VẤN ĐỀ Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Việt Nam hiện có hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Các hoạt động của ngành đã góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân, xóa đói giảm nghèo tại nhiều địa phương. Cùng với sự phát triển, hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn đã gây ra nhiều tác động đến môi trường. Việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật chưa đúng kỹ thuật đã gây tồn dư nhiều hóa chất độc hại trong môi trường đất và môi trường nước, không khí. Phân bón là vật tư quan trọng, góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản. Phân bón khi sử dụng sẽ để lại một lượng không nhỏ dư lượng do không được cây trồng hấp thụ, sẽ tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái nông nghiệp cũng như làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và có thể gây đột biến gen đối với một số loại cây trồng. Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV hai là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người. Thuốc BVTV là một loại vật tư kỹ thuật quan trọng góp phần hạn chế dịch hại, bảo vệ cây trồng, giữ vững và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản. Tuy nhiên, do các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ cộng đồng và là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Lạm dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại, tùy tiện không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến hậu quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng ruộng bị ô nhiễm. Việc sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật làm cho sâu bệnh quen thuốc gây ra hiện tượng kháng thuốc BVTV, mặt khác do sử dụng nhiều loại thuốc BVTV làm cho các loài sinh vật có ích (thiên địch) bị tiêu diệt, gây mất cân bằng sinh thái và như vậy sâu bệnh hại càng phát triển mạnh hơn và nông dân càng dùng thuốc nhiều hơn. Chất lượng môi trường nước, đất bị suy giảm, tác động xấu tới các loại động vật hoang dã. Gây độc hại cho bầu khí quyển, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Vì vậy, giải quyết hài hoà giữa việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp với việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và môi trường là một thách thức lớn đối với cơ quan quản lý nhà nước. Do đó, nhóm em đã thực hiện đề tài: Tìm hiểu về các chính sách và công cụ quản lý việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu để từ đó có cái nhìn tổng quan về hiệu quả của việc quản lý, đưa ra các nhận định và giải pháp để công tác quản lý tốt hơn. Do năng lực và thời gian hạn hẹp bài làm còn nhiều thiếu sót rất mong thầy góp ý và bổ sung. II. Tổng quan về các công cụ 1. Công cụ mệnh lệnh kiểm soát Kể từ khi chính sách môi trường được chấp nhận ở các nước phát triển, mệnh lệnh và điều khiển là biện pháp chủ yếu để quản lý môi trường. Phương pháp này trực tiếp điều khiển khống chế mức ô nhiễm sử hệ thống giám sát và cưỡng chế. Ở Việt Nam, công cụ mệnh lệnh điều khiển cũng đã được cơ quan quản lý môi trường sử dụng triệt để để quản lý đối với phân bón, thuốc trừ sâu. Trong thời gian qua nhiều chính sách đã được ban hành, nhóm chúng em chỉ xin đề cập đến một số chính sách ban hành trong thời gian gần đây: 1.1 Thông tư về việc ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam ngày 2052010 Những danh mục thuốc bảo vệ thực vật được nhắc đến trong thông tư này sẽ được phép sử dụng, hạn chế sử dụng hay cấm sử dụng tùy theo quy định. Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam, Phụ lục 1 kèm theo gồm: a) Thuốc sử dụng trong Nông nghiệp: Thuốc trừ sâu: 542 hoạt chất với 1361 tên thương phẩm Thuốc trừ bệnh: 374 hoạt chất với 937 tên thương phẩm. Thuốc trừ cỏ: 169 hoạt chất với 517 tên thương phẩm. Thuốc trừ chuột: 10 hoạt chất với 17 tên thương phẩm. Thuốc điều hoà sinh trưởng: 48 hoạt chất với 126 tên thương phẩm. Chất dẫn dụ côn trùng: 8 hoạt chất với 9 tên thương phẩm. Thuốc trừ ốc: 20 hoạt chất với 105 tên thương phẩm. Chất hỗ trợ (chất trải): 5 hoạt chất với 6 tên thương phẩm b)Thuốc trừ mối: 10 hoạt chất với 12 tên thương phẩm c)Thuốc bảo quản lâm sản: 5 hoạt chất với 7 tên thương phẩm d)Thuốc khử trùng kho: 5 hoạt chất với 5 tên thương phẩm e)Thuốc sử dụng cho sân golf Danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng ở Việt Nam, Phụ lục 2 kèm theo gồm: a)Thuốc sử dụng trong Nông nghiệp Thuốc trừ sâu: 5 hoạt chất với 10 tên thương phẩm Thuốc trừ chuột: 1 h
Trang 1Các công cụ quản lý phân bón
và thuốc bảo vệ thực vật
Trang 3I Đặt vấn đề
Việt Nam hiện có hơn 70% dân số sống ở khu vực
nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là hai yếu tố quan trọng
Việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật
chưa đúng kỹ thuật và quá mức đã gây tồn dư nhiều hóa chất độc hại trong môi trường đất và môi trường nước, không khí
Trang 4II Tổng quan các công cụ
Các nhóm công cụ
Công cụ mệnh lệnh
Và kiểm soát Công cụ kinh tế
Công cụ Tuyên truyền và Giáo dục
Trang 52.1 Công cụ mệnh lệnh và kiểm soát
Thông tư về việc ban hành Danh mục thuốc bảo
vệ thực vật được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam ngày 20/5/2010
Thông tư của BNNPTNT về danh mục các loại phân bón được phép sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam ngày 30/8/2011
Trang 6Công cụ mệnh lệnh và kiểm soát (tt)
Thông tư 38/2010/TT-BNNPTNT ngày
28/6/2010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Quy định về quản lý thuốc
BVTV
Quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật
Trang 7Ưu điểm và nhược điểm
Ưu điểm
Mang tính pháp lý cao buộc các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón, thuốc BVTV phải tuân thủ.
Công cụ này có khả năng áp dụng rộng rãi
Dễ quản lý
Trang 8 Nhược điểm
Việc tồn tại những của hàng buôn bán phân bón, thuốc
BVTV nhỏ lẻ, hoạt động theo mùa vụ đã gây khó khăn cho việc quản lý kinh doanh và sử dụng phân bón, thuốc
BVTV; tình trạng phân bón, thuốc BVTV ngoài danh mục cho phép vẫn nhập lậu gây ảnh hưởng đến công tác quản lý
ở nhiều nơi
Do lực lượng cán bộ Thanh tra Sở NN&PTNT còn mỏng, khối lượng công việc nhiều, phương tiện đi lại khó khăn, trang thiết bị phục vụ việc thanh tra, kiểm tra thiếu nên
khó có thể thanh tra, kiểm tra hết tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh phân bón, thuốc BVTV
Trang 9 Thu thuế BVMT góp phần tăng ngân sách của chính phủ
và hạn chế phần nào việc sử dụng không hiệu quả
Trang 10Nhược điểm
Chỉ khuyến khích gây ô nhiễm mà không khuyến khích đầu tư xử lý ô nhiễm trong quá trình sản xuất ra sản phẩm
đó
Đối với những hàng hóa thuộc loại xa xỉ thì loại thuế này
có tác dụng nhiều trong việc hạn chế ô nhiễm (thông qua hạn chế tiêu dùng/sản xuất) nhưng với hàng hóa thiết yếu thì loại thuế này ít có tác dụng giảm ô nhiễm
Loại thuế này đánh thuế tuyệt đối nên với tình hình lạm phát như hiện nay, giá cả không ngừng leo thang thì việc
áp dụng trong lâu dài là không hiệu quả
Trang 11 Thuế nhập khẩu phân bón
Ưu điểm:
Giảm nhập khẩu phân bón bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại
Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng
nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung
của thị trường
Đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trang 12 Nhược điểm
Thuế nhập khẩu phân bón tăng lên cũng kéo theo tình
trạng nhập lậu phân bón qua đường biên giới cũng tăng lên Các cơ quan chức năng rất khó quản lý
Phân bón là mặt hàng thiết yếu trong sản xuất nông
nghiệp vì vậy khi đánh thuế thì chính người nông dân phải
là người chịu thuế
Trang 13 Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp
IPM
Ưu điểm:
Sử dụng các loại vật tư cân đối, giảm được lượng đạm,
tăng lượng lân và kali trên đơn vị diện tích, cấy mật độ
vừa phải, giảm lượng giống, tạo cho cây trồng phát triển cân đối, cứng, khỏe, tăng sức chống chịu
Giảm được lượng thuốc BVTV trên đồng ruộng, bảo vệ được các loài thiên địch có ích như: ếch nhái, rắn, chim, ong, bọ rùa, nhện vồ mồi v.v…
Trang 15 Chương trình quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) hay được gọi là chương trình "3
giảm, 3 tăng "
Ưu điểm:
Giảm được lượng giống gieo trồng
Giảm được lượng phân bón
Giảm được lượng thuốc trừ sâu
Với việc áp dụng chương trình 3 giảm 3 tăng vừa tiết
kiệm được chi phí trong sản xuất, vừa dễ dàng kiểm soát
dịch hại Nhờ thế năng suất tăng lên và thu nhập của nông dân từ đó cũng tăng theo, góp phần cải thiện cuộc sống
Trang 16Nhược điểm
Khâu tưới, tiêu là vấn đề quan trọng trong 3 giảm 3 tăng, bởi đơn giản, “khi cần dập không dập được, khi tiêu dùng không tiêu kịp” là “thua”
Một số nông dân do điều kiện kinh tế gia đình, do tập
quán canh tác cũ, vv còn ngán ngại về chi phí, về công cán nên chưa dám làm Thôi thì thà “thất dầy còn hơn
trúng thưa”, vẫn làm theo lối cũ.
Nạn ốc bươu vàng, nổi lo “sốt ruột” của “kéo hàng thưa”,
kế đó là môi trường, sâu bệnh
Trang 172.3 Công cụ tuyên truyền và giáo dục
Tập huấn cho nông dân tại hiện trường (FFS)
Ưu điểm:
Nội dung tập huấn phù hợp với nhu cầu của nông dân
Phương pháp học thông qua làm giúp nông dân dễ tiếp thu, nắm chắc kiến thức
Tọa điều kiện để nông dân trao đổi, chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm giữa nông dân với nông dân và nông dân với tập huấn viên
Trang 18 Học viên thấy được thực tế tại đồng ruộng giúp nông dân
dễ hiểu, dễ nhớ, có điều kiện để thực hành nên nâng cao được kỹ năng thực hành
Thu hút được nhiều đối tượng tham gia cùng một lúc
Người học có điều kiện để theo dõi, phân tích đánh giá từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của từng loại cây trồng/ vật nuôi nên họ đưa ra được các kỹ thuật phù hợp
Nâng cao kỹ năng làm việc theo nhóm, lập kế hoạch và ý thức trách nhiệm của từng học viên
Nông dân có thể trở thành hướng dẫn viên
Trang 19 Nhược điểm
Đòi hỏi kinh phí cao
Đòi hỏi khâu tổ chức lớp tập huấn tốt
Khó đảm bảo được số lượng học viên ở các lần học
Không chủ động được kế hoạch học tập (do thời tiết,
do mùa vụ, )
Do tập huấn nhiều lần nên làm cho nông dân dễ
chán nản nếu tổ chức các buổi tập huấn không tốt
và thiết kế nội dung không thiết thực
Trang 20III Thực trạng áp dụng
3.1 Công cụ mệnh lệnh và kiểm soát
Ta thấy công tác quản lý của các cơ quan chức năng trong quản lý phân bón, thuốc BVTV được thực hiện rất chặt chẽ, thường xuyên có các cuộc thanh tra, kiểm tra để giám sát việc thực hiện các văn bản, quy định đã được ban hành Tuy vậy, tình
trạng vi phạm các quy định đó vẫn còn khá phổ biến và cần phát hiện kịp thời để xử lý triệt để
Trang 213.2 Công cụ kinh tế
Thuế BVMT dự kiến ngày 1/1/2012 sẽ có hiệu lực Sau đó
nó sẽ được áp dung rộng rãi cho toàn bộ các mặt hàng
phải chịu thuế có ghi trong bộ luật ở trong phạm vi nước Việt Nam
Thuế nhập khẩu phân bón đã được thực thi theo quy định Thuế được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp, cá nhân,
tổ chức nhập khẩu các mặt hàng phân bón thuộc đối tượng chịu thuế
Trang 22 Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM được đưa
vào áp dụng tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1992 cho đến nay đã thu được nhiều kết quả khả quan Từ khi chương trình IPM được triển khai đến với bà con nông dân, từ
những hiệu quả và lợi ích mà chương trình mang lại,
chương trình đã được nông dân ở nhiều địa phương quan tâm, học hỏi và áp dụng trên ruộng nhà mình
Chương trình 3 giảm, 3 tăng” là chương trình quản lý tổng hợp dinh dưỡng và dịch hại trên cây lúa (ICM) nhằm giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe con người Chương trình ICM
được đưa vào thực hiện tại Việt Nam từ năm 2001
Trang 233.3 Công cụ tuyên truyền và giáo dục
Được sự tài chợ của tổ chức FAO, năm 1992 chương trình tập huấn IPM trên lúa cho nông dân bắt đầu được triển
khai ở Việt Nam, Cục BVTV được bộ Nông nghiệp và
PTNT giao nhiệm vụ quản lý, tổ chức thực hiện chương trình
Thực tế ở Việt Nam các công cụ tuyên truyền và giáo dục mặc dù được tổ chức rất nhiều, tuy nhiên chưa đồng bộ, nhỏ lẻ không khuyến khích được người dân tích cực tham
Trang 24IV Giải pháp
4.1 Công cụ mênh lệnh và kiểm soát
Đội ngũ các bộ thanh tra, kiểm tra cần tăng về số lượng cũng như chất lượng
Thường xuyên tổ chức các cuộc thanh tra, kiểm tra nhằm giám sát chặt chẽ hoạt động của các cơ sở sản xuất, kinh doanh phân bón, thuốc BVTV trong việc thực hiện các thông tư, quy định của cơ quan quản lý môi trường
Các văn bản, quy định cần có sự thống nhất và hướng dẫn thực hiện cụ thể
Trang 254.2 Công cụ kinh tế
Thuế bảo vệ môi trường
Cơ quan xây dựng luật pháp phải có các nghiên cứu để cải thiện trước khi thuế bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống
Thuế nhập khẩu phân bón
Các cơ quan quản lý, nhất là cơ quan hải quan phải thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát tình hình nhập khẩu
Hạn chế tối đa lượng phân bón nhập khẩu lậu qua biên
giới
Cơ quan có thẩm quyền phải không ngừng theo dõi biến động, nắm bắt tình hình chung của thị trường phân bón
Trang 26 Chương trình IPM và chương trình ICM
Nhà nước ta nên có các biện pháp tuyên truyền giáo dục, khổ biến kiến thức cho người dân có điều kiện áp dụng (tổ chức các lớp khuyến nông, các mô hình thí điểm cho
người dân )
Không ngừng nghiên cứu để cải tiến các kĩ thuật để
chương trình có hiệu quả cao hơn
Trang 274.3 Công cụ tuyên truyền và giáo dục
Không ngừng tổ chức các lớp tập huấn, treo các
áp phích tuyên truyền
Các chiến dịch tuyên truyền và giáo dục phải tổ chức đồng bộ và rộng rãi
Trang 28V Kết luận và kiến nghị
Các công cụ quản lý còn nhiều thiếu sót và bất cập, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn
Cần có sự kết hợp quản lý giữa các công cụ
Tuyên truyền và giáo dục la điều không thể thiếu để các công cụ hoạt động hiệu quả Vì vậy cần đầu tư thêm
Chính phủ nên khuyến khích nông dân tham gia các
chương trình sản xuất nông nghiệp tôt theo tiêu chuẩn GAP Ở Việt Nam đã có tiêu chuẩn VIETGAP, và nếu chúng ta muốn hướng tới thị trường các nước phát triển thì ở châu âu đã có tiêu chuẩn GLOBALGAP
Dán nhãn sinh thái cũng là một giải pháp tốt