tiêu diệt Những di tích của nền văn hoá này hiện nay còn lại nhiều tượng đá, nhiều nền cũ của các công trình xây dựng trong vùng núi cao
ở Trung Mĩ
và gây nguy hiểm cho việc đi lại của tàu bè trên biển ( nhất là ở ven bờ các đảo vùng nhiệt đới) Dải ám tiêu san hô dài và lớn nổi tiếng trên thế giới là: "Dải ám tiêu chắn lớn " ở đông bắc lục địa Ôxtrâylia
Đới này có những đặc điểm chung:
- có vị trí chủ yếu nằm giữa khoảng các vĩ độ 30-40o Bắc và Nam, giữa ôn đới và nhiệt đới
- nhận được một lượng bức xạ khá lớn : 70-100 Kcal/cm2 (không kể miền núi cao)
- có nhiệt độ trung bình các tháng trong năm từ 4oC đến trên 20oC
- có mùa đông khá lạnh và có thể có băng giá
Còn gọi là: cận nhiệt đới (không coi là đới phụ của nhiệt đới) X Đới cận nhiệt
biển nhiệt đới,trong khoảng từ vĩ tuyến 5o đến chí tuyến Ap suất khí quyển ở trung tâm khu vực thường xuống thấp dưới 1000 mb Gió từ phía ngoài thổi vào tâm theo chiều ngược kim đồng hồ ở Bắc bán cầu với tốc độ cấp 6 Ap thấp nhiệt đới thường gây ra thời tiết âm u,có gió, mưa Một số khu áp thấp nhiệt đới trong quá trình phát triển có thể chuyển thành bão, ngược lại một số cơn bão khi đổ bộ vào đất liền, yếu đi cũng có thể chuyển thành các khu áp thấp nhiệt đới
dụng Ảnh hàng không được sử dụng nhiều trong ngành quân sự, ngành vẽ bản đồ cũng như ngành điều tra tài nguyên, khoáng sản Ưu điểm chính của ảnh hàng không là cung cấp được nhữnghình ảnh chính xác và chi tiết về các vùng đất đai có phạm vi rộng lớn cũng như các vùng mà con người khó đặt chân tới được
ẢNH VỆ TINH : ảnh chụp những vùng đất đai rộng lớn trên bề mặt trái đất bằng các vệ tinh do con người phóng lên, hoạt động ở những quỹ đạo khác nhau, với những mục đích nhất định
tinh, các tàu vũ trụ vv
Trang 5ẢO ẢNH SA MẠC : hình ảnh không thực, tạo thành một ảo ảnh,do hiện tượng ánh sáng bị khúc xạ khi
đi qua các lớp không khí có mật độ khác nhau trên sa mạc Ví dụ: những người đi trên sa mạc có thể nhìn thấy ở xa xa trước mặt có hồ nước, có làng,xóm vv nhưng đi mãi mà vẫn không tới được,
vì những hình ảnh nhìn thấy đó chỉ là những hình ảnh phản xạ của những đối tượng ở cách đó rất xa
ĂN MÒN : (Corrosion) hiện tượng phá hoại đá do tác động hoá học của nước trong tự nhiên (nước có chứa CO2 ) Đá vôi và các loại đá dễ hoà tan trong nước có thể bị hoạt động ăn mòn mà hình thành nên các dạng địa hình Cacxtơ khác nhau
tóc,được cấu tạo theo nguyên tắc: sợi tóc của người có khả năng thay đổi chiều dài rất nhạy, phù hợp với độ ẩm của không khí Trong ẩm kế,sợi tóc được gắn với một kim chuyển động trên mặt khung có khắc độ Khi chiều dài của sợi tóc thay đổi theo độ ẩm,thì kim cũng quay theo, chỉ vào số
đo độ ẩm tương ứng
châu Âu và ở một số nơi khác thuộc châu A,như Ân Độ, Iran vv Nhóm dân tộc đang nói ngôn ngữ Ân - Âu cũng được gọi là nhóm dân tộc Ân -Âu
B
BACBA : (barbara) trước đây,người Hi Lạp gọi tất cả các dân tộc khác, kể cả người La Mã, có nền
văn minh khác của họ là Bacba Trong lịch sử, thuật ngữ Bacba dùng để chỉ các đội quân đã
xâm lược và lật đổ đế quốc La Mã ( từ thế kỉ 4 đến thế kỉ 6) Nói chung, thuật ngữ Bacba chỉ các dân tộc ngoại lai với ý nghĩa khinh miệt
BACKHAN : cồn cát hình lưỡi liềm, hình thành trong các sa mạc do tác động của gió Bộ phận lồi
của hình lưỡi liềm bao giờ cũng quay về hướng gió thổi Backhan có hai sườn không đối xứng: sườn hướng gió thoải hơn sườn khuất gió Cồn cát thường cao từ 30m trở lên và có thể di
chuyển với tốc độ mỗi năm vài chục hoặc vài trăm mét, làm cho nhiều ruộng, vườn, nhà cửa bị vùi lấp
BADAN : loại đá phún xuất kiềm, màu xẫm, có tinh thể mịn, đặc trưng cho những vùng có dung
nham núi lửa Đá badan thường phủ những diện tích rộng hàng trăm, hàng nghìn km2 Đá được dùng làm vật liệu xây dựng Khi bị phân huỷ, trở thành loại đất đỏ phì nhiêu, thuận lợi cho
việc trồng các loại cây công nghiệp quý như: cao su, cà phê, hồ tiêu vv
BÃI BỒI : bộ phận của thung lũng sông do phù sa bồi đắp, thường bị ngập nước vào mùa lũ Kích
thước của bãi bồi rộng hẹp, tuỳ thuộc vào vị trí của nó trong thung lũng sông và chiều rộng của các dòng sông Ơ gần cửa sông và trong các thung lũng lớn, bãi bồi có thể dài, rộng hàng chục
km Đất trên các bãi bồi thường phì nhiêu, có thể canh tác được vào mùa nước cạn
BÃI TRIỀU : dải đất thấp ven biển bị ngập nước lúc triều lên và lộ ra lúc triều xuống Bãi triều
thường là nơi có đầm lầy hoặc rừng ngập mặn
B.A.M : (Baikal-Amour-Magistral) tên viết tắt chỉ đường xe lửa chạy điện trên lãnh thổ Liên bang
Nga (ở phía bắc đường sắt cũ xuyên Xibia) nối vùng hồ Baican với vung sông Amua, dài trên
Trang 64.000km Đường được hoàn thành vào năm 1987 Dọc theo đường này, có tới 4.000 công trình xây dựng lớn, trong đó có khoảng trên 150 cầu dài hàng trăm mét
BAN TU : tên chỉ các tộc người da đen sống ở phía nam vùng xích đạo châu Phi, họ có ngôn ngữ
gần nhau, nhưng thuộc nhiều dân tộc khác nhau Người Ban tu có tóc quăn, thân hình cao lớn (từ trung bình trở lên), sinh sống chủ yếu về săn bắn, chăn nuôi trâu, bò Một số ít cũng làm
nông nghiệp
BÁN BÌNH NGUYÊN : khái niệm cũ chỉ loại bình nguyên được hình thành do hoạt động xâm thực
của nước chảy, làm cho địa hình hạ thấp Kết quả là địa hình có dạng tương đối bằng phẳng, mềm
mại với những thung lũng sông mở rộng Hiện nay, người ta dùng thuật ngữ bề mặt san bằng để
chỉ loại địa hình này
BÁN CẦU : (nửa cầu) bộ phận của Địa cầu khi chia đôi thành hai nửa bằng nhau.
- nếu mặt chia cắt là mặt phẳng xích đạo, thì nửa cầu có chứa cực Bắc là bán cầu Bắc,
nửa cầu có chứa cực Nam là bán cầu Nam
- nếu mặt cắt là mặt phẳng chứa vòng kinh tuyến 20oT - 160oĐ, thì nửa cầu trên đó có
các châu lục Âu, A, Phi, Ôxtrâylia là bán cầu Đông, nửa cầu trên đó có toàn bộ châu Mĩ là
bán cầu Tây Việc phân chia hai bán cầu Đông, Tây theo vòng kinh tuyến 20oT , 160oĐ có
thuận lợi là bảo đảm được sự toàn vẹn của lãnh thổ nước Anh khi biểu hiện nó trên bán cầu Đông
BÁN ĐẢO : bộ phận đất liền nhô ra biển hoặc đại dương, có 3 mặt tiếp giáp với nước, còn một mặt
gắn với lục địa Ví dụ: bán đảo Đông Dương, bán đảo Triều Tiên vv
BÁN HOANG MẠC : 1.- kiểu cảnh quan ở các vùng có khí hậu khô hạn
2.- đới tự nhiên trên lục địa, có vị trí giữa các đới thảo nguyên và hoang mạc (trong các vòng đai ôn đới và cận nhiệt) hoặc giữa các đới hoang mạc và xavan (trong vòng đai nhiệt đới) Đới bán hoang mạc được phân bố trên khắp các lục địa (trừ Nam Cực), chủ yếu ở các vùng giữa và gần bờ phía tây vùng vĩ độ thấp, có khí hậu lục địa khô khan Lượng mưa hàng năm không quá 300mm (ít hơn lượng nước bốc hơi 5 - 6 lần) Mùa hạ nóng (nhiệt độ trung
bình từ 20 đến 30oC), mùa đông lạnh (ở ôn đới bán cầu Bắc, nhiệt độ trung bình tháng 1 dưới
0oC, ở cận nhiệt đới từ 0 đến 10oC, ở nhiệt đới từ 12 đến 20oC)
Thổ nhưỡng chủ yếu là đất xám nhạt, đôi chỗ có đất mặn Thực vật chính là các loài cây gai, cây lá bóng hoặc cây bụi và cỏ Đới bán hoang mạc có ở Trung A, ở châu Phi (phía nam
Xahara), ở Nam Mĩ và ở Ôxtrâylia
BÁN NHẬT TRIỀU : loại hình nước triều lên xuống theo chế độ mỗi ngày có hai lần lên và hai lần
xuống Ví dụ : thuỷ triều ở bờ biển phía Đông miền Nam nước ta Chế độ bán nhật triều là chế độ hoạt động của thuỷ triều ở phần lớn những vùng biển mở rộng ra đại dương, không bị các
đảo và quần đảo che chắn
BẢN ĐỊA : tại chỗ, có gốc ở địa phương Ví dụ : dân bản địa là dân sinh sống lâu đời tại địa
phương
BẢN ĐỒ CHUYÊN MÔN : bản đồ biểu hiện sự phân bố những hiện tượng và quá trình có liên quan
đến một ngành chuyên môn,có mục đích và tính chất chuyên dụng như: bản đồ hàng hải, bản đồ hàng không vv
BẢN ĐỒ ĐỊA LÍ : hình vẽ thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc một bộ phận của bề mặt Trái Đất trên mặt
Trang 7phẳng, dựa vào các phương pháp toán học, phương pháp biểu hiện bằng kí hiệu để thể hiện các thông tin cần thiết về địa lí.
Về nội dung, các bản đồ địa lí được phân ra hai nhóm lớn: bản đồ địa lí tự nhiên và bản đồ
địa lí kinh tế xã hội Trong mỗi nhóm lại có những bản đồ chuyên đề, thể hiện những thông tin
về một loại yếu tố hoặc hiện tượng địa lí như: bản đồ địa hình, bản đồ khí hậu, bản đồ thuỷ
văn, bản đồ dân cư, bản đồ công nghiệp, bản đồ nông nghiệp vv
Các bản đồ địa lí chuyên đề rất phong phú về đề tài và về phương pháp thể hiện Có những
bản đồ phân tích chỉ quan tâm đến việc thể hiện một mặt cụ thể nào đó của đề tài như: bản đồ
phân bố các thành phần dân tộc, bản đồ mật độ dân số vv ,nhưng cũng có những bản đồ tổng
hợp lại quan tâm tương đối đầy đủ đến các mối quan hệ giữa các yếu tố (cả về mặt số lượng
cũng như chất lượng) như: bản đồ sản xuất nông nghiệp, bản đồ địa lí công nghiệp vv
Trên bản đồ, việc biểu hiện các lãnh thổ lớn bao giờ cũng có những biến dạng về phương
hướng, về khoảng cách và về diện tích.
Cơ sở của việc vẽ bản đồ là lưới chiếu (mạng lưới kinh vĩ tuyến) Để giúp cho việc sử dụng bản đồ được thuận tiện,trên bản đồ bao giờ cũng có ghi tỉ lệ và bảng chú giải.
Tỉ lệ bản đồ có thể phân ra: tỉ lệ lớn (> 1/200.000), tỉ lệ trung bình (từ 1/200.000 đến
BẢN ĐỒ HỌC : khoa học nghiên cứu về lí luận, phương pháp và các biện pháp kĩ thuật để xây dựng
bản đồ,sử dụng bản đồ cũng như các sản phẩm khác có liên quan đến bản đồ như : quả địa cầu, các
mô hình, lát cắt
BẢN ĐỒ TÔPÔ : loại bản đồ có tỉ lệ lớn (từ 1/200.000 trở lên) biểu hiện một cách chính xác và chi
tiết mặt đất các lãnh thổ Các yếu tố biểu hiện bao gồm : vị trí, hình dáng lãnh thổ, các đặc
điểm địa hình (bằng các đường bình độ), và những đối tượng địa lí cụ thể cố định trên lãnh thổ (bằng các kí hiệu) như : đường xá, thành phố, làng xóm vv Hai mép bên phải, bên trái bản đồ bao giờ cũng trùng với hướng của các đường kinh tuyến
BẢN ĐỒ XINÔP : bản đồ phục vụ cho việc dự báo thời tiết Trên bản đồ Xinôp có ghi vẽ những số
liệu, những kí hiệu về nhiệt độ,khí áp,độ ẩm,về hướng di chuyển của các khối khí,các phrông vv
BẢN SẮC DÂN TỘC : tính bền vững và độc đáo của dân tộc thể hiện trong truyền thống về ngôn
ngữ, tư duy,nghệ thuật,phong tục,tập quán vv
BAO BAP : (Adansonia digitata) cây to ở vùng xavan nhiệt đới châu Phi và Ôxtrâylia Thân cây
có chu vi từ 20 đến 30m, dự trữ được nhiều nước để sử dụng trong mùa khô Quả có thể ăn được Cây bao bap sống được tới 4 - 5 nghìn năm
Trang 8BÁO : thú ăn thịt, thuộc họ Mèo, leo trèo giỏi, có lông màu vàng đốm đen, sống ở châu A,châu Phi
và châu Mĩ
BÀO MÒN : (corrasion) tác dụng làm mòn các lớp đất đá khi bề mặt các lớp này chịu sự cọ xát của
những vật liệu rắn do các dòng nước chảy hoặc băng hà mang theo
BẢO VỆ ĐẤT : hệ thống những biện pháp nhằm ngăn ngừa các hiện tượng : xói mòn, phá huỷ, ô
nhiễm đất cũng như việc sử dụng đất không hợp lí, kém hiệu quả
BÃO : gió mạnh kèm theo mưa rất to do sự xuất hiện và hoạt động của các khu áp thấp rất sâu Tốc
độ gió từ 65km/h trở lên Bão thường có sức phá hoại rất lớn như : làm đổ cây cối, phá hoại nhà cửa, gây ngập úng
BÃO CÁT : hiện tượng gió mạnh cuốn theo cát bụi mù mịt, thường xảy ra ở các vùng hoang mạc
và bán hoang mạc Rất nguy hiểm cho sự đi lại của người và súc vật trên sa mạc Khối cát di chuyển nhiều khi có thể vùi lấp hàng nghìn ha đất trồng trọt ở những vùng xung quanh
BÃO TUYẾT : hiện tượng mưa tuyết lớn kèm theo gió mạnh, xuất hiện ở những vùng có khí hậu
lạnh
BATLEN : (badland) thuật ngữ gốc tiếng Anh, chỉ loại địa hình bị xâm thực rất mạnh, nên có một
hệ thống khe rãnh dày đặc, thường gặp ở những miền trước núi hoặc đồi thấp có phủ trầm tích sét, sét pha, nhưng không có lớp phủ thực vật ( do đã bị phá huỷ) Loại địa hình này không
những không thích hợp cho việc canh tác mà còn gây nhiều khó khăn, trở ngại cho việc giao
thông, đi lại
BATÔLIT : khối đá xâm nhập lớn, thuộc loại đá granit, thường không có hình thù nhất định, nằm
xen giữa các lớp đá trầm tích và chiếm những diện tích rộng hàng trăm km 2
mùa hạ Nằm trong khu vực Bắc cực có Bắc Băng Dương, vùng rìa phía bắc của các đại lục
Âu - A, Bắc Mĩ và các đảo phụ cận Diện tích khu vực rộng khoảng 25 triệu km2 , trong đó 3/5
là biển và đại dương, thường xuyên bị băng bao phủ Chiều dày của lớp băng từ 2 đến 4m
Trong khu vực Bắc cực cũng có nhiều núi băng trôi, hầu hết theo hướng từ đông sang tây Khu vực Bắc cực có khí hậu lạnh giá, nhiệt độ trung bình tháng 1 ở bộ phận trung tâm vào khoảng -
40oC Nhiệt độ thấp nhất ghi được là - 52oC ,cao nhất là +6oC Lượng mưa dao động từ 100mm ở trung tâm đến 400mm ở rìa phía nam Độ bốc hơi rất yếu, vì vậy không khí ở đây lúc nào cũng bão hoà hơi nước Đêm cực trong khu vực kéo dài từ vài ngày ở 66o33' B đến 179 ngày ở ngay điểm cựcBắc Kiểu cảnh quan chủ yếu trong khu vực là đới băng tuyết vĩnh cửu và đài nguyên
BĂNG BIỂN : Lớp băng mỏng dày từ 2 đến 4m hình thành ở lớp nước trên mặt của các biển và
đại dương, về mùa đông trên các vùng vĩ tuyến cao Về mùa hạ, lớp băng này nứt vỡ thành từng mảng, trôi theo các dòng hải lưu, nhiều khi chờm ghếch lên nhau thành các khối băng trôi cao tới 8 - 10m
BĂNG HÀ : hình thức di chuyển chậm của các khối băng lớn từ cao xuống thấp, doc theo các sườn
hoặc thung lũng núi ở các miền núi cao có băng tuyết Các khối băng này được hình thành do quá trình tích tụ và bị nén chặt của một khối lượng lớn tuyết trên các núi cao Tốc độ di chuyển của băng hà rất khác nhau, có thể từ 10 đến 100m/năm Tốc độ lớn nhất quan sát được là tốc độ của một số băng hà trên đảo Grơnlen (10 - 40m/ngày)
Trong quá trình di chuyển,ngay các bộ phận trong nội bộ một băng hà cũng có tốc độ khác
Trang 9nhau, vì vậy băng hà thường có nhiều khe nứt, chiều rộng đôi khi đạt tới vài mét và chiều sâu tới vài chục mét Các khe nứt này thường có một lớp tuyết mỏng phủ kín, nên rất nguy hiểm đối với những nhà thám hiểm, nghiên cứu băng hà.
Trong quá trình di chuyển, băng hà cũng bào mòn các lớp đá, vận chuyển theo nó các khối
đá tảng ở trước lưỡi băng, ở hai bên sườn hoặc ở giữa (nếu có sự gặp nhau của hai băng hà) tạo thành các dải đôi thạch đầu, đôi thạch bờ và đôi thạch giữa
Về mùa đông, dòng chảy của băng hà bao giờ cũng kéo dài, lấn xuống dưới đường giới hạn tuyết Về mùa xuân, khi bộ phận đầu của lưỡi băng hà tan thành nước, băng hà lại rút lui về phía trên đường giới hạn tuyết
Nước băng tan là nguyên nhân gây ra các trận lũ mùa xuân của các sông bắt nguồn ở các
vùng núi cao Băng hà có ở hầu khắp các châu lục (trừ Ôxtrâylia)
BĂNG HÀ HỌC : Khoa học nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh, sự phát triển, các hoạt động và sự
phân bố địa lí của các băng hà trên bề mặt Trái Đất Hiên nay, các băng hà bao phủ khoảng trên 10% diện tích các lục địa và giữ lại một khối lượng nước ngọt bằng khoảng 240 triệu km3
BĂNG KẾT VĨNH CỬU : lớp băng phủ lâu dài (từ hàng chục đến hàng vạn năm) ở trên mặt và cả
ở trong các lớp đất sâu của những vùng có khí hậu rất lạnh ( vùng hai cực và trên các núi cao)
BĂNG LỤC ĐỊA : lớp băng cứng và dày ( từ vài trăm mét đến 1500m) ,bao phủ những diện tích
rộng lớn trên các đảo vùng Bắc cực ( Grơnlen, Bapphin vv ) và trên lục địa Nam cực Băng lục địa luôn luôn di chuyển từ những nơi cao ở vùng trung tâm ra vùng ngoài rìa, rồi trườn xuống biển Khi đứt gãy, trở thành các núi băng trôi Độ cao của băng nổi trên mặt nước biển thường
từ 30 đến 50m Các núi băng này rất nguy hiểm cho tàu bè đi lại trong các biển và đại dương vùng gần cực
BẬC THỀM : dạng địa hình bồi tụ trông giống như những bậc thềm, được hình thành trong các
thung lũng sông, trên các dải bờ biển, bờ hồ do kết quả hạ thấp mực nước của lòng sông, của biển hay của hồ, khi các loại địa hình này bị nâng cao
BECBE : tộc người sinh sống trước đây ở các vùng núi thuộc Bắc Phi Tôn giáo chính của họ là đạo
Hồi Ngôn ngữ Becbe cũng là ngôn ngữ cổ nhất ở vùng này ( hiện nay còn được dùng ở một số vùng núi thuộc các quốc gia Angiêri và Marôc) Sau này người Becbe chịu ảnh hưởng của văn hoá và ngôn ngữ Aráp, nên được gọi là người Becbe - Aráp
BENGALI : ngôn ngữ của các tộc người sinh sống ở vùng Bengan, ở phía đông bắc bán đảo Ân Độ BENTÔT : thuật ngữ chỉ chung các loài sinh vật sinh sống ở đáy các biển, đại dương hoặc ở đáy các
hồ nước ngọt
BÊĐUIN : (Bédouins) thuật ngữ chỉ các tộc người Aráp sống du mục trong các hoang mạc ở Bắc
Phi và Trung Đông
BỀ MẶT SAN BẰNG : dạng địa hình tương đối bằng phẳng trên các lục địa được hình thành do tác
động bào mòn của các ngoại lực Dạng địa hình này trước đây được gọi là bán bình nguyên X Bán bình nguyên
BẾN CẢNG : khoảng bờ biển, bờ hồ, bờ sông được che khuất sóng, gió vv thuận lợi cho việc ra vào,
trú ẩn của tàu, thuyền , xây dựng các công trình phục vụ cho việc giao thông, vận tải và bốc dỡ hàng hoá
BICH BANG : (Bigbang=tiếng nổ lớn) thuyết về sự hình thành vũ trụ,cho rằng vũ trụ lúc đầu chỉ là
Trang 10một khối vật chất hết sức nhỏ bé,đậm đặc và vô cùng nóng goị là"nguyên tử nguyên thuỷ".Các nhà thiên văn học cũng gọi nó là "trứng vũ trụ."Cách đây 15 tỉ năm,sau một vụ nổ lớn,vũ trụ được hình thành.Hiện nay nó đang giãn nở và loãng dần.
BIÊN ĐỘ NHIỆT ĐỘ : khoảng chênh lệch giữa nhiệt độ cực tiểu và nhiệt độ cực đại ghi đượ trong
một khoảng thời gian (một ngày, một tháng, một năm ) Ví dụ : ở một địa phương, nhiệt độ cực tiểu và cực đại trong một ngày đêm là 280C và 330C, chúng ta nói : biên độ nhiệt độ trong ngày hôm
đó là 50C, ở một địa phương khác, nhiệt độ cực tiểu và cực đại trong một tháng là: 180C và 250C , chúng ta nói : biên độ nhiệt độ trong tháng đó là : 70C vv
BIÊN GIỚI : đường ranh giới phân chia lãnh thổ có chủ quyền của quốc gia này với quốc gia khác
Biên giới quốc gia bao gồm : đường biên giới trên đất liền ,đường biên giới trên biển và đường biên giới trên không Đường biên giới trên đất liền được vạch ra trên cơ sở thoả thuận giữa các quốc gia có lãnh thổ tiếp giáp, kề nhau Đường biên giới quôc gia trên đất liền thường dựa vào các yếu tố tự nhiên như: địa hình (sống núi, dải đồi, thung lũng ), thuỷ văn (dòng chảy của
sông, suối, ) hoặc theo các đường quy ước như các đường thẳng nối các điểm mốc, các đường kinh tuyến, vĩ tuyến vv Đường biên giới trên biển là ranh giới phía ngoài của vùng lãnh hải của quốc gia đó được quy định đúng theo luật pháp và tập quán quôc tế Trong điều kiện lãnh hải của các quốc gia kề nhau hoặc đối diện có sự chồng lấn lên nhau, thì đường biên giới trên biển sẽ được hoạch định thông qua thương lượng giữa các bên có liên quan Còn đường biên giới trên không là đường chiếu thẳng từ biên giói trên đất liền và trên biển lên không ( đến một
độ cao nào, thì hiện nay chưa có một văn bản pháp lí nào quy định rõ)
BIẾN CHẤT : hiện tượng thay đổi tính chất ( cả về mặt vật lí và hoá học) của các loại đá măcma và
trầm tích thường trong điều kiện có nhiệt độ cao và áp lực lớn Đièu kiện này chỉ có thể xảy ra khi các lớp đá bị vùi sâu trong lòng đất hoặc nằm cạnh các lò măcma nóng chảy của núi lửa
Một số loại đá biến chất thưòng gặp là: đá gơnai, đá hoa,đá phiến thạch mica vv
BIỂN : bộ phận của đại dương, nằm ở gần hoặc xa đất liền,, nhưng có những đặc điểm riêng, khác
với vùng nước của đại dương bao quanh (như về nhiệt độ, độ mặn, chế độ thuỷ văn, các vật liệu trầm tích đáy, các sinh vật vv ) Theo thói quen, thuật ngữ biển còn dùng để gọi những hồ có diện tích rất lớn như: biển Aran, biển Caxpi, biển Chết vv Tuỳ theo vị trí (nằm ở ven bờ hoặc
ăn sâu vào các lục địa) mà biển lại phân ra: biển ven bờ, biển nội lục hoặc biển kín Biển ven
bờ là những biển nằm sát ngay bờ các lục địa Phần lớn các biển này đều rộng, nông, có chế độ thuỷ văn riêng và thường mở rộng ra đại dương
Cũng có khi phía ngoài bi ển có đảo hoặc quần đảo ngăn cách với đại dương như: biển Nhật Bản, biển Măngsơ Biển nội lục hoặc biển kín là những biển nông,nằm lõm sâu vào các lục địa, chỉ thông với đại dương nhờ những eo biển hẹp như Biển Đen, biển Bantich vv Đặc biệt, cũng
có biển nằm giữa đại dưong,nhờ có tính độc đáo về sinh vật như: biển Xacgat với rừng tảo nổi
ở giữa Đại Tây Dương
BIỂN THOÁI : hiện tượng nước biển rút ra xa bờ lục địa, làm cho diện tích đất liền tăng lên Nguyên
nhân của hiện tượng này có thể là do mực nước của đại dương thế giới hạ thấp xuống hoặc do sự vận động nâng lên của lục địa Hiện tượng này trái ngược với hiện tượng biển tiến Hiện tượng biển tiến và thoái là những quá trình xảy ra rất chậm chạp, lâu dài và kế tiếp nhau trong suốt quá trình phát triển của các lục địa
Trang 11BIỂN TIẾN : hiện tượng nước biển tràn vào đất liền, phủ ngập các vùng đất thấp ven biển do
nguyên nhân lục địa dần dần bị hạ thấp hoặc do mực nước biển dâng cao trong quá trình tan
băng trên các lục địa Biển tiến là hiện tượng ngược lại với biển thoái
BIỂU ĐỒ : hình thức trực quan hoá các số liệu thống kê trong các mối quan hệ giữa số lượng,thời
gian và không gian bằng các cấu trúc đồ hoạ Ví dụ: biểu đồ cơ cấu các ngành công nghiệp,
biểu đồ phát triển dân số thế giới, biểu đồ mật độ dân số, biểu đồ phân bố dân cư vv
Về hình thức biểu hiện, biểu đồ có các loại : hình tròn, hình cột, hình vuông, đường biểu
diễn vv
BÌNH NGUYÊN : loại địa hình thấp,rộng, bề mặt tương đối bằng phẳng, đôi khi có xen đồi hoặc
gợn sóng Độ cao trên mực nước biển không quá 200m là bình nguyên thấp hay vùng đất thấp
Từ 200m đến 500m là bình nguyên cao hay vùng đất cao, trên 500m mà bề mặt vẫn tương đối bằng phẳng và có sườn dốc là cao nguyên.( Cách phân loại trên đây phù hợp với các loại địa hình bị băng hà bào mòn ở ôn đới Đối với các loại địa hình ở nhiệt đới có lẽ về mặt hình thái
và độ cao có khác, nhưng chưa được nghiên cứu kĩ)
BÌNH SƠN NGUYÊN : bộ phận rộng lớn của địa hình miền núi, có bề mặt tương đối bằng phẳng,
đôi khi gợn sóng và bị nhiều thung lũng sâu cắt xẻ Độ cao từ 500 đến 1000m Thuật ngữ bình sơn nguyên ít được sử dụng trong các tài liệu địa lí Phần nhiều nó được thay thế bằng thuật ngữ cao nguyên Ví dụ : cao nguyên Trung Xibia, cao nguyên Iran vv Thực ra, khái niệm cao nguyên có khác với bình sơn nguyên ở chỗ : cao nguyên bao giờ cũng có sườn rất dốc, còn
bình sơn nguyên thì không
BIÔTIT : khoáng vật silicat màu đen, thành phần gồm có các ôxyt silic, nhôm, sắt, mangan và kali
Còn gọi là mica đen
BOM NÚI LỬA : khối dung nham đặc quánh hoặc đã đông cứng ( có đường kính tới vài mét) ở
miệng núi lửa bị đẩy bật lên không trung, kèm theo tiếng nổ khi núi lửa hoạt động
BORA : loại gió lạnh, mạnh như gió bão thường xuất hiện trong những thánh mùa đông ở các
vùng bờ biển gần các dãy núi cao ven Hắc Hải và Địa Trung Hải Nguyên nhân chủ yếu là do sự chênh lệch khí áp đột ngột giữa biển ( khí áp thấp) và lục địa ( khi áp cao) Khi gió Bora thổi, thường đem theo mưa tuyết lớn, kéo dài tới vài ngày
BÓC MÒN : ( denudation) hiện tượng phá huỷ các loại đất đá do ngoại lực (nước, băng hà, gió v.v )
bằng cách bóc dần từng lớp mỏng trên mặt và vận chuyển các sản phẩm phong hoá đi nơi khác
BÓN LÓT, BÓN PHÂN LÓT : biện pháp kĩ thuật trong nông nghiệp được thực hiện bằng cách bón
phân trước khi gieo hạt hoặc trồng cấy các cây trồng, nhằm mục đích cung cấp đầy đủ các chất dinhdưỡng cho thực vật trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng
BÓN THÚC, BÓN PHÂN THÚC : biện pháp kĩ thuật nông nghiệp được thực hiện bằng cách bón
thêm phân, chuẩn bị cho thực vật bước vào một giai đoạn quan trọng của quá trình sinh trưởng, nhằm đẩy mạnh việc nâng cao năng suất Ví dụ : bón thúc cho cây để chuẩn bị cho giai đoạn ra hoa, kết quả vv
BÓNG THÁM KHÔNG : bóng bơm loại khí nhẹ, dùng trong các trạm nghiên cứu khí tượng để thả
lên các tầng khí quyển trên cao Bóng thường mang theo một máy phát vô tuyến để chuyển về mặt đất những thông tin về tình trạng của các yếu tố khí tượng trên cao như : nhiệt độ, khí áp, gió vv
Trang 12BÔXIT : loại đá trầm tích có màu hồng, nâu vv Thành phần chủ yếu gồm có : hyđrôxit nhôm lẫn
với các chất khác như : sắt, silic Từ bôxit có thể tách ra chất alumin ( Al2O3), nguyên liệu
chính để luyện nhôm trong các lò điện phân
BỒI TÍCH : tác động bồi đắp và tích tụ phù sa của một con sông Bồn địa : địa hình trũng, thấp,
dạng chậu hoặc lòng chảo, hình thành do kết quả của nhiều quá trình địa chất như : sự sụt lún của một bộ phận vỏ Trái Đất, sự bào mòn của băng hà vv Bồn địa thấp nhất trên bề mặt Trái Đất là bồn địa Tuôcphan , nằm ở phía đông dãy Thiên Sơn thuộc đất Tân Cương, Trung Quốc (154m dưới mực nước biển) Có những bồn địa bị ngập nước, tạo thành các hồ như : hồ Caxpi,
hồ Aran vv Bồn địa còn gọi là vùng trũng
BỜ BIỂN : dải đất tiếp xúc với mép nước biển và chịu tác động qua lại giữa biển và đất liền Phạm
vi của dải bờ biển được giới hạn trên đất liền ở chỗ mực nước biển tràn vào xa nhất
khi thuỷ triều lên hoặc khi có gió bão, còn ở ngoài biển là khoảng nước, mà tác động của
sóng không còn ảnh hưởng gì đến đáy biển
BỜ LỤC ĐỊA : bộ phận của rìa lục địa tương đối bằng phẳng, nằm ở phía ngoài dốc lục địa, có độ
dốc trung bình khoảng trên dưới 1/300, rộng từ 100 đến 1000km., và chấm dứt ở một vùng
có độ sâu từ 2000 đến 5000m Ngoài bờ lục địa là đáy đại dương
BUA : (Boers) dân tộc sinh sống ở Nam Phi, vốn là dòng dõi những người dân gốc Hà Lan di
cư đến đây vào giữa thế kỉ 17 Đã lập nen hai quốc gia : nước Cộng hoà Tranxvan và nước tự trị Ôrêngiơ
BỤI TINH THẠCH : ( Bụi vũ trụ) khối vật chất nhỏ, rải rác trong không gian vũ trụ với mật độ
tập trung thấp Giả thuyết về sự hình thành Trái Đất của O Xmit đã cho rằng : Trái Đất là một thiên thể được hình thành từ một đám mây bụi tinh thạch Những hạt bụi này, khi bị sức hút của Trái Đất, rơi vào lớp khí quyển, bốc cháy sáng rực, trở thành các ngôi sao sa
BÙN LỤC NGUYÊN : bùn trầm tích ở thềm lục địa có nguồn gốc từ những vật liệu trên lục địa, bị
xâm thực và bị cuốn trôi xuống biển theo các dòng chảy
BÙNG NỔ DÂN SỐ : sự phát triển dân số vượt bậc về số lượng đã xảy ra ở các nước châu Âu vào
thế kỉ 19, khi tỉ lệ sinh vẫn không thay đổi, nhưng tỉ lệ tử giảm xuống rất thấp, nhờ những tiến
bộ về y tế, và nhờ việc cải thiện những điều kiện sinh hoạt
Hiện nay, hiện tượng bùng nổ dân số vẫn đang xảy ra, chủ yếu trong các nước đang phát triển
ở châu Phi, châu A và châu Mĩ Latinh
BỨC XẠ : quá trình toả năng lượng của một vật thể Bức xạ mặt trời là quá trình toả năng lượng
của Mặt Trời ra khoảng không gian vũ trụ Một phần xuống đến mặt đất dưới hình thức nhiệt năng, làm cho mặt đất nóng lên Mặt đất ban ngày tiếp thu được nhiệt năng của Mặt Trời, ban đêm lại bức xạ ra không trung, rồi dần dần lạnh đi
BƯNG : (miền Nam) chỗ đất trũng giữa cánh đồng, mùa khô không có nước đọng, mùa mưa thì nước đọng khá sâu và có cỏ lác mọc Mùa nước ở bưng thường có rất nhiều cá đồng
Trang 13
CACAO : thuật ngữ có gốc từ tiếng địa phương của thổ dân Trung Mĩ, chỉ một loại cây trồng ở xứ nóng, quả có nhiều hạt nhỏ nằm trong một vỏ cứng Người Axơtếch xưa kia dùng hột cacao rang vàng, tán nhỏ trộn với ngô (bắp) và ớt làm thức ăn Bột cacao hiên nay được dùng phổ biến trên thế giới để làm thức uống, làm kẹo và sôcôla Ngày nay, cacao đã trở thành một cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao, được đem sang trồng ở nhiều vùng nhiệt đới châu Phi và châu A ( kể cả ở miền Nam nước ta)
CACBON PHÓNG XẠ : tên gọi của chất đồng vị C14 Chất này có đặc tính tự phân huỷ trong một khoảng thời gian nhất định Người ta nghiên cứu tính chất tự phân huỷ của C14 để có thể xác định được tuổi của các hoá thạch chứa nó
động cơ giới với máy móc.Cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đầu trước tiên ở nước Anh với ngành dệt vào những năm 60 của thế kỉ 18 và cơ bản hoàn thành vào những năm 30 của thế kỉ 19 Cuộc Cách mạng công nghiệp không chỉ hoàn toàn thay đổi kĩ thuật sản xuất, tạo ra cơ sở vật chất cho chủ nghĩa tư bản ở châu Âu,mà còn mở đầu cho thời đại Đại công nghiệp cơ khí, mở rộng sự phân công lao động xã hội, làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới, xúc tiến sự hình thành các đô thị và các trung tâm công nghiệp Tiền đề của cuộc Cách mạng công nghiệp là những tiến bộ lớn lao về lĩnh vực khoa học kĩ thuật trong thế kỉ 18 và thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chống phong kiến của giai cấp tư sản ở Anh và Pháp trong các thế kỉ 17-18
thuật bắt đầu từ giữa thế kỉ 20, phân biệt với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã xảy ra vào giữa thế kỉ 19 Tiền đề của cuộc Cách mạng KHKT hiện đại là những phát minh về KHKT từ cuối thế kỉ
19 đến đầu thế kỉ 20 Cuộc Cách mạngKHKT hiện đại có 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ năm 1940 đến năm 1970 và giai đoạn 2 từ năm 1970 đến nay Đặc trưng cơ bản của giai đoạn đầu là: sự phát triển mạnh mẽ các ngành khoa học kĩ thuật,phù hợp với thời kì khôi phục và phát triển nền kinh tế thế giới đã bị kiệt quệ sau chiến tranh, tập trung vào bốn hướng chủ yếu : tăng cưòng khai thác các nguồn năng lượng mới, mở rộng các cơ sở nguyên vật liệu, nâng cao năng suất lao động và đẩy mạnh phạm vi nghiên cứu ra các đại dương và khoảng không vũ trụ Đặc trưng của giai đoạn hai là tập trung vào các hướng: a) thay thế và giảm bớt việc sử dụng các nguồn năng lượng,nguyên vật liệu truyền thống, b) tăng cường trình độ tự động hoá trong công nghiệp, c) phát triển mạnh các ngành công nghệ sinh học để có được những sản phẩm mới,có năng suất cao,phẩm chất tốt , d) phát triển nhanh và không ngừng hoàn thiện kĩ thuật điện tử và tin học
nuôi, nhờ đó mà năng suất sữa trâu, bò được tăng vượt bậc
quá trình tăng trưởng vượt bậc về sản xuất lương thực trong các nước đang phát triển, sau khi đã đưavào sản xuất đại trà một số giống lúa mới,có năng suất cao (chủ yếu là lúa mì và lúa nước) Mêhicô
Trang 14và Ân Độ là những nước đã đi đầu trong cuộc Cách mạng xanh và đã thoát khỏi nạn đói trong nhữngnăm giữa thế kỉ 20
Hiện nay,ở Philippin đã thành lập Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, chuyên nghiên cứu về cách lai tạo
ra những giống lúa mới, có năng suất cao Những giống này đã được phổ biến và trồng ở nhiều nướcchâu A
CACTEN : tổ chức kết hợp nhiều xí nghiệp độc lập trong một ngành công nghiệp ( nhiều khi thuộc các nước khác nhau) nhằm bảo vệ giá bán các sản phẩm bằng cách hạn chế việc sản xuất hoặc việc cạnh tranh giữa các xí nghiệp với nhau
CACXTƠ : loại địa hình độc đáo hình thành trong các lớp đá vôi Trong địa hình cacxtơ thường có những hang động, những cửa biến, cửa hiện của các dòng chảy vv Thuật ngữ cacxtơ bắt nguồn từ tên một địa phương ở Nam Tư (cũ), nơi có những cao nguyên đá vôi, rất điển hình cho loại địa hình này
chiếm hữu và sử dụng ruộng đất Ơ các nước tư bản,cải cách ruộng đất nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp và trong nền kinh tế nóí chung,còn ở các nước tiến hành quá trình cách mạng dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa,cải cách ruộng đất nhằm mục đích xoá bỏ chế độ ruộng đất phong kiến,địa chủ, thực hiện khẩu hiệu"người cày coa ruộng" bằng cách tịch thu hoặc trưng thu ruộng đất của địa chủ,quốc hữu hoá ruộng đất và chia cho nông dân
để phục vụ cho những mục đích nhất định như : bảo vệ sản xuất, bảo vệ sức khoẻ cho con
người Việc đào hồ chứa nước, làm các công trình thuỷ lợi, trồng rừng vv đều là những công trình cải tạo tự nhiên Tuy nhiên, việc cải tạo tự nhiên phải hợp lí, thuận với các quy luật tự nhiên, nếu không, tự nhiên sẽ "trả thù con người" và gây ra những hậu quả xấu không thể lường hết được
CAMBRI : ( Cm) kỉ đầu tiên trong đại Cổ sinh, kéo dài trong khoảng 80 triệu năm Trong kỉ Cambri đã
có sự phát triển của một số loài sinh vật đơn giản
lang trên các cao nguyên ở Braxin
yếu bằng động tác nhảy Canguru có cái túi ở bụng để đựng và nuôi con mới đẻ trong vòng 6 tháng
CANHÔN : thuật ngữ gốc tiếng Tây Ban Nha chỉ loại thung lũng sông bị cắt xẻ sâu, hẹp, có sườn là
vách đá dốc đứng Nổi tiếng nhất trên thế giới là các canhôn của sông Côlôrađô ở Hoa Kì (dài trên 3.000km, sâu tới 1.800m) Còn gọi là hẻm sông
(CaCO3) nguyên chất hoặc lẫn manhê, sắt, mangan, kẽm vv
trong một khoảng thời gian nhất định (năm, tháng, vv ) Cán cân ẩm là dương, nếu lượng bốc hơi nhỏ hơn lượng nước rơi, là âm nếu lượng bốc hơi lớn hơn lượng nước rơi
quyển và cán cân bức xạ mặt đất Tham gia vào cán cân bức xạ khí quyển, trong phần thu có lượng bức xạ trực tiếp, lượng bức xạ tán xạ của Mặt Trời, lượng bức xạ của mặt đất Trong phần mất đi, cólượng bức xạ của chính bản thân khí quyển hướng về mặt đất và ra khoảng không gian vũ trụ
Trang 15Tham gia vào cán cân bức xạ mặt đất, trong phần thu có lượng bức xạ trực tiếp và tán xạ của Mặt Trời, của khí quyển Trong phần mất đi,có lượng bức xạ nhiệt của chính mặt đất Cán cân bức xạ cũng có dương (nếu phần thu lớn hơn phần mất đi) và âm ( nếu phần thu nhỏ hơn phần mất đi).
khẩu và xuất khẩu của một nước Sự so sánh này thường được biểu hiện dưới dạng một bảng thống
kê đối chiếu trong một khoảng thời gian nhất định
Khi giá trị các hàng nhập khẩu tương đương với giá trị các hàng xuất khẩu thì cán cân thăng bằng Nếu giá trị các hàng nhập khẩu nhỏ hơn thì là xuất siêu, nếu lớn hơn thì là nhập siêu
việc neo, đậu các tàu,thuyền, đổ bộ hành khách,bốc dỡ hàng hoá và thực hiện các dịch vụ sửa chữa kĩthuật, bảo quản hàng hoá, và quản lí các công việc khác thuộc phạm vi vận tải đường thuỷ
lí cao, có khả năng phục vụ cho các tàu nước ngoài ra,vào để bốc dỡ hàng hoá, sửa chữa và tiếp tế nhiên liệu
CẢNG TỰ DO : cảng có chế độ ưu đãi về mặt thuế quan Cảng tự do có hai hình thức : cảng tự do hoàn toàn và cảng tự do hạn chế Các cảng tự do hoàn toàn không chịu sự kiểm soát của các cơ quan hải quan của nước sở tại, hàng hoá ra vào cảng đều được miễn thuế xuất, nhập, còn đối với các cảng tự
do hạn chế, thì một số hàng hoá phải nộp thuế nhập khẩu và chịu sự kiểm soát của hải quan, một số khác được miễn và cũng không chịu sự kiểm soát của hải quan
để lấy chất Quinin có trong vỏ cây, dùng làm thuốc chữa sốt rét và chế rượu bổ
CẢNH QUAN : ( landshaft ) theo nghĩa rộng có thể hiểu tương tự như thuật ngữ phong cảnh Ví dụ :
cảnh quan miền núi, cảnh quan đồng bằng vv Đó là cảnh (nhìn thấy được) của một vùng, một khu vực trên bề mặt Trái Đất, có những đặc điểm nhất định về thiên nhiên (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, động thực vật vv ) hoặc về những công trình do con người tạo ra như : nhà cửa, đồng ruộng, kênh máng vv Trong các tài liệu địa lí, người ta thường nói tới các cảnh quan tự nhiên, cảnh quan văn hoáhay nhân sinh vv Theo nghĩa hẹp, cảnh quan có thể hiểu là một đơn vị cơ bản của sự phân chia cáctông hợp thể lãnh thổ trong hệ thống phân vị địa lí tự nhiên Đó là một bộ phận của lớp vỏ địa lí,tương đối thuần nhất trong cấu trúc, khác với các bộ phận khác do tính đặc thù của sự kết hợp có tính quy luật của các thành phần,các mối quan hệ bên trong và các mối liên hệ giữa nó với các đơn
vị thấp hơn (cảnh khu,cảnh diện vv )
băng hà bao phủ ( trong thời kì băng hà) Đặc điểm của loại cảnh quan này là có các sản phẩm do băng hà tạo ra như : các dải đôi thạch, các đồi đôi thạch, các hồ băng hà, các cánh đồng băng tích vv Cảnh quan băng tích rất phổ biến ở Phần Lan, ở Đông Âu vv
CAOLANH : đất sét trắng, có thành phần chủ yếu là khoáng vật Kaolinit ( Al2OH2Si2O5) Được sử dụng trong công nghiệp hoá chất, công nghiệp giấy, sà phòng và làm đồ sứ
Thân cây cao, giống cây ngô, hạt mọc thành chùm ở trên ngọn
Trang 16CAO NGUYÊN : địa hình thuộc miền núi,có bề mặt tương đối bằng phẳng, hoặc gợn sóng, đôi khi có đồi Độ cao từ 500m trở lên Cao nguyên bao giờ cũng có sườn rất dốc, nhiều khi trở thành vách đứng Về nguồn gốc, cao nguyên có thể hình thành do tác động bào mòn, san bằng lâu dài các loại địa hình hoặc do bị một lóp đá phun trào dày như đá badan phủ lên trên mặt Ơ nước ta, Mộc Châu làmột cao nguyên bóc mòn, còn Bảo Lộc là một cao nguyên bề mặt có phủ đá badan.
CARƯ : địa hình đá vôi bị cắt xẻ mạnh Còn gọi là địa hình đá tai mèo Những chỗ đá nhô lên, sắc, nhọn cao từ vài cm đến vài chục cm Loại địa hình này nhiều khi có diện tích rất rộng, tạo thành các cánh đồng carư
CÁT KẾT : loại đá trầm tích được hình thành do sự gắn kết các hạt cát bằng các loại xi măng silic,
canxi, ôxit sắt vv Tuỳ theo các loại chất gắn kết khác nhau, mà đá có các màu sắc từ xám sáng đến hồng,đỏ gan gà vv Đá cát kết trước đây vẫn gọi là sa thạch Cát kết được dùng làm đá mài dao, làm cối đá hoặc làm đá xây dựng
thế giới đối với một nước bị coi là có ý đồ đe doạ hoà bình,an ninh quốc tế Cấm vận có thể từng phần hoặc toàn bộ đối với việc xuất, nhập khẩu các loại vũ khí, nguyên vật liệu, ngoại tệ, các thông tin về khoa học-kĩ thuật, công nghệ vv Hiến chương Liên Hiệp Quốc cũng thừa nhận biện pháp cấm vận coi như một biện pháp phòng ngừa, bảo vệ hoà bình thế giới Việt Nam trước đây đã từng
bị Hoa Kì cấm vận Chỉ từ tháng 2 năm 1994, lệnh này mới được bãi bỏ
nước còn lại trên phạm vi toàn Trái Đất hay ở một lãnh thổ ( một vùng, một lưu vực sông, một hồ nước,một thửa ruộng vv ) trong một khoảng thời gian nhất định (năm, tháng, tuần ) Các đối tượngtính toán bao gồm: toàn bộ lượng nước rơi,lượng hơi nước ngưng tụ, lượng dòng chảy trên mặt và dưới đất, lượng bốc hơi, lượng nước giữ lại trong thổ nhưỡng, trong cơ thể sinh vật vv Cũng gọi
là : Cán cân nước
trong quá trình nguội dần Cấu tạo của nó gồm có nhiều lớp đồng tâm Lõi nằm ở trong cùng có bán kính khoảng 3400km, được cấu tạo do các loại đá nóng chảy có tỉ trọng gần 12 Ngoài lõi là lớp trung gian, có độ dày 2900km và tỉ trọng gần 5 Bên ngoài lớp trung gian là lớp đá quánh Lớp này được biết tới nhiều hơn, vì măcma bị nén ở đó có thể trào lên mặt đất thành các dòng dung nham nóng đỏ Trong lớp đá quánh cũng có những vận động chậm chạp của măcma dẻo Ngoài cùng là lớp
vỏ mỏng gồm các loại đá nguội cứng Lớp vỏ Trái Đất lại phân ra hai lớp : lớp vỏ đại dương, chủ yếu gồm các loại đá nặng thuộc nhóm badan và lớp vỏ lục địa, dày hơn, nhưng có tỉ trọng nhỏ hơn, chủ yếu gồm các loại đá nhẹ thuộc nhóm granit
một loại đá Cấu trúc đá là một căn cứ để phân biệt các loại đá
CẤU TRÚC ĐẤT : đặc điểm về sự gắn kết các phần tử đất thành các khối có độ bền, hình dáng, kích thước, khác nhau Cấu trúc đất có ảnh hưởng đến độ thoáng khí và chế độ lưu thông nước trong thổ nhưỡng
Trang 17CẦU VỒNG : hiện tượng quang học thường xuất hiện trên bầu trời sau những cơn mưa về mùa hạ Cầu vồng bao giờ cũng hiện ra ở phía đối diện với Mặt Trời, dưới dạng một vành cung ngũ sắc Sở dĩ có hiện tượng này là vì ánh sáng Mặt Trời khi chiếu qua các giọt nước mưa li ti còn lơ lửng trong khí quyển đã bị khúc xạ, phản xạ và phân tích ra thành quang phổ bảy màu, giống như khi ánh sáng đi qua một lăng kính.
thành từng tầng Gỗ bá hương có mùi thơm Trước kia, những khu rừng bá hương rộng lớn ở LiBăng rất nổi tiếng thế giới Người Ai Cập xưa rất chuộng dùng gỗ bá hương của Li Băng để xây cất cung điện Dầu và nhựa bá hương được dùng để tẩm vải ướp xác
quả giống như quả mít nhỏ, giàu chất bột Khi nướng, ăn tựa như bánh mì, vì vậy có tên "cây bánh mì" Ơ miền Nam nước ta cũng có cây bánh mì gọi là cây xa kê
A và ở Madagaxca Có khả năng bắt sâu bọ nhờ một bộ phận ống bẫy có nắp đậy, mọc ở tay cuốn đầu lá
CÂY BỤI : cây thân gỗ, phần lớn ưa sáng, thường cao từ 1 đến vài mét, là thành phần chính trong thảm thực vật tự nhiên ở các vùng khô hạn, nửa hoang mạc hoặc hoang mạc trên thế giới Cũng có một bộphận cây bụi không ưa sáng,thường mọc trong rừng, thành một tầng thấp, dưới tán các cây to
lớn ở ngọn cây, giống chùm quả cọ Quả chà là phơi khô là thức ăn dự trữ cho những người đi lại trong hoang mạc
nhiều ở Đông Nam A, đặc biệt là ở Inđônêxia và Malaixia
nghiệp Cây công nghiệp có thể phân ra hai loại dựa vào thời gian sinh trưởng : cây công nghiệp ngắn ngày và cây công nghiệp dài ngày Dựa vào công dụng, cây công nghiệp cũng có thể phân ra : cây lấy sợi ( bông, gai,đay,lanh ), cây lấy nhựa ( cao su, thông ), cây lấy dầu ( đậu tương, cọ, ô liu ), cây lấy chất thơm (khuynh diệp, màng tang, xả ), cây lấy đường ( mía, củ cải đường, thốt nốt ), cây làm thuốc ( sâm, tam thất, quế ) và cây có chất kích thích ( thuốc lá, thuốc phiện vv )
ánh sáng nên luôn luôn quay về phía Mặt Trời Hoa chứa nhiều hạt, khi ép cho một loại dầu ăn tốt Còn có tên : cây quỳ
tinh bột dùng làm lương thực, chủ yếu cho người và gia súc Các cây lương thực chính có : lúa mì, lúa gạo và ngô
Ngoài ba loại trên, các cây khác được coi là lương thực phụ có : lúa mạch đen, yến mạch, sắn, khoai, cao lương
CÂY SỒI : cây to, cao từ 20 đến 40m, lá có nhiều thuỳ sống phổ biến ở vùng ôn đới
các loại rau, đậu, hoa quả, chè vv Hiện nay, ranh giới giữa các cây thực phẩm và cây công nghiệp
Trang 18rất khó phân biệt, vì khi ngành công nghiệp thực phẩm phát triển, thì nhiều cây trước kia chỉ là thựcphẩm nay đã trở thành cây công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho ngành này Ví dụ : mía, chè,
và đồng ( FeCuS2)
tượng di cư của một số lượng lớn các cán bộ khoa học-kĩ thuật từ các nước nghèo, có nền kinh tế kém phát triển sang các nước giàu có nền kinh tế phát triển hơn Ví dụ : trong hai thập niên 60 và 70của thế kỉ này, các nước đang phát triển đã bị mất khoảng 10 vạn cán bộ khoa học - kĩ thuật Ngoài nguyên nhân kinh tế, các nguyên nhân khác nữa của hiện tượng chảy chất xám là : tình hình chính trịthiếu ổn định, đời sống xã hội và điều kiện nghiên cứu khoa học-kĩ thuật kém phát triển ở các nước nghèo
cầm, nuôi ong, nuôi tôm, nuôi cá vv Ngành chăn nuôi đã cung cấp cho xã hội nhiều thực phẩm ( thịt, sữa, trứng ), sức kéo ( ngựa, trâu, bò, voi, lạc đà ) và nguyên liệu cho các ngành công nghiệpnhẹ và công nghiệp thực phẩm ( thuộc da, dệt lụa, làm đồ hộp vv )
CHẤN TÂM : vị trí trung tâm của các sóng địa chấn ( trên mặt đất), nằm ngay trên đường thẳng ngắn nhất nối từ chấn tiêu lên mặt đất
CHẤN TIÊU : nơi phát sinh ra các chấn động làm rung chuyển mặt đất trong các trận động đất Chấn tiêu thường nằm ở độ sâu vào khoảng 15 - 30km dưới mặt đất
vật và động vật, bao gồm các chất vô cơ và hữu cơ Đối với thực vật, các chất này phải hoà tan được trong nước để rễ cây dễ hấp thu Trong số các chất dinh dưỡng có các nguyên tố đại lượng ( gồm một lượng lớn như: N, P, K, Ca, Mg, Si, Fe, S ) và các nguyên tố vi lượng ( gồm một lượng rất nhỏ,nhưng rất cần thiết cho các quá trình sinh hoá như : đồng, kẽm , côban )
trong quá trình hình thành và phát triển của thổ nhưỡng, do sự phân bố lại một cách có quy luật những nguyên tố hoá học trong các lớp đất Sự tập trung một số nguyên tố có thể tạo nên những hợp chất mới, đặc biệt khác hẳn với các chất vốn có trong đất Ví dụ : đá ong trong đất pheralit nhiệt đới, các hạt kết von sắt trong đất pôtdôn, các hạt cacbônat màu trắng trong đất thảo nguyên vv
Đại lục là một khái niệm về tự nhiên còn châu lục là một khái niệm về chính trị-lịch sử Đại lục và đảo đều là những mảng đất nổi xung quanh có đại dương bao bọc, nhưng khác nhau về quy mô lớn nhỏ, vì vậy đại lục có thể bao gồm một số đảo xung quanh có quan hệ về nguồn gốc phát sinh, còn châu lục là những bộ phận lớn đất đai bao gồm nhiều quốc gia, nên trong châu lục có cả các đảo nằm
ở xung quanh thuộc chủ quyền của các quốc gia đó Trên thế giới có 6 đại lục là : đại lục Âu-Á, đại lục Phi, đại lục Bắc Mĩ, đại lục Nam Mĩ, đại lục Ôxtrâylia và đại lục Nam Cực, nhưng chỉ có 5 châu
là : châu Á (43,9 triệu km2 ), châu Âụ ( 10 triệu km2), châu Phi ( 30 triệu km2 ), châu Mĩ ( 42 triệu
km2 ) và châu Đại Dương (7,7 triệu km2 )
sông Nin ở Ai Cập rộng 24.000km2 ,châu thổ sông Amadôn ở Nam Mĩ rộng 100.000 km2 ,châu thổ
Trang 19sông Hồng và Thái Bình ở nước ta rộng 15.000km2 vv Các châu thổ còn được gọi là tam giác châu hoặc đenta, bởi vì chúng đều có hình tam giác hoặc giống chữ Hi Lạp cổ : đenta.
điểm tự nhiên của lưu vực, chủ yếu là địa hình và khí hậu Địa hình có ảnh hưởng đến độ dốc của lòng sông, tốc độ nước chảy ,còn khí hậu thì ảnh hưởng đến sự biến đổi của lượng nước
Chế độ sông biến đổi theo mùa, trong năm vv thể hiện ở sự biến đổi về mực nước, lưu lượng, nhiệt độ, lượng phù sa và về hàm lượng các chất hoà tan trong nước
phía đông châu Âu, chủ yếu ở Liên bang Nga, Ucraina,Hungari, và Rumani Lượng mùn chiếm từ 4 đến 15% Đây là vùng đất sản xuất nhiều lúa mì nổi tiếng Tuy nhiên, vùng đất này cũng hay bị hạn, nhiều khi mất mùa hàng chục năm liền như ở nước Nga thời Sa Hoàng Việc cung cấp nước tưới cho vùng này là hết sức cần thiết
Ví dụ : sông Đáy, sông Đuống,sông Luộc là các chi lưu của sông Hồng
CHÍ TUYẾN : đường vĩ tuyến nằm ở 23o27' trên cả hai bán cầu Bắc và Nam Ơ đây, lúc giữa trưa, Mặt Trời chỉ xuất hiện trên đỉnh đầu có một lần trong năm Ơ tất cả các địa điểm trong khu vực giữa hai chí tuyến, lúc giữa trưa, Mặt Trời đều xuất hiện trên đỉnh đầu 2 lần trong năm Ngoài khu vực nói trên, quanh năm lúc giữa trưa, không nơi nào thấy được Mặt Trời lên đỉnh đầu Như vậy là trong chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong năm, các đường chí tuyến cũng là những đường giới hạn tân cùng mà Mặt Trời có thể đạt tới Vì vậy có tên là chí tuyến
Đó là tương quan so sánh giữa cán cân bức xạ của mặt đất so với tổng số nhiệt chi phí cho
sự bốc hơi lượng mưa trong năm Chỉ số này được tính theo một công thức do M.I Buđưcô
đưa ra, nhằm đánh giá điều kiện khô,ẩm của một lãnh thổ, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Nếu chỉ
số nhỏ hơn 1 thì thiếu âm Theo cách tính này, các vùng đài nguyên, rừng cây lá rộng, rừng cây hỗn hợp, rừng cây lá kim thuộc ôn đới, rừng rậm nhiệt đới, cận nhiệt đới đều có chỉ số khô hạn nhỏ hơn 1 Chỉ số lớn nhất : 3 là ở vùng hoang mạc
quốc gia không chỉ thuần tuý về mặt kinh tế,mà có chú trọng đến mặt chất lượng cuộc sống của nhândân trong quốc gia đó Chỉ số này được tính dựa vào ba chỉ tiêu : - GNP hoặc GDP tính theo đầu người
- tỉ lệ người biết chữ và được đi học
- tuổi thọ trung bình
CHIẾN LƯỢC "ĐUỔI BẮT" : (catching-up) chiến lược kinh tế của các nước đang phát triển nhằm đuổi kịp các nước phát triển,về sản lượng và xuất khẩu sản phẩm (ở một số lĩnh vực nhất định) trong mộtthời gian ngắn hơn thời gian mà các nước công nghiệp tiên tiến đã phải trải qua,dựa vào ưu thế của các nước đi sau đã có kinh nghiệm của các nước đi trước
CHIẾN LƯỢC "THEO SAU" : (follow-up) chiến lược phù hợp với điều kiện ban đầu còn nhiều khó khăn của các nước đang phát triển.Theo chiến lược này thì các nước đang phát triển cần tập trung vốn đầu tư vào các ngành sản xuất hàng tiêu dùng,tốn ít vốn,quay vòng nhanh, sử dụng nhiều lao động nhằm tăng nhanh tốc độ tích luỹ Các quốc gia này hợp tác, nhập kĩ thuật của nước ngoài và
Trang 20bắt chước họ sản xuất các sản phẩm cùng loại (chủ yếu và lắp ráp,gia công) Cũng có khi dùng các nhãn hiệu của nước ngoài vốn đã nổi tiếng để tiêu thụ sản phẩm.
CHIẾN LƯỢC "VƯỢT TRƯỚC": (pass-over) chiến lược được các công ti tư nhân bản xứ ở các nước công nghiệp mới (NIC) áp dụng,nhằm chiếm ưu thế so với các công ti đa quốc gia,dựa vào ưu thế
về luật pháp dành cho người bản xứ,cũng như những điều kiện thuận lợi về việc hiểu rõ những truyền thống về văn hoá ngôn ngữ dân tộc vv Khó khăn chính là phải san bằng được những yếu kém về mặt kĩ thuật,quản lí sản xuất và về mặt tiếp cận thị trường
địch nhau về kinh tế hoặc chính trị mà chưa dùng đến quân sự
Đất lên mặt phẳng của giấy Phương pháp biểu hiện chủ yếu dựa vào cách vẽ hệ thống kinh,vĩ tuyến của Trái Đất Phương pháp chiếu đồ nào cũng có nhược điểm là làm cho hình dáng thật của bề mặt Trái Đất bị biến dạng Các nhà vẽ bản đồ đã phải dùng các phương pháp toán học để tính toán sao cho bản đồ vẽ ra có sai số ít nhất
thẳng, đi trên hai chân Cánh ngắn không dùng để bay, mà dùng làm bơi chèo khi di chuyển dưới nước Khi đứng, chiều cao của chim trưởng thành đạt đến 1m
CHIM ĐUÔI ĐÀN : (Ménure) loài chim sống ở lục địa Uc, to bằng chim trĩ Con đực có hai lông đuôi dài cong giống như chiếc đàn lia
CHIM ÉN : (hirondelle) loài chim nhỏ, lưng có lông màu đen, bụng có lông trắng, đuôi xẻ thành hai
nhánh Chim én ăn sâu bọ, bắt mồi trong lúc đang bay En là loài chim di trú, sống ở các vùng ôn đới vào các mùa xuân, hạ Sang thu, đông bay về phía nam để tránh rét Đến mùa ấm lại trở về ôn đới
nhanh và có mỏ dài để hút mật hoa
CHIM THIÊN ĐƯỜNG : ( paradisier) loài chim thuộc họ chim sẻ, sinh sống ở trên đảo Irian trong Thái Bình Dương Con đực có bộ lông sặc sỡ và bóng, đẹp, tạo thành các chùm bông ở bên sườn và trên đầu
vách núi đá vôi Tổ chim yến được coi là một món ăn quý Nó được làm bằng rong biển gắn kết với nước rãi của chim và thường chỉ có ở trên các vách núi đá cheo leo
CHÓ BIỂN : ( hải cẩu) thú thuộc bộ chân vây, cổ ngắn, tai không có vành, thân dài từ 1,5m đến 2m Chó biển sinh sống ở vùng biển cực Bắc, cực Nam và cả trong các vùng bờ biển có khí hậu ấm hơn
đảo Đông Dương Động vật này bay được nhờ có những màng da ở hai bên thân dính liền với tứ chi
và đuôi Còn gọi là chồn bay
CHÒM SAO : nhóm các ngôi sao có vị trí gần nhau, tạo nên một hình thù nhất định, thường được đặt tênriêng theo trí tưởng tượng của con người Ví dụ : Chòm sao Gấu Lớn, chòm sao Chiến Sĩ, chòm sao Thần Nông vv
Cực Gọi là chòm sao Bắc Đẩu, vì chòm sao này nằm ở phương Bắc, có hình thù giống như một cái đấu đong gạo (đẩu)
Trang 21CHỒN BAY : X Chó dơi
gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng
hệ khác như : màu da, màu mắt, tóc, hình dáng xương đầu, xương sọ vv Trên thế giới, người ta thường phân ra 3 đại chủng : Ơrôpêôit (da trắng), Môngôlôit (da vàng) và Nêgrô-Ôxtralôit (da đen) (Cũng có tài liệu coi đại chủng Nêgrô-Ôxtralôit là hai đại chủng riêng biệt Nếu như vậy thì sẽ có : không phải 3 đại chủng, mà là 4 đại chủng)
đẹp, thân cây cao, lá chụm lại ở cuống, ngọn xoè ra như những nan quạt
CHUỘT NHẢY : (gerboise) loài chuột nhỏ có hai chân sau dài hơn hai chân trước, thuận tiện cho hoạt
động nhảy và đào đất làm hang trong các đồng bằng đất cát
kinh tế quốc dân và trong nội bộ một ngành, thậm chí giữa các xí nghiệp ở những giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất
những năm gần đây để chỉ sự thay đổi dần dần,từng bước cấu trúc của nền kinh tế trong phạm vi các ngành và các vùng lãnh thổ để thích nghi với hoàn cảnh phát triển của đất nước Sự chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện ở sự thay đổi tỉ trọng giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và cả giữa các ngành nhỏ trong nội bộ các ngành kinh tế như: giữa trồng trọt và chăn nuôi trong nông nghiệp, giữa khai thác và chế biến trong công nghiệp vv
Sự chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ thể hiện ở sự thay đổi các địa bàn sản xuất tương ứng với
sự chuyển dịch cơ cấu ngành Thí dụ: việc hình thành các vùng sản xuất cây công nghiệp ở Tây Nguyên, ở Đông Nam Bộ,việc hình thành và xây dựng khu công nghiệp dầu khí ở Vũng Tàu, các đặc khu kinh tế ở ngoại vi các thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng vv
biểu hiện ra trước mắt người quan sát như có thực Ví dụ : chuyển động của Mặt Trời từ Đông sang Tây trong ngày, chuyển động của Mặt Trời giữa hai chí tuyến trong năm Thực ra, những nhận thức này chỉ là sự lầm lẫn của thị giác con người Mặt Trời không chuyển động từ Đông sang Tây trong ngày, mà Trái Đất tự quay quanh trục từ Tây sang Đông Mặt Trời trong năm không di chuyển giữa hai chí tuyến mà Trái Đất chuyển động tĩnh tiến quanh Mặt Trời trong điều kiện trục của nó nghiêng
66033' so với mặt phẳng quỹ đạo, nên con người trên Trái Đất thấy Mặt Trời di chuyển giữa hai chí tuyến
chính là : chuyển động quanh trục và chuyển động quanh Mặt Trời Chuyển động quanh trục là sự vận động tự quay của Trái Đất quanh trục theo hướng từ Tây sang Đông Thời gian Trái Đất tự quaytrọn một vòng là một ngày đêm Hiện tượng ngày đêm kế tiếp nhau ở khắp nơi trên Trái Đất và hiện tượng Mặt Trời, Mặt Trăng, các vì sao mọc lặn hàng ngày trên bầu trời, mà con người quan sát đượcchính là những kết quả quan trọng nhất của sự chuyển động đó Vì Trái Đất hình cầu, cho nên tốc
độ vận chuyển của các địa điểm trên bề mặt Trái Đất trong một ngày đêm rất khác nhau
Trang 22Các địa điểm nằm trên đường xích đạo có tốc độ lớn nhất (gần 1.700km/h) Càng đi về phía hai cực, tốc độ đó giảm dần Ơ hai điểm cực, tốc độ bằng 0, vì hai điểm này chỉ quay tại chỗ, mà không thay đổi vị trí
Chuyển động quanh Mặt Trời là sự chuyển động của Trái Đất theo một quỹ đạo ellip (hơi bầu dục) mà Mặt Trời nằm ở một trong hai tiêu điểm Tốc độ vận chuyển trung bình của Trái Đất trên quỹ đạo vào khoảng 30km/s Thời gian vận chuyển trọn một vòng bằng 365 ngày 5 giờ 48' (năm thiên văn) Do Trái Đất hình cầu, trục của nó bao giờ cũng nghiêng về một phía và ngả trên mặt phẳng quỹ đạo một góc 66o33', nên bán cầu Bắc và bán cầu Nam luân phiên nhận được tương đối nhiều ánh sáng và nhiệt trong năm Kết quả là có hiện tượng các mùa và hiện tượng ngày đêm dài,ngắn khác nhau ỏ khắp mọi nơi trên Trái Đất ( trừ hai ngày xuân phân và thu phân) Tất cả các địa điểm nằm trên đường xích đạo, quanh năm lúc nào cũng có ngày đêm dài bằng nhau Hiện tượng ngày đêm chênh lệch biểu hiện rõ nhất vào hai ngày hạ chí (22/6) và đông chí (22/12) Lúc
đó, trong khu vực từ vĩ tuyến 66o33' đến cực, hoặc có ngày dài 24 giờ ( bán cầu Bắc vào ngày 22/6, bán cầu Nam vào ngày 22/12) hoặc có đêm dài 24 giờ (bán cầu Bắc vào ngày 22/12, bán cầu Nam vào ngày 22/6)
trạng phân bố lục địa và đại dương ở những khu vực rộng lớn trên Trái Đất Trong trường hợp nâng lên, diện tích lục địa rộng thêm, còn trong trường hợp hạ xuống, diện tích lục địa giảm đi Tốc độ nâng lên và hạ xuống thường chỉ từ một vài phần trăm cm đến vài cm trong một năm Nguyên nhân sinh ra các hiện tượng này có thể là do các lực ở bên trong Trái Đất (chuyển động kiéen tạo), nhưng cũng có thể do các lực ở bên ngoài như sự tăng,giảm trọng lượng của các khối băng lục địa trong cácthời kì băng hà hoặc thời kì tan băng Chuyển động này xảy ra thường xuyên và ở khắp nơi trong lớp
vỏ Trái Đất
này sang một nước khác ( thường là nuức kém phát triển) Các hình thức chuyển giao công nghệ có thể là : bán trang thiết bị kĩ thuật, bán bằng sáng chế hoặc huấn luyện kĩ thuật, thiết lập các chi nhánh vv
phần lãi suất hàng năm do xí nghiệp thu được Trong các nước tư bản, để huy động vốn tổ chức các
xí nghiệp lớn, các tổ chức tư bản, các ngân hàng thường phát hành chứng khoán Ví dụ : để huy độngmột số vốn là 1.000.000 USD,
họ phát hành 1.000 chứng khoán, mỗi tờ có giá trị 1.000 USD Chứng khoán được bán trên thị trường chứng khoán Người nào mua chứng khoán cũng trở thành người tham gia quản lí xí nghiệp
và có quyền được hưởng phần lãi suất hàng năm ( chia theo số lượng chứng khoán) Những người lãnh đạo xí nghiệp được hội nghị toàn thể những người có chứng khoán bầu ra Số phiếu bầu căn cứvào số chứng khoán, vì vậy những người nắm quyền hành điều khiển xí nghiệp, phần lớn là những người sở hữu nhiều chứng khoán nhất Các chứng khoán có thể tự do mua, bán trên thị trường chứng khoán
Các chứng khoán lúc đầu bán ra theo đúng giá trị ghi trên giấy, nhưng về sau giá trị đó có thể thay đổi tuỳ theo tình hình lỗ,lãi của xí nghiệp Xí nghiệp làm ăn càng nhiều lãi, chứng khoán càng
có giá trị trên thị trường và cũng trở thành đối tượng của các hoạt động buôn bán đầu cơ
Trang 23CÔBAN : kim loại màu đỏ nhạt, cứng, dòn,có tỉ trọng 8,9 dùng để chế các hợp kim với đồng, sắt, thép
và chế các chất màu, chủ yếu là màu xanh Trong tự nhiên, côban thường hay gặp trong các hợp chất với lưu huỳnh và asen Kí hiệu hoá học : (Co)
chỉ có trách nhiệm về tổng số các khoản nợ của công ti không vượt quá toàn bộ giá trị của các cổ phần (vốn góp)
của sự vận động tự quay của Trái Đất Ơ bán cầu Bắc, nếu hướng di chuyển là từ xích đạo lên cực thì có sự lệch hướng sang tay phải, nếu hướng di chuyển là từ cực về xích đạo thì có sự lệch hướng sang tay trái Ơ bán cầu Nam,hiện tượng cũng tương tự như vậy
dùng để làm các loại dao cắt kính,các dụng cụ cần độ cứng lớn chống lại tác dụng mài mòn
CỔ ĐỊA LÍ HỌC : khoa học nghiên cứu về sự phân bố các lục địa và đại dương trên bề mặt Trái Đất trong những thơì kì địa chất trước đây
CỔ KHÍ HẬU HỌC : khoa học nghiên cứu về khí hậu của các thời kì đã qua trong lịch sử phát triển củaTrái Đất
đây
CỐC : nhiên liệu thu được nhờ quá trình nung than đá trong những lò đặc biệt có nhiệt độ cao với điều kiện thiếu không khí Cốc là loại than xốp dạng khối và có tỉ lệ cacbon cao (98%) Cốc chủ yếu dùngtrong công nghiệp luyện kim để nấu gang Trong quá trình cốc hoá, người ta cũng thu được các sản phẩm phụ như : khí cốc và các chất nhựa Khí cốc là một nhiên liệu, đồng thời cũng là một nguyên liệu được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp hoá chất
mạc do gió X Backhan
con đực, bộ lông đuôi dài tới 2m, có vân hoa, có thể xoè ra thành một hình bán nguyệt
để tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra hàng loạt sản phẩm có những tính chất nhất định Sự tác động đó thường phải thông qua các phương tiện vật chất ( máy móc, trang bị, công cụ vv )
ngành sản xuất công nghiệp
của chúng, để sử dụng vào các mục đích thực tiễn và công nghiệp Công nghệ sinh học hiện nay mới phát triển ở giai đoạn đầu và hứa hẹn một tương lai đầy triển vọng Những hướng nghiên cứu chính của ngành này là: công nghệ vi sinh, kĩ thuật enzim(*), kĩ thuật gien và nuôi cấy tế bào
vụ khai thác, chế biến những tài nguyên thiên nhiên và cả các nông sản, hải sản thành các sản phẩmtiêu dùng, các công cụ, tư liệu sản xuất vv để phục vụ cho đời sống xã hội và
thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của con người Công nghiệp tuy hiểu theo nghĩa rộng là một ngành, nhưng thực ra là một hệ thống bao gồm rất nhiều ngành sản xuất phức tạp,
Trang 24có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, việc phân loại các ngành công nghiệp là một vấn đề rất khó khăn và phức tạp Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau và có tính chất rất tương đối Nếu căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm, người ta chia các ngành công nghiệp ra hai nhóm : nhóm A ( công nghiệp nặng) gồm các ngành sản xuất các sản phẩm sử dụng trong các ngành sản xuất khác như : công cụ lao động ( máy móc, thiết bị vv ) hoặc các tư liệu lao động ( nguyên liệu, nhiên liệu ) Những ngành thuộc nhóm A có : công nghiệp nhiên liệu, công nghiệp khai mỏ và luyên kim, công nghiệp chế tạo máy và chế biến kim loại, công nghiệp khai thác và chế biến gỗ, công nghiệp hoá chất vv Nhóm B (công nghiệp nhẹ) gồm các ngành sản xuất ra các sản phẩm không sử dụng vào mục đích sản xuất, mà phục vụ cho mục đích tiêu dùng trực tiếp của con người như : công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dệt, sành sứ, giày dép, sản xuất vật liệu gia đình, công nghiệp in
Nếu căn cứ vào tính chất và đặc điểm của ngành sản xuất, người ta có thể chia ra : nhóm các ngành công nghiệp cơ bản như: luyện gang,thép, hoá chất vv bao gồm cả quá trình khai thác
nguyên liệu (khai thác than, quặng ) Gọi là cơ bản bởi vì các ngành này đã chế biến bước đầu các nguyên liệu thành sản phẩm thô hoặc bán thành phẩm để cung cấp cho các ngành công nghiệp khác Nhóm thứ hai là các ngành công nghiệp chế biến, sử dụng các sản phẩm thô của các ngành cơ bản
để chế biến chúng tiếp thành các sản phẩm hoàn chỉnh như: công nghiệp cơ khí, dệt, thực phẩm vv
Cả hai cách phân loại này đều có những chỗ bất hợp lí, vì hiện nay số lượng các ngành công nghiệp rất lớn và đa dạng Chúng xâm nhập vào nhau và trở nên khó phân biệt đâu là công nghiệp nặng, đâu là công nghiệp nhẹ, ngành nào là cơ bản, ngành nào là chế biến vv
định, nhằm đưa nền sản xuất xã hội tiến lên quy mô lớn, thay thế lao động sản xuất thủ công bằng máy móc, và máy móc sẽ chiếm địa vị chủ yếu trong các quá trình sản xuất
2- quá trình phát triển kinh tế của một nước, trong đó một bộ phận nguồn lực ngày càng lớn được huy động vào việc xây dựng một cơ cấu công nghiệp đa ngành với công nghệ hiện đại để chế tạo ra tư liệu sản xuất, hàng hoá tiêu dùng, có khả năng đảm bảo một nhịp độ tăng trưởng cao cho toàn nền kinh tế và bảo đảm sự tiến bộ kinh tế - xã hội
các hàng hoá vận chuyển trên các tuyến đường vận tải đường bộ, đường biển và đường không
nghiệp, về dịch vụ đặt ở nhiều nước, vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia Trên thế giới hiện nay ướctính có khoảng 12.000 công ti xuyên quốc gia, trong đó hơn 25% là các công ti của Hoa Kì
Liên Minh châu Âu, được thành lập năm 1957 với 6 thành viên lúc đầu là : Pháp, CHLB Đức, Italia,
Bỉ, Hà Lan và Lucxembua Đến 1986, có thêm 6 nước nữa tham gia là : Anh, Ailen, Đan Mạch (1973), Hi Lạp (1981) và Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha (1986) Việc thành lập khối này đã có mầm mống ngay từ năm 1951, khi Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Rôbe Suman (Robert Shuman) đề ra kế hoạch thành lập "Cộng đồng than, thép châu Âu" (ECSC)
Ngày 18 tháng 4 năm 1951, 6 nước: Pháp, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lucxembua và CHLB Đức kí hiệp ước ở Pari Đến tháng 3 năm 1957, các nước này lại họp ở Rôma để thành lập "Cộng đồng châu Âu
về năng lượng nguyên tử (Euratom) và " Cộng đồng kinh tế châu Âu", còn gọi là "Khối thị trường
Trang 25chung" (Common Market) Việc hình thành tổ chức này là một quá trình Lúc đầu, mục đích của khối này chỉ hạn chế trong việc hợp tác và phối hợp ở một số lĩnh vực kinh tế, nhưng dần dần khối này tiến tới chủ trương : xoá bỏ các hàng rào quan thuế giữa các nước, thiết lập sự tự do lưu thông hàng hoá và đi lại của mọi người dân trong nội bộ các nước tham gia Mục đích sâu xa của tổ chức này là tạo ra "một châu Âu" mạnh về tiềm năng kinh tế để cạnh tranh với những cường quốc khác như Hoa Kì và Nhật Bản
Nước được nhân dân bầu ra theo nhiệm kì Việc bỏ phiếu có thể do toàn dân hoặc do các đại diện của nhân dân
quan trọng nhất của cột đo gió là con quay gió đặt trên đỉnh cột, gồm có một mũi tên chuyển động đểchỉ hướng gió và một tấm kim loại có kích thước và trọng lượng được tính sẵn sao cho khi gió thổi,
dù ở cấp thấp nhất, nó cũng được nâng lên một góc tương ứng với vạch mốc ghi trên vành đo
vùng, một quốc gia ( hoặc trên toàn thế giới) ,tạo thành một hệ thống công nghiệp, trong đó các ngành đều có những mối quan hệ gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau
CƠ CẤU KINH TẾ : tình trạng phối hợp các ngành kinh tế trong một vùng, một quốc gia ( hoặc trên toàn thế giới) tạo thành một tổng thể kinh tế, trong đó hoạt động của toàn bộ nền kinh tế đòi hỏi giữacác ngành phải có những mối quan hệ gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau
( hoặc trên toàn thế giới) vào các ngành kinh tế khác nhau, bảo đảm cho sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế
xuất vật chất hoặc cho đời sống của một bộ phận dân cư Ví dụ : đường xá, điện nước, trường học v.v
nước thuộc Tây Á như: Thổ Nhĩ Kì, Iran, Irăc và Xiri
CỰC ĐỊA LÍ : điểm tiếp xúc của trục ( tưởng tượng) Trái Đất với bề mặt Trái Đất Trên bề mặt Trái Đất
có hai cực : cực hướng thẳng về phía ngôi sao Bắc Cực là cực Bắc Cực ở phía ngược lại là cực Nam Người đến được cực Bắc đầu tiên năm 1909 là nhà thám hiểm người Mĩ Piri Người đến đượccực Nam đầu tiên là nhà thám hiểm người Na Uy Amunxen
CỰC QUANG : hiện tượng quang học xảy ra trong các tầng khí quyển trên cao (tâng ion), biểu hiện ở
sự phát sáng của không khí cực loãng ở độ cao từ 60 đến 1.000km Cực quang chỉ có thể quan sát được ở các vùng vĩ tuyến cao của hai bán cầu ( phần lớn ở khoảng cách 2.000 - 2.500 km, xung
Trang 26quanh các từ cực) Cực quang thường có nhiều hình dạng : hình cầu vồng, hình dải hoặc tán
vv Nguyên nhân sinh ra hiện tượng cực quang chủ yếu là sự di chuyển của các hạt có năng lượng cao, từ các tầng ion trên cao xuống tầng ion dưới thấp, khi từ cực có những dao động dữ dội ( bão từ) Thời gian xuất hiện của cực quang có thể kéo dài từ vài chục phút đến vài ngày
bình,bao gồm cả việc sử dụng những biện pháp quân sự hoặc phi quân sự nhằm trừng phạt các hành
vi xâm lược của các nước trên thế giới,vãn hồi hoà bình
sông thuộc lưu vực khác chảy vào dòng của mình Nguyên nhân của hiện tượng này là tác dụng xâm thực giật lùi ( đào sâu lòng, làm cho nguồn sông lùi dần lên phía trên) của sông về phía thượng nguồn Sông lùi dần đến khi gặp một khúc sông thuộc lưu vực khác, thì sẽ xảy ra hai trường hợp :
- Nếu độ cao của thung lũng sông đào lòng (A) nằm thấp hơn độ cao của thung lũng sông bắt gặp (B), thì nước ở sông bắt gặp (B) sẽ bỏ dòng cũ mà chảy vào sông đào lòng (A)
Sông đào lòng (A) trở thành sông cướp dòng, còn sông (B) là sông bị cướp dòng
- Nếu độ cao của thung lũng sông đào lòng (A) nằm cao hơn thung lũng của sông bắt
gặp (B) , thì nước ở sông (A) sẽ bỏ dòng cũ mà chảy vào sông (B) Sông (A) trở thành sông bị cướp dòng, còn sông (B) là sông cướp dòng
do sự gắn kết nhiều khối nhỏ của các loại đá khác như : đá cuội kết, đá dăm kết v.v Tuỳ theo nguồn gốc, đá được phân ra 3 nhóm : đá măcma, đá trầm tích và đá biến chất Đá măcma được hình thành do quá trình đông đặc và nguội lạnh của khối măcma nằm sâu trong lòng đất Đặc điểm của các loại đá măcma là có các tinh thể hình thành trong quá trình kết tinh Vì vậy, người ta cũng gọi loại đá này là đá kết tinh hoặc đá hoả thành Đá măcma lại phân ra hai loại : đá phún xuất ( khi măcma trào ra ngoài mặt đất Ví dụ: đá riôlit, đá badan ) và đá xâm nhập ( khi măcma chưa lên tớimặt đất, còn nằm xen trong các lớp gần mặt đất như : granit ) Đá trầm tích được hình thành do
sự tích tụ các vật liệu trầm lắng ở các đáy biển, đáy hồ v.v Đặc điểm của đá trầm tích là có các lớp song song, nhiều khi khác nhau về màu sắc, về tính chất thô, mịn ( tuỳ theo sự trầm lắng của các loại vật liệu khác nhau, qua các thời kì), ví dụ : đá phiến, đá vôi v.v Đá biến chất được hình thành do quá trình nóng chảy và tái kết tinh của các loại đá măcma hoặc trầm tích bị vùi trong các lớp đất sâu, chịu áp lực lớn, nhiệt độ cao hoặc nằm gần kề các lò măcma nóng chảy Đặc điểm của
đá biến chất là vừa có cấu trúc tinh thể,vừa có cấu trúc phân lớp Ví dụ : đá gơnai ( do granit biến chất, đá hoa do đá vôi biến chất )
hàm lượng ôxyt silic dưới 55% thì là đá kiềm hay đá badơ, ví dụ : đá badan Nếu hàm lượng ôxyt silic từ 55% đến 65% thì đá được coi là trung tính, ví dụ : đá điôrit
Trang 27ĐÁ BỌT: đá hình thành từ tro núi lửa, xốp, nhẹ, cứng, thường được dùng làm đá mài Đá bọt có thể nổi trên mặt nước, do trong cấu trúc có nhiều lỗ hổng chứa không khí.
ĐÁ CÁT : ( sa thạch) đá trầm tích có thành phần chủ yếu gồm các hạt thạch anh gắn kết với nhau bằng
chất ximăng silic hoặc vôi Đá cát được dùng nhiều trong các công trình xây dựng, để lát đường hoặc làm đá mài dao
ĐÁ GỐC : lớp đá còn nguyên vẹn, chưa bị phong hoá, nằm ở tầng dưới cùng của phẫu diện thổ
nhưỡng, được kí hiệu là tầng D
ĐÁ KIỀM : X Đá axit.
ĐÁ LỞ : hiện tượng đá tảng ở các sườn dốc bị tách ra, lăn từ trên cao xuống chân núi Nguyên nhân
chủ yếu là do quá trình phong hoá lâu ngày đã làm cho lực liên kết các khoáng vật trong đá giảm
đi Khi có chấn động mạnh hoặc mưa lớn, từ các vết nứt nẻ, đá mất thăng bằng và lao xuống chân núi do trọng lực Hiện tượng đá lở thường gây ách tắc đối với đường xá giao thông, phá hoại cầu cống và ảnh hưởng cả đến sinh hoạt của con người ở các miền núi
ĐÁ MẸ : lớp đá bị vỡ vụn, nhưng chưa bị phong hoá hoàn toàn, nằm ngay ở phía trên tầng đá gốc
trong phẫu diện thổ nhưỡng Lớp đá mẹ được kí hiệu là tầng C
ĐÁ QUÝ : khoáng vật có nhiều màu sắc đẹp, có độ trong và độ phản xạ ánh sáng cao, được dùng trong
ngành mĩ nghệ để làm các đồ trang sức cho phụ nữ như : kim cương, ngọc xanh, ngọc đỏ ( rubis), ngọc lam vv
ĐÁ RIÔLIT : loại đá măcma phún xuất, có thành phần tương tự như đá granit, nhưng có tinh thể nhỏ
và mịn hơn Ví dụ : đá riôlit ở khối núi Tam Đảo nước ta
ĐÁ SỢI : X Amiăng.
trong các loại đá phiến kết tinh Khi nghiền nhỏ thành bột, được dùng trong nhiều ngành công nghiệp, như : công nghiệp hoá chất ( chế tạo cao su), công nghiệp giấy v.v Bột đá tan cũng được dùng để chế phấn xoa rôm cho trẻ em
xavan và hoang mạc ở châu Phi, châu Uc Đà điểu có cánh ngắn, không bay được, nhưng nhờ đôi chân to, khoẻ có thể chạy với tốc độ 40km/h
ĐÀI NGUYÊN : X Đồng rêu
ĐẠI: khoảng thời gian tương ứng với một giai đoạn phát triển lâu dài của lịch sử Trái Đất và của giới hữu cơ Trong lịch sử địa chất, người ta chia ra 5 đại : đại Thái Cổ (AR), đại Nguyên sinh ( PR), đại Cổ sinh (PZ), đại Trung sinh (MZ) và đại Tân sinh (KZ) Mỗi đại có thời gian kéo dài từ vài chục triệu năm đến trên một nghìn triệu năm Mỗi đại lại chia ra nhiều kỉ
- Đại Thái cổ là đại cổ nhất trong lịch sử địa chất của Trái Đất Thời gian kéo dài khoảng 1.000 triệu năm và cách đây khoảng 3.500 triệu năm Các loại đá được hình thành trong đại Thái cổ hiện biết ( tìm được ở Nam Phi) có mức độ biến chất rất mạnh Phần lớn chúng đều có tuổi trên 3.000 triệu năm Đây là thời kì xảy ra nhiều hiện tượng xâm nhập và nhiều vận động kiến tạo lớn
- Đại Nguyên sinh có thời gian kéo dài khoảng từ 600 đến 800 triệu năm Các loại đá được hình thành trong đại này cũng là đá biến chất mạnh, nhưng thường có mức độ kém hơn Trong đại Nguyên sinh đã có các sinh vật đơn giản chưa có xương Theo dự đoán của các nhà địa chất, thì chỉ đến cuối đại Nguyên sinh các nhóm động vật có xương, mới xuất hiện (trừ nhóm động vật có xương sống)
- Đại Cổ sinh kéo dài vào khoảng 300 - 350 triệu năm Trong đại này, giới sinh vật đã rất phong phú Động vật có xương sống đã xuất hiện với các loài cá và bò sát Thực vật chủ yếu là các loài
Trang 28tảo và dương xỉ Đây cũng là thời kì hình thành nhiều mỏ than đá lớn trên thế giới Về kiến tạo, đã
có các vận động tạo sơn Calêđôni và Hecxini Đại Cổ sinh có 6 kỉ: Cambri, Oócđôvich, Silua, Đềvôn, Cacbon và Pecmi
- Đại Trung sinh bắt đầu cách đây khoảng 230 triệu năm và kéo dài trong hơn 160 triệu năm Đại này có 3 kỉ : Triat, Giura và Crêta (Bạch Phấn) Trong đại Trung sinh, nhiều vùng trên thế giới có vận động tạo sơn Mạnh nhất là vận động tạo sơn Kimmêri hay Inđôxini ( cuối Triat, đầu Giura) xảy ra ở ven bờ Tây Thái Bình Dương Vận động tạo sơn này có vai trò quan trọng trong việc hình thành địa hình khu vực Đông Nam A, trong đó có nước ta Giới sinh vật trong đại này rất phong phú Động vật có các loài khủng long,chim Các loài có vú cũng bắt đầu xuất hiện Thực vật có : dương xỉ, cây lá kim và các cây hạt kín (bí tử)
- Đại Tân sinh bắt đầu cách đây 67 triệu năm và còn kéo dài cho đến ngày nay Đại này chia ra 3
kỉ : Palêôgen, Nêôgen ( còn gọi là kỉ Đệ Tam) và Antrôpôgen ( kỉ Nhân sinh hay kỉ Đệ Tứ) Trongđại Tân sinh những biến đổi lớn trên bề mặt Trái Đất đã tạo nên sự phân bố các lục địa và đại dương như hiện nay Vận động tạo sơn mãnh liệt đã hình thành nên các núi lửa hiện đại và các hệ núi cao nhất bên bờ Đông Thái Bình Dương ( trên châu Mĩ), ở Nam Âu ( Anpi) và ở châu A ( Himalaya) Vào cuối Nêôgen, đầu kỉ Đệ Tứ, khí hậu trên Trái Đất trở nên rất lạnh đã làm cho băng hà lục địa phát triển, bao phủ nhiều vùng đất đai rộng lớn trên các lục địa Âu - A và Bắc Mĩ Giới sinh vật đã phát triển gần giống như hiện nay Con người cũng bắt đầu xuất hiện vào đầu kỉ
Đệ Tứ
mặt Trái Đất Đại dương thế giới gồm có 4 đại dương, nối thông với nhau : Thái Bình Dương ( 180triệu km2), Đại Tây Dương ( 93 triệu km2), ấn Độ Dương ( 75 triệu km2) và Bắc Băng Dương ( 13 triệu km2)
ĐẠI ĐỊA HÌNH : dạng địa hình lớn, xác định kiểu địa hình của một bộ phận đất đai rộng lớn trên bề
mặt Trái Đất Ví dụ : bình nguyên, cao nguyên, khối núi vv
ĐẠI LỤC : khối đất liền lớn trên bề mặt Trái Đất, xung quanh có biển và đại dương bao bọc Đại lục
có hai bộ phận : bộ phận nổi trên mặt nước biển là bộ phận lớn nhất Bộ phận nhỏ hơn, chìm dưới mặt nước là rìa lục địa, gồm có : thềm lục địa, sườn hay dốc lục địa và bờ lục địa Trên Trái Đất có
6 đại lục là : đai lục A - Âu, rộng 50,7 triệu km2, đại luc Phi rộng 29,8 triệu km2, đại lục Nam Mĩ rộng 17,6 triệu km2,, đại lục Nam Cực rộng 14 triệu km2 và đại lục Ôxtrâylia rộng 7,6 triệu km2 Theo thuyết " lục địa trôi" thì tất cả các đại lục trên bề mặt Trái Đất đều từ một đại lục thống nhất ban đầu tách ra, trôi giạt theo các hướng khác nhau Hiện nay, quá trình trôi giạt của các đại lục này vẫn còn tiếp diễn
mì, nhưng có râu dài hơn Hạt đại mạch dùng làm lương thục cho người, cho gia súc và dùng trong công nghiệp làm rượu bia
ĐẠO CHÍNH THỐNG : ( Trực giáo) một giáo phái từ Kitô giáo tách ra Từ năm 1504 đã trở thành
một giáo phái hoàn toàn độc lập Quyền hành tối cao nằm trong tay quốc vương Đạo chính thống mang tính bảo thủ, huyền bí và phi lí trong các giáo điều cũng như trong các tổ chức Giáo hội chính thống vẫn tuân theo các giáo điều và luật lệ cũ từ thế kỉ IV đến thế kỉ VIII, từ chối mọi đổi mới của giáo hội La Mã Ví dụ: đạo chính thống ở Nga từ chối không sử dụng lịch do Giáo Hoàng
La Mã Grêgoa cải tiến, vì vậy khi Cách mạng tháng 10 nổ ra vào ngày 7 tháng 11 năm 1917, thì lịch cũ của Nga mới là ngày 25 tháng 10 năm 1917
Trang 29ĐẠO CƠ ĐỐC : Cơ Đốc cũng như Kitô là những phiên âm khác nhau của từ Christ trong Jesus Christ.
X đạo Kitô
ĐẠO GIA TÔ : cũng là đạo Kitô, do phiên âm từ đầu của tên Jesus Christ X đạo Kitô.
ĐẠO HỒI : ( Hồi Giáo, Islam) tôn giáo do Mohamet thành lập vào thế kỉ VII trên bán đảo Arap Trong
các thế kỉ IX và X đạo Hồi được truyền bá đến bán đảo Ân Độ vùng Địa Trung Hải và vùng bờ biểnchâu Phi phía Đại Tây Dương Ơ châu A, từ khi các Hoàng đế Mông Cổ ngả theo đạo Hồi, đạo này được truyền bá rộng rãi ở Trung Quốc Về sau, người Thổ Nhĩ Kì lại truyền bá đạo Hồi sang các nước Đông Âu sau khi chiếm được thành phố Côngxtantinôp Hiện nay, đạo Hồi rất thịnh hành ở các nước Tây Nam A, Bắc Phi, Inđônêxia Do có ảnh hưởng từ đạo Giuđa và đạo Kitô, đạo Hồi vừa
là một tôn giáo, vừa là một nền văn hoá của người Arap Kinh của đạo Hồi là Coran Tôn giáo này rất đơn giản trong lễ nghi cúng bái, chỉ thờ một vị thần : thánh Ala Tuy nhiên, giáo điều lại rất khắt khe Hàng ngày tín đồ phải hành lễ, hướng về phía thánh địa Mecca Mỗi năm vào tháng 9 ( lịch Hồigiáo) tín đồ phải làm lễ nhịn ăn trong 1 tháng Đây cũng là tôn giáo mà hàng năm có những cuộc hành hương đông đảo của tín đồ về thánh địa Mecca
ĐẠO KI TÔ : ( đạo Cơ Đốc, đạo Gia Tô) tôn giáo xuất hiện vào đầu Công nguyên Từ thế kỉ III trở
thành quốc giáo của La Mã và là một trong những tôn giáo có nhiều tín đồ nhất thế giới ( khoảng trên 150 triệu) Theo giáo lí của nhà thờ, Chúa Giêxu là người sáng lập ra đạo Kitô Do sự khác biệt
về kinh tế, chính trị và văn hoá giữa Đông và Tây La Mã nên đạo Kitô dần dần tách ra thành 2 giáophái chính : đạo Thiên Chúa ở phía Tây và đạo chính thống ở phía Đông Sự phân chia này kết thúcvào năm 1654 Từ đầu thế kỉ 16, xuất hiện thêm giáo phái thứ ba là đạo Tin Lành hay đạo Kitô mới
ĐẠO PHẬT : (Phật Giáo) tôn giáo bắt nguồn ở Ân Độ từ 600 năm trước Công nguyên Tuy nhiên
hiện nay vị trí của đạo Phật ở Ân Độ lại không mạnh bằng ở một số nước khác như : Nhật Bản, Trung Quốc ( Tây Tạng), bán đảo Trung ấn Đạo Phật lấy lòng từ bi, cứu người làm mục tiêu, phản đối sự phân chia và phân biệt đẳng cấp trong xã hội
ĐẠO THIÊN CHÚA : (Công Giáo) một giáo phái của đạo Kitô ở Tây Âu Đứng đầu giáo hội là Giáo
hoàng La Mã, đồng thời là người đứng đầu toà thánh Vaticăng Đạo Thiên Chúa tin vào đức thánh Cha ( người sáng tạo ra thế giới) , công nhận quyền tuyệt đối của Giáo hoàng
ĐẠO TIN LÀNH : một giáo phái thuộc đạo Kitô, xuất hiện trong thời kì Cải cách tôn giáo vào đầu thế
kỉ XVI, chống đối lại giáo hội La Mã, không công nhận các thánh, thiên thần và phủ nhận việc thờ Đức Mẹ Điều đặc biệt lớn nhất là họ không cần thông qua nhà thờ và giới tu sĩ để liên hệ với Thượng Đế, mở đầu cho sự yêu cầu tự do, dân chủ tư sản và phát triển cá nhân của giai cấp tư sản Việc thờ cúng vì vậy được đơn giản hoá Đạo Tin Lành có 3 nhánh nhỏ : một nhánh truyền bá ở Đức và các nước Bắc Âu, nhánh thứ hai truyền bá ở Pháp, Thuỵ Sĩ, Hà Lan, Xcôtlen và Hoa Kì Nhánh thứ ba truyền bá ở Anh
ĐẢO : bộ phận đất nổi,nhỏ hơn lục địa, xung quanh có nước biển và đại dương bao bọc Đảo có thể
đứng lẻ loi, riêng biệt hoặc tụ họp thành quần đảo Về nguồn gốc hình thành, đảo có thể là một bộ phận của đất liền bị tách ra do hiện tượng sụt lún của lục địa ( Ví dụ : đảo Mađagaxca, Calimantan, Grơnlen vv ) hoặc có thể do dung nham của núi lửa phun ngầm ở dưới đáy biển, đại dương tạo thành ( các đảo trong quần đảo Haoai trong Thái Bình Dương, đảo Xanh Hêlen trong Đại Tây Dương vv ) hoặc cũng có thể do san hô tạo thành ( các đảo thuộc quần đảo Macsan trong Thái Bình Dương vv )
Trang 30ĐẦM LẦY : bộ phận đất trũng thấp, có độ ẩm quá thừa, vì vậy nước thường xuyên đọng lại thành lớp
trên mặt, bên dưới là một lớp than bùn Lớp phủ thực vật chủ yếu là các loại cây ưa ẩm Đầm lầy được phân bố ở khắp nơi trên bề mặt Trái Đất, đặc biệt phổ biến là ở đới đồng rêu
ĐẬP : công trình xây dựng chắn ngang một dòng sông hoặc một eo biển nhằm mục đích làm cho mực
nước ở phía trên được nâng cao Các đập thường được xây dựng chủ yếu để phục vụ cho tưới tiêu trong nông nghiệp, khai thác thuỷ năng phát điện và giao thông vận tải
ĐẤT BẠC MÀU : đất đã bị giảm độ phì nhiêu do có tỉ lệ mùn và chất dinh dưỡng thấp Thành phần cơ
giới chủ yếu là các hạt cát thô và mịn, có màu xám sáng, vì vậy có tên : đất bạc màu Đất bạc màu thường thấy phổ biến ở miền trung du nước ta, hình thành trên vùng phù sa cổ
ĐẤT CHUA : đất có phản ứng axit, độ pH thấp hơn 7 ( ở tầng canh tác) Nguyên nhân chủ yếu là do
đất được hình thành ở những vùng đá gốc chua hoặc đã trải qua một quá trình lâu dài rửa trôi các chất kiềm Mức độ chua được biểu hiện ở độ pH như sau : nếu từ 5,5 đến 6,5 là chua ít; từ 4,5 đến 5,5 là chua; từ 3 đến 4,5 là chua nhiều; dưới 3 là rất chua Nếu đất có độ pH = 7 là đất trung tính, trên 7 là đất kiềm
ĐẤT ĐEN : đất có màu xẫm hoặc đen, chủ yếu do tỉ lệ mùn cao Thông thường, thuật ngữ dùng để chỉ
đất Checnôdiom hình thành ở vùng thảo nguyên ôn đới khô ( ở Đông Âu) Tuy nhiên, không phải chỉ có Checnôdiom mới có màu đen mà cả đất vùng preri (Bắc Mĩ), đất macgalit cũng có màu đen Tuy về nguồn gốc phát sinh và tính chất các loại đất này có khác nhau, nhưng đất đen thường có
độ phì cao vì có lượng mùn khá lớn
được hình thành phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Có nhiều loại đất đỏ khác nhau như : Pheralit, Latêrit, Tera Rôtxa, Rendin vv
ĐẤT HẠT GIẺ : đất có màu nâu nhạt ở các vùng thảo nguyên khô, có lượng mùn thấp : từ 2 đến 5%
Đất hạt giẻ khá phì nhiêu, nếu có lượng ẩm đầy đủ
ĐẤT KIỀM : (đất badơ) đất có độ pH trên 7 X thêm : đất chua.
đất mặn : đất có chứa một tỉ lệ muối cao, thường gặp ở các vùng hoang mạc ( nơi có độ bốc hơi mạnh, làm cho lượng muối hoà tan trong dung dịch đất đọng lại trên mặt đất) hoặc ở các vùng đất thấp ven biển, ven các cửa sông, nơi còn chịu ảnh hưởng rõ rệy của thuỷ triều
ĐẤT PHÈN : đất chua mặn ở nhiệt đới và cận nhiệt đới phát triển trên các vùng đất thấp của đồng
bằng châu thổ Nguyên nhân hình thành loại đất này có liên quan đén sự hình thành các hợp chất độc hại của lưu huỳnh, như : AlSO4 ở các vùng cửa sông, ven biển Ơ nước ta, đất phèn chiếm một diện tích rất rộng ở đồng bằng Nam Bộ Việc cải tạo đất phèn đòi hỏi phải có các công trình thuỷ lợi, dẫn nước ngọt về rửa phèn và từng bước khoanh vùng, sử dụng đất vào sản xuất
thực vật
ĐẦU MỐI GIAO THÔNG : nơi hội tụ của nhiều tuyến đường giao thông vận tải cùng loại, hoặc khác
loại Ví dụ : đường sắt, đường ô tô, đường thuỷ, đường không vv Đầu mối giao thông vận tải thưòng là các thành phố công nghiệp, các cảng biển lớn
nhằm sử dụng tiền vốn vào việc xây dựng các công trình, phát triển các đề án kinh tế, khoa học-kĩ thuật vv
ĐỀVÔN : ( D) kỉ thứ 3 của đại Cổ sinh X Đại
đenta : đồng bằng có hình tam giác do phù sa bồi đắp ở cửa sông Trên đồng bằng thường có nhiều nhánh sông chảy ra biển X thêm : Châu thổ
Trang 31ĐÈO : nơi trũng thấp vượt qua một dãy núi, thuận lợi cho việc đi lại, giao thông vận tải Ví dụ : đèo
Khế, đèo Hải Vân
ĐILUVI : 1 - sản phẩm trầm tích của nước lũ
2 - phù sa Đệ Tứ của những con sông hiện đại
ĐỊA BÀN : dụng cụ để xác định phương hướng, đo tính các góc phương vị, rất cần thiết đối với các
nhà du lịch, đi biển, đo vẽ bản đồ, nghiên cứu địa chất vv Địa bàn có nhiều loại, tuỳ theo công dụng, nhưng về nguyên tắc, chúng đều có bộ phận chính là một kim nam châm quay trên một trục
cố định Tất cả thường được đặt vào trong một hộp tròn có chia độ và ghi tên các hướng chính Cũng có tên khác là : la bàn
ĐỊA CẦU : X Trái Đất.
ĐỊA CẦU THỂ : (géoid) hình dáng thực của Trái Đất, căn cứ vào độ cao trung bình của mặt nước các
đại dương Địa cầu thể không giống bất cứ một hình hình học nào
ĐỊA CHẤN HỌC : khoa học nghiên cứu về các chấn động trong lớ vỏ Trái Đất.
ĐỊA CHẤN KÍ : dụng cụ rất nhạy dùng để ghi lại cường độ cũng như thời gian xảy ra các chấn động
trong lớp vỏ Trái Đất ở một vùng hay ở một địa phương
ĐỊA CHẤT HỌC : hệ thống các khoa học nghiên cứu về thành phần, cấu trúc và sự phát triển của lớp
vỏ Trái Đất trước kia và hiện nay Trong Địa chất học có nhiều ngành nhỏ nghiên cứu về từng mặt của lớp vỏ Trái Đất Ví dụ : ngành nghiên cứu về các loại đá là: Nham thạch học, về thành phần của các loại đá là: Khoáng vật học, về sự phát triển của lớp vỏ Trái Đất và các biến động của nó do nội lực gây ra là: Địa chất kiến tạo học, về sự phát sinh và phát triển của giới hữu cơ đặc trưng cho các thời kì địa chất là: Cổ địa chất học và Địa
chất cổ sinh vv
quần cư như thành phố, thị trấn, làng mạc vv Ví dụ : Braxin, Himalaya, Mê Công, Hồng Hải, Hà Nội vv
ĐỊA ĐỒ : X Bản đồ
ĐỊA HÀO : bộ phận đất sụt do nguyên nhân kiến tạo, hình thành một vùng trũng thấp, giới hạn giữa
hai đường đứt gãy song song Ví dụ : Hồng hải và các hồ dài,hẹp ở Đông Phi đều là những địa hào
bị ngập nước
ĐỊA HÌNH APALAT : loại địa hình núi già được trẻ hoá,hoạt động xâm thực lại tiếp tục xảy ra trên
một bề mặt san bằng
ĐỊA HÌNH ĐẢO NGƯỢC ĐỊA : địa hình biến đổi hoàn toàn ngược với địa hình lúc ban đầu Ví dụ :
địa hình núi trước kia nay trở thành thung lũng ( một nếp lồi bị xâm thực lâu ngày trở thành vùng lõm vv )
ĐỊA LÍ BỘ PHẬN : các ngành thuộc khoa học Địa lí nghiên cứu các thành phần riêng biệt của lớp vỏ
địa lí và các cảnh quan trên Trái Đất Thuộc về các khoa học địa lí bộ phận có : Địa mạo học, Thuỷvăn học, Khí hậu học, Địa lí thổ nhưỡng, Địa lí thực vật, Địa lí động vật v.v
ĐỊA LÍ CHÍNH TRỊ HỌC : môn học nghiên cứu các mối quan hệ giữa các quốc gia và đường lối
chính trị của các nước này dựa trên những điều kiện về tự nhiên Môn học này trước đây, đã được một số học giả tư sản phát triển để phục vụ cho ý đồ xâm lược của các nước đé quốc
ĐỊA LÍ HỌC : hệ thống các khoa học có liên quan với nhau, nghiên cứu về lớp vỏ địa lí, các lãnh thổ,
các quốc gia, cả về mặt tự nhiên lẫn kinh tế - xã hội Địa lí học gồm có các khoa học : địa lí tự nhiên, địa lí xã hội ( nhân văn) và địa lí kinh tế Các khoa học bộ phận khác như : địa mạo học, khí
Trang 32hậu học, thuỷ văn học vv trước kia thuộc khoa học địa lí, nay hợp lí hơn, đã tách ra, thuộc vào các khoa học về Trái Đất.
ĐỊA LÍ KIẾN THIẾT : khái niệm chỉ một khuynh hướng mới trong Địa lí học, có mục đích giải quyết
những vấn đề thực tiễn như : cải tạo và phát triển các tổng thể tự nhiên và kinh tế một cách hợp lí,
sự điều hoà và phân bố dân cư vv Có nhiều thuật ngữ đồng nghĩa với Địa lí kiến thiết là : cảnh quan học nhân sinh, địa lí học dự báo, cảnh quan học viễn cảnh, địa lí tương lai học vv
ĐỊA LUỸ : bộ phận nhô cao giữa hai đường đứt gãy song song trong khu vực có địa hình đoạn tầng ĐỊA MÁNG : máng trũng cổ trong các đại dương, ở đó có sự tích tụ của các lớp đá trầm tích rất dày và
dẻo Khi các mảng lục địa chuyển dịch, va vào nhau, các lớp trầm tích trong địa máng bị nén ép, uốn nếp và nhô lên thành các dãy núi
ĐỊA MẠO HỌC : khoa học nghiên cứu về hình thái các dạng địa hình trên bề mặt Trái Đất và quá
trình phát sinh, phát triển của chúng
ĐỊA NHIỆT : nguồn nhiệt phát sinh từ các lớp đất sâu ở bên trong Trái Đất.
ĐỊA PHƯƠNG CHÍ : tài liệu nặng về mô tả, ghi lại một cách chi tiết những hiểu biết về một địa
phương ( trong đó có lịch sử, địa lí, sản vật, các danh nhân và phong tục ,tập quán của nhân dân ở địa phương )
ĐỊA PHƯƠNG HỌC : môn học nghiên cứu về thiên nhiên, về các hoạt động kinh tế - xã hội ở các
lãnh thổ nhỏ có tính cách địa phương như một làng, xã, huyện, tỉnh Địa phương học được khuyến khích phát triển trong các trường phổ thông, với mục đích không những cung cấp cho học sinh những kiến thức chung về quê hương, về địa phương trường đóng, mà còn giáo dục cho các em lòng yêu và ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển quê hương
ĐỊA TỪ : tính chất từ của Trái Đất Với tính chất này, Trái Đất giống như một khối nam châm khổng
lồ, có hai từ cực Bắc và Nam Hai từ cực này có vị trí không trùng với hai cực địa lí, vì vậy các đường từ sức cũng không phù hợp với các kinh tuyến địa lí Các kim nam châm để trên mặt đất, chỉhướng Bắc - Nam cũng là hương Bắc - Nam từ Hướng này không trùng với hướng Bắc - Nam địa
lí, mà thường chếch khỏi hướng Bắc - Nam địa lí một góc nhất định, tuỳ theo từng nơi Góc đó là
độ từ thiên Trên các bản đồ địa hình chi tiết, đều có ghi rõ độ từ thiên để cho người dùng xác địnhđược toạ độ địa lí một cách chính xác
ĐỊA Y : thực vật bậc thấp sống trên mặt đất, trên thân cây hay trên đá, chịu được những điều kiện khắc
nghiệt về nhiệt độ và độ ẩm
ĐIỂM CẬN NHẬT : điểm có vị trí gần Mặt Trời nhất trên quỹ đạo Khi ở vị trí này, Trái Đất cách xa
Mặt Trời khoảng 147 triệu km Lúc đó là vào khoảng những ngày đầu năm của dương lịch ( thường vào ngày mồng 3 tháng 1)
ĐIỂM ĐỐI CHÂN : điểm trên bề mặt Trái Đất đối xứng qua tâm của nó với một điểm khác Ví dụ :
quần đảo Niu Dilen nằm ở gần điểm đối chân với nước Pháp
ĐIỂM VIỄN NHẬT : điểm có vị trí xa Mặt Trời nhất trên quỹ đạo Khi ở vị trí này, Trái Đất cách xa
Mặt Trời khoảng 152 triệu km Lúc đó là vào khoảng những ngày đầu tháng 7 dương lịch
đây, hoặc thực dân thời Pháp thuộc ậ Bạc Liêu xưa, điền của địa chủ giàu phải rộng từ 500 mẫu trởlên Điền lớn được gọi là đồn điền
ĐIỆN KHÍ HOÁ : quá trình xây dựng và sử dụng nguồn điện một cách rộng rãi vào các lĩnh vực sản
xuất và phục vụ đời sống của một quốc gia, một địa phương
ĐIỆN NGUYÊN TỬ : năng lượng điện được sản xuất bằng cách tạo ra phản ứng dây chuyền phá vỡ
hạt nhân của các nguyên tử nặng như Uran 235, Thôri 232, Plutôni 239 vv trong các lò phản
Trang 33ứng Khi bị phá vỡ, chúng giải thoát một nguồn nhiệt rất lớn dùng để chạy các tuôcbin phát điện Trong những năm gần đây, do việc cung cấp nguồn năng lượng dầu mỏ có nhiều vấn đề phức tạp (tranh chấp, khủng hoảng vv ) cho nên nhiều quốc gia trên thế giới đã tập trung vào hướng phát triển các nhà máy điện nguyên tử Hiện nay, trên thế giới đã có hàng trăm nhà máy điện loại này Các nhà máy điện nguyên tử không những chỉ có ở các nước phát triển, mà còn có cả ở các nước đang phát triển như Braxin,Ân Độ, Triều Tiên, Philippin vv
ĐIỆN NHIỆT HẠCH : ( điên hạt nhân) năng lượng điện được tạo ra do sự kết hợp hạt nhân của hai
dạng hyđrô nặng là đơtê ri (H2) và triti (H3) thành hạt nhân Heli (He4) Quá trình kết hợp này sẽ giảithoát được một nguồn năng lượng nhiệt rất lớn, dùng để chạy các tuôcbin phát điện Hiện nay, phản ứng nhiệt hạch mới chỉ được thực hiện trong các phòng thí nghiệm Người ta dự đoán : trong tương lai, các nhà máy điện nhiệt hạch sẽ thay thế các nhà máy điện nguyên tử, bởi vì phản ứng kết hợp nhiệt hạch tạo ra một nguồn nhiệt năng lớn hơn phản ứng phá vỡ hạt nhân rất nhiều Các nhà máy điện nhiệt hạch vừa có công suất lớn hơn, vừa không có vật liệu phế thải làm ô nhiễm môi trường Nguyên liệu cũng là một nguồn không hạn chế, vì nó có thể khai thác được trong nước biển,
do đó giá thành của điện nhiệt hạch sẽ rất rẻ
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN : khả năng của toàn bộ các thành phần trong môi trường tự nhiên, có ảnh
hưởng đến cuộc sống và các hoạt động của con người trên một lãnh thổ ( ví dụ : vị trí địa lí, địa hình, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, các nguồn nước, các nguồn động, thực vật vv ) Điều kiện tựnhiên là một nguồn lực quan trọng trong việc phát triển quốc gia Tuy nhiên, đối với từng quốc gia,
nó có những mặt thuận lợi và khó khăn không hoàn toàn giống nhau Để làm rõ được vai trò của
nó, cần phải có sự đánh giá tỉ mỉ và toàn diện
ĐINGÔ : loài chó hoang dại trên lục địa Ôxtrâylia, nguồn gốc của nó là giống chó nhà
ĐIÔRIT : loại đá măcma phún xuất có thành phần gồm : plagiôcladơ và một hoặc nhiều khoáng vật
màu ( khoảng 30%) như : biôtit, pirôxen, vv
ĐOẠN TẦNG : hiện tượng đứt gãy của các lớp đất đá trong lớp vỏ Trái Đất do nội lực, làm cho các
khối đá có bộ phận trồi lên, có bộ phận sụt xuống, sinh ra các địa hào,địa luỹ Còn gọi là phay hay đứt gãy
ĐÔLÔMIT : khoáng vật có nhiều màu, trắng, xám nhạt vv Thành phần chủ yếu là canxi và manhê
cacbônat [ C aMg (CO3)2] Đôlômit là nguyên liệu để sản xuất các vật liệu chịu lửa, làm chất trợ dung trong công nghiệp thuỷ tinh, đồ gốm vv
ĐÔ THỊ : điểm quần cư có một số dân được quy định và có những chức năng riêng không thuộc lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp Tuỳ theo sự quy định của các quốc gia, tiêu chuẩn số dân tối thiểu để phân biệt đô thị với các điểm quần cư nông thôn có khác nhau Một đô thị ở Pháp phải có : 2.000 dân ở Hoa Kì : 2.500 dân, ở Hà Lan :20.000 dân, ở Aixơlen : 200 dân v.v Số dân này ở một số nước cũng được quy định rõ là phải có một tỉ lệ nhất định, không sống về nông nghiệp
ĐÔ THỊ HOÁ : 1 - Quá trinh phát triển các thành phố trong một quốc gia hoặc quá trình làm cho các
điểm quần cư có tính chất các đô thị 2 - Quá trình thực hiện toàn bộ các biện pháp kĩ thuật, hành chính, kinh tế và xã hội làm cho các thành phố được phát triển một cách hài hoà, hợp lí, phục vụ tốtcho cuộc sống của dân cư trong nội thị
ĐỒ THỊ hình thức biểu hiện một cách trực quan các số liệu thống kê bằng phương pháp đồ hoạ.Đơn vị
thiên văn đơn vị đo khoảng cách giữa các thiên thể trong vũ trụ Đơn vị này được quy ước tính bằng khoảng cách trung bình từ Trái Đất đến Mặt Trời,tức 149,6 triệu km
ĐỘ KHÔNG KHÍ ẨM: khả năng chứa một lượng hơi nước nào đó của không khí Độ ẩm không khí
phụ thuộc vào nhiệt độ và vào lượng hơi nước cụ thể ( tính bằng gam trong 1m3 không khí) Nếu
Trang 34nhiệt độ không khí càng cao thì lượng hơi nước chứa được trong 1m3 không khí càng lớn Ví dụ : 1m3 không khí ở 10oC chứa được tối đa 9g hơi nước, nhưng ở 20oC lại chứa được tới 17g hơi nước Khi không khí ở một nhiệt độ nhất định, đã chứa lượng hơi nước tối đa,thì nó bão hoà Nếu lượng hơi nước tiếp tục tăng thêm, thì sẽ xảy ra hiện tượng ngưng tụ Có hai cách tính độ ẩm : tính
độ ẩm tuyệt đối và tính độ ẩm tương đối Tính độ ẩm tuyệt đối phải dựa vào lượng hơi nước cụ thể( tính bằng gam chứa trong 1m3 không khí ở nhiệt độ nhất định) trong một thời điểm nhất định Ví
dụ : độ ẩm tuyệt đối của không khí lúc 14 giờ hôm nay là 12 g/m3 ở nhiệt độ 20oC Tính độ ẩm tương đối phải dựa vào tỉ lệ so sánh ( tính bằng %) giữa lượng hơi nước thực tế chứa trong 1m3
không khí so với lượng hơi nước trong 1m3 không khí bão hoà ở cùng nhiệt độ Ví dụ : ở nhiệt độ
20oC, trong 1m3 không khí hiện nay có 12g hơi nước Nếu so với lượng hơi nước bão hoà trong 1m3
không khí cũng ở nhiệt độ đó là 17g, thì độ ẩm tương đối của không khí hiện nay là : 12/17 x 100 =70,6%
ĐỘ CAO TƯƠNG ĐỐI : khoảng cách đo theo chiều thẳng đứng của một địa điểm so với một địa
điểm khác trên mặt đất Ví dụ : khoảng cách từ chân núi Ba Vì đến đỉnh núi cao nhất là : 1270m Như vậy 1270m là độ cao tương đối của đỉnh núi đó
ĐỘ CAO TUYỆT ĐỐI : khoảng cách đo theo chiều thẳng đứng của một địa điểm so với mực
nước trung bình của đại dương Ví duj : độ cao của đỉnh núi Phanxipăng so với mực nước
trung bình của đại dương là 3.142m Đó là độ cao tuyệt đối Trên bản đồ, tất cả các số đo độ
cao của các ngọn núi đều chỉ độ cao tuyệt đối
ĐỘ PHÌ CỦA ĐẤT : đặc tính quan trọng nhất của thổ nhưỡng, bao gồm toàn bộ những tính chất hoá,
lí của đất, bảo đảm cho nó sản sinh ra năng suất thực vật Độ phì có hai loại : độ phì tự nhiên được xác định bằng trữ lượng các chất dinh dưỡng, các chế độ nước, khí và nhiệt tự nhiên của đất, còn
độ phì nhân tạo hay độ phì hiệu lực là độ phì do con người tạo ra bằng các biện pháp nông hoá như:làm đất ( để cải thiện các tính chất nhiệt, ẩm, khí của đất), bón phân ( để tăng cường các chất dinh dưỡng cần thiết) vv Độ phì của đất càng cao, thì năng suất thực vật thu được càng lớn
ĐỘC CANH : chế độ khai thác đất đai bằng cách chuyên trồng một loại thực vật.
ĐỘC QUYỀN : tình trạng giành lấy cho riêng mình quyền sản xuất hoặc kinh doanh một mặt
hàng Tình trạng độc quyền tất yếu sẽ dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản,
các tập đoàn sản xuất trong phạm vi nội bộ quốc gia cũng như quốc tế
ĐÔI THẠCH : vật liệu đá vụn, đá tảng do băng hà xâm thực và vân chuyển ở đầu lưỡi băng và ở hai
bên sườn, tạo thành các dải đôi thạch đầu hoặc đôi thạch bờ Khi hai băng hà gặp nhau, hai dải đôi thạch bờ sẽ hợp lại,tạo thành một dải đôi thạch giữa
ĐỐI LƯU : sự vận chuyển các chất lỏng hoặc chất khí thành dòng lên xuống theo chiều thẳng đứng, do
sự chênh lệch về nhiệt độ Trong khí quyển, tầng đối lưu là tầng không khí sát mặt đất có độ cao khoảng 18km ở vùng xích đạo và từ 7 đến 9km ở vùng gần cực Trong tầng này, các luồng không khí cũng vận động thường xuyên theo chiều thẳng đứng, tạo ra hầu hết các hiện tượng khí tượng thường thấy như : mây, mưa, sấm, chớp, gió, bão vv
ĐỒI : loại địa hình nổi cao trên mặt đất, có dáng mềm mại và thấp hơn núi Ơ các vùng đất chịu tác
đông bào mòn của băng hà ( ví dụ : vùng Đông Âu), đồi thường có kích thước lớn, có sườn rất thoải, đỉnh tương đối bằng phẳng, bộ phận chân đồi không biểu hiện rõ rệt Độ cao tương đối của đồi không quá 200m Ơ các vùng nhiệt đới ẩm, nhiều mưa như nước ta, hiện tượng cắt xẻ địa hình diễn ra tương đối mãnh liệt, nên đồi thường có dạng bát úp, có kích thước nhỏ Độ dốc của sườn khá lớn, đỉnh tương đối nhọn, bộ phận chân đồi phân biệt khá rõ với sườn và mặt bằng xung quanh
Trang 35Nói cung đồi ở vùng nhiệt đới gần giống với núi về mặt hình thái Chỗ khác nhau chủ yếu là kích thước nhỏ, độ cao kém hơn Độ cao của
phần lớn các đồi ở nước ta chỉ từ 100m trở xuống Với độ cao trên 100m, nhân dân ta đã quen gọi
là núi
ĐỒN ĐIỀN : hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp, chủ yếu chuyên canh các cây công nghiệp ở
miền nhiệt đới như : cà phê, chè, dứa vv để xuất khẩu
ĐÔNG CHÍ : vị trí trên quỹ đạo khi Trái Đất hàng năm di chuyển đến, vào ngày 22 tháng 12 dương
lịch Lúc đó bán cầu Nam của Trái Đất ngả nhiều nhất về phía Mặt Trời, vì vậy lúc này ở bán cầu Bắc là mùa lạnh, còn ở bán cầu Nam là mùa nóng
ĐỒNG (miền Nam) vùng đất rộng hàng trăm, hàng nghìn hecta bằng phẳng, gồm toàn ruộng hoặc vừa ruộng vừa đất hoang chưa khai phá Đông lớn nhất ở Nam Bộ là Đồng Tháp Mười
ĐỒNG BẰNG ; vùng đất rộng, có bề mặt tương đối bằng phẳng hoặc gợn sóng Độ cao trên mực nước
biển nói chung thấp (dưới 200m) Phần lớn các đồng bằng được hình thành chủ yếu do sự bồi đắp phù sa của các sông ngòi hoặc của biển đều thấp dưới 100m Ví dụ : đồng bằng sông Hồng ở nước
ta có độ cao 25m trên mực nước Biển Đông.Ngoài các đồng bằng do phù sa sông bồi đắp, đồng bằng còn được hình thành do tác dụng bào mòn của băng hà như: đồng bằng Bắc Âu, đồng bằng Đông Âu vv
ĐỒNG CỎ ANPI : tên gọi chung vành đai đồng cỏ trên núi cao, nằm ngay dưới vành đai băng tuyết
vĩnh cửu ( theo kiểu đồng cỏ trên núi Anpơ Thực vật gồm có các loại cỏ ngắn lâu năm, rất thích hợp cho việc chăn nuôi Dưới vành đai đồng cỏ Anpi là vành đai đồng cỏ Cận Anpi ẩm, nhiều mưa với nhiều loại cỏ cao và cây bụi Độ cao của đồng cỏ Anpi phụ thuộc vào vĩ độ địa lí, vào khí hậu
và vào hướng của sườn núi Ơ núi Anpơ và phía tây núi Capca, độ cao đó là từ 2.000 đến 3.000m
ĐỒNG RÊU : ( đài nguyên) kiểu cảnh quan có tính đới ở các vùng gần cực thuộc các lục địa Âu - A
và Bắc Mĩ Lớp phủ thực vật chủ yếu là rêu, địa y và cây bụi Phần lớn sinh khối thực vật tập trung
ở trên mặt đất và sát mặt đất
ĐỘNG : 1.- đơn vị hành chính ở miền núi trong thời phong kiến Ngang cấp tổng hoặc xã ở đồng
bằng Ví dụ : động Yên Sơn 2.- khoảng trống trong lòng núi ( thường là núi đá vôi) được hình thành do tác động của các dòng nước chảy ngầm X Hang động Ví dụ : động Phong Nha, động Tam Thanh v.v
ĐỘNG ĐẤT : hiện tượng chấn động ở một bộ phận nào đó của lớp vỏ Trái Đất Động đất có thể do
nhiều nguyên nhân sinh ra, nhưng nguyên nhân chủ yếu gây ra những trận động đất có cường độ lớn, phạm vi rộng là tác động của các lực ở bên trong Trái Đất ( nội lực) Những khu vực có động đất lớn trên thế giới là những khu vực có những vận động kiến tạo lớn đang xảy ra Sức mạnh của các trận động đất, hiện nay được phân ra 12 cấp theo thang Richte Động đất là một hiện tượng xảy
ra thường xuyên trong lớp vỏ Trái Đất Mỗi ngày, trên toàn thế giới, trung bình có tới vài trăm trận động đất lớn, nhỏ Tuy nhiên, chỉ những trận động đất nào mạnh từ cấp 4 - 5 trở lên, lại xảy ra
ở những vùng dân cư đông đúc mới gây nên những thiệt hại đáng kể về người và tài sản Ví dụ : trận động đất xảy ra năm 1976 ở Đường Sơn ( Trung Quốc) đã làm cho trên 30 vạn người chết, là một tai hoạ rất khủng khiếp đối với loài người Để dự báo được thời gian xảy ra động đất, hiện nay người ta đã thiết lập nhiều trạm nghiên cứu với những dụng cụ đo đạc chính xác, trên khắp thế giới,
để cố gắng hạn chế bớt những thiệt hại do hiện tượng này gây ra
ĐỚI BĂNG KẾT VĨNH CỬU : đới tự nhiên ở vùng xung quanh các cự Bắc và Nam Đới này nhận
được một lượng nhiệt thấp hơn so với các đới khác Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất vẫn dưới
0oC Băng và tuyết tích tụ lại quanh năm trên mặt đất và mặt biển Trong thời kì nóng nhất, mặt đất
Trang 36chỉ lộ ra ở đôi chỗ với lớp phủ thực vật nghèo nàn (rêu, địa y ) Tuy nhiên, giới động vật biển lại khá phong phú ( cá voi, hải cẩu vv )
ĐỚI CẬN CỰC : đới tự nhiên, nằm ở cả hai bán cầu chuyển tiếp giữa ôn đới và đới cực Đới cận cực
Bắc nằm trong khoảng các vĩ độ từ 60 đến 73o B, còn đới cận cực Nam từ 50 đến 67o N Nhiệt độ trong năm rất rhấp, mùa hạ từ 0 đến 120 C , mùa đông từ - 5o C đến - 40o C Lượng mưa từ 300 đến 500mm/năm Lớp phủ thực vật chủ yếu là thực vật đài nguyên
ĐỚI CẬN NHIỆT : đới tự nhiên chuyển tiếp giữa nhiệt đới và ôn đới Trong đới cận nhiệt, sự biểu
hiện các mùa tương đối rõ, đặc biệt là hai mùa hạ và đông Khí hậu trong đới tương đối nóng hơn khí hậu ôn đới Loại khí hậu này lại phân ra : khí hậu cận nhiệt đới khô và khí hậu cận nhiệt đới
ẩm Khí hậu cận nhiệt đới khô có ở bờ tây các lục địa Mùa hạ ở đây nóng khô, trái lại, mùa đông
ấm nhiều mưa Loại khí hậu này thể hiện rõ nhất ở vùng ven bờ Địa Trung Hải, vì vậy cũng gọi là khí hậu Địa Trung Hải Khí hậu cận mhiệt đới ẩm có ở khu vực bờ đông các lục địa Loại khí hậu này có chế độ nhiệt, ẩm cao, nhiều mưa, chủ yếu về mùa hạ
ĐỚI CẬN XÍCH ĐẠO : đới tự nhiên chuyển tiếp giữa đới xích đạo và nhiệt đới ( ở cả hai bán cầu)
Đới này, về mùa hạ chịu ảnh hưởng của khối khí ẩm ướt xích đạo, về mùa đông chịu ảnh hưởng của khối khí nóng khô do tín phong thổi tới Lượng mưa trung bình từ 250 đến 2.000mm/năm Nhiệt độ không khí luôn luôn cao ( từ 20 đến 30o C ) Càng xa xích đạo, mùa khô càng kéo dài ( từ
2 - 3 tháng đến 8 - 10 tháng) Lớp phủ thực vật thay đổi từ rừng mưa ẩm đến xavan cây bụi Đất chủ yếu là Pheralit
ĐỚI LẶNG GIÓ : đới không có gió thổi trên mặt đất hoặc mặt nước, mà chỉ có sự vận chuyển không
khí lên cao hoặc dồn xuống thấp theo chiều thẳng đứng Trước kia, khi việc đi lại trên biển và đai dương còn dựa chủ yếu vào thuyền buồm, thì đới lặng gió là những vùng đáng sợ đối với các nhà hàng hải và thuỷ thủ Trên bề mặt Trái Đất có 3 đới lặng gió là : đới lặng gió xích đạo ( có không khí bốc lên cao quanh năm) và hai đới lặng gió ở chí tuyến Bắc và chí tuyến Nam ( có không khí dồn nén từ cao xuống thấp)
ĐỚI NHIỆT : đới được phân ra một cách đơn giản dựa theo những điều kiện xác định về nhiệt độ
không khí, dọc theo các vĩ tuyến Trên Trái Đất có 5 đới nhiệt chính : đới nóng (nhiệt đới) nằm ở giữa các đường đẳng nhiệt trung bình năm 20o C ( một số khu vực có nhiệt độ 30o C ) Hai đới ôn hoà hay ôn đới (ở cả hai bán cầu) nằm ở giữa các đường đẳng nhiệt trung bình năm 20o C và đườngđẳng nhiệt trung bình tháng nóng nhất 10o C ( giới hạn sinh sống của thực vật) Cuối cùng là hai đớibăng giá vĩnh cửu, có các đường đẳng nhiệt các tháng trong năm dưới 10o C
ĐỚI THEO CHIỀU CAO : đới tự nhiên hình thành do sự thay đổi từ từ của các cảnh quan theo độ
cao Sự thay đổi này diễn ra trên các sườn núi ( từ chân lên tới đỉnh) cũng tương tự như sự thay đổicảnh quan theo vĩ độ (từ cực về xích đạo) Độ cao của ranh giới các đới, phụ thuộc vào vị trí của núi( theo vĩ độ) và vào hướng của sườn núi Ví dụ : trên sườn một ngọn núi ở nhiệt đới, người ta quansát thấy ở chân núi có rừng nhiệt đới ẩm, lên cao hơn là rừng thưa, cao hơn nữa là đồng cỏ, trên đồng cỏ là rừng lá kim vv
ĐỚI TỰ NHIÊN : ( đới cảnh quan) bộ phận rộng lớn của vòng đai tự nhiên có những điều kiện nhất
định về tự nhiên ( khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật), được phân biệt chủ yếu do đặc điểm của lớp phủ thực vật Việc phân chia các đới tự nhiên trên bề mặt Trái Đất, theo nhiều tác giả hiện nay còn chưa thống nhất Tuy nhiên, có thể nêu ra một số đới chính sau đây :
a) trong vòng đai lạnh có các đới : hoang mạc lạnh, đài nguyên, đài nguyên rừng,
b) trong vòng đai ôn hoà có các đới : rừng taiga, rừng hỗn hợp, rừng lá rộng, thảo nguyên và hoang mạc
Trang 37c) trong vòng đai nóng có các đới : hoang mạc nhiệt đới, xavan, rừng nhiệt đới
ĐUMPINH : một trong những biện pháp cạnh tranh trong nền thương mại quốc tế, nhằm bán một loại
hàng hoá trên thị trường nước ngoài, hoặc thấp hơn giá bán trong nước, hoặc dưới giá thành làm cho các đối thủ bị phá sản
ĐƯỜNG BÌNH ĐỘ : ( đường đẳng cao) đường vẽ trên bản đồ địa hình, nối những điểm có cùng
một độ cao so với mực nước biển ( các đường bình độ không chỉ biểu hiện những dạng địa
hình lồi, - cao hơn mực nước biển -, mà cả những dạng địa hình lõm - thấp hơn mực nước
biển -) Tuỳ theo tỉ lệ bản đồ và mức độ chi tiết trong quá trình đo vẽ, các đường bình độ có
thể biểu hiện những độ cao cách nhau từ vài mét đến vài trăm mét Dựa vào các đường
bình độ vẽ trên bán đồ, người ta có thể nhận ra được các loại địa hình như : đồi, gò, thung
lũng vv và cả độ cao cũng như độ dốc của chúng
ĐƯỜNG BỜ BIỂN : đường ranh giới tiếp xúc giữa đất liền và biển.
ĐƯỜNG CHIA NƯỚC : ( đường phân thuỷ) đường ranh giới phân chia lưu vực của hai con sông
Đường chia nước có thể là đường đỉnh của một dãy núi, một vùng đồi, hoặc một vùng đất
cao vv Ơ hai bên đường chia nước, nước mưa,nước nguồn vv chảy vào hai lưu vực sông
khác nhau
giữa Thái Bình Dương Khi tàu bè đi qua đường này, từ hướng Tây sang Đông phải tính
thời gian lùi lại một ngày, còn nếu từ hướng Đông sang Tây thì phải tính tăng lên một
ngày Những địa điểm nằm trên đường chuyển ngày quốc tế, tuy có giờ giống nhau,
nhưng lại có ngày khác nhau, tuỳ theo hướng di chuyển từ Tây sang Đông hay ngược lại
ĐƯỜNG CƠ SỞ : đường do một quốc gia ven biển quy định ( căn cứ vào luật biển quốc tế ) để
làm mốc tính chiều rộng lãnh hải của quốc gia đó Đường cơ sở thường là một đường
thẳng gẫy khúc nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển hoặc các điểm trên một số đảo ở
ven bờ
ĐƯỜNG ĐẲNG ÁP : đường nối những điểm có số trị khí áp bằng nhau trên bản đồ Trong địa lí,
người ta thường sử dụng bản đồ vẽ các đường đẳng áp tháng 1 và tháng 7 để nghiên cứu
tình trạng khí áp và các loại gió thổi theo mùa
ĐƯỜNG ĐẲNG NHIỆT : đường nối những điểm có số trị nhiệt độ trung bình nhiều năm bằng
nhau trên bản đồ Trong địa lí, nhờ có các đường đẳng nhiệt trung bình năm, trung bình
tháng 7, trung bình tháng 1, mà người ta có thể xác định được chế độ nhiệt cũng như đặc
điểm khí hậu của các lãnh thổ
ĐƯỜNG ĐẲNG LƯỢNG MƯA : ( đường đẳng vũ) đường nối những điểm có cùng lượng mưa
trung bình trên bản đồ ( tính bằng mm)
ĐƯỜNG ĐỒNG TRIỀU : ( đường đẳng triều) đưòng nối những điểm có thuỷ triều lên, xuống
cùng một giờ trong ngày, trên bản đồ
ĐƯỜNG GIỚI HẠN TUYẾT : đường giới hạn phân chia vùng có tuyết phủ quanh năm và vùng
có tuyết tan về mùa hạ, trên các vùng núi cao Độ cao của đường giới hạn này phụ thuộc
trước hết vào vĩ độ địa lí của vùng núi, sau đó vào lượng tuyết rơi và vào hướng của sườn
núi Ơ xích đạo,độ cao của đường giới hạn này thường ở khoảng 5.000m ( tính từ chân
núi) Càng đi về phía cực, độ cao đó càng giảm dần Ơ quanh hai cực, xuống đến 0m ( ngay
ở mực nước biển)
ĐƯỜNG HỘI TỤ NHIỆT ĐỚI : đưòng tiếp xúc, nơi gặp gỡ của hai khối khí nhiệt đới ( ở vùng
giữa hai chí tuyến), một từ bán cầu Bắc xuống và một từ bán cầu Nam lên Hướng di chuyển
Trang 38của các khối khí là hướng của tín phong bán cầu Bắc và tín phong bán cầu Nam Đường
hội tụ nhiệt đới cũng là nơi thường xảy ra các trung tâm bão nhiệt đới Đường hội tụ nhiệt
đới không có vị trí cố định mà thường xuyên di chuyển tuỳ theo thời gian trong mùa
Chính vì vậy mà bão ở miền Bắc nước ta thường xảy ra vào các tháng đầu mùa hạ Càng
về cuối mùa hạ, bão càng di chuyển xa về phía nam Có tài liệu dùng : dải hội tụ nhiệt đới
ĐƯỜNG PHÂN THUỶ : X Đường chia nước.
E
EO BIỂN : nhánh biển hẹp nằm giữa hai bờ đất liền, nối thông hai vịnh, hai biển hoặc hai đại
dương Ví dụ : eo Gibranta nối thông Địa Trung Hải với Đại Tây Dương, eo Oocmut nối
thông vịnh Pecxich và vịnh Ôman
EO ĐẤT : dải đất hẹp nằm giữa hai biển, hai đại dương, nối liền hai vùng đất trên lục địa Ví
dụ : eo Panama nối đại lục Bắc Mĩ với Nam Mĩ
ÊCU : ( European Currency Unit) đồng tiền thống nhất được lưu hành trong các nước thuộc
Liên Minh châu Âu Còn gọi tắt là đồng Ơrô (Euro).ÊLUVI : sản phẩm phong hoá của các loại đá còn lưu tại chỗ, được hình thành trên các điạ hình
bán quốc tế Mục tiêu của hiệp ước này là từng bước xoá bỏ các hàng rào bảo hộ mậu dịch,
nhằm thiết lập một nền thương mại tự do Là một hiệp ước về thương mại, nhưng đồng
thời cũng là một cơ quan tiến hành các cuộc đàm phán đa phương về thương mại và là diễn
đàn thảo luận về những vấn đề mậu dịch quốc tế
GẤU ĂN MẶT TRỜI : cách gọi hiện tượng nhật thực trong dân gian X Nhật thực
GẤU TRÚC ( panda) loài thú ăn thịt, sinh sống ở Himalaya, có thân hình khá lớn, dài tới 1,5m
và nặng từ 120 đến 135kg Gấu trúc có lông màu đen pha trắng, là động vật quý, hiếm, có
trong danh sách các loài thú được bảo vệ của thế giới Còn thấy ở vùng núi phía tây Trung Quốc
GÂYDE : (geyser) thuật ngữ có gốc từ tiếng địa phương, chỉ các nguồn phun nước nóng tự nhiên, hoạt động theo chu kì Có những nguồn phun theo chu kì cố định, nhưng cũng có những nguồn phun theo chu kì không cố định Các gâyser được hình thành chủ yếu ở những vùng có núi lửa hiện đại ( doc theo các vùng có những đứt gãy kiến tạo, theo các dãy núi trẻ ) Các gâyser được phân bố nhiều ở Hoa Kì, trong khu vực vườn quốc gia Ienlâuxtôn ( có tới 200 cái), ở bán đảo Camchatca thuộc Liên bang Nga ( gần 100 cái), ở Aixơlen ( khoảng 30 cái) và ở Niu Ailen
GDP : giá trị tổng sản lượng của các ngành kinh tế quốc dân hoạt động ở trong nước,bao gồm cả
Trang 39giá trị sản lượng của các tổ chức kinh tế nước ngoài, hoạt động trên lãnh thổ quốc gia.
GIA TĂNG DÂN SỐ : quá trình phát triển số dân trên một lãnh thổ, một quốc gia hoặc trên toàn thế giới, trong một thời gian nhất định ( thường tính từ 1 năm trở lên) Sự gia tăng dân số có thể dương, nếu số dân sau một thời gian nhất định, tăng hơn số dân trước đó Nếu số dân giảm đi, thì sự gia tăng dân số là âm Sự gia tăng dân số là tương quan tỉ lệ, tính bằng phần trăm (%) (có tài liệu tính bằng phần nghìn) giữa số người tăng lên ( hoặc giảm đi) so với số dân ở thời điểm trước đó Ví dụ: số người tăng lên trong một năm là 4.000 người so với số dân có trước đó
là 200.000 người Tỉ suất gia tăng dân số là : 2% X thêm : Tỉ suất gia tăng dân số
phục vụ đắc lực cho việc lưu thông, vận chuyển các nguyên liệu, hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Ngành giao thông vận tải chia ra : ngành giao thông vận tải đường bộ ( gồm có giao thông bằng ô tô và đường sắt), đường thuỷ (gồm giao thông đường sông, đường biển) và đường không Ngành giao thông vận tải đòi hỏi phải có nhiều công trình xây dựng đường sá, bến cảng
và nhiều loại phương tiện khác nhau, từ thô sơ đến hiện đại
Vaticăng) Từ thế kỉ III sau CN, đạo Kitô đã trở thành chính giáo của đế quốc La Mã Sau đó, được chia thành hai phái từ giữa thế kỉ XI, ở phía Tây Âu là đạo Thiên Chúa, phụ thuộc vào giáo hội La Mã, còn ở phía Đông Âu là đạo Chính thống hay Chính giáo
Âu
2- Nhóm ngôn ngữ của các bộ tộc Giecmanh, nguồn gốc của tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Đan Mạch và các ngôn ngữ Bắc Âu
GIÊÔIT : X Địa cầu thể
GIÊXU : tên phiên âm Jesus Christ, nguồn gốc của từ Gia Tô (đạo Gia Tô)
ở độ cao đáng kể so với mặt giếng Nước trong giếng, vì chịu áp suất, nên thường xuyên phun
ra ngoài thành cột nước cao ( theo nguyên tắc bình thông nhau)
GIÓ : hiện tượng chuyển động của không khí theo chiều ngang, từ nơi có khí áp cao về nơi có khí
áp thấp Mức chênh khí áp càng lớn, gió càng mạnh Trên bề mặt Trái Đất, những vành đai khí
áp cao và khí áp thấp được phân bố theo quy luật, do đó có các vành đai gió thường xuyên cấp hành tinh như : tín phong, gió Tây Các loại gió khác được coi là gió địa phương như : gió mùa, gió Phơn, gió Bora vv
Sức mạnh của gió được tính bằng tốc độ (km/h) theo thang đo gió 12 cấp ( thang Bôpho) Cấp Tốc độ gió (km/h)
từ ngoài khơi vào bờ, ban đêm từ đất liền ra biển Nguyên nhân sinh ra loại gió đất - gió biển là
sự thay đổi luân lưu khí áp ngoài biển và trong đất liền, giữa ngày và đêm Ban ngày, nhiệt độ không khí trong đất liền cao hơn ngoài biển Không khí nóng bốc lên cao, không khí ở biển lạnh hơn, tràn vào thay thế Ban đêm, không khí ngoài biển nóng hơn trong đất liền ( vì không
Trang 40khí trong đất liền bị lạnh đi nhanh hơn), nên bốc lên cao, không khí trong lục địa lại tràn ra thay thế Loại gió này cũng có cả ở các vùng ven bờ các hồ lớn ( ở vùng nhiệt đới và vĩ độ trung bình).
GIÓ LÀO : loại gió khô, nóng ở nước ta, trong mùa hạ thổi từ phía tây dãy Trường Sơn sang,
nên có tên là gió Lào X Gió Phơn
GIÓ LỐC : gió thổi xoáy vòng tròn, rồi bốc lên cao, cuốn theo đất, đá, cát bụi, thường xảy ra trong các buổi chiều mùa hạ có nắng nóng Gió lốc sinh ra khi có hai luồng không khí di chuyển trái chiều, với tốc độ lớn gặp nhau Những cơn lốc mạnh nhiều khi gây thiệt hại đáng kể như : làm
đổ cây cối, làm hư hỏng nhà cửa, phá hoại vườn tược, mùa màng v.v
GIÓ MẶT TRỜI : thuật ngữ chỉ sự bức xạ các hạt phôtôn, prôtôn, êlectrôn, anpha của Mặt Trời
ra xung quanh
GIÓ MẬU DỊCH : ( trade wind) gió thường xuyên , cấp hành tinh Gọi là mậu dịch, vì xưa kia nó
đã giúp các thuyền buồm đi lại trên mặt biển, tiến hành các hoạt động buôn bán, trao đổi
hàng hoá giữa các lục địa X thêm : Tín phong
Rôn ( Pháp), theo hướng từ bắc hoặc tây-bắc xuống nam, tốc độ khoảng 100km/h Ơ một
vài nơi có thể tới 150km/h
GIÓ MÙA : loại gió thổi trên những vùng rộng lớn của các lục địa A, Phi và Ôxtrâylia theo mùa
( chủ yếu trong các mùa hạ và đông) Nguyên nhân sinh ra gió mùa rất phức tạp Ở đây có ảnh hưởng rất rõ rệt của sự tác động qua lại giữa lục địa và đại dương, giữa các khối khí di chuyển theo hướng tín phong ở hai bán cầu và cả của những dạng địa hình lớn như các khối núi và cao nguyên đồ sộ ở Trung Á, Tây Tạng vv Khu vực có gió mùa điển hình là Ấn Độ và Đông Nam
Á Ở châu Á, về mùa đông có gió mùa đông bắc, về mùa hạ có gió mùa tây nam và đông nam Mùa đông nói chung khô khan, còn mùa hạ nhiều mưa
Ở châu Phi, gió mùa có cả ở Đông Phi và Tây Phi, mùa đông có gió khô hanh từ hoang mạc thổi ra, mùa hạ có gió tây nam đem theo nhiều mưa Ơ Đông Phi do lục địa được phân bố đều ở
cả hai bán cầu, cho nên hai loại gió mùa : mùa đông và mùa hạ đều không đem mưa tới Mưa chỉ có vào các thời kì chuyển mùa
lên cao theo sườn núi, còn ban đêm lại từ các sườn núi cao thổi xuống thung lũng Nguyên nhân chủ yếu là do ban ngày, không khí trong thung lũng bị hun nóng, nở ra nhiều hơn Không khí trên các sườn núi, tạo thành những luồng gió trườn lên cao Ban đêm có hiện tượng ngược lại với ban ngày
GIÓ PHƠN : thuật ngữ có gốc tiếng Đức, chỉ loại gió địa phương, thổi vượt qua núi, từ sườn bên
này qua sườn bên kia Khi vượt núi có hiện tượng ngưng tụ hơi nước và mưa do không khí càng lên cao, càng hoá lạnh Cứ lên cao 100m, không khí ẩm lại giảm đi 0,6o C Khi vượt qua đỉnh núi, không khí trở nên khô, bị dồn nén xuống thấp, cứ 100m tăng lên 1o C Kết cục, khi xuống đến chân núi, trở thành một loại gió rất khô và nóng Ví dụ : không khí khi phải vượt qua một dãy núi cao 2.000m, nếu ở chân núi, nơi xuất phát, nhiệt độ của không khí là 25o C, thì khi lên đến đỉnh núi, không khí đã giảm đi : (0,6o x 2000) : 100 = 12o C , nhiệt độ chỉ còn 13o C Khi xuống núi, không khí tăng lên : ( 1o x 2000) : 100 = 20o C Như vậy, sau khi vượt qua núi,
không khí đã trở nên khô và nóng tới : 13o + 20o = 33o C Loại gió nóng, khô thổi trong mùa hạ
từ sườn tây sang sườn đông dãy Trường Sơn nước ta, chính là loại gió Phơn mà nhân dân ta quen gọi là gió Lào