TÓM TẮT Luận văn đánh giá vai trò của vàng như là công cụ phòng ngừa đối với sự biến động của VND, bằng cách sử dụng mô hình phi tuyến tính vector ngưỡng tự hồi quy TVAR.. Gần đây nhất,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
PHAN THỊ LỆ THÚY
VÀNG CÓ PHẢI LÀ CÔNG CỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO ĐỐI VỚI BIẾN ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ VIỆT NAM ĐỒNG:
TIẾP CẬN THEO MÔ HÌNH TVAR
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-
PHAN THỊ LỆ THÚY
VÀNG CÓ PHẢI LÀ CÔNG CỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO ĐỐI VỚI BIẾN ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ VIỆT NAM ĐỒNG:
TIẾP CẬN THEO MÔ HÌNH TVAR
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ VIỆT QUẢNG
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 3Tôi xin xam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Vũ Việt Quảng
Những nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực, các số liệu phục vụ cho nghiên cứu là đáng tin cậy và được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau, đều được chú thích rõ ràng để dễ dàng tra cứu và kiểm chứng
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2015 Tác giả
Phan Thị Lệ Thúy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 2
1.1 Giới thiệu 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Điểm mới của luận văn 4
1.6 Bố cục của luận văn 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6
2.1 Các nghiên cứu về vàng và các tài sản khác 6
2.2 Các nghiên cứu về vàng và tiền tệ 9
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Phương pháp nghiên cứu 14
3.2 Mô hình nghiên cứu 16
3.2.1 Định nghĩa TVAR 16
3.2.2 Xây dựng và kiểm định các giả thuyết 19
3.2.3 Phương pháp ước lượng 23
3.3 Dữ liệu 23
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Sơ lược sự biến động của tỷ giá VND và giá vàng 25
4.2 Kết quả kiểm định 28
4.2.1 Kết quả kiểm định tính dừng 28
Trang 54.2.4 Kiểm tra quan hệ nhân quả 44
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 58
5.1 Kết luận về kết quả nghiên cứu 60
5.2 Những điểm hạn chế của luận văn 60
5.3 Những gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTW : Ngân hàng Trung ương
TGHĐ : Tỷ giá hối đoái
Trang 7Bảng 4.1 Kết quả kiểm định tính dừng 29
Bảng 4.2 Độ trễ tối ưu theo mô hình VAR 31
Bảng 4.3 Kiểm tra mối quan hệ phi tuyến tính 1 ngưỡng 34
Bảng 4.4 Kiểm tra mối quan hệ phi tuyến tính 2 ngưỡng 36
Bảng 4.5 Xác định tham số trễ (d), giá trị ngưỡng ( ) và mô hình TVAR 40
Bảng 4.6 Phân chia chế độ 42
Bảng 4.7 Độ trễ tối ưu trong từng chế độ……… 47
Bảng 4.8 Kiểm tra quan hệ nhân quả mô hình phi tuyến tính 49
Bảng 4.9 Tổng hợp kết quả kiểm tra quan hệ nhân quả mô hình phi tuyến tính 55
Bảng 4.10 Tổng hợp kết quả kiểm tra quan hệ nhân quả mô hình tuyến tính 57
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 4.1: Giá vàng và tỷ giá VND từ tháng 1/2004 đến tháng 8/2015 28
Hình 4.2 Biến động tỷ giá VND và giá trị ngưỡng 44
Trang 8TÓM TẮT
Luận văn đánh giá vai trò của vàng như là công cụ phòng ngừa đối với sự biến động của VND, bằng cách sử dụng mô hình phi tuyến tính vector ngưỡng tự hồi quy (TVAR) Sử dụng dữ liệu suất sinh lợi theo tháng của vàng và tỷ giá hối đoái của các đồng tiền bao gồm: USD/VND; EUR/VND; GBP/VND; JPY/VND; CNY/VND giao dịch tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, luận văn cho thấy:
Không tìm thấy được vai trò của vàng như là công cụ phòng ngừa đối với các tỷ giá EUR/VND; GBP/VND; CNY/VND Đối với tỷ giá USD/VND vàng có thể là công cụ phòng ngừa đối với sự biến động tỷ giá Riêng đối với tỷ giá JPY/VND khi e t1> -0.148942% tức là khi đồng VND tăng giá ít hoặc khi đồng
VND bị mất giá thì đầu tư vào vàng như là môt kênh để có thể phòng ngừa sự biến động của tỷ giá JPY/VND
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Giới thiệu
Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, TGHĐ không chỉ tác động đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, nợ quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của dân chúng Khi TGHĐ biến động theo chiều hướng không thuận, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thực hiện nhiều giải pháp như: nới rộng biên độ +/-5% (3/2009); hạ biên độ xuống +/- 3% (2/2010), đồng thời với việc điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng 3,36% ; 4/2010 NHNN yêu cầu các Tổng công ty, Tập đoàn có thu ngoại tệ phải bán cho ngân hàng và kiểm kiểm soát chặt chẽ các giao dịch mua bán ngoại tệ tại các địa điểm mua bán ngoại
tệ Đầu năm 2015, Thống đốc NHNN tuyên bố sẽ kiểm soát tỷ giá biến động không quá 2% Tuy nhiên tỷ giá trong những tháng vừa qua liên tục biến động
Thêm vào đó, xét trong tình hình kinh tế khi: Thị trường chứng khoán chưa
có tín hiệu khởi sắc tốt; kinh doanh bất động sản đang u ám, ngay cả các ngân hàng cũng huy động vốn với lãi suất rất thấp vì vậy sẽ thu hút không nhiều nhà đầu tư vào những lĩnh vực này Trong khi đấy để phòng ngừa rủi ro nhiều người đã nhìn thấy rằng vàng sẽ là một kênh đầu tư an toàn hơn
Như ta biết vàng là tài sản đã thu hút được rất nhiều người trên thế giới từ hàng ngàn năm nay và nhu cầu của con người đối với vàng không ngừng tăng lên
Có rất nhiều lý do để nhà đầu tư tham gia vào thị trường vàng Có thể mua vàng kiếm khoảng chênh lệch từ biến động giá vàng khi niềm tin của nhà đầu tư về giá vàng sẽ biến động có lợi cho họ Họ cũng có thể mua vàng như một hàng rào chống lại bất kỳ một cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị hay tiền tệ Các nhà đầu tư cũng thường hạn chế rủi ro của mình bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư họ có thể tham gia đồng thời cả trên thị trường vàng và các thị trường khác nữa Vì vậy sự phát triển của thị trường vàng luôn được theo dõi chặt chẽ bởi các nhà đầu tư, các nhà phân tích tài chính và các nhà hoạch định chính sách
Trang 10Trong các nghiên cứu trước đây về vấn đề vàng và tỷ giá hối đoái, nghiên cứu hầu hết đều tập trung vào một mối quan hệ tuyến tính Như chúng ta được biết những bất lợi của việc sử dụng một mô hình tuyến tính là chúng ta không thể sử dụng kết quả ước lượng từ mô hình tuyến tính để suy ra những gì sẽ xảy ra trong những điều kiện khác nhau Trong khi đấy tác giả thấy rằng sự biến động của tỷ giá
và giá vàng là theo những chiều hướng rất khác nhau Vì vậy tác giả cho rằng mối quan hệ này là phi tuyến tính, không phải là tuyến tính như đã được giả định trong các nghiên cứu trước đây Gần đây nhất, có nghiên cứu của tác giả Wang và Lee (2010) có sử dụng các hàm TVAR để đo lường xem thử vàng có phải là công cụ phòng ngừa đối với sự biến động của đồng Yên Nhật hay không? Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào xem thử vàng có phải là công cụ phòng ngừa biến động đối với tỷ giá hối đoái VND bằng mô hình phi tuyến tính TVAR Do đó, luận văn sử dụng vector ngưỡng tự hồi quy TVAR (mô hình phi tuyến tính) cho nghiên cứu thực nghiệm của đề tài Tác giả sử dụng biến động tỷ giá hối đoái của đồng VND là biến ngưỡng để xây dựng một chế độ xem thử khi nào thì đầu tư vào vàng sẽ hạn chế được rủi ro của biến động tỷ giá hối đoái của VND trong giai đoạn từ tháng 01/2004 đến tháng 8/2015 Tác giả tin rằng phát hiện này có thể là một tài liệu tham khảo hữu ích cho chính sách tiền tệ của chính phủ Việt Nam và một hướng dẫn cho các nhà đầu tư, những người muốn sử dụng vàng như một hàng rào chống lại biến động của VND
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn kiểm định vàng có phải là công cụ phòng ngừa rủi ro đối với tỷ giá VND cho các nhà đầu tư hay không? Hay nói cách khác, đầu tư vào vàng có thể ngăn chặn sự giảm giá trị của tài sản cá nhân hoặc công ty
do sự biến động của đồng nội tệ hay không?
Trang 111.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn xem xét liệu giá vàng có thể là công cụ phòng ngừa thay đổi trong tỷ giá VND đối với 5 ngoại tệ được sử dụng chủ yếu trong các hoạt động thương mại và đầu tư ở Việt Nam là GBP/VND; EUR/VND; USD/VND; JPY/VND; CNY/VND Số liệu về giá vàng và tỷ giá được thu thập hàng tháng tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam từ tháng 01/2004 đến tháng 8/2015
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để kiểm định xem vàng có phải là công cụ phòng ngừa rủi ro đối với biến động VNĐ hay không, trước hết tác giả kiểm tra liệu có tồn tại một mối quan hệ có
ý nghĩa thống kê giữa các biến hay không Có hai giả thuyết được đưa ra: Thứ nhất
là giả thuyết mô hình mối quan hệ giữa các biến là tuyến tính (mô hình VAR) và thứ hai là mô hình mối quan hệ là phi tuyến tính (mô hình TVAR)
Nếu giả thuyết mô hình giữa các biến là tuyến tính bị bác bỏ hay kết quả kiểm định chỉ ra rằng mô hình này là phi tuyến tính, thì bước tiếp theo là tìm các giá trị của hai tham số: tham số độ trễ trong biến ngưỡng (d) và giá trị ngưỡng (γ) Sau khi ta tìm được giá trị ngưỡng tối ưu và các tham số trễ, mô hình TVAR phù hợp nhất có thể được xây dựng
Cuối cùng tác giả sử dụng kiểm định hệ số Wald để kiểm tra các mối quan hệ nhân quả giữa các biến và các ràng buộc tương ứng để có thể kiểm định giả thuyết vàng có phải là công cụ phòng ngừa đối với biến động tỷ giá VND hay không
1.5 Điểm mới của luận văn
+ Phạm vi nghiên cứu của đề tài này kiểm định vai trò của vàng như là một
công cụ phòng ngừa đối với biến động trong tỷ giá VND với 5 đồng tiền chủ chốt trong nền kinh tế: GBP/VND; EUR/VND; USD/VND; JPY/VND; CNY/VND Các nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như Huỳnh Thị Thúy Vy (2015) không kiểm định tỷ giá của VND đối với đồng Yên Nhật và đồng Nhân Dân Tệ Tôi nghĩ rằng việc đánh giá bổ sung vai trò phòng ngửa rủi ro của vàng đối với hai đồng tiền này
Trang 12là có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư cũng như các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam
+ Phương pháp nghiên cứu: đề tài áp dụng mô hình TVAR để kiểm định mối quan hệ phi tuyến tính giữa các biến nhằm đảm bảo khả năng đánh giá chính xác vàng có phải là công cụ phòng ngừa rủi ro đối với biến động của đồng VND hay không Mô hình này có ưu điểm là nếu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi đầu
tư vào vàng và tỷ suất sinh lợi đầu tư vào đồng nội tệ thay đổi khi tỷ giả động nội
tệ với các đồng tiền khác tăng hoặc giảm vượt quá một giả trị ngưỡng cụ thể nào
đó, thì mối quan hệ giữa các biến trong mô hình sẽ thay đổi Mô hình mối quan hệ phi tuyến này nếu được kiểm định là tồn tại thì sẽ phản ánh chính xác và tốt hơn so với việc sử dụng các mô hình với giả định mối quan hệ giữa các biến số là tuyến tính Theo hiểu biết tốt nhất của tác giả thì mô hình hồi quy VAR phi tuyến chưa được sử dụng trong nghiên cứu vai trò của vàng như là một kênh phòng ngừa rủi
ro tỷ giá hối đoái tại Việt Nam
+ Nghiên cứu này đã tìm thấy vàng không phải là công cụ phòng ngừa rủi
ro đối với sự biến động của các tỷ giá GBP/VND; EUR/VND; và CNY/VND Tuy nhiên vàng có thể là công cụ phòng ngừa đối với sự biến động tỷ giá USD/VND Riêng đối với tỷ giá JPY/VND kết quả kiểm định cho thấy khi tỷ suất sinh lợi đầu
tư vào đồng nội (e t1) > -0.148942% thì đầu tư vào vàng có thể phòng ngừa sự
biến động của tỷ giá JPY/VND
1.6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần tóm tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của luận văn gồm
5 chương chính với cấu trúc như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận
Trang 13CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.1 Các nghiên cứu về vàng và các tài sản khác
Vàng là một trong những kim loại quý được quan tâm nhiều nhất do vai trò nổi bật của chúng trong cả giới đầu tư và tiêu dùng Mặc dù không còn được sử dụng như một phương thức tiền tệ chính ở các nước, nhưng vàng tiếp tục tác động mạnh đến giá trị của tiền tệ ở các nước Hơn nữa, có một sự tương quan mạnh mẽ giữa giá trị của vàng và sức mạnh tiền tệ kinh doanh trên thị trường ngoại hối Vì vậy trước đây có rất nhiều nghiên cứu về vai trò của vàng trong lĩnh vực tài chính
và kinh tế
Có rất nhiều lý do để người ta đầu tư vào vàng, Ghosh và cộng sự (2004) đã chỉ ra rằng những người mua vàng cho hai mục đích Đầu tiên là "nhu cầu sử dụng", nơi vàng được sử dụng trực tiếp trong sản xuất đồ trang sức, huy chương, tiền xu, các thành phần khác trong cuộc sống Thứ hai là "nhu cầu tài sản" đối với vàng, nơi
nó được sử dụng bởi các chính phủ, các nhà quản lý quỹ và các cá nhân như một khoản đầu tư Nhu cầu đối với vàng thể hiện ngoài coi vàng là tài sản truyền thống bên cạnh đó là quan điểm cho rằng vàng cung cấp một "hàng rào" chống lại lạm phát và mất giá đồng nội tệ
Có thể kể đến có rất nhiều nghiên cứu về vàng như là một phòng ngừa đối với sự biến động của thị trường chứng khoán Baur và Lucey (2010), đã nghiên cứu trên các thị trường Mỹ và Anh và Đức Kiểm tra giả thuyết vàng đại diện cho công cụ phòng ngừa hay là nơi trú ẩn an toàn đối với cổ phiếu và trái phiếu Các tác giả thấy rằng vàng là công cụ phòng ngừa đối với chứng khoán trong điều kiện thị trường bình thường đồng thời cũng là nơi trú ẩn an toàn trong điều kiện thị trường không ổn định, tuy nhiên việc trú ẩn này chỉ trong thời gian ngắn mà thôi Cũng trong năm này tác giả Baur và McDermott (2010), với mục đích là để kiểm tra vai trò của vàng trong hệ thống tài chính toàn cầu Tác giả kiểm tra giả thuyết rằng vàng đại diện cho một nơi trú ẩn an toàn đối với cổ phiếu của các nước mới
Trang 14nổi và đang phát triển mạnh Một phân tích mô tả và kinh tế cho một mẫu bao trùm một khoảng thời gian 30 năm 1979-2009 cho thấy rằng vàng là công cụ phòng ngừa và một nơi trú ẩn an toàn cho thị trường chứng khoán Châu Âu và Hoa Kỳ, ngoại trừ các nước Úc, Canada, Nhật Bản và các thị trường lớn mới nổi như các nước BRIC Tác giả cũng phân biệt giữa một hình thức mạnh và yếu của các tài sản an toàn và cho rằng vàng có thể hoạt động như một lực lượng ổn định cho hệ thống tài chính bằng cách giảm tổn thất khi đối mặt với những cú sốc thị trường âm cực Gần đây các tác giả Hood và Malik (2013) đã đánh giá vai trò của vàng và các kim loại quý khác liên quan đến biến động như một công cụ phòng ngừa và nơi trú ẩn an toàn bằng cách sử dụng dữ liệu từ các thị trường chứng khoán Mỹ Sử dụng dữ liệu hàng ngày từ tháng mười năm 1995 đến tháng 11 năm
2010, các tác giả thấy rằng vàng, không giống như các kim loại quý khác, phục vụ như là một công cụ phòng ngừa và một nơi trú ẩn an toàn yếu cho thị trường chứng khoán Mỹ Tuy nhiên, tác giả thấy rằng các kim loại quý khác phục vụ như một công cụ phòng ngừa rất mạnh và là nơi ẩn náu an toàn mạnh mẽ Kết quả cho thấy rằng các kim loại quý khác là một công cụ bảo hiểm rủi ro và phục vụ như
một nơi trú ẩn an toàn tốt hơn so với vàng trong thời kỳ nghiên cứu của tác giả
Các nghiên cứu khác xem vàng như là một công cụ phòng ngừa đối với lạm phát Laurent (1994), nghiên cứu mối quan hệ giữa giá vàng và giá cả hàng hóa bán buôn, để tìm ra vai trò của vàng như công cụ phòng ngừa cho lạm phát trong dài hạn ở Mỹ, Brasil, Pháp, Đức và Nhật Ghosh và cộng sự (2004), sử dụng suất sinh lợi hàng tháng từ năm 1976 -1999 bằng kỹ thuật hồi quy đồng liên kết Tác giả đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định vàng có thể là công cụ phòng ngừa lạm phát trong dài hạn Tiếp đó McCown và Zimmerman (2006) đã cho thấy thay đổi trong lạm phát kỳ vọng tương lai sẽ không dẫn đến thay dổi giá vàng Nhà đầu tư không thể dự đoán lãi suất kì vọng chỉ bằng việc nhìn vào giá vàng giao ngay Blose (2010) đã xem xét liệu sự thay đổi trong lạm phát kỳ vọng có ảnh hưởng đến giá vàng như thế nào? Sử dụng sự thay đổi trong chỉ số giá tiêu dùng (CPI), nghiên cứu đã cho thấy chỉ số CPI không ảnh hưởng đến giá vàng giao
Trang 15ngay Kết quả là nhà đầu tư dự đoán những thay đổi kỳ vọng trong lạm phát thì nên thiết kế đầu cơ trong thị trường trái phiếu chứ không phải là thị trường vàng Gần đây, Joscha và Robert (2013) cũng kiểm chứng liệu vàng có cung cấp khả năng phòng ngừa lạm phát từ khía cạnh mới hay không, sử dụng dữ liệu từ 4 nền kinh tế USA, EU, UK, Japan bằng mô hình động phi tuyến và phân biệt hai trường hợp ngắn hạn và dài hạn của sự thay đổi về thời gian, với dự liệu từ 1/1970 đến tháng 9/2011 Kết quả cho thấy, về dài hạn vàng có thể phòng ngừa lạm phát trong tương lai (đối với US, UK thì mạnh hơn so với EU và Japan) Tại Việt Nam tác giả Thân Thị Thu Thủy và Lê Thị Thu Hồng (2014) sử dụng số liệu chuỗi chỉ số lạm phát và chỉ số vàng theo thời gian với tần suất tháng, thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 12 năm 2013 Sử dụng kiểm định Granger, kết quả nghiên cứu cho thấy sự thay đổi của lạm phát có ảnh hưởng đến giá vàng và ngược lại sự biến động của giá vàng cũng ảnh hưởng đến lạm phát Gần đây tác giả Hồ Thị Lam (2015) đã nghiên cứu xem thử liệu đầu tư vào vàng
có phải là kênh đầu tư an toàn bảo hiểm cho rủi ro lạm phát ở Việt Nam hay không Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích mối quan hệ của vàng với các thành phân fcuar lạm phát bao gồm lạm phát kỳ vọng và ngoài kỳ vọng Sử dụng dữ liệu giá vàng và lạm phát trong giai đoạn tháng 1/2015 - 4/2015, nghiên cứu tìm thấy đầu tư vào vàng là kênh bảo hiểm an toàn cho rủi ro lạm phát, đặc biệt là lạm phát ngoài kỳ vọng tại Việt Nam
Bên cạnh đó có một vài nghiên cứu khác xem vàng như là công cụ phòng ngừa đối với sự biến động của giá dầu hay của lãi suất Reboredo (2013), đã sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên các hàm copulas để phân tích cấu trúc phụ thuộc giữa hai thị trường vàng và giá dầu Với mục đích đánh giá vai trò của vàng như một công cụ phòng ngừa hay là nơi trú ẩn an toàn chống lại sự biến động giá dầu Bằng chứng thực nghiệm cho dữ liệu hàng tuần từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 9 năm 2011 tìm thấy được vai trò của vàng như là kênh trú ấn an toàn đối với giá dầu nhưng không phải là công cụ phòng ngừa rủi ro Hay Wang và Chueh (2013), tìm thấy trong ngắn hạn vàng và dầu thô ảnh hưởng tích cực lẫn nhau Về
Trang 16lâu dài, lãi suất ảnh hưởng đến đồng đô la Mỹ, do đó ảnh hưởng đấn giá dầu thô quốc tế Khi cụ dự trữ liên bang Mỹ (FED), giảm lãi suất để thúc đẩy nền kinh tế,
kỳ vọng thị trường sẽ làm cho giá dầu thô biến động Ngoài ra, có một mối quan
hệ truyền giá từ lãi suất đến giá vàng Giảm lãi suất ảnh hưởng đến kỳ vọng nhà đầu tư liên quan đến việc giảm giá trị đồng USD Các nhà đầu tư sẽ có xu hướng chuyển vốn sang đầu tư trên thị trường vàng để an toàn vốn hoặc đầu cơ Cuối cùng giá vàng và dầu thô có tác dụng phản hồi về lãi suất
2.2 Các nghiên cứu về vàng và tiền tệ
Việc nghiên cứu về vai trò của vàng như là một công cụ phòng ngừa chống lại các rủi ro biến động tỷ giá hối đoái, đã được một vài tác giả nghiên cứu trước đây Beckers và Soenen (1984), nghiên cứu sức hấp dẫn của vàng đối với các nhà đầu tư và tính năng phòng ngừa rủi ro của vàng, tìm kiếm việc đa dạng hóa giảm thiểu rủi ro bất đối xứng cho vị thế nắm giữ vàng của các nhà đầu tư Mỹ và các nhà đầu tư bên ngoài nước Mỹ (Sjasstad và Scacciavillani, 1996; Sjasstad, 2008) khẳng định rằng sự tăng giá hoặc mất giá tiền tệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá vàng, sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá thả nổi Bretton woods là nguyên nhân chính dẫn đến sự bất ổn trong giá vàng thế giới Sự tăng giá hay giảm giá USD có ảnh hưởng mạnh mẽ đến giá vàng và các đơn vị tiền tệ khác Tương tự như vậy, Capie
và cộng sự (2005) sử dụng mô hình EGARCH theo suất sinh lợi hàng tuần trong khoảng thời gian từ năm 1971 – 2004, khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ giá USD và giá vàng, minh chứng cho vàng có thể là một công cụ phòng ngừa hiệu quả cho USD
Wang và Lee (2010) sử dụng mô hình phi tuyến tính TVAR đã xem xét liệu vàng có phải là một công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái ở Nhật Bản hay không, sử dụng dữ liệu ở Nhật Bản từ năm 1986- 2007 Bài này sử dụng tỷ lệ mất giá của đồng Yên như một ngưỡng để phân biệt giữa một chế độ mất giá cao và sự mất giá thấp Tác giá thấy rằng, khi tỷ lệ mất giá của đồng Yên lớn hơn 2,62%, đầu tư vào vàng có thể tránh được sự mất giá của đồng nội tệ Vì vậy tác giả kết
Trang 17luận rằng hiệu quả của vàng như một công cụ phòng ngừa biến động tỷ giá và nó phụ thuộc vào tỷ lệ mất giá của đồng Yên
Theo Pukthuanthong và Roll (2011), cho rằng vàng và USD có mối quan hệ
âm khi mà giá vàng tính theo USD tăng, giá USD tính theo các loại tiền tệ khác sẽ giảm, và liệu có phải USD khác với các đồng tiền khác hay không, kết quả thì không đúng như vậy vì giá vàng có thể liên kết với sự mất giá tiền tệ ở các quốc gia, giá vàng tính bằng đô la có thể liên quan đến sự mất giá đồng đô la và giá vàng tính bằng đồng Euro, Pound, Yen liên quan đến sự mất giá của đồng Euro, Pound, Yen Joy (2011) Sử dụng mô hình tương quan động có điều kiện bao gồm dữ liệu 23 năm
theo tuần cho 16 tỷ giá đồng USD, bài viết này đề cập đến 2 vấn đề: liệu vàng có phải là công cụ phòng ngừa hay là nơi trú ẩn an toàn cho đồng USD, hay không? Kết quả cho thấy trong dù vàng có thể xem như là một công cụ phòng ngừa hiệu quả hoặc một nơi trú ẩn an toàn cho việc đầu tư, nhưng lại là tài sản kém an toàn so với USD Bên cạnh đó kết quả cũng báo cáo ra rằng vàng đã hoạt động như là một công cụ phòng ngừa hiệu quả chống lại rủi ro tiền tệ liên quan đến USD
Roberedo (2013), đánh giá vai trò vàng như nơi trú ấn an toàn hoặc là công
cụ phòng ngừa rủi ro đối với USD bằng cách sử dụng các hàm Copula khác nhau để
mô tả sự phụ thuộc giữa giá vàng và USD trong giai đoạn thị trường ở điều kiện bình thường và khi thị trường biến động Dựa trên một tập hợp lớn các tiền tệ, nghiên cứu thực nghiệm của tác giả đã tìm thấy bằng chứng về sự phụ thuộc trung bình với tương quan dương có ý nghĩa giữa vàng và sự giảm giá của đồng USD, phù hợp với thực tế là vàng có thể đóng vai trò như tài sản phòng ngừa đối với những thay đổi trong tỷ giá đồng USD, và sự phụ thuộc đuôi mang tính hệ thống giữa vàng và tỷ giá USD, hàm ý rằng vàng có thể đóng vai trò như là kênh trú ẩn an toàn có hiệu quả đối với những biến động quá mức trong tỷ giá đồng USD Roberedo (2014) tiếp tục nghiên cứu vai trò vàng vàng là công cụ phòng ngừa và nơi trú ẩn an toàn khi USD giảm giá, bằng cách sử dụng phương pháp LR (likelihood ratio test) kết quả cũng cho thấy, vàng là công cụ phòng ngừa rủi ro, nhưng là kênh trú ẩn an toàn yếu đối với biến động của USD
Trang 18Bên cạnh đấy việc nghiên cứu vàng trong việc giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư tiền tệ cũng đã được một vài tác giả nghiên cứu Roberedo (2014) đã sử dụng phân tích đa phân giải Wavelet trong giai đoạn từ tháng 1/2000 đến tháng 3/2013, xác định đặc tính phụ thuộc lẫn nhau giữa thị trường giá vàng và tỷ giá trong các khoản thời gian khác nhau Tìm thấy được sự phụ thuộc dương giữa giá vàng và sự mất giá của đồng USD Đồng thời tác giả cũng đã xem xét các loại khác nhau của danh mục đầu tư ở thời gian khác nhau, so sánh các rủi ro cho danh mục đầu tư vàng – tiền tệ trộn với nhau với các rủi ro đối một đồng tiền duy nhất trong danh mục đầu tư Từ đó đã xác định tính hữu dụng của vàng trong việc bảo hiểm rủi ro tiền tệ và quản lý rủi ro thua lỗ trong khoảng thời gian đầu tư khác nhau Phát hiện này đã giúp cho các nhà đầu tư tiền tệ lựa chọn được danh mục đầu tư hợp lý Wong
và cộng sự (2015) đã nghiên cứu vai trò của vàng niêm yết trên Sở Giao dịch Vàng Thượng Hải trong việc đa dạng hóa danh mục đầu tư của Trung Quốc Với giai đoạn 2004-2014, kết quả cho thấy nói chung các nhà đầu tư không thích rủi ro không thích danh mục đầu tư của mình bao gồm vàng, trong khi các nhà đầu tư mạo hiểm thích bao gồm vàng trong danh mục đầu tư chứng khoán, trái phiếu của họ, đặc biệt là trong thời kỳ khủng hoảng Trong năm 2015 tác giả Wong và cộng sự (2015) tiếp tục đánh giá vai trò của vàng tại thị trường chứng khoán ở Paris trong việc đa dạng hóa danh mục đầu tư của Pháp 1949-2012 sử dụng phương pháp thống trị ngẫu nhiên (SD) Các tác giả nghiên cứu thấy rằng các nhà đầu tư không thích rủi
ro sẽ được tốt hơn bằng cách bao gồm vàng trong danh mục đầu tư chứng khoán của họ để tối đa hóa các tiện ích dự kiến của họ, đặc biệt là trong thời gian nền kinh
tế không ổn định hoặc khủng hoảng Kết quả cho thấy vàng là tốt cho việc đa dạng hóa danh mục đầu tư chứng khoán, tuy nhiên nhưng không phải cho danh mục đầu
tư trái phiếu
Gần đây tác giả Huỳnh Thị Thúy Vy (2015) sử dụng dữ liệu trong vòng gần
11 năm từ năm 2004 đến năm 2014, tác giả đã đánh giá vai trò của vàng như là công cụ phòng ngừa rủi ro và là kênh trú ẩn an toàn đối với VND, bằng cách sử dụng các hàm Copula để mô tả sự phụ thuộc giữa vàng và VND trong điều kiện
Trang 19thị trường khác nhau Sử dụng dữ liệu suất sinh lợi theo tuần của vàng và bộ 3 tỷ giá hối đoái VND, bài viết không tìm thấy sự phụ thuộc giữa vàng và VND ở điều kiện thị trường bình thường, điều này cho thấy vàng không được sử dụng như là một công cụ phòng ngừa rủi ro đối với biến động của VND Bên cạnh đó, bài viết đã đóng góp vào việc tìm thấy sự phụ thuộc giữa vàng và VND khi thị trường biến động cực độ đi lên, cho thấy vàng có thể hoạt động như một kênh trú
ẩn an toàn khi VND giảm giá
Trang 20KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Có thể khẳng định vàng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, trong đó vai trò phòng ngừa rủi ro là mối quan tâm của rất nhiều thành phần trong nền kinh
tế, bao gồm Chính phủ, các tổ chức, các nhà đầu tư, và kể cả người dân Vì vậy, đã
có rất nhiều nghiên cứu về vai trò của vàng đối với nền kinh tế của một đất nước cũng như thế giới: Nghiên cứu vai trò của vàng đối với thị trường chứng khoán; vai trò của vàng như là công cụ phòng ngừa lạm phát, sự biến động giá dầu, lãi suất hay là vai trò của vàng đối với biến động tỷ giá hối đoái…
Trong các nghiên cứu trước đây về vấn đề vàng và tỷ giá hối đoái, các nghiên cứu hầu hết đều tập trung vào một mối quan hệ tuyến tính hơn là phi tuyến tính Có một vài tác giả nghiên cứu vai trò của vàng đối với tỷ giá hối đoái sử dụng mô hình phi tuyến tính trên thế giới Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào xem thử vàng có phải là công cụ phòng ngừa biến động đối với tỷ giá hối đoái VND sử dụng mô hình phi tuyến tính TVAR
Trang 21CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp nghiên cứu
Để kiểm định xem vàng có phải là công cụ phòng ngừa rủi ro đối với biến động tỷ giá VNĐ hay không, trước hết tác giả kiểm định mối quan hệ giữa các biến trong mô hình là mối quan hệ tuyến tính hay là phi tuyến sử dụng phương pháp tiếp cận Tsay (1998) với thay đổi trong tỷ suất sinh lợi của đồng nội tệ (e t d ) như là biến ngưỡng của mô hình
Bước đầu tiên là tiến hành các thử nghiệm để xác định độ trễ tối ưu của mô hình VAR
Bước thứ hai là kiểm tra mô hình VAR là tuyến tính hay phi tuyến: Có hai giả thuyết được đưa ra: Thứ nhất mô hình là tuyến tính (mô hình VAR) và thứ hai
mô hình này là phi tuyến tính (mô hình TVAR)
Nếu giả thuyết mô hình là tuyến tính bị bác bỏ, và kết quả kiểm định chỉ ra rằng mô hình là phi tuyến tính, thì bước thứ ba là tìm các giá trị của hai tham số: tham số trễ của biến ngưỡng (d) và giá trị ngưỡng (γ) Sau khi ta tìm được giá trị ngưỡng tối ưu và các tham số trễ, các mô hình TVAR phù hợp nhất có thể được xây dựng
Cuối cùng tác giả sử dụng kiểm định Wald để kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa các biến cũng như các ràng buộc cần thiết để có thể xác nhận vàng có phải là công cụ phòng ngừa đối với biến động tỷ giá VND hay không
Trang 22Kiểm định tính dừng (Stationary) của các biến TTSL Vàng và TSSL VND
Xác định độ trễ tối ưu cho mô
Kiểm định Causality và kiểm
định Wald trên các ràng buộc
cần thiết để xác nhận xem vàng
có phải là công cụ phòng ngừa
rủi ro đối với tỷ giá VND
Kiểm định số ngưỡng và độ trễ
của biến ngưỡng
Kiểm định Causality và kiểm định Wald trên các ràng buộc cần thiết ứng với các “regimes”
đã được xác lập để xác nhận xem vàng có phải là công cụ phòng ngừa rủi ro đối với tỷ giá
VND hay không?
Xác định các “regimes” ứng với các giá trị ngưỡng đã được tìm
thấy
Trang 233.2 Mô hình nghiên cứu
Khi nào vàng được xem là có vai trò là công cụ phòng ngừa của đối với sự biến động của tiền tệ? Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thế nào là công cụ phòng ngừa Baur và Lucey (2010), Reboredo (2013) đã đưa ra định nghĩa như sau:
- Hedge (công cụ phòng ngừa): một tài sản là một công cụ phòng ngừa rủi
ro nếu nó tương quan âm với một tài sản hoặc danh mục đầu tư khi thị trường ở điều kiện bình thường
Như vậy vàng có khả năng như là công cụ phòng ngừa chống lại những thay đổi trong biến động của đồng nội tệ, đó là, về cơ bản, khi đồng nội tệ tăng giá (tỷ giá giảm) thì giá vàng ở trong nước giảm cùng lúc và cùng mức độ Ngược lại khi tỷ giá tăng tức là đồng nội tệ bị mất giá thì giá vàng sẽ tăng ở chính xác cùng lúc và cùng mức độ
3.2.1 Định nghĩa TVAR
Theo Lutkepohl (2006), từ khi xuất hiện của mô hình vector tự hồi quy tuyến tính hơn ba mươi năm trước (Sims, 1980), thì Linear VAR đã được xem như là một công cụ ước lượng và dự báo mô hình kinh tế vĩ mô chủ lực Mô hình Linear VAR
đã được áp dụng trong các tình huống mô hình hóa kinh tế khác nhau và phát triển
đa dạng theo nhiều cách
Mặc dù mô hình VAR tuyến tính đã giúp mô hình hóa các vấn đề nghiên cứu kinh tế khá tốt, tuy nhiên vẫn có rất nhiều tình huống mà mô hình VAR phi tuyến sẽ thích hợp hơn Chẳng hạn có những lý thuyết kinh tế cần phải sử dụng một mô hình phi tuyến hoặc có những trường hợp chuỗi số liệu quan sát theo thời gian chỉ ra rằng các biến của mô hình có mối quan hệ phi tuyến tính Ví dụ các cuộc khủng hoảng tài chính gần đây cho thấy rằng các mối quan hệ định lượng giữa các biến vĩ
mô trong nền kinh tế đòi hỏi mô hình hóa phi tuyến thay vì tuyến tính Mô hình phi tuyến cũng có thể hữu ích trong phân tích chính sách tiền tệ Những cú sốc tích cực
Trang 24hay tiêu cực trong chính sách tiền có thể có hiệu ứng bất đối xứng lên nền kinh tế,
và như vậy hiệu ứng này có thể cần mối quan hệ phi tuyến Mô hình VAR phi tuyến cũng có thể có vai trò quan trọng trong các nghiên cứu về hiệu ứng của chính sách tài khóa Các hiệu ứng của chính sách tài khóa hầu như phụ thuộc vào các giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh doanh, và việc nghiên cứu hiệu ứng số nhân tài khóa (Fiscal multiplier effects) có thể yêu cầu các công cụ định lượng phi tuyến
Có nhiều cách khác nhau để mô hình hóa các mối quan hệ phi tuyến trong kinh tế Các mô hình phổ biến hàng đầu là các mô hình phi tuyến VAR tham số như là: Vector ngưỡng tự hồi quy (TVAR), Vector ngưỡng tự hồi quy chuyển đổi trơn (VSTAR) và mô hình tự hồi quy vector Markov-switching (VMSAR) Hai mô hình đầu tiên khác với mô hình thứ ba ở chổ tất cả các biến ngưỡng là quan sát được, trong khi đó ở các mô hình VMSAR biến ngưỡng không quan sát được, tiềm ẩn nhưng đóng vai trò trung tâm của mô hình
Tiếp đến sự lựa chọn giữa mô hình TVAR và VSTAR phụ thuộc vào vấn đề kinh tế cụ thể cần được nghiên cứu Các mô hình TVAR được thiết kế để mô tả những tình huống trong đó hành vi của các biến ngưỡng có thể được tự xác định nội tại và từ đó xác định các chế độ chuyển đổi mối quan hệ khác nhau giữa các biến nghiên cứu Mô hình VSTAR có thể được sử dụng trong trường hợp cần mô hình hóa sự chuyển đổi trơn liên tục giữa 2 (hay nhiều hơn) các mối quan hệ tuyến tính giữa các biến nghiên cứu
Hồi quy vector chuyển mạch (VSTAR) và mô hình ngưỡng tự hồi quy (TVAR) là mô hình khái quát đơn giản của mô hình phương trình tương ứng Các
mô hình VSTAR được định nghĩa như sau:
Trang 25Và nếu khi i=0 với tất cả mọi i thì mô hình trên trở thành mô hình TVAR
Các mô hình TVAR có thể được khái quát hóa theo những cách khác nhau
Có thể thêm các ngưỡng và biến ngưỡng từ đó mà các mô hình chuyển mạch được
điều khiển bởi nhiều biến hơn Một trong những mô hình này là một sự tổng quát đa
biến của Nested TAR (NTAR) mô hình đơn biến bởi Astatkie, Watts và Watt
(1997) Đây là một mô hình bốn chế độ với các hình thức sau đây:
Trong đó t iid0, và do đó không thể chuyển đổi Trong mô hình
này, ngưỡng đầu tiên biến s1t điều khiển chuyển mạch như trong phương trình (1)
Nhưng sau đó, hai trạng thái giữa mà quá trình chuyển mạch theo s1t có thể thay đổi
do ngưỡng khác biến s2t: Các mô hình TVAR tiêu chuẩn như vậy lồng vào nhau
trong mô hình tổng quát hơn Vector NTAR (VNTAR)
Trang 263.2.2 Xây dựng và kiểm định các giả thuyết
Mô hình vector ngưỡng tự hồi quy là mô hình được nghiên cứu và phát triển bởi Tong (1978) và đến năm 1980 Tong và Lim sử dụng một giá trị ngưỡng tối ưu để phân chia các trạng thái ngắn hạn của một chỉ số kinh tế thành hai chế
độ Mô hình được thiết lập như sau:
t p
j
j t j j
r
y
d t j
1
Với t iid ( 0 , 2)
Mô hình này được sử dụng để mô tả những mô hình gần đơn vị gốc Điều đó
có nghĩa là mô hình có thể tìm thấy là tĩnh nhưng thực tế là dao động trong giới hạn
Ví dụ lãi suất hoặc tỷ lệ thất nghiệp hàng loạt
Khi có nhiều chế độ, mô hình ngưỡng tự hồi quy có thể được chuyển đổi thành một mô hình TVAR như sau:
Trang 27Với ε có các tính chất sau:
*
* ,
( ) iid , E ( /t t ) 0
Và E ( t2 / t1) 2
Trong đó: Ωt-1 là thông tin thiết lập trong thời kỳ t-1;
I (‧) là các chỉ số của chế độ, và nó được giả định rằng I(qt-d > γ)
= 1 nếu có tồn tại chế độ nếu ngược lại không có chế độ thì I (qt-d ≤ γ) = 0
Chúng ta phải kiểm tra sự tồn tại của hiệu ứng ngưỡng trong phương trình trước khi đánh giá mô hình TVAR Đề tài thực hiện theo các phương pháp tiếp cận của Tsay (1989) để kiểm tra tuyến tính mô hình Có hai giả thuyết được đưa ra:
Thứ nhất là: Giả thuyết mô hình là tuyến tính (mô hình VAR)
Thứ hai là: Giả thuyết khác cho rằng mô hình này là phi tuyến tính (mô hình TVAR)
Nếu giả thuyết mô hình là tuyến tính bị bác bỏ, mà chỉ ra rằng mô hình này
là phi tuyến tính, thì bước tiếp theo là tìm các giá trị của hai tham số: tham số trễ d
và giá trị ngưỡng γ
Giả sử p, q và các chế độ được biết đến Ngưỡng biến zt xác định sự xuất hiện của mô hình trong hai chế độ:
1/ 2 '
1/ 2 '
t t t d t
t t t d
X a If z y
Trang 29Trong phương trình trên, khi Δet-d > γ, điều này chỉ ra rằng tỷ lệ biến động của tỷ giá hối đoái là lớn hơn giá trị ngưỡng Tác giả đặt tên là “Chế độ 1”; nếu không, tác giả gọi nó là “chế độ 2” khi Δet-d < γ
Tác giả sử dụng các bài kiểm tra hệ số Wald để kiểm tra các mối quan hệ nhân quả giữa các biến để xác nhận quan hệ nhân quả của các hiệu ứng biến động trong ngắn hạn Sử dụng các ký hiệu của phương trình (2) giả thuyết của mô hình kiểm tra quan hệ nhân quả có thể được thể hiện cùng với chế độ 1 (chế độ 2) như sau:
cũng có thể cung cấp dấu hiệu của quan hệ nhân quả giữa Δe và Δg Khi các giả thuyết bị bác bỏ và tổng hệ số là dương, điều này chỉ ra rằng vàng có thể như là một hàng rào hiệu quả chống lại sự biến động tỷ giá hối đoái
Bên cạnh kiểm tra các quan hệ nhân quả giữa Δe và Δg, chúng ta có thể kiểm tra các quan hệ nhân quả ngược giữa Δg và Δe
Nếu giả thuyết:
0 : 1 ,1i 0 , i 1, , p 0 : 2 ,1i 0
H H
Nó có nghĩa là Δg không gây Δe Sự từ chối của giả thuyết này chỉ ra rằng
sự biến động của giá vàng gây ra biến động tỷ giá Và ta cũng dựa trên các hệ số
chúng ta có thể xác định hướng của những tác động ngắn hạn của sự biến động của vàng có tác động đến tỷ giá hối đoái trong chế độ 1 (chế độ 2)
Trang 30Với các kết quả của việc kiểm tra quan hệ nhân quả và những phân tích tham số độ trễ, chúng ta có thể kiểm tra xem liệu việc đầu tư vào vàng có thể tránh được những sự biến động của đồng nội tệ hay không
3.2.3 Phương pháp ước lượng
Mục đích của đề tài là để kiểm tra ở mức độ nào của sự biến động tỷ giá hối đoái thì vàng có thể phục vụ như là một công cụ phòng ngừa chống lại sự mất giá
của đồng VND Để đạt được mục tiêu này, đề tài xác định các mô hình như sau:
g t là giá vàng
Để đo sự thay đổi của tỷ giá và vàng ta có công thức sau:
Δet = ln(et /et-1) x100 biểu thị tốc độ thay đổi của et;
Δgt = ln(gt /gt-1) x100 biểu thị sự thay đổi của vàng
Khi f '> 0, điều này chỉ ra rằng sự thay đổi của vàng là đủ lớn để che đi những mất mát từ những thay đổi trong sức mua của đồng nội tệ Tùy thuộc vào tình trạng của Δet, phương trình được viết lại như sau:
1
2
( ) ( )
Trong đó: γ là giá trị ngưỡng của sự biến động của tỷ giá hối đoái; do đó,
γ có thể được sử dụng để phân chia các chế độ trong mô hình ngưỡng này
3.3 Dữ liệu
Luận văn thực hiện việc nghiên cứu xem thử vàng có phải là công cụ phòng ngừa rủi ro đối với sự biến động Việt Nam đồng cho các nhà đầu tư hay không Luận văn sử dụng dữ liệu hàng tháng trong khoảng hơn 11 năm từ tháng 1/2004 đến tháng 8/2015 Giá vàng được sử dụng là giá vàng SJC tính bằng VND/lượng
Trang 31Và tỷ giá VND được tính bằng số VND trên một đơn vị ngoại tệ theo phương pháp trực tiếp (tức là khi tỷ giá hối đoái tăng lên nghĩa là đồng VND bị mất giá)
Dữ liệu tỷ giá hối đoái được chọn là năm đồng tiền và được giao dịch hàng tháng như sau: đồng đô la Mỹ (USD); đồng bảng Anh (GBP); đồng Euro (EUR); đồng Yên Nhật (JPY) và đồng Nhân dân tệ (CNY) tại ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam
Lý do tác giả lựa chọn 5 đồng tiền này vì ba đồng tiền: đô la Mỹ (USD); đồng bảng Anh (GBP); đồng Euro (EUR) là 3 đồng tiền mạnh hiện nay Bên cạnh
đó Nhật Bản và Trung Quốc là hai nước mà Việt Nam có hoạt động thương mại lớn Hiện Việt Nam là quốc gia có mối quan hệ sâu rộng với Trung Quốc Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Với Nhật Bản đến nay thì Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, nhà đầu tư số 1 tại Việt Nam (cả về tổng vốn đầu tư và vốn đã giải ngân), và là đối tác thương mại lớn thứ
4 của Việt Nam, bên cạnh đó Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam
Vì vậy tác giả lựa chọn thêm hai đồng tiền Yên Nhật (JPY) và đồng Nhân dân tệ (CNY) để thực hiện đề tài Dữ liệu được cung cấp tại gói dữ liệu tại trang Web www.vietstock.vn
Trang 32CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Sơ lược sự biến động của tỷ giá VND và giá vàng
Hình 4.1 trình bày về sự biến động của tỷ giá VND cho các loại tiền tệ và giá vàng trong cùng khoảng thời gian từ tháng 1/2004 đến tháng 8/2015
Đối với sự biến động của USD/VND và giá vàng có thể thấy đi theo nhiều chiều hướng khác nhau Chẳng hạn trong giai đoạn từ đầu năm 2004 đến giữa năm
2007 tỷ giá và giá vàng đều tăng, đến giai đoạn từ giữa năm 2007 đến đầu năm
2013 giá vàng liên tục tăng trong khi đấy tỷ giá USD/VND liên tục biến động có lúc tăng, lúc giảm Từ đầu năm 2013 đến nay giá vàng lại có chiều hướng đi xuống trong khi đồng VNĐ liên tục bị mất giá làm cho tỷ giá USD/VND lại có chiều hướng tăng lên
Sự biến động của đồng EUR/VND và giá vàng cũng thay đổi liên tục Trong giai đoạn từ đầu năm 2004 đến đầu năm 2013 giá vàng liên tục tăng trong khi tỷ giá EUR/VND biến động và thay đổi chiều hướng rất nhiều lần Từ khoảng tháng 9/2011 đến tháng đầu năm 2013 hai biến tỷ giá EUR/VND và giá vàng đi theo hai chiều hướng ngược nhau, trong khi giá vàng liên tục tăng mạnh thì tỷ giá lại có xu hướng giảm mạnh Trong giai đoạn từ năm 2013 giá vàng đi xuống thì tỷ giá lại liên tục biến động lên xuống
Tương tự như sự biến động của hai đồng tiền trên sự biến động của đồng GBP/VND; CNY/VND; JPY/VND và giá vàng cũng không theo một xu hướng nào cả
Từ những phân tích cho thấy rằng sự biến động của vàng và tỷ giá USD/VND, EUR/VND, GBP/VND; CNY/VND; JPY/VND có thể là phi tuyến tính hơn là tuyến tính; do đó rất thích hợp để ta sử dụng mô hình phi tuyến tính để giải thích mối quan hệ giữa 5 đồng tiền này và giá vàng
Trang 34CNY/VND GIÁ VÀNG
Trang 35Để kết quả hồi quy là nhất quán và không bị giả tạo, tất cả các biến đều phải
là chuỗi dừng Trong bài này, ta sử dụng 4 phương pháp khác nhau để tiến hành các thử nghiệm đơn vị gốc: các thử nghiệm Augmented Dickey-Fuller, kiểm tra Phillips-Perron, kiểm tra Dickey-Fuller GLS, kiểm tra Ng và Perron MZa Kết quả kiểm định cho thấy các biến đều dừng
Trang 36Bảng 4.1 Kết quả kiểm định tính dừng
Trang 37CNY/VND exchange rate JPY/VND exchange rate
Nguồn: tính toán của tác giả
Ghi chú: Những con số trong ngoặc ( ) là chiều dài lag thích hợp được lựa chọn bởi các tiêu chí trong ADF (Augmented Dickey-Fuller), PP (Phillips-Perron), DF-GLS (Dickey-Fuller), NP-Mza (Ng và Perron Mza) Trong các thử nghiệm PP, được xác định bằng cách sử dụng điều chỉnh Newey-West
***; ** và * cho thấy có ý nghĩa ở mức 1%; 5% và 10% tương ứng
4.2.2 Kiểm tra mối quan hệ tuyến tính giữa các biến trong mô hình
Trước khi xây dựng mô hình TVAR, chúng ta phải chắc chắn rằng liệu có tồn tại một mối quan hệ phi tuyến tính giữa các biến
Bước đầu tiên để tiến hành các thử nghiệm là để quyết định thời gian độ trễ tối ưu Dựa trên các phương pháp: phương pháp sai số hoàn toàn xác định trước (FPE), phương pháp tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC), phương pháp thông tin tiêu chuẩn Schwarz (SC), và phương pháp tiêu chuẩn Hannan-Quinn (HQ) và phương pháp LR
Trang 38Bảng 4.2 Độ trễ tối ưu theo mô hình VAR GOLD –GBP/VND
Trang 40Sau khi xác định được độ trễ tối ưu theo mô hình VAR, bước tiếp theo là kiểm tra tuyến tính của mô hình Có hai giả thuyết được đưa ra:
Thứ nhất mô hình là tuyến tính (mô hình VAR)
Thứ hai mô hình này là phi tuyến tính (mô hình TVAR)