1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình kiểm soát 3 lớp trong công tác quản trị rủi ro trục lợi sổ tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại

94 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với kinh nghiệm làm việc hơn 5 năm trong ngành kiểm toán, đã từng tham gia nhiều cuộc kiểm toán quy trình nội bộ, kiểm toán báo cáo tài chính tại một số ngân hàng Vietcombank, BIDV, Tech

Trang 1

-

NGUYỄN VƯƠNG HUYNH

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KIỂM SOÁT 3 LỚP TRONG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRỤC LỢI SỔ TIẾT KIỆM TẠI CÁC NHTM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN VƯƠNG HUYNH

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KIỂM SOÁT 3 LỚP TRONG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRỤC LỢI SỔ TIẾT KIỆM TẠI CÁC NHTM

Chuyên ngành: Quản trị các Tổ chức tài chính

Mã số: Chuyên ngành thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM BẢO KHÁNH

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn cao học với đề tài “Ứng dụng mô hình kiểm soát 3 lớp trong công tác quản trị rủi ro trục lợi sổ tiết kiệm tại các NHTM” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Bảo Khánh Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực, chuẩn xác của nội dụng Luận văn

Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Vương Huynh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được tham gia khóa đào tạo thạc sĩ và hoàn thành Luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các quý Thầy, Cô của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc đối với TS Phạm Bảo Khánh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình chuẩn bị, triển khai nghiên cứu và hoàn chỉnh Luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, những người đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài này

Xin cảm ơn các anh, chị học viên lớp cao học, gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, khuyến khích tôi trong suốt thời gian tôi học tập và hoàn thành Luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song Luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định Tôi rất mong nhận được sự chia sẻ, đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2019

Người viết

Nguyễn Vương Huynh

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Các câu hỏi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Kết cấu của đề tài 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH KIỂM SOÁT 3 LỚP TRONG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TẠI CÁC NHTM 5

1.1 Cơ sở lí luận về Tiền gửi tiết kiệm tại NHTM và Mô hình kiểm soát 3 lớp 5

1.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ chính 5

1.1.2 Nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm 12

1.1.3 Mô hình kiểm soát 3 lớp 26

1.1.4 Trục lợi sổ/thẻ tiết kiệm 34

1.2 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan 37

1.2.1 Các nghiên cứu về mô hình kiểm soát 3 lớp hiện nay 37

1.2.2 Các nghiên cứu về nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm hiện nay 39

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 40

2.1 Phương pháp luận 40

2.1.1 Về thu thập số liệu, dữ liệu 40

2.1.2 Về xử lý, phân tích số liệu, dữ liệu 41

2.2 Thiết kế nghiên cứu 42

CHƯƠNG 3: THỰC TẾ QUẢN LÝ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM VÀ THỰC TRẠNG TRỤC LỢI SỔ TIẾT KIỆM TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 44

3.1 Thực tế quản lý tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM Việt Nam 44

Trang 6

3.1.1 Số liệu về nguồn tiền gửi tiết kiệm 44

3.1.2 Các nội dung quản lý tiền gửi tiết kiệm hiện nay 45

3.2 Các trường hợp thực tế trục lợi sổ tiết kiệm tại một số NHTM 46

3.2.1 Vụ mất 264 tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm của khách hàng tại Eximbank 47

3.2.2 Hơn 400 tỷ đồng bị chiếm đoạt tại OceanBank 49

3.2.3 Hơn 82 tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm bị rút trộm tại Ngân hàng Bản Việt 51

3.2.4 Nhân viên Eximbank chiếm đoạt 50 tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm 52

3.2.5 657 tỷ tiền gửi tiết kiệm bị chiếm đoạt trong Vụ án Huyền Như 53

3.2.6 Nhân viên ngân hàng ANZ chiếm đoạt 91,3 tỷ đồng 54

3.3 Điểm chung trong các trường hợp trục lợi sổ tiết kiệm 55

3.4 Hậu quả của các vụ trục lợi sổ tiết kiệm 56

3.4.1 Đối với NHTM 56

3.4.2 Đối với khách hàng 57

3.5 Biểu hiện thường gặp ở các vụ trục lợi sổ tiết kiệm 58

3.6 Kinh nghiệm quốc tế và bài học kinh nghiệm 58

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH KIỂM SOÁT 3 LỚP VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NGĂN CHẶN TRỤC LỢI SỔ TIẾT KIỆM TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 60

4.1 Đánh giá mô hình kiểm soát 3 lớp hiện hành 60

4.1.1 Đánh giá phương pháp KSNB, KTNB 62

4.1.2 Ma trận kiểm soát, kiểm toán đối với các khoản mục kế toán 67

4.1.3 Đánh giá mô hình kiểm soát 3 lớp trong thực tiễn quy trình nghiệp vụ tiền gửi tiết kiệm 68

4.2 Điều chỉnh mô hình kiểm soát 3 lớp thành "3+1 lớp" 73

4.2.1 Nguyên tắc của việc điều chỉnh 75

4.2.2 Công cụ sử dụng 76

4.3 Cơ sở để thực hiện bổ sung "lớp kiểm soát mới: Khách hàng" 77

4.4 Kiến nghị giải pháp: điều chỉnh mô hình "kiểm soát 3 lớp" thành "kiểm soát 3+1 lớp" 78

4.4.1 Về phía NHNN 78

4.4.2 Về phía NHTM 78

4.4.3 Về phía khách hàng gửi tiết kiệm 81

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

7 L/C Letter of Credit (Thư tín dụng)

10 CCCD Căn cước công dân

11 CMND Chứng minh nhân dân

13 IIA Institute of Internal Auditors (Hiệp hội Kiểm

toán Nội bộ - Hoa Kỳ)

14 BIS Bank for International Settlements (Ngân

hàng Thanh toán Quốc tế)

15 OTP One Time Password (Mật khẩu dùng chỉ dùng

1 lần)

16 VIP Very Important Person (nhân vật quan trọng)

17 CASA Current And Saving Account (tiền gửi vãng

lai và tiết kiệm không kỳ hạn)

18 TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

19 KSND Kiểm sát nhân dân

20 TKTT Tài khoản thanh toán (vãng lai)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1 Bảng 1.1 Phân biệt Kiểm soát nội bộ và Kiểm toán nội bộ 28

2 Bảng 1.2 Phân công chức năng của 3 lớp phòng thủ 30

3 Bảng 2.1 Nguồn thu thập số liệu, dữ liệu của các nội dung

4 Bảng 3.1 Cơ cấu Tổng Tài sản và Vốn của các loại hình TCTD 44

5 Bảng 3.2 Lãi suất trung hạn tại một số NHTM trong tháng 4/2019 46

6 Bảng 3.3 Thời điểm phát hiện các vụ trục lợi sổ tiết kiệm 56

7 Bảng 4.1 Đánh giá vai trò của 3 lớp phòng thủ qua 6 vụ trục lợi

8 Bảng 4.2 Ma trận kiểm soát, kiểm toán đối với các khoản mục kế

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

1 Hình 1.1 Minh họa giao diện gửi tiền tiết kiệm online 22

2 Hình 1.2 Minh họa thông tin tài khoản tiết kiệm 23

3 Hình 1.3 Mức độ đảm bảo tối đa của mô hình kiểm soát rủi ro 32

4 Hình 3.1 Cơ cấu huy động vốn của các NHTM cuối Q1/2018 45

5 Hình 3.2 Bà Bình và 3 sổ tiết kiệm còn giữ 48

6 Hình 3.3 Trần Thị Kim Chi, nguyên Giám đốc OceanBank Chi nhánh

7 Hình 3.4 Sổ tiết kiệm còn, tiền không còn 51

9 Hình 3.6 Phạm Nguyễn Gia Thọ tại Tòa án 54

10 Hình 4.1 Quan hệ giữa trình tự kế toán và trình tự kiểm toán (Giáo

11 Hình 4.2.a Thông tin trên sổ sách phản ánh đúng bản chất nghiệp vụ 63

12 Hình 4.2.b Thông tin trên sổ sách phản ánh thừa bản chất nghiệp vụ 64

13 Hình 4.2.c Thông tin trên sổ sách phản ánh thiếu bản chất nghiệp vụ 65

14 Hình 4.3.a Minh họa dấu hiệu của 2 lớp phòng thủ trên sổ tiết kiệm [1] 69

15 Hình 4.3.b Minh họa dấu hiệu của 2 lớp phòng thủ trên sổ tiết kiệm [2] 70

16 Hình 4.4 Minh họa kiểm soát trên sổ tiết kiệm (phần gửi và tất toán) 71

17 Hình 4.5 Tương tác thông tin giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng 74

18 Hình 4.6 "Bảo vệ như… không bảo vệ" 75

19 Hình 4.7 Dự báo số người sử dụng internet và điện thoại di động ở

20 Hình 4.8 Minh họa giao diện hiển thị thông tin sổ tiết kiệm 79

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thu hút tiền gửi cá nhân và tổ chức là nghiệp vụ truyền thống và cốt lõi (chiếm tới hơn 2/3 cơ cấu huy động vốn) của các ngân hàng thương mại (NHTM), đảm bảo nguồn vốn đầu vào ổn định của ngân hàng Đối với các khách hàng cá nhân, gửi tiết kiệm tại ngân hàng là cách giữ tiền an toàn và chắc chắn, định kỳ thu được lãi như cam kết nên rất được ưa chuộng từ lâu nay

Quy trình gửi và rút tiền tiết kiệm của người dân nhiều năm qua vẫn được gắn liền với bìa sổ tiết kiệm, thông thường được kiểm soát mô hình 3 lớp phòng thủ nội bộ (bộ phận kinh doanh, kiểm soát rủi ro, kiểm toán nội bộ) Tuy nhiên,

do việc ghi nhận và truyền đạt thông tin còn nặng tính chất thủ công truyền thống, gắn liền với việc ký tay và lưu chuyển chứng từ trên giấy, đồng thời chủ yếu dựa trên cơ chế kiểm soát chéo chỉ trong nội bộ các ngân hàng nên còn tồn tại các kẽ hở để có thể bị trục lợi

Thực tế cho thấy ở nhiều vụ việc, việc gian lận hoặc thông đồng, cấu kết giữa các cán bộ, nhân viên của ngân hàng đã vô hiệu hóa mô hình kiểm soát 3 lớp, che giấu khách hàng để trục lợi tiền tiết kiệm Đặc biệt trong vài năm trở lại đây đã xảy ra nhiều vụ trục lợi sổ tiết kiệm điển hình, làm thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận Các sự việc tương tự diễn ra ở nhiều ngân hàng, nhiều chi nhánh, với quy mô từ hàng tỷ đến hàng trăm tỷ đồng, dẫn đến những tranh chấp pháp lý giữa hai bên, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng và thiệt hại tài sản của khách hàng

Với kinh nghiệm làm việc hơn 5 năm trong ngành kiểm toán, đã từng tham gia nhiều cuộc kiểm toán quy trình nội bộ, kiểm toán báo cáo tài chính tại một số ngân hàng (Vietcombank, BIDV, Techcombank, Indovinabank…), tôi nhận thấy: mô hình kiểm soát 3 lớp hiện đang ứng dụng trong nghiệp vụ tiền gửi tiết kiệm, mặc dù là một công cụ phòng ngừa và ngăn chặn rủi ro hữu hiệu, nhưng không phải luôn luôn phát huy tác dụng phòng chống trục lợi 100%

Trang 11

Do đó, việc nghiên cứu cơ chế hoạt động của mô hình kiểm soát 3 lớp trong nghiệp vụ tiền gửi tiết kiệm, để tìm ra các điểm yếu có thể bị lợi dụng, từ

đó đưa ra các giải pháp khắc phục, giúp cho nghiệp vụ huy động tiết kiệm từ dân

cư trở nên đáng tin cậy hơn, tránh những tranh chấp không đáng có, là một nhu cầu cấp thiết từ thực tiễn hoạt động của các NHTM, đồng thời cũng là sự quan tâm của cá nhân tôi dưới góc nhìn của nghiệp vụ kiểm toán

Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro, ngăn ngừa trục lợi trong công tác quản lý tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM, với những kiến thức đã được học, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Ứng dụng mô hình kiểm soát 3 lớp trong công tác quản trị rủi ro trục lợi sổ/thẻ tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại” để làm Luận văn Thạc sĩ

2 Các câu hỏi nghiên cứu

- Hoạt động huy động tiền gửi tại các NHTM là gì? Huy động tiền gửi bao gồm những quy trình cơ bản như thế nào?

- Mô hình kiểm soát 3 lớp (3 lines of defence) là gì, ứng dụng của mô hình này trong quy trình huy động tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM như thế nào? Mức

độ phù hợp của mô hình này trong việc kiểm soát hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của các NHTM?

- Hạn chế, điểm yếu của mô hình kiểm soát 3 lớp là gì? Khi nào mô hình này bị vô hiệu hóa? Sự cần thiết phải điều chỉnh/ cải tiến mô hình này?

- Trục lợi sổ tiết kiệm là gì? Thực trạng trục lợi sổ tiết kiệm của khách hàng gửi tiền tại các NHTM ra sao? Mức độ thiệt hại, ảnh hưởng như thế nào?

- Cơ chế hoạt động của mô hình kiểm soát 3 lớp như thế nào trong các vụ trục lợi mà không phát hiện được gian lận?

- Giải pháp gì để ngăn chặn/ giảm thiểu nguy cơ sổ tiết kiệm của khách hàng bị trục lợi? Đối với mô hình kiểm soát 3 lớp: cần điều chỉnh như thế nào để đạt được mục tiêu kiểm soát? Để thực hiện được những giải pháp này, cần những điều kiện gì?

Trang 12

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2 - Tìm hiểu và phân tích thực trạng trục lợi sổ tiết kiệm trong một số vụ việc điển hình tại một số NHTM, từ đó phản hồi lại cơ sở lý thuyết, Luận văn sẽ chỉ ra các điểm yếu, hạn chế của mô hình kiểm soát 3 lớp trong quy trình có thể dẫn đến trục lợi sổ tiết kiệm

3 - Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình nghiệp

vụ huy động tiền gửi tiết kiệm, trên cơ sở cải tiến mô hình kiểm soát 3 lớp thành

"mô hình kiểm soát 3+1 lớp", nhằm tránh các nguy cơ sổ tiết kiệm của khách hàng bị trục lợi

Nhằm khắc phục điểm yếu của mô hình kiểm soát 3 lớp phòng thủ trong quy trình gửi và rút tiền tiết kiệm tại các NHTM

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: là mô hình kiểm soát 3 lớp trong nghiệp vụ quản lý tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM (hiện trạng và hạn chế của mô hình này trong việc ứng dụng để quản trị rủi ro trục lợi sổ tiết kiệm của khách hàng; cần điều chỉnh/thay đổi như thế nào để mô hình này ngăn chặn được rủi ro đó)

Trang 13

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Tại các NHTM đang hoạt động ở Việt Nam, trong hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm

+ Về thời gian: trong 3 năm gần nhất (2016-2019)

+ Về chủ thể: (i) các NHTM đang hoạt động ở Việt Nam (tập trung vào các ngân hàng TMCP như Eximbank, Techcombank, OceanBank, Bản Việt… và

2 ngân hàng quốc doanh là Vietinbank và BIDV), đặc biệt là các ngân hàng đã

xảy ra tình trạng trục lợi sổ tiết kiệm; và (ii) các khách hàng cá nhân gửi tiền tiết

kiệm tại các NHTM này

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời Mở đầu và Kết luận, kết cấu của Luận văn gồm 04 Chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu về Mô hình

kiểm soát 3 lớp trong huy động tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Thực tế quản lý tiền gửi tiết kiệm và thực trạng trục lợi sổ tiết

kiệm tại các NHTM Việt Nam Chương 4: Đánh giá mô hình kiểm soát 3 lớp và một số giải pháp nhằm

ngăn chặn trục lợi sổ tiết kiệm tại các NHTM Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH KIỂM SOÁT 3 LỚP TRONG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI

TIẾT KIỆM TẠI CÁC NHTM

1.1 Cơ sở lí luận về Tiền gửi tiết kiệm tại NHTM và Mô hình kiểm soát 3

lớp

1.1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ chính

1.1.1.1 Ngân hàng thương mại

Mặc dù ngân hàng thương mại ra đời từ rất lâu nhưng các nhà kinh tế vẫn khó tìm ra một định nghĩa thống nhất, do có sự khác biệt về số lượng và tính chất các nghiệp vụ, bối cảnh kinh tế - xã hội, quy định pháp luật… của các quốc gia khác nhau

Tại Việt Nam, ngân hàng ra đời năm 1951 với tên gọi “Ngân hàng quốc gia Việt Nam” Sự ra đời ngân hàng Việt Nam mang nét đặc trưng riêng biệt: Ngân hàng nhà nước ra đời vừa làm chức năng quản lý tiền tệ vừa làm chức năng của một ngân hàng thương mại (ngân hàng một cấp) Đến ngày 26/03/1988, Nghị định số 53/HĐBT quyết định chia hệ thống ngân hàng Việt Nam thành 2 cấp, tách bạch chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ (Ngân hàng nhà nước - NHNN)

và chức năng kinh doanh tiền tệ (Ngân hàng thương mại - NHTM) Đặc biệt từ sau khi thực hiện công cuộc Đổi mới, các NHTM đã có những phát triển vượt bậc góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước Khái niệm “ngân hàng”

do đó thường được hiểu là NHTM, không bị lẫn với NHNN nữa

Từ Pháp lệnh “Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” ban hành năm 1990 đã định nghĩa: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” Đến Luật các Tổ chức Tín dụng (TCTD) năm 1997, NHTM là doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng, đó là “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là

Trang 15

nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán” Hiện tại, theo Luật các TCTD năm 2010, NHTM được định nghĩa “là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”

1.1.1.2 Chức năng của NHTM

Tầm quan trọng của NHTM trong nền kinh tế được thể hiện qua các chức năng của nó Việc phân chia các chức năng có thể được nêu ra dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung NHTM có các chức năng sau:

- Chức năng tạo tiền: Để phục vụ cho lưu thông hàng hóa dịch vụ, NHNN phải đưa một khối lượng tiền nhất định vào trong lưu thông, gọi là “Lượng tiền cơ bản” Lượng tiền đó phải được tính toán vừa đủ để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, nếu lượng tiền cung ứng vượt quá nhu cầu sẽ gây ra lạm phát Từ lượng tiền cung ứng ban đầu này, thông qua hoạt động nhận tiền gửi và cho vay, hệ thống NHTM đã làm tăng lượng tiền cung ứng gấp nhiều lần Lượng tiền cơ bản Đây được coi là chức năng chủ yếu đầu tiên của NHTM Thông qua chức năng này của hệ thống NHTM, NHNN bằng những công cụ như dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu… có thể thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gia nhằm đưa ra một khối lượng tiền phù hợp, vừa đủ cho nền kinh tế lưu thông mà vẫn ổn định được giá trị đồng tiền

- Chức năng trung gian thanh toán: NHTM là nơi có rất nhiều tổ chức, cá nhân mở tài khoản nên đã tạo điều kiện cho việc thanh toán giữa các tổ chức, cá nhân được thuận tiện, tiết kiệm được chi phí, thời gian cho chính

họ, cũng như tiết kiệm chung cho toàn xã hội Việc thanh toán qua ngân hàng được thực hiện tập trung, chuyên nghiệp, trên nền tảng công nghệ cao, có tốc độ và độ chính xác cao Qua hoạt động thanh toán, NHTM cũng thu được những lợi ích nhất định, chẳng hạn như số dư tiền không kỳ hạn (CASA) tức thời, có lãi suất rất rẻ so với lãi suất huy động có kỳ hạn Ngày nay hoạt động thanh toán qua ngân hàng ngày càng phát triển, song song với chủ trương thanh toán phi tiền mặt, minh bạch hóa các giao dịch

Trang 16

- Chức năng huy động tiền gửi: Số vốn tự có của mỗi ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn Để thu hút được nguồn vốn cung ứng cho hoạt động đầu tư tín dụng, NHTM phải tiến hành huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân dân cư Nói cách khác, nhờ có huy động tiền gửi, NHTM mới có đủ lượng vốn đáp ứng cho nhu cầu đa dạng của nền kinh tế Mặt khác, lợi ích về phía người gửi tiền được nhận

là phần thu nhập bằng tiền lãi mà hoạt động huy động vốn của các ngân hàng mang lại Khoản thu nhập từ những khoản tiền nhàn rỗi của khách hàng chính là giá mà NHTM trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời trong một khoảng thời gian nhất định Để huy động được nhiều tiền gửi, NHTM

đã phát triển rất nhiều sản phẩm (loại hình) tiền gửi khác nhau: Có kỳ hạn hoặc không có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán hoặc tiền gửi tiết kiệm…

- Chức năng tín dụng: Đây là hoạt động hiện đang tạo ra thu nhập chính (chiếm khoảng 60%-70% tổng thu nhập), duy trì sự tồn tại cho các NHTM

ở Việt Nam, đồng thời cũng là hoạt động cơ bản và lâu dài của mỗi NHTM NHTM dùng những khoản vốn huy động được để cho vay đối với nền kinh tế, nhằm giúp những người có nhu cầu có được vốn để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của mình hoặc đảm bảo các nhu cầu khác Với việc cho vay này, NHTM đóng vai trò cầu nối giữa nơi tạm thời thừa

và nơi thiếu vốn, giúp cho sự phát triển kinh tế được thông suốt và hiệu quả Nếu không có nguồn vốn vay từ ngân hàng thì rất nhiều doanh nghiệp không thể tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh được hoặc có kinh doanh nhưng quy mô chậm phát triển Ngày nay, hầu như mọi doanh nghiệp đều có khoản vốn vay từ ngân hàng Càng cho vay được nhiều thì NHTM càng thu được lãi lớn Tuy nhiên hoạt động tín dụng chứa đựng nhiều loại rủi ro, vì vậy dù việc nâng cao các khoản tín dụng là mục tiêu hàng đầu, sống còn nhưng NHTM vẫn phải đảm bảo có thu nhập bền vững trong điều kiện an toàn, hiệu quả

Trang 17

- Chức năng tài trợ hoạt động ngoại thương: Các bên mua và bán trong hoạt động ngoại thương khó có thể thực hiện thanh toán trực tiếp do quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa có nhiều khâu đoạn phức tạp Khi hoạt động thương mại quốc tế ngày một phát triển, xuất nhập khẩu giữa các nước đã diễn ra mạnh mẽ thì đòi hỏi việc thanh toán quốc tế cũng như những hỗ trợ khác cho thanh toán ngày càng nhiều Việc đảm bảo thanh toán cho các doanh nghiệp giữa các nước đòi hỏi một tổ chức đứng ra phải

có đủ khả năng và uy tín như NHTM mới đảm trách được Các NHTM giúp cho các doanh nghiệp có hoạt động đối ngoại thực hiện việc thanh toán được hiệu quả, an toàn và đặc biệt là giảm được chi phí cho họ Ngoài ra, NHTM còn có hỗ trợ về vốn, nghiệp vụ giúp cho các doanh nghiệp có thể thực hiện một cách thuận lợi và an toàn các hoạt động ngoại thương Cụ thể ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ mở thư tín dụng (L/C), séc chuyển tiền, hối phiếu…

- Chức năng bảo lãnh: Một số doanh nghiệp khi thực hiện các dự án lớn, có đòi hỏi cao về vốn và uy tín vượt qua khả năng tài chính của mình sẽ khó

tự mình theo đuổi các dự án đó Các doanh nghiệp này rất cần một tổ chức đứng ra bảo lãnh cho họ để đấu thầu, ký kết hợp đồng và thực hiện dự án

mà không cần phải dự phòng một nguồn tiền mặt để cam kết thực hiện với đối tác NHTM, với tiềm lực về vốn và uy tín, chính là người bảo lãnh tốt cho các doanh nghiệp Mặt khác, NHTM có thể tư vấn cung cấp tiền tệ, nghiệp vụ giúp cho doanh nghiệp quản lý tốt dự án Hiện nay, việc NHTM bảo lãnh cho các doanh nghiệp là khách hàng của mình ngày càng phổ biến, mang lại lợi ích và gắn chặt mối quan hệ cho cả hai bên

- Các chức năng khác, như: Dịch vụ ủy thác, bảo đảm an toàn vật có giá…

1.1.1.3 Các nghiệp vụ chính của NHTM

- Nhóm nghiệp vụ Nợ: hoạt động của NHTM dựa chủ yếu trên nguồn vốn huy động còn nguồn vốn chủ sở hữu của NHTM là rất nhỏ (chiếm khoảng 5% - 10% tổng nguồn vốn), chỉ là tấm đệm để hạn chế những rủi ro

Trang 18

Lượng vốn mà các NHTM huy động từ khách hàng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau như: tình hình kinh tế xã hội, lãi suất, cách thức gửi tiền và trả lãi, phong tục tập quán, sự thuận tiện của mạng lưới, chất lượng và thái độ phục vụ của ngân hàng…

 Tiền gửi tiết kiệm: Mục đích chính của loại tiền gửi này là để hưởng lãi suất Các kỳ hạn gửi tiền do ngân hàng đưa ra cho khách hàng (là các cá nhân) lựa chọn, phù hợp với nhu cầu tài chính của mình Thông thường, thời hạn tiết kiệm càng dài thì lãi suất khách hàng được hưởng càng cao

 Ngoài 2 loại tiền gửi chủ yếu trên ngân hàng còn có nhiều hình thức huy động vốn khác, là công cụ nợ, như phát hành trái phiếu, vay trên thị trường tiền tệ, vay từ tổ chức tín dụng khác, vay từ NHNN… Tuy nhiên, các hình thức này không thường xuyên mà chỉ thực hiện trong những trường hợp nhất định, thường là cấp bách và giá trị nhiều đột biến, trong đó các ràng buộc và điều kiện

- Nhóm nghiệp vụ Có: Đây là nhóm hoạt động sử dụng vốn của NHTM Ngân hàng dùng vốn huy động được, cùng với vốn tự có, để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình nhằm tạo ra nguồn thu nhập Nghiệp vụ

Có của NHTM thể hiện ở các hoạt động sau:

Trang 19

 Hoạt động ngân quỹ: Mỗi NHTM đều phải giữ lại một khoản tiền tại két của ngân hàng để đảm bảo thanh khoản, phòng những trường hợp rút tiền của người gửi Do đó có thể nói hoạt động này đảm bảo cho khả năng thanh toán thường xuyên của ngân hàng Khoản tiền bảo đảm khả năng thanh toán của ngân hàng có thể là tiền tại két, tiền gửi NHNN, chứng khoán, tiền mặt trong quá trình thu Đó là những tài sản có tính thanh khoản cao nhưng không sinh lời hoặc sinh lời thấp

Ở mỗi thời kỳ, NHNN cũng quy định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc tùy từng thời hạn, ví dụ: 8% đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng Vì vậy, NHTM phải điều chỉnh lượng dự trữ này sao cho hợp lý, vừa để đảm bảo khả năng sinh lời cao, vừa đảm bảo khả năng thanh toán tốt

 Hoạt động cho vay: Đây là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng, thường đem lại cho ngân hàng khoản lợi nhuận cao, tới 2/3 tổng thu nhập Mặt khác, đây cũng là hoạt động nhạy cảm, chứa đựng nhiều rủi ro, bao gồm cả các nguyên nhân khách quan và chủ quan Hoạt động tín dụng có mức độ rủi ro cao nhất, do đó để thực hiện có hiệu quả hoạt động này các ngân hàng phải có những biện pháp để hạn chế những rủi ro bằng cách quản lý chặt chẽ các khoản cho vay

 Hoạt động thuê mua: Đây là hoạt động còn khá mới ở Việt Nam, là hình thức cung cấp tài chính cho khách hàng dưới hình thức thuê (NHTM mua tài sản và cho khách hàng thuê lại, hết thời hạn thuê thường có chuyển giao về quyền sở hữu) Hoạt động này cũng là một hình thức cấp tín dụng nhưng không bằng tiền mà là bằng quyền sử dụng tài sản; quyền sở hữu vẫn thuộc về bên cho thuê Chỉ đến khi kết thúc hợp đồng, người thuê mới có quyền mua lại tài sản có ở mức giá thoả thuận giữa hai bên, ấn định từ khi hợp đồng này

 Hoạt động đầu tư trực tiếp: Bên cạnh các hình thức đầu tư gián tiếp bằng cách cấp tín dụng ở trên, NHTM còn tham gia đầu tư trực tiếp

Trang 20

vào các chứng khoán Hoạt động này một mặt tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, mặt khác giúp bổ trợ cho các hoạt động khác bởi đa dạng hoá giảm rủi ro Với việc nắm giữ chứng khoán, ngân hàng có thể đảm bảo cho khả năng thanh toán của tài sản có sinh lời

- Nghiệp vụ trung gian: Ngoài 2 nhóm nghiệp vụ trên, NHTM còn thực hiện cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng nhằm thu phí (còn gọi là các thu nhập ngoài lãi) và khuyến khích khách hàng đến với ngân hàng Ngày nay, hoạt động này ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Các hoạt động trung gian bao gồm:

 Dịch vụ ngân quỹ: Ngày nay, khi mà thị trường không dùng tiền mặt thì hoạt động này ngày càng phát triển rộng Ngân hàng đứng ra thu

hộ, quản lý và trả tiền mặt cho khách hàng

 Dịch vụ chuyển tiền: trên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại, dịch

vụ này ngày càng được nhiều người sử dụng, vượt qua nhiều khoảng cách địa lý giữa người chuyển và người nhận tiền

 Dịch vụ thanh toán và cung cấp phương tiện thanh toán: NHTM đứng

ra làm trung gian thanh toán hộ cho khách hàng tùy theo thời điểm giao nhận hàng, và phát hành các phương tiện nhằm phục vụ cho thanh toán như: Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, Séc, L/C…

 Dịch vụ môi giới: NHTM tổ chức mua bán, lưu ký, bảo quản chứng khoán Tại Việt Nam, các ngân hàng thành lập ra các công ty chứng khoán để thực hiện hoạt động này như VCBS, MBS, ACBS

 Dịch vụ bảo lãnh: do có uy tín và năng lực tài chính tốt, ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho khách hàng thực hiện các giao dịch như: bảo lãnh cho các công ty phát hành chứng khoán, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…

 Dịch vụ tư vấn: Cung cấp thông tin và hỗ trợ về mặt chuyên môn cho khách hàng

Trang 21

1.1.2 Nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm

Huy động tiền gửi là nghiệp vụ cổ điển và lâu đời của NHTM Ngay từ trong khái niệm “Ngân hàng thương mại”, Luật các Tổ chức Tín dụng 1997 đã đề

cập đến “nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi…”, điểm này sau

đó được khẳng định lại tại Luật các Tổ chức Tín dụng 2010 (Điều 4.12) Thật vậy, NHTM hoạt động và phát triển được chủ yếu nhờ vào lượng tiền mà nó huy động được từ nền kinh tế Nghiệp vụ huy động tiền gửi nói chung, huy động tiền gửi tiết kiệm nói riêng đóng vai trò sống còn trong chức năng thu hút nguồn vốn bên ngoài của các NHTM

1.1.2.1 Định nghĩa

Theo Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 (Điều 4.13): “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.”

Gửi tiết kiệm là một trong những hình thức gửi tiền, đồng thời cũng là hình thức đầu tư phổ biến hiện nay của các cá nhân, được đánh giá là tương đối

an toàn và ít rủi ro Với hình thức này, khách hàng gửi một khoản tiền vào ngân hàng với mục đích chính là tiết kiệm Đây là một khoản tiền để dành, khách hàng chưa có kế hoạch sử dụng, chứ không phải khoản tiền cho việc chi tiêu thường xuyên, thanh toán cho mục đích cá nhân Khách hàng sẽ thu được một khoản lãi nhất định từ ngân hàng bằng hình thức gửi tiết kiệm

Công thức tính lãi tiền gửi tiết kiệm hiện hành (theo quy định tại Thông tư

số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/09/2017 của NHNN):

Số tiền lãi ngày =

Số dư thực tế x Lãi suất tính lãi

365

Số tiền lãi của kỳ tính lãi = Tổng số tiền lãi ngày của toàn bộ các ngày trong kỳ tính lãi

Trang 22

Do đó, nếu số dư thực tế trong kỳ gửi tiết kiệm không thay đổi thì:

Số tiền lãi cả kỳ =

Số dư thực tế x Lãi suất tính lãi x Số ngày trong kỳ

365

1.1.2.2 Nội dung tiền gửi tiết kiệm

Theo quy định tại Thông tư số 48/2018/TT-NHNN của NHNN ban hành ngày 31/12/2018 (Điều 5.3): “Giao dịch tiền gửi tiết kiệm bao gồm giao dịch

nhận, gửi tiền gửi tiết kiệm; chi trả, rút tiền gửi tiết kiệm; sử dụng tiền gửi tiết

kiệm làm tài sản bảo đảm và chuyển giao quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm.”

1.1.2.3 Thẻ (sổ) tiết kiệm

Thông tư số 48/2018/TT-NHNN của NHNN ban hành ngày 31/12/2018 cũng quy định (Điều 7):

“1 Thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm (sau đây gọi chung là Thẻ tiết kiệm) là

chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm của người gửi tiền tại tổ chức

tín dụng, được áp dụng đối với trường hợp nhận tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch hợp pháp thuộc mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng

2 Nội dung Thẻ tiết kiệm

a) Thẻ tiết kiệm phải có tối thiểu các nội dung sau:

(i) Tên tổ chức tín dụng, con dấu; Họ tên, chữ ký của giao dịch viên và của người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng;

(ii) Họ tên, số và ngày cấp Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền hoặc của tất cả người gửi tiền (đối với tiền gửi tiết kiệm chung) và thông tin của người đại diện theo pháp luật của người gửi tiền trong trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật;

(iii) Số Thẻ tiết kiệm; số tiền; đồng tiền; ngày gửi tiền; ngày đến hạn (đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn); thời hạn gửi tiền; lãi suất; phương thức trả lãi;

(iv) Biện pháp để người gửi tiền, tra cứu khoản tiền gửi tiết kiệm;

(v) Xử lý đối với trường hợp nhàu nát, rách, mất Thẻ tiết kiệm;

Trang 23

b) Ngoài các nội dung quy định tại điểm a khoản này, Thẻ tiết kiệm có thể

có các nội dung khác theo quy định của tổ chức tín dụng.”

1.1.2.4 Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm

- Thời gian gửi tiền linh hoạt: Khách hàng gửi tiết kiệm tại ngân hàng có thể chọn kỳ hạn gửi tiền tùy theo nhu cầu của mình (3 tháng, 6 tháng, 9 tháng,

12 tháng, 18 tháng…) Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể gửi tiết kiệm không kỳ hạn hoặc có thể tất toán hợp đồng có kỳ hạn bất cứ lúc nào

- Lãi suất tiết kiệm được công bố trước và cố định trong suốt thời gian gửi, thường không cao như các hình thức đầu tư tài chính cá nhân khác như cổ phiếu, cho vay… nhưng có tính chất ổn định, an toàn

- Sản phẩm đa dạng: Hiện nay, hầu hết các NHTM đều triển khai nhiều sản phẩm gửi tiết kiệm để đáp ứng nhu cầu gửi tiết kiệm của khách hàng Các sản phẩm gửi tiết kiệm phổ biến như: tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có

kỳ hạn, tiết kiệm online, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm tự động…

- Khách hàng có thể sử dụng sổ tiết kiệm để cầm cố vay vốn tại chính TCTD đã gửi tiết kiệm hoặc các TCTD khác, do đó gửi tiết kiệm mặc dù

có tính cố định nhưng lại đồng thời có tính thanh khoản cao

- Khách hàng được bảo vệ với thứ tự ưu tiên cao: Trong các hình thức huy động vốn của NHTM, tiền gửi tiết kiệm thu hút vốn từ hàng triệu cá nhân trong cả nước, nên có sức ảnh hưởng ảnh hưởng rất lớn đến an ninh, kinh

tế xã hội Quyền lợi của khách hàng (cá nhân) tham gia gửi tiết kiệm tại các TCTD nói chung, NHTM nói riêng được bảo vệ ở thứ tự cao nhất so với các hình thức huy động vốn khác Trong những trường hợp ngân hàng yếu kém, mất khả năng thanh khoản (như Ngân hàng Đại Dương, Ngân hàng Xây dựng, Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu) thì cơ chế kiểm soát đặc biệt của NHNN cũng chỉ hạn chế rút tiền đối với khách hàng doanh nghiệp, còn khách hàng cá nhân vẫn được rút tiền gửi bình thường Ngoài

ra, Việt Nam có Luật Bảo hiểm Tiền gửi (2012), theo đó TCTD nhận tiền gửi bắt buộc phải tham gia Bảo hiểm tiền gửi Số tiền bảo hiểm (được Thủ

Trang 24

tướng quy định, căn cứ theo Luật) hiện đang ở mức hạn chế (75 triệu đồng/cá nhân/TCTD) nhưng đã cho thấy mức độ quan tâm bảo vệ của Nhà nước đối với quyền lợi của người gửi tiền tại TCTD

- Đối tượng gửi tiết kiệm thường là các cá nhân có nhu cầu chi tiêu ổn định,

có kế hoạch sử dụng tiền trước khi gửi

1.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng

Để có được nguồn vốn lớn trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt hiện nay, các NHTM phải có những chính sách huy động hợp lý, nhằm thu hút được lượng vốn cần thiết trong nền kinh tế để phục vụ cho hoạt động của ngân hàng Các yếu

tố chính ảnh hưởng đến hoạt động tiền gửi tiết kiệm của một NHTM là:

- Lãi suất: lãi suất là giá cả của quyền sử dụng tiền trong một khoảng thời gian nhất định Đây là yếu tố khách hàng gửi tiết kiệm quan tâm hàng đầu Đương nhiên khách hàng sẽ có xu hướng ưu tiên sử dụng NHTM chào lãi suất cao hơn Nhìn chung, mức sinh lợi mà khách hàng thu được từ tiền gửi tiết kiệm không quá cao nhưng đảm bảo an toàn, tránh rủi ro so với các hình thức đầu tư khác

- Uy tín, danh tiếng của ngân hàng: Đây là yếu tố vừa có thể chỉ tiêu hóa được (bằng xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức có uy tín, bằng chỉ số về khả năng thanh khoản…) vừa là yếu tố vô hình, cảm tính (hình ảnh, thương hiệu của ngân hàng…) NHTM nào có uy tín, chiếm được sự tín nhiệm của khách hàng thì sẽ dễ thu hút tiền gửi của cư dân hơn

- Sự tiện lợi của dịch vụ: như mạng lưới ngân hàng rộng khắp, dễ tiếp cận, chế độ khách VIP, thủ tục nhanh gọn, tiện ích giúp khách hàng không phải viết và ký nhiều…

- Khả năng rút vốn linh hoạt của khách khi có nhu cầu: các NHTM cạnh tranh nhau bằng cách thiết kế các sản phẩm rút vốn linh hoạt Ví dụ: nếu khách hàng rút một phần tiền gửi trước hạn thì số dư còn lại vẫn được

Trang 25

hưởng 100% lãi suất của hợp đồng, hoặc sẽ được hưởng lãi suất bằng lãi suất của kỳ hạn gần nhất đã qua…

- Các lợi ích kinh tế khác khi gửi tiền: các kỳ khuyến mại, rút thăm trúng thưởng khi gửi tiền, ưu đãi bằng cách liên kết với các hãng hàng không, siêu thị, sân golf…

Trong các yếu tố trên thì lãi suất và uy tín của ngân hàng là 2 yếu tố quan trọng nhất Tuy nhiên, một lãi suất ưu đãi đáng kể cũng không bù đắp được một

sự phương hại về uy tín (nếu xảy ra) của một NHTM, làm khách hàng lo ngại về khả năng mất vốn tại ngân hàng đó Thậm chí lãi suất càng cao (bất thường) càng khiến khách hàng nghi ngờ về năng lực tài chính và độ an toàn của ngân hàng

1.1.2.6 Các hình thức gửi tiết kiệm

Theo quy định của NHNN, có 2 hình thức gửi tiết kiệm là: (i) Gửi tiết kiệm trực tiếp tại điểm giao dịch của ngân hàng; và (ii) Gửi tiết kiệm online

Trong đó: (i) là hình thức truyền thống, dựa trên cơ sở thao tác và ký trực tiếp trên các giấy tờ; (ii) là hình thức mới, dựa trên nền tảng kết nối internet được bảo mật, thường được các ngân hàng ưu tiên về lãi suất hơn so với cách gửi tiết kiệm truyền thống Ngoài ra, hình thức gửi tiết kiệm online giúp khách tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại, đồng thời tiết kiệm chi phí khai thác cho ngân hàng

1.1.2.7 Quyền của người gửi tiền và trách nhiệm của NHTM

Việc lựa chọn NHTM để mở tài khoản, số lượng tài khoản tiết kiệm là quyền của khách hàng Chủ tài khoản có toàn quyền sở hữu đối với số tiền trên tài khoản của mình Khi nào chủ tài khoản ra lệnh (thể hiện bằng các chứng từ kế toán hợp pháp), NHTM mới được chuyển/ trích tài khoản của khách hàng (trừ trường hợp có lệnh của Tòa án, Trọng tài Kinh tế Nhà nước, hoặc NHTM chủ động thu nợ khi đến hạn)

a Quyền của người gửi tiền

Quyền của người gửi tiền tiết kiệm đối với TCTD (trong đó có NHTM) được quy định tại Điều 24 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm do Thống đốc NHNN ban hành ngày 13/09/2004 kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN:

Trang 26

- Người gửi tiền được thanh toán đầy đủ tiền gốc và lãi tiền gửi tiết kiệm theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm

- Người gửi tiền là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm được chuyển quyền sở hữu thẻ tiết kiệm, được để lại thừa kế tiền gửi tiết kiệm, được ủy quyền cho người khác thực hiện các giao dịch rút tiền gửi tiết kiệm theo quy định của pháp luật

- Người gửi tiền là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm được cầm cố thẻ tiết kiệm để vay vốn tại các tổ chức tín dụng nếu được tổ chức tín dụng đó chấp thuận

- Người gửi tiền là người giám hộ, người đại diện theo pháp luật được quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm theo quy định tại Quy chế này và quy định tại các văn bản pháp luật có liên quan Ngoài ra, Luật Bảo vệ Người tiêu dùng năm 2010 quy định rõ: “Quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật”

- Căn cứ vào Quy chế này và các văn bản pháp luật có liên quan, tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm ban hành và công bố công khai quy định về tiền gửi tiết kiệm trong hệ thống của mình

- Nhận tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân vào các ngày và giờ thực hiện giao dịch

- Thanh toán tiền gốc, lãi tiền gửi tiết kiệm đúng hạn và đầy đủ

- Công bố công khai lãi suất tiền gửi tiết kiệm, phương thức trả lãi, mức thu phí đối với các khoản tiền gửi tiết kiệm rút trước hạn (nếu có) và mức thu

Trang 27

phí đối với các dịch vụ liên quan đến tiền gửi tiết kiệm tại các địa điểm nhận, chi trả tiền gửi tiết kiệm

- Giữ bí mật số dư tiền gửi của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm theo quy định của pháp luật và đảm bảo an toàn tiền gửi cho chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng sở hữu tiền gửi tiết kiệm

- Chịu trách nhiệm về những thiệt hại, vi phạm, lợi dụng đối với tiền gửi tiết kiệm do lỗi của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm

- Các tổ chức tín dụng có trách nhiệm báo cáo cho NHNN các số liệu liên quan đến hoạt động nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm theo quy định hiện hành về chế độ báo cáo thống kê

- Các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng được pháp luật cho phép nhận tiền gửi tiết kiệm có trách nhiệm báo cáo NHNN về tình hình nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm theo quy định của NHNN

1.1.2.8 Quy trình huy động tiền gửi tiết kiệm

Trên phương diện cơ sở pháp lý về hoạt động tiền gửi tiết kiệm, các TCTD tại Việt Nam phải tuân thủ quy định của NHNN (hiện hành là Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018) Theo đó, quy trình gửi và rút tiền tiết kiệm tại các NHTM có thể có đôi nét khác biệt, song tựu trung lại có những điểm chính như sau:

a Tiền gửi tại quầy

Quy trình gửi tiền tại quầy

- Người gửi tiền trực tiếp thực hiện giao dịch gửi tiền tại NHTM và xuất trình các giấy tờ sau:

 Chứng minh bản thân: xuất trình thẻ Căn cước công dân (CCCD) hoặc Chứng minh nhân dân (CMND) hoặc Hộ chiếu (HC) còn hiệu lực

 Người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật: xuất trình CCCD hoặc CMND hoặc HC còn hiệu lực và các giấy tờ chứng minh tư cách của người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp

Trang 28

luật của người chưa thành niên, người mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

 Cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nhưng có tài sản riêng: xuất trình CCCD hoặc CMND hoặc HC còn hiệu lực và các giấy

tờ để chứng minh số tiền gửi ngân hàng là tài sản riêng của mình gồm: (i) Giấy tờ về thừa kế, hoặc (ii) Văn bản về việc cho, tặng tài sản được chứng thực theo quy định của pháp luật, hoặc (iii) Các giấy tờ khác chứng minh khác theo quy định của pháp luật hiện hành như: Hợp đồng lao động, hợp đồng học việc, thông báo kết quả trúng thưởng xổ số hoặc khuyến mãi dự thưởng

- Giao dịch viên của ngân hàng kiểm tra thông tin, tính hợp pháp, hợp lệ của các giấy tờ trên; đếm số tiền khách gửi (có thể có thủ quỹ riêng nếu số tiền vượt hạn mức), nhập vào hệ thống và in ra sổ (thẻ) tiết kiệm Giao dịch viên ký trên sổ tiết kiệm

- Kiểm soát viên và/hoặc Trưởng chi nhánh/ Nhóm giao dịch kiểm tra lại thông tin, ký kiểm soát, chuyển khách hàng giữ sổ

Quy trình rút tiền tại quầy

Người rút tiền là chính chủ sổ tiết kiệm thực hiện các thủ tục sau:

- Xuất trình sổ (thẻ) tiết kiệm

- Người rút tiền xuất trình các giấy tờ nhân thân sau:

 Là cá nhân Việt Nam: xuất trình CCCD hoặc CMND hoặc HC còn hiệu lực Người gửi tiền là cá nhân nước ngoài: xuất trình HC được cấp thị thực còn hiệu lực

 Người rút tiền là người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật: ngoài các thủ tục trên còn xuất trình thêm các giấy tờ chứng minh tư cách của người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên, người mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trang 29

- Người rút tiền ký vào giấy rút tiền với đúng chữ ký mẫu đã đăng ký tại NHTM

- Giao dịch viên kiểm tra chữ ký, giấy tờ nhân thân của khách hàng; Kiểm soát viên và/hoặc Trưởng chi nhánh/ Nhóm giao dịch kiểm tra lại thông tin, ký kiểm soát

- Khách hàng nhận tiền tại quầy (đủ gốc và lãi)

Rút tiền gửi tiết kiệm theo thừa kế:

- Khi rút tiền gửi tiết kiệm, người được thừa kế thực hiện các thủ tục sau:

 Xuất trình thẻ tiết kiệm

 Xuất trình CCCD hoặc CMND hoặc HC còn hiệu lực

 Giấy ủy quyền của các đồng thừa kế nếu là người đại diện cho các đồng thừa kế lãnh thay

 Giấy chứng tử của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc quyết định của Tòa án v/v tuyên bố một người đã chết

 Một trong những văn bản sau:

 Bản chính hoặc bản sao có công chứng của di chúc hợp pháp (Trường hợp thừa kế theo di chúc)

 Bản chính hoặc bản sao trích lục của Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về thừa kế, hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản của những người thừa kế, hoặc văn bản khai nhận di sản được công chứng, chứng thực theo quy định (Trường hợp thừa kế theo pháp luật)

 Các văn bản cần thiết khác theo quy định của pháp luật (nếu có)

- Người rút tiền ký vào giấy rút tiền với đúng chữ ký mẫu đã đăng ký tại NHTM

- Giao dịch viên kiểm tra chữ ký, giấy tờ nhân thân của khách hàng; Kiểm soát viên và/hoặc Trưởng chi nhánh/ Nhóm giao dịch kiểm tra lại thông tin, ký kiểm soát

Trang 30

- Khách hàng nhận tiền tại quầy (đủ gốc và lãi)

Rút tiền gửi tiết kiệm theo giấy ủy quyền:

Trường hợp chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm không thể trực tiếp đến ngân hàng thì được ủy quyền cho người khác lĩnh thay Việc ủy quyền trong sử dụng tài khoản phải bằng văn bản, được thực hiện theo quy định của pháp luật và quy định của ngân hàng nhận tiền về việc ủy quyền Người được ủy quyền lãnh thay thực hiện các thủ tục sau:

 Xuất trình thẻ tiết kiệm

 Xuất trình giấy ủy quyền Giấy ủy quyền được lập tại NHTM hoặc phải có xác nhận của công chứng/ chính quyền địa phương theo quy định

 Xuất trình giấy CCCD hoặc CMND hoặc HC còn hiệu lực của người được ủy quyền

- Người rút tiền ký vào giấy rút tiền với đúng chữ ký mẫu đã đăng ký tại NHTM

- Giao dịch viên kiểm tra chữ ký, giấy tờ nhân thân của khách hàng; Kiểm soát viên và/hoặc Trưởng chi nhánh/ Nhóm giao dịch kiểm tra lại thông tin, ký kiểm soát

- Khách hàng nhận tiền tại quầy (đủ gốc và lãi)

b Tiền gửi online

Quy trình gửi tiền online

- Khách hàng có tài khoản thanh toán mở tại NHTM, nếu chọn cách thức giao dịch online sẽ được ngân hàng cấp Tên đăng nhập (user name) và mật khẩu (password)

- Khi có nhu cầu gửi tiết kiệm online, khách hàng đăng nhập vào tài khoản điện tử cá nhân, nhấn vào Tab “Tiết kiệm”/ “Mở tài khoản tiết kiệm”/ Chọn sản phẩm tiết kiệm phù hợp với nhu cầu cá nhân của

Trang 31

mình (Tùy từng thiết kế tại mỗi NHTM mà tên gọi của các Tab có thể khác nhau, nhưng chức năng là tương tự nhau)

- Khách hàng được thông báo các điều kiện, điều khoản với tài khoản tiết kiệm có kỳ hạn để đọc và đồng ý với NHTM

- Trang web của NHTM sẽ hiển thị giao diện để khách hàng điền thông tin cần thiết trước khi gửi tiền, ví dụ như sau:

Hình 1.1 - Minh họa giao diện gửi tiền tiết kiệm online

(Trong đó: “Tài khoản nộp gốc” và “Tài khoản đáo hạn” sẽ được mặc định là một trong những tài khoản thanh toán của khách.)

- Khách hàng chọn “Kỳ hạn” (hệ thống sẽ hiển thị lãi suất tương ứng)

và nhập “Số tiền nộp” mà mình muốn gửi Sau khi khai báo xong tất

Trang 32

cả các thông tin, khách hàng nhấn “Thực hiện” để hệ thống hiển thị thông tin của Sổ tiết kiệm online

- Khách hàng kiểm tra, xác nhận lần cuối Hệ thống sẽ gửi mật khẩu OTP qua điện thoại để khách nhập xác nhận chắc chắn (Một số NHTM không áp dụng mật khẩu OTP cho bước này)

- Sổ tiết kiệm online được hoàn tất Hệ thống của NHTM nhắn tin cho khách về giao dịch trừ tiền thanh toán để chuyển vào sổ tiết kiệm online đã thành công Khách có thể nhìn thấy các dòng hiển thị các sổ tiết kiệm online mà mình đã mở để kiểm tra vào bất kỳ lúc nào

Quy trình rút tiền online

- Nếu khách hàng duy trì sổ tiết kiệm online đến ngày đáo hạn thì NHTM sẽ tự động chuyển tiền gốc và lãi vào tài khoản mà khách đã đăng ký để nhận khi đáo hạn

- Trường hợp khách hàng muốn rút tiền online trước hạn thì nhấn và Tab “Thông tin tiết kiệm” (hoặc tương tự ở các NHTM khác nhau) Khi đó giao diện web của NHTM sẽ hiển thị tương tự như sau:

Hình 1.2 - Minh họa thông tin tài khoản tiết kiệm

- Khách hàng chọn số tài khoản tiết kiệm cần rút và ấn nút “Tất toán”

- Hệ thống hiển thị lại thông tin sổ tiết kiệm cần rút online trước hạn Khách hàng kiểm tra thông tin có đúng sổ cần rút và số tiền muốn rút hay không, nếu đúng sẽ ấn “Thực hiện”

Trang 33

- Hệ thống sẽ hiển thị giao diện kiểm tra bằng mật khẩu và gửi mật khẩu OTP vào điện thoại của khách Khách hàng dùng OTP này nhập vào giao diện để xác nhận Hệ thống của NHTM báo “Tài khoản Tiết kiệm Online đã được tất toán thành công”

1.1.2.9 Nội dung quản lý tiền gửi tiết kiệm

(i) Quản lý lãi suất

Lãi suất là yếu tố cơ bản trong kinh doanh của NHTM, tạo nên thu nhập

và chi phí của ngân hàng khi thực hiện việc cung cấp các sản phẩm tiền gửi và cho vay để đáp ứng nhu cầu của khách hàng Các sản phẩm này là một vấn đề phức tạp và khó khăn, vì một mặt ngân hàng phải đảm bảo duy trì được lợi nhuận, mặt khác phải đảm bảo giá của sản phẩm đủ sức cạnh tranh

Quản lý lãi suất, cụ thể hơn là quản lý lãi suất tiền gửi, được hiểu là việc xác định các loại, cơ cấu lãi suất trả cho các nguồn tiền gửi khác nhau nhằm đảm bảo duy trì quy mô và kết cấu nguồn phù hợp với yêu cầu sinh lợi của ngân hàng Nếu lãi suất thấp thì NHTM sẽ khó huy động tiền gửi đầu vào; ngược lại nếu lãi suất cao thì chi phí vốn đầu vào cao dẫn đến lợi nhuận thấp, thậm chí thua lỗ khi ngân hàng bị cuốn vào cuộc đua lãi suất không lành mạnh Do đó phải quản lý lãi suất và đưa ra được mức lãi suất phù hợp

Mục tiêu quản lý lãi suất là nhằm hạn chế tối đa tổn thất về thu nhập do sự thay đổi của lãi suất thị trường (rủi ro lãi suất)

NHTM không thể tự mình xác định mức lãi suất hoặc dự đoán chắc chắn

về xu hướng vận động của lãi suất Nói cách khác, ngân hàng không thể là người

“tạo giá” mà chỉ là người “ chấp nhận giá” và lập kế hoạch hoạt động trên cơ sở mức độ hiện tại và khuynh hướng của lãi suất trong tương lai Lãi suất thực sự là giá cả của tiền tệ được hình thành chủ yếu do quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường Đây là điều kiện để các NHTM nâng cao tính tự chủ trong định giá các sản phẩm mình, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, thích nghi với cơ chế lãi suất thị trường

(ii) Quản lý quy mô và cơ cấu

Trang 34

Quản lý quy mô và cơ cấu nhằm đưa ra và thực hiện các biện pháp để gia tăng quy mô và thay đổi cơ cấu một cách có hiệu quả nhất Gia tăng nguồn là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng, là điều kiện để NHTM mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn Cơ cấu nợ ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và quyết định chi phí của ngân hàng Do đó, ngân hàng sẽ phải thực hiện các công việc:

- Thống kê đầy đủ, kịp thời các thay đổi về các loại nguồn, tốc độ quay vòng của mỗi loại;

- Phân tích kỹ các nhân tố gắn liền với thay đổi đó (các nhân tố ảnh hưởng

và bị ảnh hưởng);

- Lập kế hoạch nguồn cho từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu sử dụng (iii) Quản lý kỳ hạn

Quản lý kỳ hạn là việc xác định kỳ hạn của nguồn phù hợp với yêu cầu về

kỳ hạn của sử dụng, đồng thời tạo sự ổn định của nguồn

Quá trình chuyển tài sản bao gồm việc huy động và sử dụng vốn thường không cân xứng nhau về kỳ hạn và độ thanh khoản Do đó, các NHTM sẽ phải thực hiện các công việc:

- Xác định kỳ hạn danh nghĩa của nguồn (trong đó có nguồn tiền gửi tiết kiệm) và các nhân tố ảnh hưởng;

- Xác định kỳ hạn thực tế của nguồn và các nhân tố ảnh hưởng;

- Xem xét khả năng chuyển hoán kỳ hạn của nguồn

(iv) Quản lý tính thanh khoản

Tính thanh khoản của nguồn vốn là khả năng huy động để đáp ứng nhu cầu thanh toán đúng hạn của ngân hàng Tính thanh khoản của nguồn được đo bằng thời gian và chi phí để mở rộng nguồn khi cần thiết Thời gian và chi phí càng thấp, tính thanh khoản của nguồn càng cao Khi đó, ngân hàng phải tính toán đến:

- Nhu cầu rút tiền của người gửi: các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm;

Trang 35

- Các khoản tiền vay/nợ đến hạn trả;

- Lãi cho các khoản tiền gửi;

- Khả năng huy động mới để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng (v) Quản lý an toàn tiền gửi

Tiền gửi nói chung, tiền gửi tiết kiệm nói riêng, là hoạt động chủ yếu để hình thành nên nguồn vốn của NHTM Khách hàng gửi tiền tại ngân hàng có một

số lượng lớn, thành phần rất đa dạng trong dân cư Họ đến ngân hàng gửi tiền với niềm tin chắc chắn rằng tiền gửi sẽ được đảm bảo an toàn và sinh lời ổn định Điều này cũng được đảm bảo trong Luật các TCTD cũng như Bộ Luật Dân sự và các Luật khác Vì vậy, NHTM phải thiết kế được quy trình huy động và chi trả tiền gửi tiết kiệm với các thủ tục kiểm soát và đảm bảo độ tin cậy, tính chính xác cao cho khách hàng gửi tiền, sao cho:

- Không xảy ra mất mát tiền gửi tại ngân hàng;

- Các giao dịch (gửi tiền vào, rút tiền ra, chuyển quyền sở hữu, cầm cố…) phải theo đúng ý chí của khách hàng;

- Thông tin về khách hàng và tiền gửi của khách phải được bảo mật;

- Khách hàng dễ dàng tra cứu thông tin về số dư, tình trạng tiền gửi tiết kiệm của mình tại ngân hàng

Do số lượng khách hàng gửi tiền tại mỗi ngân hàng là rất lớn, nên việc không đảm bảo an ninh tiền gửi không chỉ gây mất lòng tin, sụt giảm nguồn huy động của ngân hàng, mà còn có thể dẫn đến việc rút tiền ồ ạt, gây phản ứng dây chuyền làm phá sản một ngân hàng, hoặc thậm chí cả hệ thống ngân hàng

1.1.3 Mô hình kiểm soát 3 lớp

1.1.3.1 Các loại rủi ro trong hoạt động của NHTM

Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng

Có nhiều loại rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt:

(i) Rủi ro lãi suất: là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của ngân hàng do những biến động về lãi suất;

Trang 36

(ii) Rủi tín dụng: là khả năng xảy ra tổn thất đối với ngân hàng khi khách hàng vay không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên;

(iii) Rủi ro tỷ giá: là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của ngân hàng do những biến động về tỷ giá hối đoái;

(iv) Rủi ro giá cả: là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của ngân hàng do những biến động về giá trị thị trường của các công cụ tài chính mà ngân hàng đang nắm giữ;

(v) Rủi ro hoạt động: là khả năng xảy ra tổn thất về thu nhập hoặc vốn của ngân hàng do sai sót của những hoạt động nội bộ…

Đặc biệt là với rủi ro hoạt động, khi diễn ra, sẽ thường dẫn đến các sai sót

trong thông tin tài chính Các sai sót này xảy ra khi quy trình nội bộ không đầy

đủ hoặc chưa chính xác, do con người có trình độ chuyên môn hoặc đạo đức kém, do các hệ thống máy móc hoạt động chưa thông suốt, chính xác…

Mô hình kiểm soát 3 lớp (được nghiên cứu dưới đây) có mục đích chính là nhằm phát hiện và ngăn chặn rủi ro hoạt động

1.1.3.2 Các sai sót trong thông tin tài chính

Với ý nghĩa "Thông tin tài chính là tấm gương phản ánh hoạt động kinh doanh" thì "thông tin tài chính trung thực, chính xác" được hiểu là không có sai sót hoặc không sai sót trên góc độ trọng yếu Các sai sót trong thông tin tài chính (financial misstatements) là sự việc các thông tin tài chính không phản ánh đúng tình trạng thực tế của các giao dịch đã diễn ra trong kỳ báo cáo

Về mặt số học, sai sót có thể có 2 trạng thái: phản ánh cao hơn stated) hoặc phản ánh thấp hơn (under-stated) số thực tế

(over-Các sai sót này có thể là kết quả do lỗi (error, là hành vi vô ý) hoặc gian lận (fraud, là hành vi cố ý) trong quá trình thao tác nghiệp vụ và báo cáo thể hiện lên các thông tin tài chính

Trang 37

1.1.3.3 Kiểm soát nội bộ (KSNB) và kiểm toán nội bộ (KTNB)

Kiểm soát nội bộ (internal control): là các thủ tục, chính sách và biện pháp được thiết kế để đảm bảo rằng một tổ chức đáp ứng các mục tiêu của mình và giảm thiểu thiệt hại của rủi ro đến một tổ chức

Kiểm toán nội bộ (internal audit): là hoạt động đảm bảo và tư vấn độc lập, khách quan được thiết kế bên trong, nhằm gia tăng giá trị và giải quyết các hoạt động của tổ chức KTNB giúp tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra thông qua việc áp dụng các phương pháp có hệ thống và quy tắc nhằm đánh giá và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro, kiểm soát và các quy trình quản trị

Trong thực tế, hai khái niệm trên thường được sử dụng và hiểu một cách hòa lẫn, do đó cần có sự phân biệt chính xác, trong đó KSNB là hoạt động bao trùm, bao gồm cả công tác KTNB:

Người thực hiện Mọi nhân viên, cán bộ các cấp

tham gia vào quy trình nghiệp vụ

Kiểm toán viên nội bộ

Tần suất thực hiện Trong tất cả giao dịch Một số thời điểm cụ thể

(định kỳ hoặc đột xuất) Thời gian thực hiện

Bảng 1.1 - Phân biệt Kiểm soát nội bộ và Kiểm toán nội bộ

1.1.3.4 Phân loại rủi ro kiểm toán

Rủi ro kiểm toán là tập hợp các rủi ro mà theo đó, các sai sót trọng yếu (material misstatements) sẽ xảy ra đối với quy trình kế toán nhưng không bị phát hiện sau cùng bởi các kiểm tra kiểm toán Rủi ro kiểm toán có 3 loại:

Rủi ro kiểm toán (Audit risk) = Rủi ro tiềm tàng (Inherent risk) + Rủi ro kiểm soát (Control risk) + Rủi ro phát hiện (Detection risk)

RAud = RIhr + RCtr + RDet

Trang 38

Trong đó:

(i) Rủi ro tiềm tàng (RInh): là rủi ro mà các sai sót trọng yếu có thể xảy ra trong các cơ sở dẫn liệu, chưa tính đến sự tác động của hệ thống KSNB Đây là rủi ro mang tính đặc thù của ngành nghề kinh doanh (ii) Rủi ro kiểm soát (RCtr): là rủi ro mà các sai sót trọng yếu trong các cơ

sở dẫn liệu (management assertions) không được ngăn chặn hoặc phát hiện kịp thời bởi hệ thống KSNB

(iii) Rủi ro phát hiện (RDet): là rủi ro mà các thủ tục kiểm toán không phát hiện được các sai sót trọng yếu

 Để hạn chế các loại rủi ro do sai sót thông tin tài chính, doanh nghiệp/

tổ chức có thể đưa ra nhiều biện pháp kiểm soát, trong đó có Mô hình kiểm soát 3 lớp (3 lớp phòng thủ)

1.1.3.5 Mô hình kiểm soát 3 lớp (3 lớp phòng thủ)

a Nội dung

Mô hình 3 lớp phòng thủ (Three lines of defense) là mô hình quản trị rủi

ro, đặc biệt là rủi ro hoạt động, đã được đề cập nhiều trong các tài liệu của IIA (Institute of Internal Auditors) và các hãng kiểm toán lớn trên thế giới Áp dụng trong hoạt động của ngành ngân hàng, mô hình này cũng được giới thiệu bởi BIS (Bank for International Settlements) và Ủy ban Basel, theo đó mỗi tuyến phòng thủ đóng một vai trò riêng biệt trong khuôn khổ quản trị rộng lớn của doanh nghiệp/ tổ chức:

 Lớp phòng thủ thứ nhất (quản lý hoạt động, thường chính là bộ phận kinh doanh): đảm bảo mọi hoạt động của tổ chức đều được thực hiện đầy đủ, đúng quy trình, quy định; kiểm soát, ngăn ngừa, báo cáo, xử lý các sai phạm, hành vi gian lận phát hiện được ở ngay bộ phận nghiệp

vụ Đây là lớp đầu tiên và quan trọng nhất của tổ chức nói chung, NHTM nói riêng Do đó, yêu cầu đối với các thủ tục kiểm soát tại lớp phòng thủ này phải được thiết kế đúng trên cơ sở nhận diện đúng và đầy đủ các rủi ro, đồng thời phải được thực thi đầy đủ (properly designed and implemented) Thông qua một cấu trúc trách nhiệm phân

Trang 39

tầng (segregation of duties), các quản lý cấp trung sẽ thiết kế và thực hiện các quy trình chi tiết để điều khiển và giám sát việc thực hiện những quy trình đó bởi các cấp nhân viên

 Lớp phòng thủ thứ hai (kiểm soát rủi ro và chức năng tuân thủ): đảm bảo nhận diện, đo lường, giám sát trạng thái rủi ro và báo cáo về rủi ro đối với từng mảng hoạt động; đảm bảo tổ chức tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm xây dựng, sửa đổi chính sách, hạn mức, quy trình quản lý rủi ro của tổ chức Lớp này có chức năng kiểm tra lại (re-check) đối với lớp thứ nhất, phát hiện và sửa chữa những sai sót mà lớp thứ nhất có thể đã bỏ qua

 Lớp phòng thủ thứ ba (kiểm toán nội bộ): là lớp kiểm soát cuối cùng, thực hiện kiểm toán trên cơ sở rủi ro và kiểm toán chung Lớp này khá tách biệt so với 2 lớp đầu tiên, chịu trách nhiệm đánh giá độc lập, khách quan đối với hiệu quả hoạt động của hai lớp đầu; đưa ra kiến nghị đối với ban kiểm soát, hội đồng quản trị nhằm khắc phục, sửa đổi những bất cập trong hoạt động của tổ chức

Mỗi doanh nghiệp/ tổ chức phục vụ trong các ngành nghề lĩnh vực hoạt động khác nhau, có mô hình tổ chức và quan điểm quản trị khác nhau, có tình huống cụ thể khác nhau, nên không có sự phối hợp 3 lớp phòng thủ nào gọi là

“quy chuẩn”, tuy nhiên về cơ bản có sự phân công, phối hợp như sau:

Lớp phòng thủ thứ 1 Lớp phòng thủ thứ 2 Lớp phòng thủ thứ 3 Quản lý hoạt động Kiểm soát rủi ro và tuân thủ Đảm bảo rủi ro

• Báo cáo chủ yếu cho cấp quản lý

• Kiểm toán nội bộ

Trang 40

b Điều kiện thực hiện

Trong giả định hoàn hảo về mặt lý thuyết, chỉ cần một lớp phòng thủ là có thể đảm bảo quản lý được rủi ro hoạt động Tuy nhiên trên thực tế, các loại rủi ro hoạt động rất đa dạng và luôn luôn biến động, vì vậy mô hình kiểm soát rủi ro phải được thiết kế thành 3 lớp để hỗ trợ, “bọc lót” lẫn nhau

Nhiệm vụ của 3 lớp phòng thủ là phải ngăn chặn các sai sót từ: (i) rủi ro tiềm tàng, (ii) rủi ro kiểm soát và (iii) một phần lớn rủi ro phát hiện

Mô hình kiểm soát 3 lớp khi đó chỉ hoạt động tốt với các điều kiện:

 Rủi ro được nhận diện đầy đủ (risks are detected) và mục tiêu được xác định rõ (objectives are identified);

 Các biện pháp ngăn chặn rủi ro được thiết kế phù hợp (properly designed);

 Các lớp phòng thủ có đủ năng lực chuyên môn (competence), đủ nguồn lực (resources), thi hành đúng chức trách nhiệm vụ (right duties) và sự mẫn cán (diligence) để thi hành đúng và đầy đủ các thủ tục kiểm soát rủi ro được thiết kế ra (properly implemented);

 Các lớp phòng thủ phải có sự độc lập (independence) và khách quan (objectiveness), đặc biệt là ở lớp thứ 3: KTNB;

 Mô hình kiểm soát phải đạt được tính hiệu quả (effectiveness: đạt được mục đích) và tính hiệu năng (efficiency: đạt được mục đích với hao tổn nguồn lực ít nhất có thể)

c Tiêu chí đánh giá

Rất khó để lượng hóa chính xác mức độ hoạt động và tầm quan trọng của các lớp phòng thủ Tùy từng ngành nghề hoạt động mà mức độ sai sót chấp nhận được có thể rất khác nhau Ví dụ: sai sót trong ngành sản xuất hàng hóa ở mức độ 1% có thể coi là chấp nhận được, nhưng đối với ngành tài chính ngân hàng thì tỷ

lệ nhỏ hơn 1000 lần mức này có thể vẫn là cao

Tuy nhiên, theo phương pháp tiếp cận của Hãng kiểm toán Deloitte áp dụng trên toàn cầu (DTT Global Audit Approach): Khi kiểm toán viên thử

Ngày đăng: 21/05/2020, 16:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w