1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tìm hiểu về các chính sách và công cụ quản lý việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu

26 401 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 225 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, giải quyết hài hoà giữa việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp với việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và môi trường là một thách thức lớn đối với cơ quan qu

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một

số nguyên liệu cho công nghiệp Việt Nam hiện có hơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Các hoạt động của ngành đã góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân, xóa đói giảm nghèo tại nhiều địa phương Cùng với sự phát triển, hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn đã gây ra nhiều tác động đến môi trường Việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật chưa đúng kỹ thuật đã gây tồn dư nhiều hóa chất độc hại trong môi trường đất và môi trường nước, không khí

Phân bón là vật tư quan trọng, góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản Phân bón khi sử dụng sẽ để lại một lượng không nhỏ dư lượng do không được cây trồng hấp thụ, sẽ tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái nông nghiệp cũng như làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và có thể gây đột biến gen đối với một số loại cây trồng

Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV hai là yếu tố rất quan trọng

để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người Thuốc BVTV là một loại vật

tư kỹ thuật quan trọng góp phần hạn chế dịch hại, bảo vệ cây trồng, giữ vững

và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản Tuy nhiên, do các loại

thuốc BVTV thường là các chất hoá học có độc tính cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại với sức khoẻ cộng đồng và là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái Lạm dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại, tùy tiện không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến hậu quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng ruộng bị ô nhiễm Việc sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật làm cho sâu bệnh quen thuốcgây ra hiện tượng kháng thuốc BVTV, mặt khác do sử dụng nhiều loại thuốc BVTV làm cho các loài sinh vật có ích (thiên địch) bị tiêu diệt, gây mất cân bằng sinh thái và như vậy sâu bệnh hại càng phát triển mạnh hơn và nông dâncàng dùng thuốc nhiều hơn Chất lượng môi trường nước, đất bị suy giảm, tácđộng xấu tới các loại động vật hoang dã Gây độc hại cho bầu khí quyển, ảnh hưởng tới sức khỏe con người

Vì vậy, giải quyết hài hoà giữa việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp với việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và môi trường là một thách thức lớn đối với cơ quan quản lý nhà nước Do đó, nhóm

em đã thực hiện đề tài: " Tìm hiểu về các chính sách và công cụ quản lý việc

Trang 2

sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu" để từ đó có cái

nhìn tổng quan về hiệu quả của việc quản lý, đưa ra các nhận định và giải pháp để công tác quản lý tốt hơn Do năng lực và thời gian hạn hẹp bài làm còn nhiều thiếu sót rất mong thầy góp ý và bổ sung

II Tổng quan về các công cụ

1 Công cụ mệnh lệnh kiểm soát

Kể từ khi chính sách môi trường được chấp nhận ở các nước phát triển, mệnh lệnh và điều khiển là biện pháp chủ yếu để quản lý môi trường Phươngpháp này trực tiếp điều khiển khống chế mức ô nhiễm sử hệ thống giám sát vàcưỡng chế

Ở Việt Nam, công cụ mệnh lệnh điều khiển cũng đã được cơ quan quản lý môi trường sử dụng triệt để để quản lý đối với phân bón, thuốc trừ sâu Trong thời gian qua nhiều chính sách đã được ban hành, nhóm chúng em chỉ xin đề cập đến một số chính sách ban hành trong thời gian gần đây:

1.1 Thông tư về việc ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sửdụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam ngày 20/5/2010

Những danh mục thuốc bảo vệ thực vật được nhắc đến trong thông tư này sẽ được phép sử dụng, hạn chế sử dụng hay cấm sử dụng tùy theo quy định

 Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam, Phụ lục 1 kèm theo gồm:

a) Thuốc sử dụng trong Nông nghiệp:

- Thuốc trừ sâu: 542 hoạt chất với 1361 tên thương phẩm

- Thuốc trừ bệnh: 374 hoạt chất với 937 tên thương phẩm

- Thuốc trừ cỏ: 169 hoạt chất với 517 tên thương phẩm

- Thuốc trừ chuột: 10 hoạt chất với 17 tên thương phẩm

- Thuốc điều hoà sinh trưởng: 48 hoạt chất với 126 tên thương phẩm

- Chất dẫn dụ côn trùng: 8 hoạt chất với 9 tên thương phẩm

- Thuốc trừ ốc: 20 hoạt chất với 105 tên thương phẩm

- Chất hỗ trợ (chất trải): 5 hoạt chất với 6 tên thương phẩm

b)Thuốc trừ mối: 10 hoạt chất với 12 tên thương phẩm

c)Thuốc bảo quản lâm sản: 5 hoạt chất với 7 tên thương phẩm

d)Thuốc khử trùng kho: 5 hoạt chất với 5 tên thương phẩm

e)Thuốc sử dụng cho sân golf

 Danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng ở Việt Nam, Phụ lục

2 kèm theo gồm:

a)Thuốc sử dụng trong Nông nghiệp

- Thuốc trừ sâu: 5 hoạt chất với 10 tên thương phẩm

Trang 3

- Thuốc trừ chuột: 1 hoạt chất với 3 tên thương phẩm

b)Thuốc trừ mối: 2 hoạt chất với 2 tên thương phẩm

c)Thuốc bảo quản lâm sản: 5 hoạt chất với 5 tên thương phẩm

d)Thuốc khử trùng kho: 3 hoạt chất với 9 tên thương phẩm

 Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng ở Việt Nam gồm:

a) Thuốc trừ sâu, thuốc bảo quản lâm sản: 21 hoạt chất

 Danh mục bổ sung phân bón được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam gồm 262 loại, được chia thành:

a Phân khoáng đơn: 01 loại;

b Phân hữu cơ: 03 loại;

c Phân vi sinh vật: 04 loại;

d Phân hữu cơ vi sinh: 22 loại;

đ Phân hữu cơ sinh học: 12 loại;

e Phân hữu cơ khoáng: 37 loại;

g Phân bón lá: 182 loại;

h Phân bón có bổ sung chất tăng hiệu suất sử dụng phân bón: 01 loại

 Danh mục các loại phân bón đã có tên trong Danh mục phân bón đượcphép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam nhưng có sự thay đổi

về tên, tổ chức, cá nhân đăng ký, gồm 78 loại

1.3 Thông tư 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/6/2010 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Quy định về quản lý thuốc BVTV:

Thông tư này quy định về đăng ký; sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói; xuất khẩu, nhập khẩu; buôn bán; bảo quản, vận chuyển; sử dụng; tiêu hủy; nhãn; bao bì; hội thảo, quảng cáo; khảo nghiệm, kiểm định chất lượng và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam

1.4 Quy định về việc cấp chứng chỉ hành nghề sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật: Đây là văn bản do Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp cho cá nhân có đủ trình độchuyên môn nghề nghiệp để hành nghề sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói hoặc hành nghề buôn bán thuốc bảo vệ thực vật

Trang 4

Ngoài ra còn có nhiều thông tư và văn bản liên quan khác buộc các tổ chức và cá nhân có sản xuất, kinh doanh, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật phải tuân thủ.

 Ưu điểm của công cụ mệnh lệnh kiểm soát

Việc áp dụng công cụ mệnh lệnh điều khiển mang tính pháp lý cao buộccác tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón, thuốc BVTVphải tuân thủ

Công cụ này có khả năng áp dụng rộng rãi

 Nhược điểm của công cụ mệnh lệnh kiểm soát

Ở nước ta, việc quản lý các loại thuốc BVTV nhập khẩu còn khá lõng lẻo Ở các nước chỉ cho phép nhập thuốc BVTV không quá 2 hoạt chất, trong khi các sản phẩm thuốc BVTV nhập về nước ta thường là hỗn hợp có 3 – 4 hoạt chất Điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp gia tăng hành vi gian lận

Trình độ nhận thức của người dân chưa cao nên chưa có khả năng trong việc phân biệt giữa phân bón, thuốc BVTV thật và giả

Bên cạnh đó, các công ty bán thuốc BVTV thường đưa nhân viên về tiếp thị sản phẩm ngay tại địa phương nhưng lại chưa có chứng chỉ hành nghề Điều này gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động quản lý

Việc tồn tại những của hàng buôn bán phân bón, thuốc BVTV nhỏ lẻ, hoạt động theo mùa vụ đã gây khó khăn cho việc quản lý kinh doanh và sử dụng phân bón, thuốc BVTV; tình trạng phân bón, thuốc BVTV ngoài danh mục cho phép vẫn nhập lậu gây ảnh hưởng đến công tác quản lý ở nhiều nơi

Do lực lượng cán bộ Thanh tra Sở NN&PTNT còn mỏng, khối lượng công việc nhiều, phương tiện đi lại khó khăn, trang thiết bị phục vụ việc thanhtra, kiểm tra thiếu nên khó có thể thanh tra, kiểm tra hết tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh phân bón, thuốc BVTV

2 Công cụ kinh tế

Bên cạnh các công cụ mệnh lệnh và kiểm soát, để công tác quản lý được hiệu quả hơn nhà nước ta có áp dụng một số công cụ kinh tế sau đây:

2.1 Luật Thuế bảo vệ môi trường

Luật Thuế BVMT mới được thông qua và sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2011.Đây là quy định thuế đánh vào nguyên liệu/sản phẩm, bao gồm 8 nhóm sản

Trang 5

phẩm: xăng dầu ( xăng các loại, nhiên liệu bay, dầu diezel, dầu hỏa, dầu mazut, dầu nhờn, mỡ nhờn ), than, môi chất làm sạch chứa HCFC, túi nhựa xốp (túi nilon) và thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng ( thuốc

sử dụng trong nông nghiệp, thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản và thuốc khử trùng kho ) Một điểm đáng lưu ý là thuế BVMT được định nghĩa là “loạithuế giãn thu, thu vào một số sản phẩm, hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường” Định nghĩa này là định nghĩa hẹp của thuế BVMT vì mới đề cập đến loại thuế nguyên liệu/sản phẩm chứ chưa bao hàm loại thuế đánh vào đơn vị ônhiễm xả thải ra môi trường

Người nộp thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường qui

định tại Điều 3 Luật này

Biểu khung thuế

Mức thuế tuyệt đối qui định theo Biểu khung dưới đây:

Trang 6

Thuế BVMT đã thể hiện được nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Nghĩa là khi các tổ chức, cá nhân sử dụng các nguyên liệu/ sản phẩm tác động xấu đến môi trường có trong quy dịnh của bộ luật tjif phải nộp thuế Đây coi như là khoản tiền đóng góp nhằm góp phần cải thiện chất lượng môi trường.

Thu thuế BVMT góp phần tăng ngân sách của chính phủ và hạn chế phần nào việc sử dụng không hiệu quả

 Nhược điểm

Bên cạnh các ưu điểm thì Thuế BVMT cũng tồn tại các mặt hạn chế:Loại thuế này chỉ khuyến khích gây ô nhiễm mà không khuyến khích đầu tư xử lý ô nhiễm trong quá trình sản xuất ra sản phẩm đó Vì vậy, tác động giảm ô nhiễm của loại thuế này chỉ là tác động gián tiếp (thông qua việc sản xuất ít đi) chứ không phải tác động trực tiếp vào quá trình phát thải ô nhiễm

Đối với những hàng hóa thuộc loại xa xỉ thì loại thuế này có tác dụng nhiều trong việc hạn chế ô nhiễm (thông qua hạn chế tiêu dùng/sản xuất) nhưng với hàng hóa thiết yếu thì loại thuế này ít có tác dụng giảm ô nhiễm

Loại thuế này đánh thuế tuyệt đối nên với tình hình lạm phát như hiện nay, giá cả không ngừng leo thang thì việc áp dụng trong lâu dài là không hiệu quả

Để Thuế BVMT đi vào hoạt động cần có một bộ máy hoạt động có kinh nghiệm và đông đảo để thanh tra, kiểm tra, xác định đối tượng thu thuế, mức thuế phải đóng

2.2 Thuế nhập khẩu phân bón

Thuế nhập khẩu là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh

thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu.Khi phương tiện vận tải (tàu thủy, máy bay, phương tiện vận tải đường bộ hayđường sắt) đến cửa khẩu biên giới (cảng hàng không quốc tế, cảng sông quốc

tế hay cảng biển quốc tế, cửa khẩu biên giới bộ) thì các công chức hải quan sẽtiến hành kiểm tra hàng hóa so với khai báo trong tờ khai hải quan đồng thời tính số thuế nhập khẩu phải thu theo các công thức tính thuế nhập khẩu đã quy định trước

Thuế nhập khẩu phân bón là loại thuế mà nước ta đánh vào mặt hàng phân bón có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá thình nhập khẩu

Để quản lý việc buôn bán và sử dụng phân bón Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 120/2010/TT-BTC ngày 11/8/2010 điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng phân bón quy định tại Danh mục mức thuế suất của Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Thông

Trang 7

tư số 216/2009/TT-BTC.ngày 12/11/2009 của Bộ Tài chính về việc quy định mức thuế suất của Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danhmục mặt hàng chịu thuế, thành mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mới tại Danh mục thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi một số mặt hàng phân bón ban hành kèm theo thông tư này.

Theo đó, tăng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi từ 5% lên 6,5% đối với một số mặt hàng thuộc nhóm 3103 và 3105, bao gồm: superphosphat mã 3103.10.10.00 (loại dùng làm thức ăn chăn nuôi), mã 3103.10.90.00 (loại khác) và mã 3103.90.10.00 (phân phosphat đã nung); superphosphat và phân phosphat đã nung ở dạng viên hoặc các dạng tương tự hoặc đóng trong bao bì (mã 3105.10.00.10), phân khoáng hoặc phân hoá học có chứa ba nguyên tố là nitơ, phospho, kali, ở dạng viên hoặc các dạng tương tự hoặc đóng trong bao

bì (mã 3105.10.00.20), superphosphat ở dạng viên hoặc các dạng tương tự hoặc đóng trong bao bì (mã 3105.10.00.30) và phân khoáng hoặc phân hóa học có chứa ba nguyên tố là nitơ, phospho và kali (mã 3105.20.00.00)

 Ưu điểm

Giảm nhập khẩu phân bón bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại Đồng thời hạn chế mức độ sử dụng quá nhiều của người dân như hiện nay Nếu như thuế nhập khẩu phân bón là bằng 0% thì lượng phân bón trên thị trường quá nhiều dẫn tới giá hàng hóa rẻ hơn nhiều sovới các nước khác Điều tất yếu người nông dân sẽ sử dụng quá mức cần thiết.Một khi thuế nhập khẩu phân bón tăng lên làm cho các doanh nghiệp nhập khẩu phân bón sẽ hạn chế lượng nhập khẩu, đẩy giá hàng hóa lên cao và để cân đối chi phí sản xuất người dân buộc phải hạn chế sử dụng

Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt hàng phá giá lên tới mức giá chung của thị trường Điển hình là phân bón Trung Quốc rẻ hơn nhiều so với phân bón trong nước Khi chính phủ tăng thuế nhập khẩu đối với phân bón sẽ làm cho giá cả của phân bón Trung Quốc tăng lên giúp phân bón trong nước có khả năng cạnh tranh cao hơn, bảo vệ ngành sản xuất phân bón trong nước

Bên cạnh đó cũng đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước

 Nhược điểm

Đánh thuế nhập khẩu phân bón trên lý thuyết là hạn chế lượng phân bón tràn vào trong nước Tuy nhiên trên thực tế, thuế nhập khẩu phân bón tăng lên cũng kéo theo tình trạng nhập lậu phân bón qua đường biên giới cũngtăng lên Các cơ quan chức năng rất khó quản lý Cho nên một chính sách trên

lý thuyết là tốt nhưng đi vào thực tiễn lại gặp rất nhiều khó khăn

Trang 8

Phân bón là mặt hàng thiết yếu trong sản xuất nông nghiệp vì vậy khi đánh thuế thì chính người nông dân phải là người chịu thuế.

2.3 Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM

Quản lý dịch hại tổng hợp là một hệ thống điều khiển dịch hại bằng cách sử dụng hài hoà những biện pháp kỹ thuật một cách thích hợp trên cơ sở phân tích hệ sinh thái đồng ruộng một cách hợp lý để giữ cho chủng quần dịch hại luôn ở dưới ngưỡng gây hại kinh tế

Và 5 biện pháp cơ bản được áp dụng trong IPM:

Biện pháp canh tác kỹ thuật

Sử dụng kết hợp các biên pháp canh tác để tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu các đối tượng dịch hại

và chống chiụ được các yếu tố ngoại cảnh bất lợi

Biện pháp sử dụng giống

Lựa chọn và sử dụng các loại giống tốt (có khả năng nảy mầm cao, thích hợp với điều kiện canh tác của địa phương, có giá trị kinh tế được thị trường ưa chuộng và ít nhiễm sâu bệnh)

Ðấu tranh sinh học và cách phòng trừ sinh học

Trong hệ sinh thái luôn có mối quan hệ hữu cơ về dinh dưỡng, các thành phần trong chuỗi dinh dưỡng luôn khống chế lẫn nhau để chúng hài hòa

về số lượng nhằm duy trì cân bằng hệ sinh thái, đó là sự đấu tranh sinh học trong tự nhiên Bảo vệ thiên địch trên đồng ruộng bằng cách tạo nơi cư trú, nguồn thức ăn, giảm sử dụng thuốc hóa học, tăng cường sử dụng thuốc sinh học, chế phẩm vi sinh, thuốc thảo mộc nhằm duy trì mật độ thiên địch trên đồng ruộng để hạn chế dịch hại

Biện pháp điều hòa

Tổ chức thăm đồng thường xuyên, theo dõi hệ sinh thái đồng ruộng, chú ý đến sự phát sinh gây hại của các đối tượng dịch hại để có biện pháp xử

lý kịp thời

Biện pháp sử dụng hóa chất khi cần thiết và hợp lý

Sử dụng thuốc hóa học là biện pháp cuối cùng sau khi áp dụng các biệnpháp trên không có hiệu quả, khi mật độ dịch hại phát triển đến ngưỡng gây thiệt hại về kinh tế để bảo vệ kết quả sản xuất Khi sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ và thực hiện theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng nồng độ liều lượng, đúng lúc và đúng cách)

 Ưu điểm

Sử dụng các loại vật tư cân đối, giảm được lượng đạm, tăng lượng lân

và kali trên đơn vị diện tích, cấy mật độ vừa phải, giảm lượng giống, tạo cho

Trang 9

cây trồng phát triển cân đối, cứng, khỏe, tăng sức chống chịu; giảm được 51,50% số lần phun thuốc, giảm 41,84% lượng thuốc sâu Lượng thuốc trừ sâu, trừ bệnh giảm trên rau màu cũng đáng kể, trước đây thường phải phun từ

13 đến 15 lần/vụ, ứng dụng IPM giảm xuống 5-6 lần Ở những ruộng ứng dụng IPM, mức đầu tư phân bón tuy có tăng hơn ruộng bình thường (không ứng dụng IPM) từ 50 đến 60 ngàn đồng/ha/vụ, nhưng năng suất lúa tăng từ 9 đến 17%, thu nhập tăng

Ngoài ra việc ứng dụng IPM vào sản xuất giảm được lượng thuốc BVTV trên đồng ruộng, bảo vệ được các loài thiên địch có ích như: ếch nhái, rắn, chim, ong, bọ rùa, nhện vồ mồi v.v…

Chương trình huấn luyện IPM đã góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cây trồng đồng thời hạn chế ô nhiễm môi trường và tạo hệ sinh thái đồng ruộng ngày càng bền vững; không những mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân mà còn mang lại hiệu quả xã hội hội to lớn nâng cao ý thức sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật của nông dân

 Nhược điểm

Người nông dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp theo kinh nghiệm mà chưa qua đào tạo, thiếu kĩ thuật Cho nên để áp dụng rộng rãi chương trình này đòi hỏi phải có thời gian

Nước ta có khí hậu nhiệt đới ảm gió mùa rất thuận lợi cho sâu bệnh phát triển Nếu áp dụng đúng theo các quy trình của IPM thật không dễ dàng.2.4 Chương trình quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) hay được gọi là chương trình "3 giảm, 3 tăng "

Chúng bao gồm 2 vấn đề sau:

- Quản lý dinh dưỡng, chăm sóc cây trồng:

+ sử dụng các loại giống lúa tốt, năng suất cao, sạch sâu bệnh

+ Gieo trồng mật độ đảm bảo, phát huy tiềm năng năng suất của giống.+ Sử dụng phân bón đầy đủ, hợp lý

+ Chế độ tưới nước khoa học, phù hợp nhu cầu phát triển của cây

- Quản lý dịch hại đối với cây trồng

+ Sử dụng giống kháng sâu bệnh để hạn chế dùng thuốc bảo vệ thực vật

+ Áp dụng điều tra phân tích hệ sinh thái trước khi đua ra biện pháp xử

lý đồng ruộng (IPM)

 Ưu điểm

- Giảm được lượng giống gieo trồng

- Giảm được lượng phân bón

- Giảm được lượng thuốc trừ sâu

Trang 10

- Với việc áp dụng chương trình 3 giảm 3 tăng vừa tiết kiệm được chi phí trong sản xuất, vừa dễ dàng kiểm soát dịch hại Nhờ thế năng suất tăng lên

và thu nhập của nông dân từ đó cũng tăng theo, góp phần cải thiện cuộc sống

 Nhược điểm

Khâu quyết định số một cho mô hình 3 giảm 3 tăng Có thể nói khâu tưới, tiêu là vấn đề quan trọng trong 3 giảm 3 tăng, bởi đơn giản, “khi cần dậpkhông dập được, khi tiêu dùng không tiêu kịp” là “thua” Vì khi mạ non và thưa dễ bị cỏ dại, ốc bươu vàng tấn công, nếu sử dụng các loại thuốc đặc trị, vừa tốn hao, vừa ảnh hưởng sinh trưởng của cây lúa Đây là đều lo ngại nhất của đại đa số nông dân có diện tích đất tại những nơi tưới, tiêu chưa như ý

muốn, chưa dám làm

Điều cần thứ hai: đó là mặt bằng lý tưởng để hạt giống phát triển, đâm chồi Do đó, khâu làm đất như trang sửa, cày ải, trục trạt, phơi đất là hết sức quan trọng, quyết định đến năng suất, sản lượng về sau Một số nông dân do điều kiện kinh tế gia đình, do tập quán canh tác cũ, vv còn ngán ngại về chiphí, về công cán nên chưa dám làm Thôi thì thà “thất dầy còn hơn trúng

thưa”, vẫn làm theo lối cũ.

Điều cần thứ ba: là phải 3 giảm 3 tăng đồng loạt để bảo vệ sinh thái, môi trường Đây là điều mà nhiều nông dân sản xuất kinh doanh giỏi hiện đang làm theo 3 giảm 3 tăng rất quan tâm Ngại nhất hiện nay đối với nông

dân khi làm 3 giảm 3 tăng; vẫn là ốc bươu vàng, nổi lo “sốt ruột” của “kéo

hàng thưa”, kế đó là môi trường, sâu bệnh Nếu như làm đúng theo qui trình chỉ cần kéo hàng 8 - 10kg/công, nhưng hiện nay phần đông nông dân chưa dám, vẫn kéo hàng thủ thả 15kg/công Bởi lẽ xung quanh, đa phần bà con còncanh tác theo lối cũ, sạ dầy từ 20 - 25kg/công, đã ảnh hưởng lớn đến xung quanh, nhất là môi trường tốt cho ốc bươu vàng, sâu bệnh phát triển lây lan,

là nỗi lo thực tế, là trở ngại lớn của chương trình 3 giảm 3 tăng

3 Các công cụ tuyên truyền giáo dục

Chính phủ đã đưa ra rất nhiều các công cụ mệnh lệnh và kiểm soát cũng như

đã áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý và sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón Tuy nhiên để các công cụ này đi vào thực tế có hiệu quả đòi hỏi phải có các công cụ tuyên truyền giáo dục để người dân hiểu rõ hơn về các chính sách, nhận thức rõ hơn về tác hại cử việc sản xuất không bền vững như hiện nay đến đời sống con người cũng như đến môi trường Để từ đó bản thân mỗi người đặc biệt là các hộ nông dân có cái nhìn mới hơn, tuân thủ các chính sách của chính phủ và tìm ra các giải pháp để tiến hành sản xuất bền vững hơn

Trang 11

Chính sách tuyên truyền giáo dục chủ yếu là treo, dán các áp phích dể tuyên truyền và tổ chức các lớp tập huấn để hưỡng dẫn cho người dân Hiện nay có Rất nhiều lớp tập huấn cho người dân về các biện pháp sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, các biện pháp về IPM, “3 giảm, 3 tăng” để giảm tác động xấu đến môi trường, nâng cao hiệu quả sản xuất Sau đây là một ví dụ điển hình:

Tập huấn cho nông dân tại hiện trường (FFS)

FFS Là phương pháp khuyến nông theo nhóm, là một quá trình học

hỏi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau nhằm nâng cao năng lực của nôngdân để tự xác định và phát triển các phương thức sản xuất có hiệuquả, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của họ Các hoạt động học tậpdiễn ra tại hiện trường và kéo dài theo mùa vụ/ quá trình sản xuấtmột loại vật nuôi hoặc cây trồng

 Ưu điểm:

- Nội dung tập huấn phù hợp với nhu cầu của nông dân

- Phương pháp học thông qua làm giúp nông dân dễ tiếp thu, nắmchắc kiến thức

- Tọa điều kiện để nông dân trao đổi, chia sẻ và học hỏi kinh nghiệmgiữa nông dân với nông dân và nông dân với tập huấn viên

- Phát huy được tính sáng tạo, tính tự quyết và chủ động trong họctập của học viên

- Học viên thấy được thực tế tại đồng ruộng giúp nông dân dễ hiểu,

dễ nhớ, có điều kiện để thực hành nên nâng cao được kỹ năng thựchành

- Thu hút được nhiều đối tượng tham gia cùng một lúc

- Người học có điều kiện để theo dõi, phân tích đánh giá từng giaiđoạn sinh trưởng phát triển của từng loại cây trồng/ vật nuôi nên họđưa ra được các kỹ thuật phù hợp

- Nâng cao kỹ năng làm việc theo nhóm, lập kế hoạch và ý thức tráchnhiệm của từng học viên

- Nông dân có thể trở thành hướng dẫn viên

 Nhược điểm:

Tốn nhiều thời gian

- Đòi hỏi kinh phí cao

- Đòi hỏi khâu tổ chức lớp tập huấn tốt

- Khó đảm bảo được số lượng học viên ở các lần học

- Không chủ động được kế hoạch học tập (do thời tiết, do mùavụ, )

Trang 12

- Do tập huấn nhiều lần nên làm cho nông dân dễ chán nản nếu tổchức các buổi tập huấn không tốt và thiết kế nội dung không thiếtthực.

III Thực trạng áp dụng các công cụ

1 Công cụ mệnh lệnh kiểm soát

 Đối với thuốc bảo vệ thực vật

Tình hình sử dụng thuốc BVTV hợp pháp xen lẫn thuốc bất hợp pháp vẫn còn xảy ra khá nghiêm trọng ở Việt Nam Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường sinh thái, tăng trưởng nông nghiệp, thu nhập của nông dân

Ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước, tình trạng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danhmục cho phép, vẫn nhập lậu tràn lan, gây ảnh hưởng không tốt đến thị trường thuốc BVTV cũng như công tác quản lý Ước tính hiện nay có khoảng hơn

1100 loại thuốc với đủ loại giá

Theo Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT), trung bình mỗi năm, cơ quan chức năng kiểm tra khoảng 500 - 600 cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật (BVTV); phát hiện 12 - 14% cơ sở vi phạm Các vi phạm gồm: Kinh doanh thuốc cấm, giả, ngoài danh mục, không nguồn gốc

Đặc biệt, trong vòng 3 năm trở lại đây, tình hình buôn bán thuốc giả có

xu hướng gia tăng, đặc biệt ở khu vực phía Nam Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, các địa phương đã phát hiện 17 trường hợp buôn bán thuốc giả vớitrên 80.000 gói, chai thuốc BVTV giả (Theo ông Trịnh Công Toản, Chánh Thanh tra Cục BVTV)

Từ đầu năm đến nay, cục Bảo vệ thực vật đã xử lý 14 lô hàng thuốc BVTV nhập khẩu không đạt chất lượng Trong đó phạt vi phạm hành chính

và cho nhập gia công tái chế 11 lô với trên 49.400 lít thuốc; tái xuất 3 lô với 27.988 lít Thanh tra cục và các đơn vị trực thuộc đã lập 1.118 biên bản vi phạm hành chính về Điều lệ quản lý thuốc BVTV, xử phạt tổng cộng trên 1,6

so với nội dung đăng ký; không ghi tên, địa chỉ nhà sản xuất nguyên

liệu Hàng năm, thanh tra các chi cục BVTV vẫn đi kiểm tra các doanh

nghiệp và các cửa hàng kinh doanh thuốc BVTV Những thuốc quá hạn, ngoài danh mục hoặc bị cấm đều bị thu gom, tiêu hủy

Trang 13

 Đối với phân bón

Có thể nói phân bón giả, kém chất lượng ngày càng nhiều Tuy đã có nhiều cuộc họp, nhiều văn bản ban hành, nhiều biện pháp ngăn ngừa, nhưng rốt cuộc nạn phân bón giả vẫn không giảm, chính điều này không chỉ ảnh hưởng đến sản lượng của nông dân mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng môi trường

Mặc dù Nghị định 15/2010/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh phân bón có hiệu lực từ tháng 4/2010 nhưng hoạt động sản xuất, tiêu thụ các loại phân bón giả, kém chất lượng vẫn tồn tại và có chiều hướng ngày càng gia tăng

Theo thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và PTNT), cả nướchiện có khoảng 400- 500 cơ sở sản xuất phân bón với hơn 4.000 sản phẩm.Tuy nhiên, số doanh nghiệp uy tín, có thương hiệu đầu tư công nghệ hiện đại

để có sản phẩm chất lượng cao không nhiều Trong khi đó, phân bón chấtlượng thấp thường do các doanh nghiệp có quy mô nhỏ sản xuất với phươngtiện máy móc lạc hậu Cả nước có tới hơn 60 doanh nghiệp sản xuất phân bóngiả

Đánh giá: Qua thực tế trên ta thấy công tác quản lý của các cơ quan

chức năng trong quản lý phân bón, thuốc BVTV được thực hiện rất chặt chẽ, thường xuyên có các cuộc thanh tra, kiểm tra để giám sát việc thực hiện các văn bản, quy định đã được ban hành Tuy vậy, tình trạng vi phạm các quy định đó vẫn còn khá phổ biến và cần phát hiện kịp thời để xử lý triệt để Vậy đâu là nguyên nhân của thực trạng này:

 Trước hết là vấn đề giá cả, do giá của các loại phân bón, thuốc trừ sâu kém chất lượng thường thấp hơn từ ½ đến 1/3 so với các loại phân bón thông thường do đó thu hút người mua

 Do các loại phân bón, thuốc trừ sâu kém chất lượng được sản xuất tinh vi nên khó phát hiện

 Nhận thức của người dân còn hạn chế nên sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu chưa đúng quy cách gây ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường

2 Công cụ kinh tế

 Thuế BVMT dự kiến ngày 1/1/2012 sẽ có hiệu lực Sau đó nó sẽ được áp dung rộng rãi cho toàn bộ các mặt hàng phải chịu thuế có ghi trong

bộ luật ở trong phạm vi nước Việt Nam

 Thuế nhập khẩu phân bón đã được thực thi theo quy định Thuế được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức nhập khẩu các mặt hàng phân bón thuộc đối tượng chịu thuế Do mức thuế tăng lên nên các

Ngày đăng: 20/11/2014, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng đánh giá hiệu quả sử dụng các công cụ trong quản lý phân bón, thuốc BVTV (sử dụng phương pháp cho điểm, tối đa là 5 điểm) - Tìm hiểu về các chính sách và công cụ quản lý việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu
ng đánh giá hiệu quả sử dụng các công cụ trong quản lý phân bón, thuốc BVTV (sử dụng phương pháp cho điểm, tối đa là 5 điểm) (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w