Cũng có kẻ màn lan trướng huệ Những cậy mình cung quế Hằng Nga, Một phen thay đổi sơn hà, Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?. Kìa những kẻ bài binh bố trận Đổi mình vào cướp ấn nguyên nh
Trang 1Chủ đề & bố cục
Văn tế thập loại chúng sinh là một bài văn khấn tế, đề cập đến xã hội hồn ma
một cách thảm thương nhất Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song
khác biệt cơ bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn Chúng sinh ai
cũng như ai cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót
thương tất cả [5] Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ
chữ Nôm Theo Đặng Thị Hảo, có thể chia bài văn thành bốn phần [6]
Phần một (20 câu): tả cảnh một chiều thu tháng Bảy mưa dầm buồn bã,
khiến nhà thơ chạnh lòng thương đến các chúng sinh đang lạnh lẽo, bơ vơ
nơi cõi âm mà lập đàn cầu siêu
Phần hai (116 câu): nêu rõ tên và nguyên nhân thiệt mạng của mười loại cô
hồn
Phần ba (20 câu): miêu tả cảnh sống thê lương thảm thiết của các cô hồn
Phần cuối (28 câu): lời thỉnh cầu phép Phật nhiệm mầu giúp cho họ được
giải thoát Cuối cùng là lời mời các cô hồn tới nhận phần lễ cúng để lên đàng
thăng thiên
Tiết tháng bảy mưa dầm
sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt
xương khô
Não ngườI thay buổi chiều
thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá
ngô rụng vàng
Đường bạch dương bóng
chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa
sa
Lòng nào lòng chẳng thiết
tha
Cõi dương còn thế nữa là
cõi âm
Trong trường dạ tối tăm
trời đất,
Bãi sa trường thịt nát máu rơi
Mênh mông góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?
Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?
Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn
Nắm xương chôn rấp góc thành
Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?
Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha Lấy ai bồng bế xót xa
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng
Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Cũng có người sẩy cối sa cây
Có người leo giếng đứt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây
Trang 2Có khôn thiêng phảng
phất u minh
Thương thay thập loại
chúng sing
Hồn đơn phách chiếc lênh
đênh quê người
Hương lửa đã không nơi
nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy
niên
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hèn ai
ngu!
Tiết đầu thu lập đàn giải
thoát
Nước tĩnh đàn sái hạt
dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi
Giải oan cứu khổ độ về
tây phương
Cũng có kẻ tính đường
kiêu hãnh
Chí những lăm cất gámh
non sông
Nói chi những buổi tranh
hùng
Tưởngn khi thế khuất vận
cùng mà đau!
Bỗng phút đâu mưă sa
ngói lở
Khôn đem mình làm đứa
thất phu
Ruột rà khôngkẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dẫu có như không
Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi
Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?
Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy
Dẫn mình vào thành thị lân la
Mấy thu lìa cửa lìa nhà Văn chương đã chắc đâu
mà trí thân
Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn
lửa thành
Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh sói ngà voi
Có người hay đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?
Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là điếm cỏ bóng cây
Hoặc là quán nọ cầu này
bơ vơ Hoặc là nương thần từ Phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không
Hoặc nơi gò đống hoặc
Trang 3Giàu sang càng nặng oán
thù
Máu tươi lai láng xương
khô rụng rời
Đoàn vô tự lạc loài nheo
nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc
đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ
cho tan
Cũng có kẻ màn lan
trướng huệ
Những cậy mình cung quế
Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là
về đâu?
Trên lầu cao dưới dòng
nườc chảy
Phận đã đành trâm gãy
bìng rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không
người nhặt xương
Đau đớn nhẽ không hương
không khói
Hồn ngẩn ngơ dòng suối
rừng sim
Thương thay chân yếu tay
mềm
nghiêng
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng
Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng
Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê
Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?
Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm vắt gian
vùng lau tre
Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô dạ rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra Lôi thôi bồng trẻ dắt già
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ
độ u Rắp hòa tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa không
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh
Nhờ phép Phật uy linh
Trang 4Càngnăm càng héo một
đêm một dài
Kìa những kẻ mũ cao áo
rộng,
Ngọn bút son thác sống ở
tay
Kinh luân găm một túi đầy
Đã đêm Quản Cát lại ngày
Y Chu
Thịnh mãn lắm, oán thù
càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm
chung quanh
Ngàn vàn khôn đổi được
mình
Lầu ca viện hát tan tành
còn đâu?
Kẻ thân thích vắng sau
vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén
nhang?
Cô hồn thất thểu dọc
ngang
Nặng oan khôn nh9e tìm
đường hóa sinh?
Kìa những kẻ bài binh bố
trận
Đổi mình vào cướp ấn
nguyên nhung
Gió mưa sấm sét đùng
đùng
Phơi thây trăm họ nên
nan
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời
Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!
Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?
Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ chết
dũng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh
Kiếp phù sinh như hình như ảnh
Có chữ rằng:"Vạn cảnh giai không"
Ai ơi lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có khi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên
Ai đến đây dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ
Phép thiên biến ít thành nhiều
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh
Phật hữu tình từ bi phổ độ Chớ ngại rằng có có
Trang 5công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc
vùi đường quan
Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh
không không
Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài[13
Nguyễn Hữu Bổng
dịch thơ:
Một mẹ cùng ba
con,
Lê la bên đường nọ,
Đứa bé ôm trong
lòng,
Đứa lớn tay mang
giỏ
Trong giỏ đựng
những gì?
Mớ rau lẫn tấm cám,
Nửa ngày bụng vẫn
không,
Áo quần vẻ co dúm
Gặp người chẳng
dám nhìn,
Lệ sa vạt áo ướt,
Mấy con vãn cười
đùa,
Biết đâu lòng mẹ
xót
Lòng mẹ xót vì sao?
Đói kém phải phiêu
bạt
Nơi đây mùa khá
hơn,
Giá gạo không quá
đắt
Quản chi bước lưu
ly, Miễn sống qua thì đói
Nhưng một người làm thuê ,
Nuôi bốn miệng sao nổi!
Lần phố xin miếng
ăn, Cách ấy đâu được mãi!
Chết lăn rãnh đến nơi,
Thịt da béo cầy sói
Mẹ chết có tiếc gì, Thương đàn con vô tội,
Nỗi đau như xé lòng, Trời cao có thấu nổi?
Gió lạnh bỗng đâu
về Khách đi đường rầu
rĩ, Đêm qua trạm Tây
hà Mâm cổ sang vô kể?
Nào vây cá, gân hươu,
Lợn dê mâm đầy ngút,
Quan lớn không gắp qua,
Các thầy chỉ nếm chút
Thức ăn thừa đổ đi Quanh xóm no đàn chó,
Biết đâu bên đường quan,
Có mẹ con cực khổ!
Ai vẽ bức tranh này
Dâng lên nhà vua rõ! [3
Trích thi tập
U cư (Ở nơi u tịch, bài 2)
Dịch nghĩa:
Mười năm trong gió bụi, bỏ
quê hương đi xa,
My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù)
Dịch nghĩa:
Chung tử[8]
Trang Tích[9] khi ốm vẫn rên bằng
Trang 6Đầu bạc bơ phờ, ở nhờ nhà
người
Đường dài, trời đã về chiều,
không có bạn mới,
Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ
lại nhiều
Vách nát, trăng sáng, rắn mối
leo quanh,
Ao hoang, nước cạn, ếch
nhái nhảy ra
Người đi xa chớ đọc bài phú
Đăng lâu[7]
Quá nửa tuổi xuân ở nơi góc
biển
tiếng Việt
Bốn bể gió bụi, nghĩ tình nhà việc nước mà rơi lệ
Mười tuần lao tù, lòng coi thường sống chết
Bao giờ mới hết mối hận Bình chương[10] ?
Khó mà tìm được phong cách cao thượng của người Cô Trúc[11]
Ta có một tâm sự không biết tỏ cùng
ai, Dưới chân núi Hồng, sông Quế giang sâu thẳm
Mạn hứng (Cảm hứng lan man)
Dịch nghĩa:
Bên bãi Long vĩ có nhiều
chim âu trắng,
Trong ngôi nhà bên sông
Lam có nhà nho nghèo
Một đời chuyên về từ phú,
biết là vô ích,
Sách đàn đầy giá, chỉ mình
làm ngu mình
Cuộc đời trăm năm buồn
thay chỉ là chốc lát,
Tuổi già mua vui, tiếc quá
ngắng ngủi
Biết rồi đây, khi nằm
xuống dưới gò phía tây,
Tiết trùng dương đến,
liệu có uống được một giọt
rượu nào không?
Độc Tiểu Thanh ký (Đọc tập Tiểu
Thanh[12]ký)
Dịch nghĩa:
Vườn hoa bên Tây hồ đã thành bãi hoang rồi,
Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ
Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết
Văn chương không có số mệnh mà cũng
bị đốt dở
Những mối hận cổ kim, khó mà hỏi trời được,
Ta tự coi như người cùng một hội, với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng
Chẳng biết ba trăm năm sau, Thiên hạ ai người khóc Tố Như?[13]
Trích nhận xét
GS Nguyễn Lộc viết:
"Nam trung tạp ngâm có tính chất nhật ký, bút ký của tác giả trong những năm tháng làm quan ấy Về đề tài, chưa có gì mới so với tập thơ đầu Những bài thơ trong tập thơ này vẫn là những tiếng thở dài của nhà thơ trước một thực trạng mà ông không thấy có gì gắn bó
Trong một số bài, Nguyễn Du lại nói về sự nghèo túng, ốm đau của mình
(Ngẫu đề, Thủy Liên đạo trung tảo hành ) hay nói một cách mỉa mai và
bóng gió về thói hay chèn ép[2] của các quan lại (Ngẫu đắc, Điệu
Trang 7khuyển ) Trong một số bài khác, ông than thở việc ra làm quan là bị
nhốt vào lồng củi, không tìm đâu được những ngày phóng khoáng tự do
nữa (Tân thu ngẫu hứng, Tặng nhân, Vọng Thiên thai tự ) Trong một số
bài khác nữa, ông vẫn cứ trở đi trở lại với cái tâm sự u uất, bế tắc của
mình (Tạp ngâm, Thu chí, Giản Công bộ Thiêm sự Trần, Thu nhật ký hứng, Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên )
Nói khác hơn, với nhà Nguyễn, ông được trọng vọng, mà trong thơ ông có
cái gì như chán chường nhà Nguyễn Và cũng giống như Thanh Hiên thi tập, trong Nam Trung tạp ngâm, chưa bao giờ Nguyễn Du nói rõ cái tâm
sự thật của mình; rải rác đây đó, trong thơ chỉ thấy ông than thở cuộc đời
là đáng buồn, đáng chán, là vô nghĩa, là bãi bể nương dâu [3]
[sửa] Trích thi tập
Thu chí (Thu đến)
Dịch nghĩa:
Sông Hương một mảnh nguyệt
Xưa nay gợi không biết bao nhiêu mối
sầu
Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh,
Thu mới tới trên đầu tóc bạc
Có hình nên phải chịu vất vả,
Không bệnh mà lưng vẫn khom khom
Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam,
Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng
Quách Tấn dịch thơ:
Sông Hương một mảnh nguyệt,
Lai láng sầu cổ câm
Chuyện xưa mồ cỏ biếc, Thu mới tóc hoa râm
Có hình thân phải khổ, Không bệnh lưng vẫn khom Bến Lam Giang ngoảnh lại, Bầy âu vui sớm hôm
Ngẫu đề (Tình cờ đề vịnh)
Dịch nghĩa:
Thềm sân trống trơn chỉ có màu đêm
bàng bạc
Nhà sâu thăm thẳm, rèm buông
xuống
Dưới bóng trăng của nghìn nhà,
tiếng chày dập vải nghe rộn rã
Một viện gió thổi,
tàu chuối khua xào xạc tiêu điều
Phía bắc Hoành Sơn, mười miệng
kêu đói
Gió đông thành vua, một thân nằm
bệnh
Các bạn quen biết lấy làm lạ
tại sao ta sầu mộng
Thiên hạ ai là người không ở trong
mộng?
Quách Tấn dịch thơ:
Trống trải sân thềm đêm nhạt suông
Nhà sâu im ỉm bức rèm buông
Tiếng chày lan rộng trăng nghìn nóc,
Tàu chuối đìu hiu gió một phòng
Mười miệng đòi cơm ngoài cõi Bắc,
Một thân nằm bệnh cõi thành Đông
Người quen trách tớ hay sầu mộng
Thiên hạ còn ai tỉnh táo không?
Điệu khuyển (Điếu con chó chết)
Dịch nghĩa:
Thiên hạ có ngựa hay không chết già,
Quách Tấn dịch thơ:
Tuấn mã không chết già, Liệt nữ không chết yên
Trang 8Người trinh liệt không chết yên lành
Phàm người sinh ra có khí phách khác
thường,
Trời đất không có chỗ dung túng
Nghĩ thương mày thuộc giống gia súc,
Lông xương cũng đồng với loài người
Ham tiến không biết dừng,
Bỏ mình trong núi lạnh
Bỏ mình chớ than tức,
Bao lần thử sức không thành công
Phàm khí phách khác thường,
Trời đất hay ghen tương Thương mày giống gia súc,
Cùng người đồng thịt xương
Ham tiến không biết thối,
Bỏ mình rừng gió sương
Bỏ mình chớ than tức, Chẳng vẹn công đấu trường[4]
Dịch thơ
Hoàng Tạo dịch theo thể song
thất lục bát
Đất Long thành khách giai nhân
nọ,
Không nhớ ra tên họ là gì
Nguyễn Cầm nổi tiếng đương thì,
Tên Cầm mượn của đàn kia gọi
người,
Khúc cung phụng những đời vua
trước,
Tưởng quân thiên nhã nhạc khôn
bì
Nhớ hồi tuổi trẻ xưa kia,
Đêm bên hồ Giám một kỳ tiệc
vui
Xuân độ ấy đương hồi ba bảy,
Ánh hồng trang lộng lẫy mặt hoa
Não người vẻ rượu ngà ngà,
Năm cung dìu dặt này qua phím
đàn
Tiếng khoan thoảng thông ngàn
gió thổi,
Tiếng trong như hạc gọi xa xăm
Mạnh như Tiến Phúc sét gầm,
Buồn như tiếng Việt, Trang nằm
đau rên
Ai nấy nghe nhường quên mệt
mỏi,
Rõ tiếng đàn đại nội Trung Hoà
Tây sơn quan khách la đà,
Mải vui quên cả tiếng gà tan
canh
Tố Hữu dịch theo thể lục bát
Có người đẹp ở Long thành,
Họ tên không rõ nổi danh nguyệt cầm
Cô Cầm tên gọi tri âm, Khúc đàn Cung phụng thâm trầm triều xưa
Ngón tay nàng vuốt tiếng tơ, Nhạc hay những tưởng trời đưa xuống trần
Nhớ thời trai, đã một lần, Tiệc vui hồ Giám, giai nhân bên mình
Tuổi chừng hai mốt xuân xanh,
Áo hồng mờ trước mặt xinh hoa đào
Hơi men đỏ má, yêu sao!
Năm cung réo rắt, thấp cao đổi dòng
Tiếng khoan gió thoảng rừng thông,
Trong như tiếng hạc từng không đêm mờ
Mạnh như sét đánh bia xưa, Đau như Trang Tích ngâm thơ Việt buồn
Người nghe say đắm tâm hồn, Đẹp sao tiếng nhạc lầu son Trung hòa
Tây Sơn quan khách tiệc hoa, Ngả nghiêng vui thú sa đà suốt đêm
Trang 9Tả lại hữu tranh giành gieo
thưởng,
Tiền như bùn ước lược qua loa,
Vương hầu thua kẻ hào hoa,
Ngũ Lăng chẳng trẻ ai mà kể chi
Băm sáu cung xuân kia chung
đúc,
Đất Trường An hạt ngọc liên
thành
Hai mươi năm, tiệc qua nhanh,
Tây Sơn sụp đổ thì mình về Nam
Chốn Long thành tấc gang chẳng
tới,
Còn nói chi những buổi đàn ca
Nặng tình quan sứ tiễn ta,
Tiệc hoa kén những bông hoa nói
cười
Mé cuối tiệc một người nho nhỏ,
Tóc hoa râm mặt võ mình gầy
Bơ phờ chẳng sửa đôi mày,
Tài hoa ai biết đất này không hai!
Thoáng mấy tiếng, thầm rơi giọt
lệ,
Lọt tai mà như xé tấc son!
Giật mình hai chục năm tròn,
Tiệc bên hồ Giám người còn chưa
quên
Cuộc thương hải tang điền thấm
thoắt,
Cõi nhân gian thành quách đổi
đời,
Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi,
Mà làng ca vũ một người còn trơ!
Ngàn trăm năm thì giờ chớp mắt,
Lệ thương tâm ướt vạt áo là
Nam về đầu bạc ngẫm ta,
Trách gì hương phấn bông hoa
chẳng tàn!
Trừng trừng đôi mắt mơ màng,
Quen mà hoá lạ nghĩ càng thêm
thương.[17]
Đua nhau tả hữu đổi bên, Xem như bùn đất, vung tiền thưởng ca
Vương hầu cũng kém hào hoa, Ngũ Lăng niên thiếu vào ra bao lần
Tưởng ba mươi sáu cung xuân, Trường An vật báu cũng ngần ấy thôi!
Tiệc xưa, nhớ lại một thời, Hai mươi năm đã hết đời Tây Sơn
Ta vào Nam, thuở vàng son, Long thành gang tấc, đâu còn trông ra?
Quan Tuyên phủ đã vì ta, Mua vui bày tiệc múa ca rộn ràng
Đào tiên trẻ đẹp bao nàng, Riêng người cuối chiếu võ vàng một cô
Hình hài, thần sắc héo khô, Đôi mày tàn tạ, vải thô nát nhàu Hoa râm tóc đã ngả màu,
Long thành ai nhớ ai đâu thuở nào
Tài danh bậc nhất cô đào, Canh khuya bỗng vút lên cao tiếng đàn
Khúc xưa, nghe những lệ tràn, Lòng đau chợt nhớ gặp nàng như
mơ
Hai mươi năm trước, ai ngờ, Tiệc vui hồ Giám, bây giờ thấy nhau?
Biết bao chìm nổi biển dâu, Đổi dời thành quách, khác mau việc đời
Tây Sơn cơ nghiệp tan rồi, Chỉ còn sót lại một người múa ca Trăm năm chớp mắt ngày qua, Đau lòng việc cũ, xót xa lệ sầu Nam ra, ta đã bạc đầu,
Trách gì người đẹp sắc màu tàn phai
Nhớ xưa, mở mắt nhìn ai,
Trang 10Thương thay giáp mặt, cả hai ngỡ ngàng.[18]