1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

luan van(Hien D-Hoang)

50 163 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 499,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó ở nhiều vùng đã nhận thức được vai trò quan trọng của việc phát triển vật tư, vốn, ra sức đẩy mạnh việc sản xuất ngô, thường xuyên cải tiến các biện pháp kỹ thuật và áp dụng các kỹ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập ở trường, dưới sự hương dẫn, chỉ dạy tận tình của quý thầy cô giáo, tôi đã thực hiện báo cáo thực tập tốt nghiệp cuối khóa với

đề tài: “ Điều tra tình hình sản xuất ngô tại xã Hương Long, thành phố Huế ”

Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp tôi đã có dịp hệ thống lại vốn kiến thức đã được học ở trường trong những năm qua, đồng thời đã đúc rút được môt

số kinh nghiệm thực tế

Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo trong khoa Nông Học, Trường Đại Học Nông Lâm Huế Đặc biệt là cô giáo Th.s Nguyễn Thị Thanh, đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn các cán bộ trong UBND và HTX xã Hương Long,

đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại xã

Xin chân thành cảm ơn tất cả những người đã giúp tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này

Huế, ngày 10 tháng 5 năm 2008 Sinh viên thực tập:

Phạm Hồng Cảnh

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

1.1 Mở đầu 3

PHẦN II: 6

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

2.1 LỊCH SỬ, NGUỒN GỐC, VAI TRÒ VỊ TRÍ CỦA CÂY NGÔ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 6

PHẦN III: 22

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 22

NGHIÊN CỨU 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 23

PHẦN IV: 24

KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI 24

4.2 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngô 36

4.4 Tình hình sâu bệnh hại của một số giống ngô và một số biện pháp phòng trừ: 42

4.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA VIỆC SẢN XUẤT NGÔ Ở CÁC HỘ ĐIỀU TRA 46

PHẦN V 48

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 KẾT LUẬN 48

5.2 ĐỀ NGHỊ: 49

PHẦN IV 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 3

PHẦN I:

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Mở đầu.

Cây Ngô ( ZeamaysL) là loại lương thực có tầm quan trọng trong nền kinh

tế quốc dân và kinh tế toàn cầu Nhờ có sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà nhiều loại giống ngô mới ra đời đem lại năng suất và chất lượng cao, không ngừng góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế, giải quyết cơ bản hoạt động đời sống nhân dân

Ngô là loại ngũ cốc quan trọng trên thế giới, nó cung cấp dinh dưỡng cho con người và gia súc, gia cầm Đồng thời là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến

Những năm gần đây, cây ngô còn là cây thực phẩm được ưa chuộng, các loại ngô nếp, ngô đường để dùng luộc, nướng, đóng hộp, bắp ngô bào tử để làm rau cao cấp, đây là loại rau có hàm lượng dinh dưỡng cao và không có dự trữ thuốc bảo vệ thực vật Một số loại ngô còn là nguyên liệu của các nhà máy sản xuất rượu, cồn, tinh bột, dầu, đường gluco, bánh kẹo Ngô dùng để sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau trong đó các ngành công nghiệp lương thực thực phẫm và công nghiệp nhẹ

Vì cây ngô là thức ăn quan trọng của gia súc hiện nay, trên 70 % chất tinh trong thức ăn hỗn hợp từ ngô Ngoài ra ngô còn là thức ăn ủ xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặc biệt là phong trào nuôi bò sữa Có thể nói, ngô là loại cây trồng có tiềm năng to lớn nhất trong 2 quá trình tạo năng suất sơ cấp và thứ cấp, là đối tượng nghiên cứu cho di truyền học tế bào vì bộ NST ít(2n = 10), lai tạo giữa các giống giữa các dòng, dễ lai tạo và có ưu thể lai cao, đồng thời công

Trang 4

tác đột biến ngày càng được đẩy mạnh nhằm tạo ra các giống ngô giàu lizin và cải tiến thành phần hóa học.

Diện tích trồng ngô đã có bước tăng nhanh từ sau năm 1995 và hiện nay cả nước có khoảng trên 800.000 ha Cuối thế kỷ XX thì sản lượng ngô nước ta đạt gần 2 triệu tấn hàng năm Tuy nhiên so với tiềm năng thì cây ngô nước ta có thể

có những bước phát triển mạnh mẽ hơn Năng suất ngô nước ta còn thấp, thấp hơn trung bình của thế giới và thấp hơn quá xa so với các nước có năng suất ngô cao Ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, cây ngô là một trong những loại cây đưa vào vụ Đông có hiệu quả Do đó ở nhiều vùng đã nhận thức được vai trò quan trọng của việc phát triển vật tư, vốn, ra sức đẩy mạnh việc sản xuất ngô, thường xuyên cải tiến các biện pháp kỹ thuật và áp dụng các kỹ thuật mới trong sản xuất ngô và khuyến khích các vùng phát triển vùng trồng ngô

Nước ta là một nước nông nghiệp, số lao động làm nghề nông chiếm gần 80% Tuy nhiên khả năng thâm canh sử dụng giống, áp dụng khoa học kỹ thuật vẫn chưa được chú trọng Bởi lẽ đó, năng suất và chất lượng chưa cao Mặt khác trong 10 năm trở lại đây sản xuất của nước ta đã không ngừng tăng lên cả về diện tích lẫn năng suất, nhưng do dân số tăng nhanh về mặt số lượng nên sản lượng ngô sản xuất ra vẫn chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu thị trường

Đối với TØnh NghÖ An nói chung và x· DiÔn Hoµng huyÖn DiÔn Ch©u nói riêng do điều kiện tự nhiên như đất đai đa dạng, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, khả năng tiếp nhận về việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất vẩn chưa cao, diện tích trồng ngô biến động qua các năm, làm cho năng suất thường thấp hơn

so với các vùng khác trong cả nước Vì vậy, cần phải đầu tư thâm canh hợp lý thì cây ngô sẽ cho năng suất cao và sản xuất ngô sẽ mang lại hiệu quả kinh tế hơn

Trước những thực trạng đó chúng tôi tiến hành điều tra tình hình sản xuất ngô tại x· DiÔn Hoµng, huyÖn DiÔn Ch©u, TØnh NghÖ An nhằm tìm hiểu tình hình phát triển sản xuất ngô của vùng này như thế nào Để giải quyết vấn đề đó

tôi tiến hành đề tài: “ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÔ TẠI XÃ diÔn hoµng, huyÖn DiÔn Ch©u”

Trang 5

1.2 Mục đích của đề tài.

Điều tra đánh giá thực trạng về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất của xã để từ đó đánh giá tiềm năng sản xuất ngô và tìm

ra những khó khăn, thuận lợi trong việc sản xuất ngô

Điều tra tình hình sử dụng đất đai của xã DiÔn Hoµng, huyÖn DiÔn Ch©u, TØnh NghÖ An qua một số năm

Điều tra tình hình sâu bệnh hại trên các giống ngô, từ đó để đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh của các giông ngô

Đề xuất các biện pháp khoa học kỹ thuật phù hợp cho người nông dân trồng ngô đạt năng suất cao

Qua kết quả điều tra sẽ phân tích đánh giá được những mặt mạnh, mặt yếu của việc sản xuất ngô Từ đó đánh giá được thực trạng phát triển sản xuất ngô của địa phương, đồng thời có hướng khắc phục những mặt yếu kém và phát huy những mặt mạnh

Trang 6

PHẦN II:

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 LỊCH SỬ, NGUỒN GỐC, VAI TRÒ VỊ TRÍ CỦA CÂY NGÔ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP.

2.1.1 Lịch sử nguồn gốc:

Những nghiên cứu về nguồn gốc cây trồng Vailov (1926) đã cho rằng Mehio và Pêru là những trung tâm phát sinh và đa dạng di truyền của ngô Mehicô là trung tâm thứ nhất (trung tâm phát sinh), vùng Andet (Peru) là trung tâm thứ hai, nơi cây ngô đã trải qua quá trình tiến hoá nhanh chóng Nhận định này của Vailov đã được nhiều nhà khoa học chia sẽ (Galinat 1997, Wilkess 1980, Kato 1984)

Theo Wilkesss (1980) ngô bắt đầu từ cây hoang dã ở miền trung Mêhicô trên độ cao 1500m của vùng bán khô hạn, có mưa vào mùa hè khoảng 350mm Mẫu phấn ngô cổ nhất được tìm thấy ở độ sâu 70m và xác định vào niên đại sông băng, ít nhất cách đây 60000 năm Những khai quật của hang động bát của New Mêhicô đã cung cấp nhiều thông tin về nguồn gốc cây ngô Ở đây người ta tìm thấy cùi ngô dài 2-3cm và đã xác định tuổi vào khoảng 3.600 năm trước công nguyên Ngày nay các nhà khoa học trên thế giới hầu như đã công nhận và thống nhất Mêhicô là trung tâm phát sinh cây ngô, thậm chí người ta còn cho rằng cái nôi đầu tiên của thung lũng Tehuaca nằm ở bang Puebla ở đông nam Mehicô

Có thể nói cuối thế kỹ 15, sau khi Chistopher Columbus tìm ra ở châu Mỹ

từ trung Mỹ ngô phát triển đến gần cả phía bắc và phía nam châu Mỹ

Năm 1493 Columbus đã mang ngô vào châu Âu (Tây Ban Nha), năm 1521 ngô được đưa đến bán đảo đông Ấn Độ và quần đảo Inđônêxia Củng từ thời gian

Trang 7

này ngô lan truyền sang các thuộc địa Bồ Đào Nha ở châu Phi đến Ấn Độ và đông nam á Ở Trung Quốc lần đầu tiên ngô được nhắc đến vào năm 1516 Ngô vào Việt Nam có thể thông qua hai con đường: Từ Trung Quốc và Inđônêxia Theo nhà bác học Lê Quý Đôn nêu trong "Vân Đài Loại Ngữ" thì vào thời đầu Khang Hy (1682-1723), Trần Thế Vinh là người đầu tiên phong đi sứ sang Trung Quốc thấy loại cây này mang về trồng ở hạt Tây Sơn và gọi là ngô.

Hiện nay diện phân bố của cây trồng này bao gồm toàn bộ trái đất, ngô là cây nhiệt đới, nhưng nó là cây hàng năm, tránh được mùa đông nên phổ biến rất

xa ngoài vùng nhiệt đới và xâm nhập cả vùng ôn đới có mùa hè kéo dài và khá

ấm dịu Đặc biệt ngô đã xâm nhập sâu vào vùng bắc bán cầu Ở đây khí hậu lục địa nên nhiệt độ khá cao trong các tháng mùa hè.Ở bán cầu bắc, giới hạn vùng trồng ngô lên đến 520 vĩ bắc để lấy hạt, còn để lấy thân xanh cỏ thể trồng đến 460

vĩ độ nam về độ cao so với mặt nước biển Ở châu Âu ngô trồng được trên dãy Cacpat tới độ cao 3.500m Tính đa dạng và khả năng thích nghi của ngô có lẽ không có cây nào sánh kịp

2.1.2 Giá trị kính tế, vai trò của cây ngô trong sản xuất nông nghiệp và trong đời sống xã hội

Ngô là một trong những cây ngũ cốc có năng suất cao nhất và rất quan trọng cho loài người Bên cạnh việc mở rộng diện tích, năng suất ngô ngày càng tăng lên, do đó mà sản lượng ngô của thế giới không ngừng tăng lên trong những năm gần đây (FAO: 2000)

Hạt ngô có giá trị dinh dưỡng cao, trong hạt ngô có chứa tương đối đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho người và gia súc, hạt ngô có hàm lượng protit

và lipit nhiều hơn hạt gạo, bột ngô chiếm 65-83% khối lượng hạt Đó là nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp chể biến bột Cứ 100kg ngô hạt cho khoảng 20-21kg ghiten, 73-75 kg tinh bột tách từ mầm 100kg ngô hạt có thể ép được từ 1,8-2,7kg dầu Một số thành phần hoá học của hạt ngô (chất béo và một số sinh tố) cao hơn so với hạt gạo Giá trị sử dụng rộng rãi của ngô được chứng minh

Trang 8

bắng 670 mặt hàng khác nhau của các nghành lương thực, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dược, công nghiệp nhẹ.

Ngô là cây lương thực nuôi sống 1/3 số dân trên toàn thế giới, tất cả các nước trồng ngô nói chung đều sử dụng ngô làm lương thực ở mức độ khác nhau Toàn thế giới sử dụng 21% tổng sản lượng ngô, ở các nước trung Mỹ, Nam Mỹ

và châu Phi sử ngô làm lương thực chính Các nước Đông Phi sử dụng 85% sản lượng ngô làm lương thực cho con người Tây Trung Phi sử dụng 80%, Vì vậy trên phạm vi toàn thế giới, ngô vẫn là cây thực phẩm, người ta dùng bắp ngô bào

tử làm rau cao cấp Sở dĩ ngô rau được ưa chuộng vì nó sạch và có hàm lượng dinh dưỡng cao Các thể loại ngô nếp, ngô đường được dùng làm ăn tươi hoặc đóng hộp xuất khẩu

Ở các nước phát triển có nền chăn nuôi công nghiệp, ngô là thức ăn lý tưởng cho nhiều loại gia súc, là nguồn thức ăn chủ lực để chăn nuôi cung cấp thịt, trứng, sữa từ 70-90% sản lượng ngô tại đây được dùng để sản xuất thức ăn gia súc, hơn 50% tổng số thức ăn gia súc là các dạng khác của ngô Hầu như 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô, điều đó phổ biến trên toàn thế giới Ngoài việc cung cấp chất tinh, cây ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặc biết là bò Thông thường để sản xuất 1kg sữa bò cần 5kg thức ủ tươi bằng ngô, 1kg bò tươi cần 2,5kg ngô hạt,

Ngoài việc ngô là nguyên chính cho các nhà máy thức ăn gia súc tổng hợp, ngô còn là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất rượư, cồn, tinh bột, dầu, gulucoza, bánh kẹo, Người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau

từ ngô của các nghành công nghiệp lương thực thực phẩm, công nghiệp dược và công nghiệp nhẹ (như làm giây, làm sợi, )

Trên thế giới hàng năm lượng ngô nhập khẩu khoảng 700 triệu tấn Đó là nguồn lợi lớn của các nước nhập khẩu và đạt được được hiệu quả kinh tế cao Các nước xuất khẩu chính như Pháp, Mỹ, Achentina, Trung Quốc, Thai Lan, các nước nhập khẩu chính là Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Phi, Mêhicô,

Trang 9

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ

Ở VIỆT NAM:

2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất ngô trên thế giới:

Ngô là cây có phạm vi phân bố rộng, nhờ đó mà hiệ nay cây ngô có mặt trên toàn thế giới, cây ngô đứng thứ ba về diện tích, đứng thứ hai về sản lượng

và đứng thứ nhất về năng suất Sở dĩ được như vậy là các nước trồng ngô trên thế giới ngày cành nhận thức được vị trí của cây ngô trong vấn đề giải quyết lượng thực, thực phẩm, đặc biệt là giả quyết thức ăn cho gia súc, nên đã phát triển ngô một cách hết sức mạnh mẽ và đẩu tư thâm canh bằng việc đầu tư thêm những tư liệu sản xuất tiên tiến trên đơn vị diện tích Trong đó có thành tựu của cuộc cách mạng về giống ngô đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển sản xuất ngô của thế giới Việc sử dụng các loại giống ngô ở các nước phản ánh khá

rõ trình độ sản xuất của mỗi nước

Khoảng nữa thế kỹ vừa qua, diện tích trồng ngô trên toàn thế giới đã tăng lên gấp rưỡi, năng suất tăng lên gấp 2,5 lần và tổng sản lượng ngô hang năm tăng lên 4 lần Trước đại chiến thế giới thư II, so với năng suất lúa thì ngô còn kém khá xa Nhiều thập kỷ vừa qua, với sự bùng nổ năng suất của nhiều vùng trồng ngô trên toàn thế giới Nhờ vậy, mặc dầu diện tích trồng ngô ít hơn trồng lúa nước và kém xa lúa mỳ nhưng ngô vẫn chiếm hơn 1/3 sản lượng ngũ cốc của thế giới

Cây ngô được tiến hoá và phát triển bắt đầu từ khi người da đỏ thuần hoá

ở thung lũng Tehucan - miền Trung Mêhicô và được phổ biến trồng khắp nơi từ Bắc xuống Nam, nền văn minh của thổ dân chây lục mới Khi người dân châu

Âu đến Bắc Mỹ họ đã thấy người dân da đỏ trồng ngô mà chủ yếu là ngô 8 hàng hạt, cùi có màu trắng và thân mảnh, không cao lắm, hạt nhẵn và chủ yếu là ngô

đá rằn được trồng khoảng 20.000 ha Đi xuống phía Nam Manylanol và Virgnia, người da đỏ trồng một ít ngô 16-30 hàng hạt có thân to, cùi đỏ có năng suất cao

và hạt mềm Loại ngô này được đưa vào Mỹ từ Mêhicô và được trồng khoảng 8.000 ha Người dân dọc bờ biển phía Đông từ Pennsy Irania xuống phía Nam là ngô "hạt bí"

Trang 10

Theo TS Paul Weather Wax, vùng trồng ngô thâm canh của người da đỏ không trùng với thâm canh ngày nay Vùng ngô của châu Mỹ cổ đại không phải

là những thảo nguyên màu mỡ của vùng Trung - Tây Hoa Kỳ và nay gọi là vành đai ngô, cũng không phải là những cánh đồng hoang ở Achentina mà là những thung lũng khô hạn của bang Arzona, New Mêhicô của cao nguyên Mêhicô và thung lũng Ande Nam Mỹ

Theo Jenos, Andersen và Cutter, 1924 cho rằng: Kiểu cấu trúc nội nhũ của ngô trồng có ý nghĩa về sinh thái, chính vì vậy mà ở những vùng địa lý khác nhau thì sự phân bố ngô cũng khác nhau Ở Mêhicô chủ yếu là ngô răng ngựa chiếm ưu thế, còn ở phía Nam nước Mỹ, vùng núi Pêru thì chủ yếu là ngô bột, phần phía Bắc của Mỹ là ngô tẻ chiếm ưu thế

Những năm đầu của thế kỹ XIX, Peter Browne đã tiến hành điều tra rất tỉ

mỉ về cây ngô ở vùng Penny Vannia, để trình lên ban khoa học tự nhiên Chester Vào năm 1873 , sau khi đề cập đến nguồn gốc và mô tả biện pháp trồng trọt, Browne đã mô tả 35 giống khác nhau, phần lớn là hổn hợp của "hạt bí" và ngô

đá, ngoài ra còn mô tả ngô bọc như ngô Texas và nhiều giống khác

Năm 1856, ở Mỹ đã chọn ra giống Liming (tên người tạo giống) có năng suất cao Đên cuối thế kỷ XIX, châu Mỹ đã có đến 770 giống ngô cải lương

Năm 1990, xuất hiện môn di truyền hiện đại, được áp dụng vào di truyền ngô Vào năm 1908-1912 một nhóm nhà nghiên cứu Mỹ (East, Esluillg, Hayesd, Jonesd) đã đưa ra khái niệm dòng tự phối và lai đơn, lai kép Đây là cơ sở cho việc chọn tạo giống sau này

Giống lai đầu tiên từ chương trình ngô của H.A Wallace là "Coper Cross" giữa dòng từ Ieaming và một số dòng từ "Booel butcher", "Coper Cross" đưa vào khảo nghiệm tại ban Iowa từ năm 1922-1924 cho năng suất cao

Năm 1942 ngô lai đã hoàn toàn thay thế ngô cũ (78%) ở vành đai ngô của

Mỹ Năm 1965 ngô lai chiếm (95%) diện tích ngô toàn nước Mỹ Nếu tăng năng suất bình quân 1933 là 1.511 kg/ha thì năng suất năm 1981 là 6.884 kg/ha

Sự tăng trưởng năng suất ngô ở Mỹ vào thập kỷ 60 gầm đây là rất đáng ghi nhận Nhờ ứng dụng ngô lai vào sản xuất đã làm cho năng suất bình quân

Trang 11

tăng ổn định Với sự ra đời của các giống ngô lai kép, năng suất ngô ở Mỹ tăng bình quân 60 kg/ha/năm Sau khi chuyển sang trồng ngô lai đơn thay thế ngô lai kép thì năng suất đã tăng 118 kg/ha/năm Thành quả rực rỡ đó đã dẫn đến các nước ở Tây Âu, Đông Âu, đã nhập trực tiếp giống ngô lai để sản xuất.

Năm 1976 so với năm 1965, sản lượng ngô ở Ba Lan tăng lên 15 lần; Bungari tăng 2,5 lần; Pháp tăng 2,3 lần; Cộng hoà liên bang Đức tăng 5,6 lần

Trông phần thứ nhất của thế kỷ XX, các nhà khoa học B.P Sokolov, M.I Khadz Hinov (Liên Xô cũ), đã bắt đầu những công trình nhân giống tự phối để tạo ra ngô lai Năm 1947, giống ngô lai khác giống của Liên Xô được đưa vào sản xuất Năm 1952, có 8 giống lai kép đầu tiên giữa các dòng tự thụ phấn, trong

đó có các giống Vir 42 nổi tiếng được đưa vào sản xuất

Liên Xô (cũ) là nước sử dụng ngô lai chậm hơn so với các nước khác Năm 1953, diện tích trồng ngô chỉ đạt 3,5 triệu ha và chưa sử dụng ngô lai, năng suất trung bình từ 12-15 tạ/ha Sau được nhà nước chú ý và mở rộng diện tích ngô, các giống ngô lai được trồng nhiều Năm 1961 -1965 năng suất tăng lên 22,9 tạ/ha trên diện tích 51.444.000 ha, chiếm 50% diện tích trồng ngô và chủ yếu các giống ngô lai kép chiếm ưu thế trên đồng ruộng

Ở thập kỷ 60-70, những nghiên cứu ở Ấn độ, Mêhicô đã chỉ ra rằng phát triển các giống ngô hổn hợp và sử dụng hợp lý, phát triển, chọn lọc chu kỳ sẻ nhanh chóng đưa năng suất các giống ngô này ngang với giống ngô lai mà đầu tư thấp hơn Giống hỗn hợp đã bùng nổ ở rất nhiều nước thuộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh, như Ấn Độ chỉ trong năm 1967 đã đưa hàng loạt các giống hỗn hợp (như Amber, Jawahar, Kisan, Vikrâm sona, Vijay) vào sản xuất Còn ở Mêhicô sao giai đoạn ngô lai rầm rộ (1950-1970) đặc biệt là sau chường trình thu thập các giống ngô địa phương đợt 2 vào năm 1971-1972 thì công tác chọn giống ngô hỗn hợp rất được chú trọng Hàng loạt giống được đưa vào sản xuất như V433, V522, V324,

Sau 20 năm, với những thành tựu nổi bật của chường trình ngô hỗn hợp (TDTD) của CTMMYT, đã chọn tạo thành công các giống ngô từ nơi Tuxpenno

và đã tạo ra 853 giống thí nghiệm Trong đó có nhiều giống được đưa vào sản

Trang 12

xuất rộng rãi như Salogo ở Zaire (Cộng hoà Công Gô), Hendureno Plan Baja ở Hendures, ICTAB-1 ở Guatemala.

Như vây, sự phát triển sản xuất cây ngô giữa thế kỷ XX đã phát tiển mạnh

mẻ không chỉ ở châu Âu, châu Mỹ mà còn ở châu Phi, châu Á

Vào đầu thế kỷ XX, hàng năm liên đoàn Nam Phi xuất sang châu Âu gần 100.000 tấn ngô làm thức ăn cho gia súc, đến giữa thế kỷ XX thì đã xuất trên 650.000 tấn (Heclriek, 1919 Hum Lum, 1942)

Rum Phius cho rằng: Ngô ở Đông Nam Á và Đông Á vào năm 1946 người

Bồ Đào Nha đã nhập ngô vào Java và cây ngô đã nhanh chóng có vị trí vững chắc ở vùng này và đã lan ra nhiều nước Giữa thế kỷ XX, hàng năm Indonêxia sản xuất trên 2 triệu tấn ngô Đầu thế kỷ XX, Đông Dương đã sản xuất khoẩng 3 triệu tấn ngô hạt Tuy nhiên hiện nay, tuỳ thuộc vào trình độ sản xuất, mức độ đầu tư thâm canh ở mỗi nước mà xu hướng phát triển sản xuất ngô cũng khác nhau Ở các nước phát triển, việc trồng ngô chủ yếu là dựa vào năng suất thì sử dụng các giống ngô lai có năng suất cao như: Hy Lạp đạt 9,9 tân/ha, Úc đạt 8,3 tấn/ha, Ý đạt 7,8 tấn/ha, Mỹ đạt 7,5 tấn/ha và tốc độ tăng hàng năm là 4,1% và cung cấp 45% sản lượng ngô trên thế giới Trong đó Canada sản lượng thu được hàng năm tăng 8,4%, Tây Âu là 2,8%, Đông Âu và Liên Xô (cũ) là 2,4%

Ở những nước đang phát triển chủ yếu là mở rộng diện tích Theo thống

kê gần đây diện tích trồng ngô chiếm 60% nhưng sản lượng chỉ chiếm 35% tổng sản lượng thế giới Năng suất tăng 2,8% trong khi đó mở rộng diện tích là 1,1% Dẫn đầu là Trung Quốc với 4,3% năm, tiếp đến là Brazil, Mêhicô, Ấn Độ

Vào năm 1993-1994, theo thống kê của trung tâm cải lương ngô và lúa mỳ quốc tế (CIMMYT, 1993/1994) thì diện tích trồng ngô trên thế giới là 129.804.000 ha, năng suất bình quân chung của các nước phát triển Tây Âu, Bắc

Mỹ là 6,9 tân/ha Các nước có diện tích trồng ngô lớn trên thế giới như Mỹ 28.050 nghìn ha với năng suất 7,5 tấn/ha, Trung Quốc 21.405 nghìn ha với năng suất 4,5 tân/ha, Thái Lan 1.433 nghìn ha, Ấn Độ 6.981 nghìn ha

Trên thế giới hiện nay sử dụng khoảng 63-65% diện tích trồng ngô lai Các nước phát triển có trình độ thâm canh cao, cây ngô trồng trên diện tích lớn,

Trang 13

sử dụng chủ yếu 100% các giống ngô lai, phần lớn là lai đơn và lai kép có ưu thế lai cao Ở các nước đang phát triển, việc trồng ngô đã đạt được những thành tựu

nổ bật, bình quân sử dụng ngô lai chiếm 38% như Đài Loan, Bắc Triều Tiên, Brazil, Mehico, Đặc biệt là Trung Quốc sử dụng ngô lai với diện tích 22 triệu

ha, ngô lai chiếm 96% Ở các nước kém phát triển, việc sử dụng ngô lai chỉ chiếm 10-20% diện tích, phần còn lại là các giống địa phương, do đó dẫn đến năng suất thấp (khoảng 15-30 tạ/ha), hiệu quả trồng ngô thấp

Theo CIMMYT-1993-1994 những nước có tỷ lệ diện tích ngô hạt so với tổng diện tích cây cốc là: Angola (83%), Kenya (80%), Malaixia (95%), Zimbabue (73%), Zaire (70%), Nam Phi (60%), Mêhicô (71%), Philipines (52%), Venezula (56%)

Những năm gần đây trên thế giới đã sử dụng nhiều giống ngô theo hướng ngô rau (ngô bào tử) như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ La Tinh, Nam Phi, Một số nước chủ lực phát triển ngô rau là Mỹ, Hồng Kông Xingapre, Australia, Malaixia, Pháp, Đức, Đặc biệt là Thái Lan là nước đi đầu trong lĩnh vực này đã xuất khẩu 363.761 tấn, thu 33 triệu USD

Theo thống kê từ 1.901 diện tích trồng ngô của toàn thế giới chỉ đạt 62 triệu ha, sản lượng 82 triệu tấn Đến năm 1950 diện tích là 86 triệu ha, sản lượng

145 triệu tấn, năm 1996 diện tích là 140 triệu ha và sản lượng đạt 576 triệu tấn

Ở châu Á năm 1994 ngô đạt năng suất 3,61 tân/ha, đứng thứ tư trên thế giới (so với năm 1980 tăng 1,33 triệu tấn/ha) Diện tích 38,8 triệu ha, đứng thứ hai trên thế giới Trong đó Đông Nam Á có sản lượng 18 triệu tấn, Indonexia có gần 9 triệu tấn, Việt Nam có trên 1 triệu tấn

Ngành sản xuất ngô thế giới tăng lên liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay, nhất

là trong hơn 40 năm gần đây, ngô là cây trồng có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây lương thực chủ yếu Vào năm 1961 năng suất ngô trung bình của thế giới chỉ chưa đến 20 tạ/ha, năm 2004 đã đạt 49,9 tạ/ha Năm 2007, theo USDA, diện tích ngô đã vượt qua lúa nước, với 157 triệu ha, năng suất 4,9 tấn/ha và sản lượng đạt kỷ lục với 766,2 triệu tấn (FAOSTAT, USDA 2008),

Trang 14

Kết quả trên có được, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong công tác chọn giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác Đặc biệt, từ 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước Với 52% diện tích trồng bằng giống được tạo ra bằng công nghệ sinh học, năng suất ngô nước Mỹ năm

2005 đạt hơn 10 tấn/ha trên diện tích 30 triệu hecta Năm 2007, diện tích ngô chuyển gen trên thế giới đã đạt 35,2 triệu ha, riêng ở Mỹ đã lên đến 27,4 triệu ha, chiếm 73% trong tổng số hơn 37,5 triệu ha ngô của nước này (GMO.COMPASS)

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất,sản lượng ngô trên thế giới từ 1961 – 2008

Diện tích(1000ha)

Năng suất(tấn/ha)

Sản lượng(1000tấn)

2.2.2 Tình hình phát triển sản xuất ngô trong nước:

Ngô được đưa vào Việt Nam khoảng 300 năm trước, do Trần Thế Vinh đi

sứ từ Trung Quốc mang về và được trồng đầu tiên ở hạt Sơn Tây, sau đó được

Trang 15

truyền sang vùng khác Cây ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa ở Việt Nam Ngô được trồng trong các điều kiện sinh thái rất khác nhau, từ 8-230C Địa bàn trồng ngô trong nước trải rộng trong nhiều vùng và bị chia cắt rõ rệt do các điều kiện tự nhiên như: Địa hình, thời tiết, thiên văn, Ngay trong một vùng,

sự biến động về mùa vụ trong năm cũng rất lớn và phức tạp Ngô được trồng hầu hết trong các vùng và các vụ tuỳ thuộc vào sự biến động đồng thời của chế độ mưa và tưới tiêu sẵn có như: Ở các tỉnh phía bắc có ngô xuân, ngô hè thu, ngô đông và ngô đông xuân; ở các tỉnh phía nam các vụ ngô lệ thuộc vào lượng mưa

và chủ yếu trên diện tích hưởng nước trời: Ngô vụ 1, ngô vụ 2 trong mùa mưa, ngô vụ 3 cuối mùa mưa và đầu mùa khô

Theo Lê Quý Đôn, mỗi vùng sản xuất do nhu cầu của thực tế đã chọn và bảo tồn cho mình những loại ngô khác nhau như: Nghệ An chủ yếu là ngô hạt trắng, Lang Sơn có đủ màu ( Bùi Huy Giáp, 1998 )

Theo thống kê tháng 4/1946, sản xuất ngô tăng 1,9 tấn, sản lượng tăng 2,3 lần so với bình quân năm 1938- 1943 ( Nguyễn Trần Trọng, 1977 là nhờ tiến bộ

kỹ thuật mà năng suất ngô đã được cải thiện)

Những năm gần đây nhờ có những chính sách khuyến khích và nhiều tiến

bộ kỹ thuật, cây ngô đã có bước tiến về diện tích, năng suất và sản lượng Từ những năm 1985 - 1993 năng suất ngô nước ta nằm trong khoảng 1,47 - 1,77 tấn/ha, năng suất này còn thấp hơn trung bình các nước đang phát triển, nguyên nhân chính là do trồng các giống ngô năng suất thấp

Trong thời gian qua nước ta có những bước chuyển biến quan trọng trong nghề trồng ngô và việc chuyển từ các giống ngô địa phương, các giống tự do cải tiến sang trồng ngô lai Đồng thời các thí nghiệm khảo nghiệm giống ngô nhập nội cũng như chọn tạo các giống lai quy ước phát triển mạnh mẽ Năm 1991 nước ta đã nhập giống ngô lai đơn DK888 của công ty Kekald (Mỹ), giống này

tỏ ra thích hợp và cho năng suất cao Năm 1994 nước ta đã trồng thử nghiệm giống ngô lai kép B.9681 của công ty liên doanh Bioseed Việt Nam, giống này cho năng suất cao ở các tĩnh phía bắc Diện tích ngô lai nước ta từ 500 ha (năm 1991) chiếm 0,11% diện tích ngô cả nước lên 450.000ha (năm 2000 chiếm

Trang 16

63,0% diện tích ngô cả nước Do áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật đặc biệt là việc sử dụng các giống ngô lai vào sản xuất nên năng suất ngô nước ta tăng lên đáng kể Năm 1991 nước ta bắt đầu sử dụng ngô lai, năng suất bình quân cả nước là 15,6 tạ/ha, đến năm 2003 là 32,2 tạ/ ha Đặc biệt nhiều tỉnh đạt năng suất bình quân khá cao trong năm 2003 như: Đà Nẵng 60 tạ/ha, An Giang 57,7 tạ/ha.

Tình hình đưa ngô lai vào nước ta trong những năm đầu rất khó khăn do nhiều địa phương chưa có dịp tiếp xúc và chưa hiểu biết về giá trị kinh tế của ngô lai Trong những năm gần đây nhà nước đã có những chính sách thích hợp đưa ngô lai vào sản xuất vì vậy diện tích ngô lai đã tăng nhanh Thực tế cho thấy

về tốc độ tăng năng suất vùng phía nam nhanh hơn vùng phía bắc Hiện nay các vùng trông ngô nhiều, có tỷ lệ diện tích trồng ngô cao trên tổng diện tích canh tác là vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Gần đây nghề trồng ngô ở nước ta đã

có những bước chuyển biến đáng kể, nhưng chỉ là bước khởi động chưa mạnh

mẽ trên phạm vi cả nước

Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn, diện tích trồng ngô lai của cả nước năm 1995 là 163.000 ha chiếm 29% diện tích trồng ngô: các tỉnh miền Bắc có 84,9 nghìn ha chiếm 22,6% diện tích; các tỉnh miền Nam có 781 ha chiếm 43% diện tích Đến năm 1996 thì diện tích ngô lai tăng lên chiếm 40% diện tích, các tỉnh phía Bắc chiếm 31% diện tích; các tỉnh miền Nam chiếm 59% diện tích Về năng suất ngô lai tăng hơn so với các giống thụ phấn tự

do khoảng 17 tấn/ha Năng suất ngô lai 1995 là 38,6 tạ/ha, năm 1996 là 39,7 tạ/ha

Năng suất điển hình bình quân trong 3 năm là 1994, 1995, 1996 của một

số tỉnh là rất cao như Đăclak là 53,7 tạ/ha, Đồng Nai là 55 tạ/ha, Lâm Đồng là 56,9 tạ/ha và An Giang là 78,2 tạ/ha Trong đó có các tỉnh có tỷ lệ ngô lai trên diện tích trồng ngô lớn như Đồng Nai chiếm 97%, Trà Vinh chiếm 80%, Đaclak chiếm 72,2%, Hà Tây chiếm 67%, Bà Rịa - Vũng Tàu chiếm 83,5%, Vĩnh Phú chiếm 58,7%

Trang 17

Theo Trần Hồng Uy, Nguyễn Hữu Phúc, Phan Xuân Hoà, Nguyễn Thị Ba, Nguyễn Mạnh Thưởng và cộng tác viên, vụ đông xuân năm 1975 giống ngô LVN10 được trồng ở các tỉnh, năm 1998 có khoảng 3.000 ha giống này trồng vào tất cả các vụ ở Vĩnh Phúc, Hà Tây, Phú Thọ, Hà Nội, Nghệ An, năng suất đạt từ 7 - 8 tấn/ha.

Theo nghiên cứu của PTS Phạm Hồng Quảng, ở các tỉnh Nam Bộ và Tây Nguyên có các giống DK888, LVN10 là những giống chủ lực, còn các tỉnh phía Bắc và miền Trung có các giống Pacific 11, Bioseed 1681, P3011, là các giống

có năng suất từ 9 - 10 tấn/ha và được nông dân trồng nhiều

Ở nước ta ngô được trồng từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng đến miền núi, có thể trồng nhiều vụ trong năm với các giống ngô lai và các giông ngô địa phương phù hợp với chế độ tưới nước, lượng mưa, điều kiện thời tiết khí hậu ở từng vùng Diện tích ngô ở nước ta tập trung chủ yếu ở những vùng bãi ven sông có đất phù sa màu mỡ trong những năm gần đây ngô đã được phát triển mạnh mẽ

về diện tích, năng suất và sản lượng được thể hiện ở bảng số liệu sau đây:

Trang 18

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam từ năm 1985 - 2006

(1000 ha)

Năng suất(tấn/ha)

Sản lượng(1000 tấn)

Trang 19

2006 974,0 3,62 3.820,0

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006)

Bên cạnh việc mở rộng diện tích, áp dụng tiến bộ công nghệ sinh học, đặc biệt đưa ra các giông ngô lai năng suất cao, phẩm chất tốt và sản xuất đại trà, do

đó đã hình thành một số vùng trồng ngô tập trung có quy mô lớn như vùng Đông Nam Bộ đạt 30 vạn tấn, miền trung du Bắc Bộ đạt 50 vạn tấn, đưa cây ngô trở thành một trong những cây lương thực tiềm năng và triển vọng

Bảng2.3: Tiến bộ sản xuất ngô lai của Việt Nam giai đoạn 1985 – 2000.

Chỉ tiêu Diện tích

(1000 ha)

Năng suất( tạ/ha)

Sản lượng(1000 tấn)

Ngô laiDiện tích % so tổng

( Nguồn: Cây ngô nghiên cứu và sản xuất - Trấn Văn Minh, 2004)

2.2.4 Tình hình sản ngô của tỉnh Thừa Thiên Huế

Cả nước nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng, cây ngô được trồng khắp nơi từ đồng bằng cho đến miền núi và có thể trồng nhiều vụ trong năm đối với giống ngô lai và giống ngô địa phương Trước đây, do điều kiện kinh tế khó

Trang 20

khăn, trình độ sản xuất kém, khả năng thâm canh thấp nên chủ yếu dùng giống ngô địa phương Những năm gần đây đã có nhiều giống ngô lai được đưa về trồng tại tỉnh, kết hợp với biện pháp thâm canh nên năng suất đạt khá cao.

Bảng 2.4: Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(ha)

Năng suất(Tấn/ha)

(Nguồn: Số liệu ở cục thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế)

Qua bảng thống kê cho thấy năng suất và sản lượng ngô ở tỉnh Thừa Thiên Huế tăng lên rõ rệt nhất là năm 2006, năm 2000 năng suất 2,250 tấn/ha nhưng đến năm 2006 năng suất tăng lên 3,500 tấn/ha tăng 1,25 tấn/ha Diện tích cũng tăng dần qua các năm nhưng không đáng kể nguyên nhân là do việc mở rông diện tích đất cho các ngành công nghiệp và du lịch nên cần phải thu hẹp diện tích nông nghiệp lại

Vấn đề đặt ra cho tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian này là sự phát triển ngô cần phải quan tâm hàng đầu, nhất là về giống, đầu tư xây dựng đội ngũ cán

bộ khuyến nông ở vùng sâu,vùng xa nhằm giúp cho nhân dân tiếp cận được kỹ thuật trồng và biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại ngô

2.2.5 Tình hình sản xuất ngô của thành phố Huế.

Trang 21

Thành phố huế là một khu vực chủ yếu tập trung các ngành công nghiệp

và dịch vụ du lịch còn ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp hơn và chỉ tập trung ở các vùng ven thành phố mặc dù vậy trong những năm qua nông nghiệp thành phố Huế cũng có những bước chuyển biến đáng kể trong đó việc trồng ngô là một phần quyết định đến sự chuyển biến đó Trong những năm gần đây các vùng trồng ngô trên địa bàn thành phố Huế rất coi trọng việc trồng ngô, đặc biệt là ngô thực phẩm.Vì vậy mặc dù diện tích trồng ngô không có sự thay đổi lớn nhưng cho thấy hiệu quả kinh tế vẩn ổn định Tình hình sản xuất ngô ở thành phố Huế được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.5: Tình hình sản xuất ngô của thành phố Huế.

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(ha)

Năng suất(tạ/ha)

Sản lượng(tấn) 200

Trang 22

PHẦN III:

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tìm hiểu các yếu tố tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến quá trình sản xuất ngô

- Các hộ nông dân đang sản xuất ngô trong địa bàn tại xã DiÔn Hoµng

- Các yếu tố kỹ thuật và phương thức luân canh trong quá trình sản xuất ngô

- Các giống đang được sản xuất trên địa bàn xã DiÔn Hoµng

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Theo dõi điều tra về điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất ngô ở xã DiÔn Hoµng

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra đánh giá thực trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội

- Tìm hiểu điều kiện khí hậu, thuỷ văn

- Đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở xã DiÔn Hoµng qua một số năm từ 2005 – 2007

- Diễn biến về diện tích, năng suất, sản lượng ngô qua một số năm từ 2005 – 2007

- Đánh giá tình hình sản xuất ngô của xã như:

+ Thời gian sinh trưởng của một số giống ngô

+ Thời vụ gieo trồng và khoảng cách mật độ trồng

Trang 23

- Điều tra một số đối tượng sâu bệnh hại chính trên các giống ngô và biện pháp phòng trừ

- Khả năng đầu tư phân bón và tưới nước cho cây ngô

- Đánh giá hiệu quả của việc trồng ngô

- Một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất ngô đang được áp dụng trên địa bàn toàn xã DiÔn Hoµng

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan liên quan

- Cục thống kê tỉnh NghÖ An

- Phòng N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n huyÖn DiÔn ch©u

- Phßng thèng kª huyÖn DiÔn Ch©u

- Ban nông nghiệp xã DiÔn Hoµng

- Ban địa chính x· DiÔn Hoµng

3.3.2 Điều tra trực tiếp trên các hộ nông dân theo phiếu điều tra (có mẫu phiếu điều tra đã được chuẩn bị trước)

3.3.3 Phương pháp quan sát điều tra trên đồng ruộng

3.3.4 Sau khi thu thập các số liệu điều tra thì tiến hành tính toán xử lý số liệu, phân tích và đánh giá các số liệu thu thập được

3.3.5 Các chỉ tiêu điều tra

a Điều kiện tự nhiên

b Điều kiện kinh tế xã hội

c Tình hình sử dụng đất trồng cây hàng năm

d Tình hình sản xuất ngô ở trong xã

- Diễn biến về năng suất, diện tích và sản lượng ngô trong xã từ 2005 - 2007

- Thời vụ gieo trồng, đất trồng ngô, khoảng cách mật độ

- Tình hình sử dụng đầu tư phân bón và nước tưới

- Hiệu quả kinh tế của việc sản xuất ngô

e Điều tra tình hình sử dụng giống ngô ở xã Hương Long

Trang 24

PHẦN IV:

KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.

4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI.

4.1.1 Điều kiện tự nhiên:

4.1.1.1 Vị trí địa lý:

Vị trí địa lý đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nó

là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, quá trình sử dụng đất đai, lao động, phong tục tập quán của nhân X· DiÔn Hoµng lµ mét x· thuÇn n«ng nghiÖp thuéc phÝa b¾c huyÖn DiÔn Ch©u, tØnh NghÖ an C¸ch trung t©m huyÖn DiÔn Ch©u 19 km được giới hạn:

- Phía Tây giáp với xã DiÔn Yªn, DiÔn Trêng huyÖn DiÔn Ch©u, tØnh NghÖ An

- Phía Bắc giáp víi x· Quúnh DiÔn, x· Quúnh Thä huyÖn Quúnh Lu, NghÖ An

- Phía Đông giáp với x· Quúnh Thä huyÖn Quúnh Lu vµ x· DiÔn Hïng huyÖn DiÔn ch©u, tØnh NghÖ An

- Phía Nam giáp với x· DiÔn Mü huyÖn DiÔn ch©u,tØnh NghÖ An Toàn xã có diện tích 650 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 448ha

Trang 25

4.1.1.2.Thời tiết khớ hậu:

Khớ hậu tỉnh Nghệ An, hàng năm diễn biến thời tiết rất phức tạp

Khớ hậu thuộc khu vực nhiệt đới giú mựa, mang tớnh chuyển tiếp từ ỏ xớch đạo đến nội chớ tuyến giú mựa, chịu ảnh hưởng khớ hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta

Chế độ nhiệt: Nghệ An cú mựa khụ núng và mựa mưa ẩm lạnh Nhiệt độ trung bỡnh hàng năm khoảng 26°C - 28°C

+ Mựa núng: từ thỏng 4 đến thỏng 9, chịu ảnh hưởng của giú Tõy Nam nờn khụ núng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bỡnh cỏc thỏng núng là từ 29°C - 32°C, thỏng núng nhất (thỏng 5, 6) nhiệt độ cú thể lờn đến 38°C- 40°C

+ Mựa lạnh: Từ thỏng 10 đến thỏng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của giú mựa Đụng bắc nờn mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bỡnh về mựa lạnh là 18°C - 20°C, cú thời điểm xuống 9-120C

Với nhiệt độ cỏc thỏng trong năm trờn, cú ảnh hưởng đến cơ cấu thời vụ của cỏc loại cõy trồng Vỡ vậy, việc bố trớ thời vụ cho cõy trồng là rất quan trọng vỡ

nú liờn quan đến năng suất, sõu bệnh, hiệu quả kinh tế do chờnh lệch giỏ bỏn giữa cỏc vụ trong năm

- Ẩm độ khụng khớ: Ẩm độ khụng khớ là một trong yếu tố khụng kộm phần quan trọng trong việc cơ cấu cỏc loại cõy trồng

Nghệ An là vựng cú ẩm độ khụng khớ tương đối cao, Với độ ẩm trung bỡnh 81%-83%

Ẩm độ khụng khớ trung bỡnh cỏc thỏng trong năm lại nghịch với nhiệt độ trung bỡnh cỏc thỏng trong năm Cụ thể đối với nhiệt độ, cỏc thỏng thấp nhất là thỏng 11,12,1, 2, 3 Trong khi đú ẩm độ của cỏc thỏng này lại cao Trỏi lại cỏc thỏng 4, 5, 6, 7, 8, 9, cú nhiệt độ trung bỡnh cao thỡ ẩm độ trung bỡnh lại thấp

- Chế độ mưa: Mưa là một yếu tố quan trọng trong việc cung cấp nước cho cõy trồng nú ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sõu bệnh của cõy trồng.Lượng mưa trung bỡnh ở Huế khoảng 2500mm/năm Mựa

Ngày đăng: 02/07/2014, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đường Hồng Dật, cây ngô - kỹ thuật thâm canh tăng năng suất, NXB [2]. Lao động xã hội năm 2004 Khác
[3]. Trần Đình Long, giáo trình: Chọn giống cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội năm 1997 Khác
[4]. Trần Văn Minh, Quy trình thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu cây ngô. ĐHNL - Huế, 1998 Khác
[5]. Trần Hữu Miện, Cây ngô cao sản ở Hà Nội, NXB Hà Nội năm 1987 Khác
[6]. Nguyễn Hữu Tình, Cây ngô – NXB Nông nghiệp Hà Nội năm 1997 Khác
[7]. Đinh Thị Sơn, bài giảng khí tượng nông nghiệp Huế năm 1995 Khác
[8]. Lê Đình Hường, Bài giảng côn trùng nông nghiệp - Huế năm 2001 Khác
[9]. Thuốc bảo vệ thực vật - Trần Quốc Hùng – NXB Nông nghiệp 1996 Khác
[10]. Niêm giám thống kê – NXB thống kê Hà Nội năm 2007 Khác
[11]. Niêm giám thống kê năm 2006 cục thống kê tỉnh Quảng Nam Khác
[12]. Niêm giám thống kê năm 2006 cục thống kê Huyện Điện Bàn.[13]. Nguồn FAO, 2007 Khác
[14]. Nguồn: sokhoahoccn.angiang.gov.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất,sản lượng ngô trên thế giới từ 1961 – 2008 - luan van(Hien D-Hoang)
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất,sản lượng ngô trên thế giới từ 1961 – 2008 (Trang 14)
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thừa Thiên Huế. - luan van(Hien D-Hoang)
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô ở tỉnh Thừa Thiên Huế (Trang 20)
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất ngô của thành phố Huế. - luan van(Hien D-Hoang)
Bảng 2.5 Tình hình sản xuất ngô của thành phố Huế (Trang 21)
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu của Thừa Thiên Huế từ năm 2005 -   2007 - luan van(Hien D-Hoang)
Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu của Thừa Thiên Huế từ năm 2005 - 2007 (Trang 27)
Bảng  4.2: Tỡnh hỡnh sử dụng đất của xó Diễn hoàng qua cỏc năm. - luan van(Hien D-Hoang)
ng 4.2: Tỡnh hỡnh sử dụng đất của xó Diễn hoàng qua cỏc năm (Trang 29)
Bảng  4.3: Tình hình dân số và lao động của xã qua các năm. - luan van(Hien D-Hoang)
ng 4.3: Tình hình dân số và lao động của xã qua các năm (Trang 34)
Bảng 4.5: Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát triển  của các giống ngô - luan van(Hien D-Hoang)
Bảng 4.5 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống ngô (Trang 38)
Bảng 4.6: Một số biện pháp kỹ thuật áp dụng cho các giống ngô ở các hộ  điều tra - luan van(Hien D-Hoang)
Bảng 4.6 Một số biện pháp kỹ thuật áp dụng cho các giống ngô ở các hộ điều tra (Trang 38)
Bảng 4.7. Tình hình sâu bệnh hại ngô: - luan van(Hien D-Hoang)
Bảng 4.7. Tình hình sâu bệnh hại ngô: (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w