Sở dĩ chúng tôi chọn đề tài:” Rèn cho học sinh kỹ năng viết đúng chính tả” là vì tôi nghĩ chúng ta là người Việt Nam nên Tiếng Việt là một công cụ tư duy giúp học sinhdiễn đạt ý tưởng củ
Trang 1MỤC LỤC
TRANG
Mở đầu -2
Lý do chọn đề tài -2
Lịch sử vấn đề nghiên cứu -3
Đối tượng , phạm vi nghiên cứu -3
Phương pháp nghiên cứu -3
Chương 1 -6
Nguyên nhân - Biện pháp khắc phục -5
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều: -6
Nguyên nhân: -6
Biện pháp khắc phục: -7
Chương 2 -9
Thống kê – nguyên nhân – biện pháp -11
Kết quả thống kê
lỗi: -11 Nguyên nhân mắc
lỗi: -11 Một số biện pháp khắc phục
lỗi: -13 Các bài tập chính
tả: -14 Kết luận -20
MỞ BÀI
1 Lý do chọn đề tài
Trang 2Sở dĩ chúng tôi chọn đề tài:” Rèn cho học sinh kỹ năng viết đúng chính tả” là vì tôi nghĩ chúng ta là người Việt Nam nên Tiếng Việt là một công cụ tư duy giúp học sinh
diễn đạt ý tưởng của mình một cách rõ ràng, đúng nghĩa và sáng sủa hơn Nếu HS khônghiểu rõû ý nghĩa của tiếng Việt thì các em không dễ dàng cảm nhận cái hay cái đẹp củabài văn, bài thơ và khó hòa mình vào cuộc sống Hơn nữa, tiếng Việt cũng ảnh hưởng rấtlớn đến trình độ học toán và các môn học khác Vì thế phải làm thế nào để rèn kỹ năngngôn ngữ cho HS như: nghe, nói, đọc, viết… nhằm giúp các em sử dụng tiếng Việt cóhiệu quả trong học tập và giao tiếp hàng ngày tốt hơn Trong môn tiếng Việt thì phânmôn chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn tiếng Việt ở trường phổthông nhất là ở trường tiểu học Năm nay, tôi dạy lớp 3, phân môn chính tả là môn chínhcủa môn tiếng Việt ( mỗi tuần có 2 tiết chính tả) các em tiếp tục hoàn thiện kỹ năng viếtđúng chính tả đã học ở lớp 1 và lớp 2 Nhưng trên thực tế nhiều HS chưa nắm vững quitắt viết đúng chính tả và hay viết sai, thậm chí một số em khi viết chính tả ( Tập chép)nhìn vào sách hoặc nhìn bảng để viết mà vẫn viết sai lỗi chính tả Với những HS thườngxuyên viết sai lỗi chính tả, tôi luôn quan tâm để giúp các em viết đúng hơn Từ đo,ù các
em sẽ học tốt hơn môn tiếng việt và các môn học khác
HS viết sai lỗi chính tả nhiều có thể là do ở lớp 1 và lớp 2 các em chưa được rèn
luyện kỹ năng viết đúng chính tả tới nơi tới chốn Các em chỉ được viết chính tả trongtiết chính tả Khi các em viết sai lỗi chính tả chưa được sửa kỹ Do một số em đã học lớp
3 nhưng vẫn đọc bài chưa trôi chảy vừa đọc vừa đánh vần những từ khó Các em đọckhông tốt sẽ viết không viết đúng chính tả
Nếu các em nắm vững cách viết chính tảø và viết đúng chính tả thì các em sẽ học tốtphân môn luyện từ và câu và quan trọng nhất là các em sẽ viết câu văn, đoạn văn , bàivăn tốt hơn Đồng thời các môn học khác cũng không bị ảnh hưởng đến kết quả học tập
vì lỗi chính tả
Ngược lại, nếu các em không viết đúng chính tả thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến kếtquả học tập của các em Vì trong thang điểm của các câu hỏi phần luyện từ và câu, phầnđọc thầm và đoạn văn, bài văn đều bị trừ điểm lỗi chính ta Vì thế, cho dù các em viếtđoạn văn, bài văn hay, đủ ý nhưng viết sai lỗi chính tả nhiều thì điểm cũng không đạtcao Còn đối với môn toán, khi làm các bài toán có lời giải nếùu các em viết sai lỗi chính
tả trong lời giải thì các em sẽ bị trừ điểm hoặc mất cả điểm lời giải nếu lỗi chính tả sai
Trang 3trầm trọng ( Ví dụ: Số tấm vải hoa viết thành: Số tắm dải qua ) Nĩi chung, trongtất cả các mơn học khi làm bài mà HS viết sai lỗi chính tả quá nhiều thì đều ảnh hưởngđến kết quả học tập của các em.
Trong nhiều trường hợp viết sai lỗi chính tả, HS dường như khơng ý thức được vìsao mình lại viết sai và viết sai ở chỗ nào để tự sửa chữa Dần dần thành thĩi quen nênhay viết sai lỗi chính tả Khi viết bài sai nhiều lỗi chính tả, lúc đọc lại bài các em cũngkhơng biết mình đã viết gì nên khơng hiểu bài và khĩ cĩ thể nắm được kiến thức của bài.Lâu dần sẽ làm cho các em chán nản, khơng thích học môn tiếng Việt và luơn cả cácmơn học khác Từ đĩ sẽ dẫn đến tình trạng HS mất căn bản, chán học và trầm trọng nhất
là các em bỏ học
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
HS viết đúng chính tả thì kết quả học tập ( điểm của các mơn học: Tập làm văn,Luyện từ câu, tốn ) sẽ trọn vẹn hơn vì khơng bị trừ điểm sai lỗi chính tả Điều quantrọng nhất là một HS khi nghe đọc và viết đúng chính tả đĩ là một dấu hiệu cho thấy sựnhận thức về âm, vần, dấu thanh, về ngơn ngữ và cả về tri thức văn hĩa của em đĩ đãtrưởng thành
3-Đối tượng , phạm vi nghiên cứu
Với đề tài: “ Rèn cho học sinh kỹ năng viết đúng chính tả” này Tơi chỉ mới thựchiện để rèn luyện cho HS trong lớp mình đang chủ nhiệm ( lớp: 4cĩ 35 HS) thường viếtsai chính tả, giúp các em dần dần cĩ thĩi quen và kỹ năng viết đúng chính tả
Những bài mà các e thương viết sai là ::
Những từ cĩ thanh hỏi ( ? ) và thanh ngã ( õ )
Giữa những từ cĩ các phụ âm: g – gh, ng – ngh, tr – ch, d – gi – r, s – x,
v – d ( HS miền Nam), l – n ( HS ngồi Bắc chuyển vào)
Giữa các âm chính: ê – iê
Giữa những vần cĩ âm cuối: n – ng, c – t
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Số liệu thống kê của khối:
Khảo sát đầu năm: Tổng số học sinh: 223.
- Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều Có những học sinh viết sai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60 chữ Khi chấm bài Tập làm văn,
Trang 5tôi không thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất
tự tin, trở nên rụt rè, nhút nhát.
- Vì lý do đó, tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân
và đưa ra một số biện pháp khắc phục “để giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả”, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.
NỘI DUNG Chương 1 Nguyên nhân - Biện pháp khắc phục Nguyên nhân
1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều
Như chúng ta đã biết, Tiếng việt của chúng ta rất đa dạng và phong phú Hơn nữa,cùng trên một lãnh thổ nhưng giọng nói của từng vùng từng miền lại có âm sắc, đặc
Trang 6trưng riêng Khi nghe giọng nói thì chúng ta xác định được người đó ở miền nào NướcViệt Nam có ba miền chính yếu: Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam Vì thế, TiếngViệt cũng có ít nhất là ba vùng phương ngữ lớn Đó là phương ngữ Bắc Bộ, Trung Bộ vàNam Bộ Trường tôi dạy trong địa bàn dân cư khá đa dạng, đa số học sinh là dân nhập cư( thuê nhà, tạm trú) từ mọi miền đất nước đến HS chưa nghe và nói được đúng từ, nhưcác em miền Bắc chuyển vào thì thường viết nhầm lẫn các từ có âm l – n ( Ví dụ: “ lồnglộng” nói là “ nồng nộng”) Các em ở Nam bộ thì lại hay nhầm lẫn v – d – gi (Ví dụ như:
“vui vẻû” nói là “dui dẻûø”, “ròng rã” nói là “dòng dã” , “đám giỗ” nói là “ đám dỗ” )nên các em cứ viết chữ theo giọng đọc của mình Có trường hợp giọng nói của cô giáolại khác hẳn với giọng nói của các em điều đó cũng gây không ít khó khăn cho các emkhi nghe và viết chính tả
Để viết đúng chính tả, ngoài giờ học ở lớp, khi ở nhà, các em cần phải đọc sách báolành mạnh để trao dồi thêm môn Tiếng Việt nói chung và phân môn chính tả nói riêng.Nhưng thực tế thì khi rảnh rỗi các em lại say mê trò chơi điện tử, xem phim hoạt hìnhhơn là xem sách báo, truyện lành mạnh… để trao dồi tiếng mẹ đẻ
Những nguyên nhân trên ảnh hưởng đến trình độ nhận thức về Tiếng Việt của họcsinh Nếu như các em chưa có cảm nhận được sự phong phú của tiếng Việt nói chung, thìcác em không thể học tốt phân môn chính tả mà cụ thể là viết đúng chính tả
Trên đây là những nguyên nhân chung dẫn đến việc học sinh viết sai lỗi chính tả Đốivới lớp tôi phụ trách thì việc học sinh viết sai lỗi chính tả do những nguyên nhân cụ thểsau:
Học sinh khi viết vẫn còn mắc lỗi chính tả về âm đầu: như giữa các tiếng có âmđầu g-gh; ng-ngh tr – ch (“ trách nhiệm” viết là “ chách nhiệm”), r-d-gi,s-x (“vừa xong”viết là “dừa xong”)
Mắc sai lỗi chính tả về âm cuối của vần: c-t (“sắc đẹp” viết là “sắt đẹp”; “côngviệc” viết là “công việt”…), n-ng (“lan man” viết là “lang mang”); (“cầu thang” viết là
Trang 7Sai lỗi chính tả về thanh hỏi ( ? ), thanh ngã ( õ): (VD “ sửa bài” viết thành “ sữabài”, “ lỗi lầm” viết là “ lổi lầm”… )
Do chưa nắm vững qui tắc chính tả cũng như chưa nhớ mặt chữ ( vì trong lớp cònmột vài em đọc bài chậm còn đánh vần từ khó) nên dễ dẫn đế việc ghép âm một số tiếngtùy tiện hoặc do không nắm vững luật chính tả
Do cách phát âm chưa chuẩn và do có tính cẩu thả, nghe không chính xác vẫn cứviết bừa không chú ý đến nghĩa từ vựng hay cấu trúc của câu Bên cạnh đó yếu tố tâm lýảnh hưởng không nhỏ, biết mình viết sai cũng không dám hỏi giáo viên
Đôi khi chính giáo viên cũng không chú ý để sửa ngay những lỗi chính tả mà họcsinh mắc phải qua các bài kiểm tra như toán, tập làm văn, từ ngữ, ngữ pháp, tự nhiên xãhội… Nhiều HS khi lên các lớp trên vẫn còn viết sai chính tả Không thẻâ để tình trạngnày kéo dài mãi Tôi nghĩ là giáo viên tiểu học chúng ta hãy cố gắng rèn cho các em viếtđúng chính tả
Biện pháp khắc phục:
Với những nguyên nhân dẫn đến việc viết sai chính tả của học sinh mà chúng tôi đã trìnhbày ở trên Đây là một số biện pháp nhằém khắc phục tình trạng viết sai lỗi chính tả vàrèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh
Khi dạy phân môn chính tả (đây là môn học quan trọng nhất để rèn kĩ năng viết đúngchính tả) Ở các bước rèn kĩ năng viết đúng chính tả, chúng tôi hướng dẫn cho học sinhnắm vững các qui tắc chính tả về sự phân biệt giữa các âm đầu, âm cuối, dấu thanh vàchúng tôi chọn phương pháp dạy thích hợp cho mỗi kiểu bài chính tả.Chúng tôi chútrọng nhất là các bước luyện viết từ khó, sửa lỗi, luyện tập để các em nắm được cách viếttừ
Để giúp các em phân biệt về âm đầu giữa các tiếng có âm đầu: ch – tr, d – gi – r, s – x
và lỗi về các tiếng có âm cuối: c – t, n - ng
Ví dụ:Trong bài:
“ Vầng trăng quê em” có từ: làn gió, làng quê.
“ Cảnh đẹp non sông” có từ: nước biếc, bát ngát.
Để giúp các em phân biệt các từ có vần: êu – iu – iêu – ưu – ươu,
Ví dụ:Trong bài:
“ Ông tổ nghề thêu” có từ: thêu, triều đình
Trang 8“ Ê – đi – xơn” có từ: kì diệu, điều tốt.
Chúng tôi thường đặt các từ đó vào thế đối lặp từ vựng ngữ nghĩa ( VD: trở – chở, tre – che, trúc – chúc, trèo – chèo, xanh – sanh, thêu – thiêu, kì diều – dịu dàng, điều – đều) để các em phân biệt từ và hiểu được cách viết Đồng thời lưu ý các em phải
chú ý nghe cách đọc của GV.(VD:khi đọc từ có âm tr, s thầy cô đọc sẽ cong đầu lưỡi và
âm thanh phát ra nghe nặng hơn khi đọc âm ch , x)
Khi gặp các tiếng có âm đầu: g – gh, ng – ngh
Ví dụ: trong bài:
“ Chiều trên sông Hương” có từ: nghi ngút
“ Đôi bạn” có tư:ø ngần ngại
“ Đối đáp với vua” có từ: nghĩ ngợi
“ Hội đua voi ở Tây Nguyên” có từ: gan dạ, ghìm đà
Chúng tôi thường yêu cầu các em nhắc lại luật viết chính tả:
+ Viết âm đầu: gh – ngh trước i, e, ê, iê
+ Viết âm đầu: g – ng trước a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư
mà cô đã hướng dẫn để các em nắm vững hơn cách viết các từ có âm gh – ngh, g – ng
Khi gặp các tiếng mà âm đầu có 3 cách viết như là: c – k – q
Ví dụ:Trong bài:
“ Đôi bạn” có tư:ø có, kể, quê, cứu người.
“ Cuộc chạy đua trong rừng” có từ: cuộc, nguyệt quế, kiểm tra
“ Người liên lạc nhỏ” có từ: ông Ké, cào cỏ.
Chúng tôi hướng dẫn kĩ cho các em trường hợp âm đầu có 3 cách viết:
+ Viết bằng chữ “k” khi đứng trước i, e, ê, iê, y ( kể, kiểm, Ké)
+ Viết bằng con chữ “q” khi nó đứng trước bán nguyên âm là âm đệm
( quê, quế, quà)
+ Viết bằng chữ “c” khi nó đứng trước a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư ( có, cứu, cuộc,cào cỏ)
Hầu hết các bài đều có từ có dấu thanh hỏi – ngã Để giúp các em phân biệt chúng tôi
cũng thường đặt các từ đó vào thế đối lặp từ vựng ngữ nghĩa ( VD: sôi nổi – nỗi lòng, sửa bài – giọt sữa, san sẻ- sạch sẽ ) Hơn nữa phải lưu ý các em nghe giọng đọc của
GV để phân biệt cách viết
Trang 9Luyện viết từ khó: chúng tôi hướng dẫn học sinh chọn từ khó để tránh các em chọn lanman, chọn những cặp từ với phụ âm đầu, vần hoặc thanh mà học sinh thường mắc lỗi chohọc sinh tập viết vào bảng con học sinh phân tích các bộ phận của tiếng Nếu nhiều họcsinh viết sai cùng một số từ tôi sẽ sửa lỗi chung cho cả lớp.
-Việc đầu tiên chúng tôi sẽ chọn ra những học sinh thường viết sai chính tả ra để dễtheo dõi, rèn luyện cho các em và giúp các em nhận ra lỗi viết sai của mình mà tự sửachữa Chúng tôi tập trung vào việc khắc phục những lỗi mà học sinh hay mắc phải như
đã nêu trên Cũng như khi viết chính tả lúc sửa lỗi về một số vần chúng tôi cũng thườngđặt các từ vào thế đối lập từ vựng ngữ nghĩa để các em dễ phân biệt từ và hiểu được chỗsai của mình
( VD: ân cần – cằn cõi) và nhấn mạnh lại các qui tắc viết chính tả nếu các em vẫn còn
Ngoài ra, chúng tôi luôn khuyến khích học sinh đọc báo Nhi đồng, sách truyện có nộidung lành mạnh để tập nhớ mặt chữ và mở rộng vốn từ Trước khi viết chính tả, chúngtôi dặn các em đọc trước bài ở nhà nhiều lần Tập viết những từ em cho là khó, mỗi từviết hai hàng Nhờ vậy, các em viết ít sai lỗi chính tả
Với những biện pháp vừa nêu cùng với những nổ lực cố gắng của học sinh nên tỷ lệ họcsinh viết chính tả dưới năm lỗi trong một bài đã giảm xuống rõ rệt Nhìn chung, HS viếtchính tả đã có nhiều tiến bộ hơn so với đầu năm
Tích cực:
Với những biện pháp nêu trên sẽ giúp cho học sinh nắm được kĩ năng viết đúng chính tả,
từ đó các em thấy được tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả Các em sẽ có ý thứcrèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả cho chính bản thân Qua đó, các em đã có những suynghĩ đúng đắn và cảm nhận được sự phong phú, đa dạng và của Tiếng Việt, có trách
Trang 10nhiệm hơn trong việc rèn luyện kĩ năng học tập Vì thế, việc tiếp thu kiến thức của cácmôn học khác cũng tiến bộ rõ rệt Kết quả bài thi các môn học viết sai lỗi chính tả rất ít.
Nhược điểm
Khi áp dụng các biện pháp nêu trên chỉ khắc phục được một số lỗi về âm đầu, âmcuối và thanh Còn những lỗi chính tả khác thì chúng ta thực sự chưa hướng dẫn các emsửa tỉ mỉ được nếu có thì cũng chỉ là lướt qua
Chúng ta phải giành nhiều thời gian cho những học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều nênlàm mất thời gian chung của lớp Phần nhiều chỉ đạt kết quả cao khi học sinh viết cácbài chính tả có trong chương trình học, hoặc viết bài đã được đọc trước, tập chép trước.Còn với những bài các em chưa từng được đọc qua hoặc những bài có nhiều từ khó thìhọc sinh vẫn còn viết sai
Chương 2
THỐNG KÊ – NGUYÊN NHÂN – BIỆN PHÁP
1 Kết quả thống kê lỗi
Qua kết quả thống kê các loại lỗi, chúng tôi thấy học sinh thường mắc phải các loại lỗi sau:
1.1 Về thanh điệu:
Tiếng Việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì nhiều học sinh không phân biệt được 3 thanh hỏi, ngã, sắc Tuy chỉ có 3 thanh
Trang 11nhưng số lượng tiếng mang 3 thanh này không ít và rất phổ biến - kể cả những người có trình độ văn hoá cao.
Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lấn lộn, lẩn lộn,…
+ at/ac: lang bạc, lường gạc, rẻ mạc…
+ ăt/ăc: giặc giũ, mặt quần áo…
+ ân/âng: hụt hẫn, nhà tần…
+ ât/âc: nổi bậc, nhất lên…
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+êt/êch: trắng bệt…
2.Nguyên nhân mắc lỗi
2.1 Về thanh điệu:
Theo các nhà ngữ âm học, người Việt từ Nghệ An trở vào không phân
biệt được 2 thanh hỏi, ngã Hay nói đúng hơn trong phương ngữ Trung và Nam không có thanh ngã Mặt khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá
lớn Do đó lỗi về dấu câu rất phổ biến Một số học sinh miền Bắc thường hay
lẫn lộn 2 thanh sắc, ngã với nhau.
2.2 Về âm đầu: