1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN : THUẾ ĐÁNH VÀO TIẾT KIỆM

24 425 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 338,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU 2 PHẦN II : NỘI DUNG 3 I. Thuế và tiết kiệm –Mô hình và lý thuyết minh chứng: 3 1. Lý thuyết truyền thống : 3 2. Minh chứng : Lãi suất sau thuế tác động đến tiết kiệm : 3 3. Lạm phát và thuế tiết kiệm : 3 II. Mô hình tiết kiệm khác : 5 1. Mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro: 5 2. Mô hình tự kiểm soát: 7 III. Chính sách khuyến khích của thuế đối với tiết kiệm hưu trí 9 1. Trợ cấp thuế hiện hành đối với tiết kiệm hưu trí : 9 1.1. Trường hợp nghiên cứu điển hình: Quốc gia Mỹ 9 a. Quỹ tiền hưu 10 b. Tài khoản 401 (k) hay còn được gọi là Quỹ hưu trí 401(k) 11 c. Tài khoản hưu trí cá nhân hay còn được gọi là Quỹ Hưu trí cá nhân 12 d. Tài khoản Keough 16 1.2. Đối với Việt Nam 16 2. Hiệu ứng lý thuyết đến tiết kiệm hưu trí được trợ cấp thuế 19 PHẦN III KẾT LUẬN 22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 23 PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU Tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập cá nhân sau khi đã trừ đi tiêu dùng hiện tại. Việc tiết kiệm của người dân là nguồn vốn cho sự phát triển của đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng của việc này, các nhà hoạch định chính sách trên tòan thế giới đã trở nên ngày càng quan tâm trong việc phát triển chiến lược hiệu quả để khuyến khích tiết kiệm. Quan tâm này đã trở thành đặc biệt nghiêm trọng tại Hoa Kỳ, nơi có tỷ lệ tiết kiệm hiện nay rất thấp. Những lo lắng về tiết kiệm thấp đã dẫn đến một loạt cách chính sách được thiết kế để kích thích tiết kiệm thông qua hệ thống thuế. Việc có nên đánh thuế vào tiết kiệm hay không, cách đánh như thế nào còn là vấn đề còn đang được tranh luận. Đã có nhiều câu hỏi được đặt ra : Liệu cấu trúc thuế thu nhập có làm giảm khối lượng tiết kiệm của người dân hay không ? Chính phủ có nên sử dụng luật thuế để khuyến khích người dân tíêt kiệm hơn ? Nếu có, các khuyến khích nên được cấu trúc như thế nào ? Đề tài này giới thiệu nguyên cứu các quyết định tiết kiệm. Quy mô tiết kiệm của xã hội sẽ làm cho vốn của nền kinh tế dồi dào hơn và điều này là yếu tố then chốt của tăng trưởng kinh tế. Do vậy một trong những các tranh luận chính sách ở Mỹ và thế giới là vai trò thích hợp của thuế đánh vào thu nhập từ vốn, tức là thuế đánh trên sự sinh lợi của tiết kiệm. Còn đối với Việt Nam về vấn đề này thì sao, đang nghiên cứu, đã áp dụng hay không phù hợp với nền kinh tế. Bài tiểu luận này cũng sẽ giới thiệu sơ nét thêm về vấn đề trên.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

KHOA THẠC SỸ

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI : THUẾ ĐÁNH VÀO TIẾT KIỆM

GVHD : PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng

NTH : Nhóm 5

Lớp : K20Đêm1

-TP HCM, Tháng 02 năm

Trang 2

2012-MỤC LỤC

PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU 2

PHẦN II : NỘI DUNG 3

I Thuế và tiết kiệm –Mô hình và lý thuyết minh chứng: 3

1 Lý thuyết truyền thống : 3

2 Minh chứng : Lãi suất sau thuế tác động đến tiết kiệm : 3

3 Lạm phát và thuế tiết kiệm : 3

II Mô hình tiết kiệm khác : 5

1 Mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro: 5

2 Mô hình tự kiểm soát: 7

III Chính sách khuyến khích của thuế đối với tiết kiệm hưu trí 9

1 Trợ cấp thuế hiện hành đối với tiết kiệm hưu trí : 9

1.1 Trường hợp nghiên cứu điển hình: Quốc gia Mỹ 9

a Quỹ tiền hưu 10

b Tài khoản 401 (k) hay còn được gọi là Quỹ hưu trí 401(k) 11

c Tài khoản hưu trí cá nhân hay còn được gọi là Quỹ Hưu trí cá nhân 12

d Tài khoản Keough 16

1.2 Đối với Việt Nam 16

2 Hiệu ứng lý thuyết đến tiết kiệm hưu trí được trợ cấp thuế 19

PHẦN III - KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 3

PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU

Tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập cá nhân sau khi đã trừ đi tiêu dùnghiện tại Việc tiết kiệm của người dân là nguồn vốn cho sự phát triển của đất nước.Nhận thức được tầm quan trọng của việc này, các nhà hoạch định chính sách trêntòan thế giới đã trở nên ngày càng quan tâm trong việc phát triển chiến lược hiệuquả để khuyến khích tiết kiệm Quan tâm này đã trở thành đặc biệt nghiêm trọngtại Hoa Kỳ, nơi có tỷ lệ tiết kiệm hiện nay rất thấp Những lo lắng về tiết kiệmthấp đã dẫn đến một loạt cách chính sách được thiết kế để kích thích tiết kiệmthông qua hệ thống thuế

Việc có nên đánh thuế vào tiết kiệm hay không, cách đánh như thế nào còn làvấn đề còn đang được tranh luận Đã có nhiều câu hỏi được đặt ra : Liệu cấu trúcthuế thu nhập có làm giảm khối lượng tiết kiệm của người dân hay không ? Chínhphủ có nên sử dụng luật thuế để khuyến khích người dân tíêt kiệm hơn ? Nếu có,các khuyến khích nên được cấu trúc như thế nào ?

Đề tài này giới thiệu nguyên cứu các quyết định tiết kiệm Quy mô tiết kiệmcủa xã hội sẽ làm cho vốn của nền kinh tế dồi dào hơn và điều này là yếu tố thenchốt của tăng trưởng kinh tế Do vậy một trong những các tranh luận chính sách ở

Mỹ và thế giới là vai trò thích hợp của thuế đánh vào thu nhập từ vốn, tức là thuếđánh trên sự sinh lợi của tiết kiệm Còn đối với Việt Nam về vấn đề này thì sao,đang nghiên cứu, đã áp dụng hay không phù hợp với nền kinh tế Bài tiểu luận nàycũng sẽ giới thiệu sơ nét thêm về vấn đề trên

Trang 4

Mô hình lựa chọn theo thời gian: việc lựa chọn số lượng tiết kiệm chính làlựa chọn cách thức phân bổ tiêu dùng cá nhân theo thời gian Tiết kiệm chính làphần còn lại của thu nhập cá nhân sau khi đã trừ đi tiêu dùng hiện tại.

2 Minh chứng : Lãi suất sau thuế tác động đến tiết kiệm :

Không giống như lý thuyết thực nghiệm về cung lao động, có ít sự đồngtình về tác động của thuế hay tác động của lãi suất đến các quyết định tiết kiệm

Các ước lượng về độ co giãn của tiết kiệm với lãi suất sau thuế nằm trongkhoảng 0 đến 0,67

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa lãi suất sau thuế và tiết kiệm là một vấn đềkhó khăn Xác định mức lãi suất hợp lý để áp dụng là rất khó khăn, bởi vì: chúng

ta có thể dễ dàng đo lường tiền lương của một công nhân nào đó nhưng rất khó để

đo lường mức lãi suất thỏa đáng của một người tiết kiệm nào đó Bên cạnh đó, lãisuất của bất kỳ dạng tiết kiệm nào cũng thay đổi theo thời gian với cách thức nhưnhau cho tất cả mọi người Ngoài ra, sự co giãn của tiết kiệm theo lãi suất sau thuế

là tham số quyết định đối với các nhà phân tích chính sách

3 Lạm phát và thuế tiết kiệm :

Sự trườn lên ngưỡng đánh thuế (bracket creep): cá nhân có thể cảm nhậnđược sự tăng lên của thuế suất mặc dù thu nhập thực (theo đồng đô la cố định) của

họ không hề tăng

Trang 5

Năm Thu nhập Mức thuế Thuế phải

trả

Thu nhập sau thuế

1979 16.500 $ 21% 2.370$ 14.130$

1980 19.365 $ 24% 2.815 $ 15.550 $

 Thu nhập tăng lên trong năm 1980 vừa đủ để loại trừ 11,3% tỷ lệ lạm phátcủa năm đó, do vậy thu nhập thực (lượng hàng hóa mà người đó có thể thu đượcvới thu nhập danh nghĩa) là không đổi

 Thu nhập sau thuế chỉ tăng 10% trong khi đó giá cả tăng 11,3% Bởi vì cơ

sở đánh thuế là cố định nên tiền lương tăng với mức quá nhỏ theo đà lạm phát

 Hướng giải quyết: điều chỉnh cơ sở đánh thuế với thu nhập thường xuyên,thuế suất biên đặt trên cơ sở thu nhập thực, không phải trên cơ sở thu nhập danhnghĩa

Lạm phát và thuế vốn: điều chỉnh theo giá cả đối với cơ sở đánh thuế cũngchưa chắc hoàn toàn loại trừ tác động của lạm phát bởi vì quy định đối với thuếthu nhập trên vốn vẫn giữ không đổi

v tiền lãi

Tiết kiệm

Lãi suất danh nghĩa

Tiền lãi

Tổng nguồn lực sau thuế

Giá mỗi túi không khí

Số lượng túi không khí

Không

có lạm

phát

0% 0% 100 10% 10 110 1,0 1100% 50% 100 10% 10 105 1,0 105

Lạm

phát

10% 0% 100 10% 10 110 1,1 10010% 50% 100 10% 10 105 1,1 95,5

Lãi suất thực (r) = Lãi suất danh nghĩa (i) – tỷ lệ lạm phát

Trang 6

* Dòng đầu tiên không có lạm phát

- Không có thuế , số túi xách là 110

- Với đánh thuế 50% , chỉ mua 105 túi xách

* Dòng thứ hai, lạm phát bằng lãi suất danh nghĩa tức lãi suất thực bằng 0

- Với lạm phát nhưng không có đánh thuế , mua được 100 túi xách

- Với lạm phát và thuế , mặc dù sức mua không thay đổi , đánh thuếvào tiền lời danh nghĩa thì chỉ mua được 95,5

* Dòng thứ 3, nếu như tỷ lệ danh nghĩa điều chỉnh theo lạm phát (đến 21

%), nếu không có đánh thuế, lạm phát sẽ không bào mòn sức mua của tiêt kiệm

Vấn đề trong dòng thứ hai và thứ ba, có đánh thuế, là đánh vào tiền lờithực, chứ không phải là danh nghĩa Các cá nhân, khi quyết định tiết kiệm, quantâm đến lãi suất thực

Bởi vì thuế đánh vào tiền lời danh nghĩa, ảnh hưởng của lạm phát đến thuếvẫn còn đáng kể

Trên thực tế, lạm phát tăng sẽ làm giảm thu nhập thực sau thuế từ tiết kiệm

II Mô hình tiết kiệm khác :

Trong phần trên, chúng ta đã thấy rõ động cơ tiết kiệm chỉ là mong muốn ổnđịnh tiêu dùng theo thời gian Phần này, chúng ta xem một số dẫn chứng các môhình khác với các giả định trên trong thực tế hiện nay

1 Mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro:

Ở Việt Nam hay ở nước ngoài, khi được hỏi về lý do tiết kiệm, câu trả lờinhận được nhiều nhất, bên cạnh việc tiết kiệm cho thời gian hưu trí, là việc để

Trang 7

dành cho những “tình huống khẩn cấp”, như khi mất việc làm hay gặp vấn đề vềsức khỏe kết quả này dẫn đến hình thành mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro.Một yếu tố khác xác định tiết kiệm chính là họ muốn sử dụng tiết kiệm để bảohiểm cho những cú sốc bất lợi về tài chính Cũng giống như việc sử dụng tiết kiệm

để ổn định tiêu dùng theo thời gian, tiết kiệm cũng có thể được sử dụng để ổn địnhtiêu dùng trước sự thay đổi của thế giới hiện thực

Trong mô hình này, cá nhân phải đối mặt với những rủi ro từ những cú sốcbệnh tật (ví dụ như một cơn đau tim), thất nghiệp, ly dị Mô hình này giả địnhrằng cá nhân không có khả năng vay mượn nếu họ gặp phải những cú sốc vì họphải đối mặt với giới hạn thanh khoản (liquidity constrians), những rào cản khivay mượn Giới hạn thanh khoản có thể do bởi ngân hàng không muốn cho vayvới khách hàng đang bệnh nặng hay là những khách hàng vừa mới mất việc làm.Kết quả là cá nhân phải tự mình để dành từ việc tiết kiệm phòng khi những cú sốcbất lợi xảy ra, do vậy cá nhân có thể ổn định tiêu dùng trong cuộc sống của mình.Mong muốn để dành còn có lý do khác, ngoài việc ổn định theo thời gian, khiến cánhân tiết kiệm

Minh chứng về mô hình phòng ngừa rủi ro:

Ở Việt Nam chúng ta dễ dàng thấy được việc nhiều gia đình có thói quen dựtrữ tiền mặt tại gia đình hơn là mang đi đầu tư hay gửi ngân hàng Đó cũng là dodịch vụ từ hệ thống ngân hàng chưa được rộng rãi, chưa được thuận tiện cho việcrút tiền, nhất là ở các vùng nông thôn Các rủi ro trong xã hội còn cao, chất lượng

từ các dịch vụ công cộng còn yếu như y tế, giáo dục, giao thông ví dụ như chúng

ta thường xuyên rút tiền rất nhiều vào dịp lễ, Tết dù rằng chi tiêu không sử dụnghết số tiền đó vì các máy ATM thường xuyên hết tiền, ngân hàng đóng cửa khônghoạt động, hay đi ra ngoại thành khó tìm được nơi rút tiền,

Một số nghiên cứu đã được thực hiện nhằm kiểm định mô hình phòng ngừarủi ro, kết quả cho thấy khi sự bất trắc tăng lên sẽ dẫn đến tiết kiệm tăng, sự bất

Trang 8

trắc giảm đi sẽ làm cho tiết kiệm giảm Một số nghiên cứu khác lại cho thấy việc

mở rộng các chương trình bảo hiểm xã hội nhằm làm giảm sự bất định thu nhậpcũng sẽ làm giảm tiết kiệm, và kết quả nhận được là phù hợp với quan điểm chorằng tiết kiệm có động cơ từ việc phòng ngừa rủi ro

2 Mô hình tự kiểm soát:

Một số ý kiến khác về quyết định tiết kiệm được xây dựng trên kiểu mô hình

tự kiểm soát Trong mô hình này, cá nhân sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa

sự ưa thích có hại trong ngắn hạn (tôi cần hút thuốc hôm nay) và sự ưa thích có hại

có lợi trong dài hạn (ngày mai tôi sẽ bỏ thuốc lá) Vấn đề tự kiểm soát cũng có thể

áp dụng với việc tiết kiệm sự ưa thích có lợi của cá nhân trong dài hạn là việcđảm bảo có đủ tiền tiết kiệm để ổn định tiêu dùng suốt đời, nhưng sự ưa thích bấtlợi trong ngắn hạn có thể dẫn đến việc họ tiêu dùng toàn bộ thu nhập của mình vàkhông tiết kiệm đủ cho giai đoạn tương lai Trong mô hình này, yếu tố chủ yếu đểxác định hành vi tiết kiệm là khả năng của cá nhân trong việc tìm ra cách thức tựmình tiết kiệm, để dành thu nhập ngoài phạm vi “tự thỏa mãn trong ngắn hạn”

Minh chứng mô hình tự kiểm soát:

Ngày nay có nhiều minh chứng về tính phù hợp của mô hình tiết kiệm tựkiểm soát Cá nhân với vấn đề tự kiểm soát phải cần đến những công cụ có thể tintưởng để giúp họ tự kiểm soát Các công cụ này cũng phổ biến trong khía cạnh tiếtkiệm

Ví dụ cổ điển ở Việt Nam chính là phong trào “hũ gạo thời kháng chiến”,mỗi gia đình tiết kiệm 1 nắm gạo trong mỗi bữa ăn để tạo ra một lượng lương thựclớn cho xã hội Hay ví dụ các chiêu thức khuyến mãi “họ không mua cái chai, họ

sẽ mua cái lọ” của các siêu thị khi nắm rõ tâm lý thích đi mua sắm của người dânthường đưa các quảng cáo khuyến mại rầm rộ một vài loại hàng hóa để thu hút

Trang 9

khách hàng đến với mình, dần dần người dân trước cơn bão giá của thời lạm phátcũng hiểu ra và đang thay đổi thói quen mua sắm của mình.

Minh chứng khác nữa là việc tích lũy tài sản ở Mỹ, với đặc điểm rất lạ: cánhân có tiết kiệm đáng kể ở những dạng rất khó tiếp cận (các tài khoản mua nhàhưu trí) nhưng lại tiết kiệm rất ít ở các dạng dễ tiếp cận hơn, như ở tài khoản pháthành séc Khó hiểu hơn, rất nhiều người để tiền tiết kiệm dưới dạng khó tiếp cậnnhư các tài khoản hưu trí với lãi suất khá bình thường (5% và thậm chí thấp hơn),trong khi đó đồng thời lại vay tiền từ thẻ tín dụng với lãi suất cao (10% và thậmchí cao hơn) Trong mô hình tiêu chuẩn, cá nhân sẽ tự làm cho mình tốt hơn bằngviệc tiết kiệm ở mức ít hơn với lãi suất 5% nhằm không phải đi vay với lãi suất10% Thực tế này không thực sự phù hợp với mô hình tự kiểm soát: người ta sẽ lolắng về việc có tiền trong tay, bởi vì họ sẽ tiêu xài nó một cách nhanh chóng,nhưng nếu họ có công cụ có thể tin tưởng được để giữ tiền khỏi tầm tay thì tiền sẽđược tiết kiệm Do vậy, cá nhân có thể thành công trong việc tiết kiệm ở dạng như

bỏ tiền vào tài khoản hưu trí hay tài khoản mua nhà, nhưng họ không thể thànhcông khi tiết kiệm ở dạng mà họ có thể chạm tay vào tiền của mình

Cuối cùng, minh chứng rất thuyết phục về mô hinh tự kiểm soát là thửnghiệm của Richard Thaler và Shlomo Benartzi (2004) Hai nhà kinh tế ngày đưa

ra kế hoạch tiết kiệm hưu trí duy nhất dành cho người lao động ở một nhà máyquy mô vừa Với kế hoạch “tiết kiệm nhiều hơn ngày mai”, người lao động camkết giành một phần trong sự tăng lên của thu nhập tương lai để vào tiết kiệm hưutrí Người lao động được quyền chọn lựa tiết kiệm theo cam kết sớm hơn, trướckhi tiền lương mà họ được trả tăng lên nhằm làm cho quyết định này bớt khó khănhơn Khi người lao động tham gia, đóng góp của họ vào kế hoạch tiết kiệm tănglên mỗi khi tiền lương mà họ nhận được tăng lên

Kế hoạch này không có gì hấp dẫn đối với người tiết kiệm dựa trên lý trítrong mô hình tiêu chuẩn về tiêu dùng theo thời gian Họ có thể tiết kiệm tùy thích

từ thu nhập, cho nên không cần thiết phải có sự cam kết trước theo một kế hoạch

Trang 10

tiết kiệm cố định Nói cách khác, dường như không có lý do gì để hạn chế hành vi

từ cách làm này Nếu một người lao động không có lý do gì để hạn chế hành vi từcách làm này Nếu một người lao động muốn chia sẽ một phần thu nhập tăng thêmtrong tương lai, họ đơn giản sẽ làm được một khi thu nhập của họ tăng lên Nhưng

kế hoạch nói trên, chính là một điều hấp dẫn lớn đối với những người phải đối mặtvới vấn đề tự kiểm soát, những người mong muốn giữ một phần trong thu nhậptăng thêm ở tương lai ngoài tầm tay nhằm hạn chế sự thỏa mãn bất lợi trong ngắnhạn các cá nhân với vấn đề tự kiểm soát e ngại rằng nếu họ không cam kết tiếtkiệm phần thu nhập tăng thêm từ bây giờ thì khi thu nhập thực sự tăng lên, họ sẽchi tiêu hết vào thỏa mãn sở thích ngắn hạn không có lợi Thực tế, khi kế hoạchtiết kiệm này được đưa ra, 78% số người lao động được mời đã quyết định thamgia và 80% số người tham gia vẫn còn tham gia kế hoạch sau bốn lần tăng lương

Cụ thể hơn, tỷ lệ tiết kiệm của những người tham gia kế hoạch này nhảy từ 3,5%lên mức 13,6% sau 40 tháng Vấn đề tiết kiệm theo cam kết vốn dĩ vô ích trong

mô hình tiêu chuẩn giờ đây lại tác động lớn đến hành vi tiết kiệm; một lần nữaphù hợp với quan điểm cho rằng người lao động phải đối mặt với vấn đề tự kiểmsoát về hành vi tiết kiệm

III Chính sách khuyến khích của thuế đối với tiết kiệm hưu trí

1 Trợ cấp thuế hiện hành đối với tiết kiệm hưu trí :

1.1 Trường hợp nghiên cứu điển hình: Quốc gia Mỹ

Như phần trên đã trình bày, người lao động (và cả người chủ lao động) có haimốc thời kỳ chính trong cuộc đời: (i) khoản thời gian lao động, là thời gian cánhân đó có thu nhập cao hơn và (ii) khoản thời gian nghỉ hưu, là thời gian cá nhân

đó có thu nhập thấp hơn hoặc trong một số trường hợp là không có thu nhập Do

đó, người lao động có xu hướng tiết kiệm trong thời gian còn làm việc để có thểlàm tăng thu nhập trong lúc hưu trí của họ Tuy nhiên, nếu chính phủ đánh thuế

Trang 11

trên tiền lãi phát sinh có thể ảnh hưởng đến quyết định của cá nhân đó trong việcgiảm đi các khoản tiết kiệm này.

Từ đó, các quốc gia trên thế giới thường đưa ra những chính sách nhằmkhuyến khích người dân không thay đổi các quyết định tiết kiệm của mình vì tínhchất đặc biệt của những khoản tiết kiệm này so với các loại tiết kiệm thông thườngkhác (do chúng có những tác động có thể ảnh hưởng đến nỗ lực ổn định về mặt xãhội của chính phủ quốc gia đó)

Điển hình ở Mỹ, các nhà chính sách của Mỹ đã đưa ra những tài khoản vàquỹ đặc biệt được thiết kế nhằm trợ cấp về thuế đối với tiết kiệm hưu trí của ngườidân Đặc điểm chung của các chính sách trợ cấp này là tất cả tiền lãi phát sinh từcác tài khoản, quỹ này đều không phải chịu thuế Thay vào đó, người chủ tàikhoản (người lao động) sẽ phải trả thuế lúc anh ta nhận tiền khi về hưu như lànhững khoản thu nhập thường xuyên

a Quỹ tiền hưu

Đây là một kế hoạch hưu trí mà các công ty chịu trách nhiệm về sự đóng gópvào quỹ hưu bổng do công ty quản trị Đây là một phần của phúc lợi (benefits) docông ty cung cấp cho nhân viên, và đây cũng là một phương thức giữ chân nhânviên cho đến ngày về hưu Trong trường hợp này, nhân viên có thể không phảiđóng góp gì cả hay chỉ đóng góp một phần, do đó gánh nặng tiết kiệm sẽ đượcgiảm đi Nhưng có những điểm bất lợi sau đây:

Nhân viên không quyết định được số tiền đóng góp vào quỹ hưu bổng

vì công ty có thể thay đổi phần đóng góp dễ dàng và có thể bỏ luôn quỹ này

Nhân viên không kiểm soát được việc quản trị quỹ này Quản trị viênquỹ này do công ty bổ nhiệm và nếu kém khả năng thì có thể làm cho quỹ thâmthủng hay không sinh lợi như mong muốn

Công ty thường ấn định một số năm tối thiểu để nhân viên có thểhưởng được hưu bổng (vested interest), thí dụ 10 năm Nếu nhân viên rời công tytrước thời hạn này thì không được hưởng gì cả, ngoài số tiền nhân viên đóng góp

Trang 12

vào Nhiều công ty có thể tìm cách sa thải nhân viên trước thời hạn để khỏi trả hưubổng.

Với sự hợp nhất công ty (merging) hiện trở nên thịnh hành, công ty cóthể sáp nhập vào một công ty khác Công ty mới thường sa thải bớt nhân viên.Nhân viên bị sa thải vừa mất việc làm vừa mất luôn quyền được hưởng hưu bổng

b Tài khoản 401 (k) hay còn được gọi là Quỹ hưu trí 401(k)

Quỹ hưu trí 401(k) là một hình thức bù đắp công lao của người lao động khichủ hãng mở một quỹ hưu mang tên người lao động và đều đặn bỏ vào quỹ mộtphần lương chưa đóng thuế của người này Với chương trình trợ giúp hưu trí 401(k), người công nhân không phải đóng thuế tạm thu trên phần lương bỏ vào quỹ vì

số tiền này không ghi trên bảng lương, nhưng họ phải đóng thuế An Sinh Xã Hội(FICA) và Y Tế trên nguồn lợi tức trích bỏ vào quỹ hưu 401(k)

Số tiền người công nhân có thể quyết định để dành trong loại quỹ hưu nàyđược ấn định mức giới hạn Trong năm 2004, mỗi người lao động được quyền bỏvào quỹ hưu 401(k) với mức cao nhất là $13,000 cho phần đóng góp của họ.Trường hợp người công nhân chọn quỹ hưu trí SIMPLE 401 (k) để bỏ tiền hưutrích từ lương của họ, mức cao nhất cho năm 2004 người này có thể đóng góp vàoquỹ hưu này là $9,000 Cả hai mức giới hạn sẽ tăng hay giảm theo tỉ lệ lạm phát.Ngoài ra, từ độ tuổi 50 trở đi, người công nhân tham gia chương trình hưu trí 401(k) có thể để dành nhiều tiền hơn vào quỹ hưu trí; số tiền để dành nhiều hơn ở độtuổi này gọi là “catch-up contributions” có thể lên đến $3,000 cho năm 2004, hay

$1,500 đối với quỹ hưu SIMPLE 401 (k)

Nói chung, phần đóng góp của người lao động vào tất cả các quỹ hưu từ tiềnlương chưa đóng thuế phải được cân nhắc để không vượt quá mức giới hạn

$13,000 Đồng thời, tất cả các khoản tiền bỏ vào tất cả các quỹ hưu của ngườicông nhân, gồm các chương trình hưu bằng tiền lương chưa đóng thuế, sẽ phảitheo quy định của các mức gia hạn mở rộng (additional limits, increased limits)

Ngày đăng: 04/07/2014, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w