1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tác giả nguyễn du

10 739 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ Những cậy mình cung quế Hằng Nga, Một phen thay đổi sơn hà, Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?. Kìa những kẻ bài binh bố trận Đổi mình vào cướp ấn nguyên nh

Trang 1

Chủ đề & bố cục

Văn tế thập loại chúng sinh là một bài văn khấn tế, đề cập đến xã hội hồn ma

một cách thảm thương nhất Đó là hình ảnh lộn trái của xã hội trần thế, song

khác biệt cơ bản ở chỗ không có đối lập giàu nghèo, sang hèn Chúng sinh ai

cũng như ai cùng chịu cảnh đọa đày, oan khuất và cô đơn nên nhà thơ xót

thương tất cả [5] Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ

chữ Nôm Theo Đặng Thị Hảo, có thể chia bài văn thành bốn phần [6]

Phần một (20 câu): tả cảnh một chiều thu tháng Bảy mưa dầm buồn bã,

khiến nhà thơ chạnh lòng thương đến các chúng sinh đang lạnh lẽo, bơ vơ

nơi cõi âm mà lập đàn cầu siêu

Phần hai (116 câu): nêu rõ tên và nguyên nhân thiệt mạng của mười loại cô

hồn

Phần ba (20 câu): miêu tả cảnh sống thê lương thảm thiết của các cô hồn

Phần cuối (28 câu): lời thỉnh cầu phép Phật nhiệm mầu giúp cho họ được

giải thoát Cuối cùng là lời mời các cô hồn tới nhận phần lễ cúng để lên đàng

thăng thiên

Tiết tháng bảy mưa dầm

sùi sụt,

Toát hơi may lạnh buốt

xương khô

Não ngườI thay buổi chiều

thu,

Ngàn lau nhuốm bạc lá

ngô rụng vàng

Đường bạch dương bóng

chiều man mác,

Dịp đường lê lác đác mưa

sa

Lòng nào lòng chẳng thiết

tha

Cõi dương còn thế nữa là

cõi âm

Trong trường dạ tối tăm

trời đất,

Bãi sa trường thịt nát máu rơi

Mênh mông góc bể chân trời

Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

Khí âm huyền mờ mịt trước sau

Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú

Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn

Nắm xương chôn rấp góc thành

Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha Lấy ai bồng bế xót xa

U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối

Cũng có người sẩy cối sa cây

Có người leo giếng đứt dây

Người trôi nước lũ kẻ lây

Trang 2

Có khôn thiêng phảng

phất u minh

Thương thay thập loại

chúng sing

Hồn đơn phách chiếc lênh

đênh quê người

Hương lửa đã không nơi

nương tựa

Hồn mồ côi lần lữa bấy

niên

Còn chi ai khá ai hèn

Còn chi mà nói ai hèn ai

ngu!

Tiết đầu thu lập đàn giải

thoát

Nước tĩnh đàn sái hạt

dương chi

Muôn nhờ đức Phật từ bi

Giải oan cứu khổ độ về

tây phương

Cũng có kẻ tính đường

kiêu hãnh

Chí những lăm cất gámh

non sông

Nói chi những buổi tranh

hùng

Tưởngn khi thế khuất vận

cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưă sa

ngói lở

Khôn đem mình làm đứa

thất phu

Ruột rà khôngkẻ chí thân

Dẫu làm nên để dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

Của phù vân dẫu có như không

Sống thời tiền chảy bạc ròng

Thác không đem được một đồng nào đi

Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm

Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm

Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm

Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy

Dẫn mình vào thành thị lân la

Mấy thu lìa cửa lìa nhà Văn chương đã chắc đâu

mà trí thân

Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng

Vội vàng liệm sấp chôn

lửa thành

Người thì mắc sơn tinh thủy quái

Người thì sa nanh sói ngà voi

Có người hay đẻ không nuôi

Có người sa sẩy có người khốn thương

Gặp phải lúc đi đường lỡ bước

Cầu Nại Hà kẻ trước người sau

Mỗi người một nghiệp khác nhau

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi

Hoặc là nương ngọn suối chân mây

Hoặc là điếm cỏ bóng cây

Hoặc là quán nọ cầu này

bơ vơ Hoặc là nương thần từ Phật tự

Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông

Hoặc là trong quãng đồng không

Hoặc nơi gò đống hoặc

Trang 3

Giàu sang càng nặng oán

thù

Máu tươi lai láng xương

khô rụng rời

Đoàn vô tự lạc loài nheo

nhóc,

Quỷ không đầu đứng khóc

đêm mưa

Cho hay thành bại là cơ

Mà cô hồn biết bao giờ

cho tan

Cũng có kẻ màn lan

trướng huệ

Những cậy mình cung quế

Hằng Nga,

Một phen thay đổi sơn hà,

Mảnh thân chiếc lá biết là

về đâu?

Trên lầu cao dưới dòng

nườc chảy

Phận đã đành trâm gãy

bìng rơi

Khi sao đông đúc vui cười

Mà khi nhắm mắt không

người nhặt xương

Đau đớn nhẽ không hương

không khói

Hồn ngẩn ngơ dòng suối

rừng sim

Thương thay chân yếu tay

mềm

nghiêng

Anh em thiên hạ láng giềng người dưng

Bóng phần tử xa chừng hương khúc

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang

Cô hồn nhờ gửi tha phương

Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng

Cũng có kẻ vào sông ra bể,

Cánh buồm mây chạy xế gió đông

Gặp cơn giông tố giữa dòng

Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê

Cũng có kẻ đi về buôn bán

Đòn gánh tre chín dạn hai vai

Gặp cơn mưa nắng giữa trời

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính

Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan

Nước khe cơm vắt gian

vùng lau tre

Sống đã chịu một bề thảm thiết

Ruột héo khô dạ rét căm căm

Dãi dầu trong mấy mươi năm

Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn

Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra Lôi thôi bồng trẻ dắt già

Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh

Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ

Phóng hào quang cứu khổ

độ u Rắp hòa tứ hải quần chu

Não phiền trút sạch oán thù rửa không

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại

Chuyển pháp luân tam giới thập phương

Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương

Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh

Nhờ phép Phật uy linh

Trang 4

Càngnăm càng héo một

đêm một dài

Kìa những kẻ mũ cao áo

rộng,

Ngọn bút son thác sống ở

tay

Kinh luân găm một túi đầy

Đã đêm Quản Cát lại ngày

Y Chu

Thịnh mãn lắm, oán thù

càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm

chung quanh

Ngàn vàn khôn đổi được

mình

Lầu ca viện hát tan tành

còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau

vắng trước

Biết lấy ai bát nước nén

nhang?

Cô hồn thất thểu dọc

ngang

Nặng oan khôn nh9e tìm

đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố

trận

Đổi mình vào cướp ấn

nguyên nhung

Gió mưa sấm sét đùng

đùng

Phơi thây trăm họ nên

nan

Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời

Buổi chiến trận mạng người như rác

Phận đã đành đạn lạc tên rơi

Lập lòe ngọn lửa ma trơi

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa Ngẩn ngơ khi trở về già

Ai chồng con tá biết là cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não

Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ

Đau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất

Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi

Thương thay cũng một kiếp người

Sống nhờ hàng xứ chết

dũng mãnh

Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao

Mười loài là những loài nào?

Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh

Kiếp phù sinh như hình như ảnh

Có chữ rằng:"Vạn cảnh giai không"

Ai ơi lấy Phật làm lòng

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo

Của có khi bát cháo nén nhang

Gọi là manh áo thoi vàng

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên

Ai đến đây dưới trên ngồi lại

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ

Phép thiên biến ít thành nhiều

Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh

Phật hữu tình từ bi phổ độ Chớ ngại rằng có có

Trang 5

công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc

vùi đường quan

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc

Gửi mình vào chiếu rách một manh

không không

Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng

Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài[13

Nguyễn Hữu Bổng

dịch thơ:

Một mẹ cùng ba

con,

Lê la bên đường nọ,

Đứa bé ôm trong

lòng,

Đứa lớn tay mang

giỏ

Trong giỏ đựng

những gì?

Mớ rau lẫn tấm cám,

Nửa ngày bụng vẫn

không,

Áo quần vẻ co dúm

Gặp người chẳng

dám nhìn,

Lệ sa vạt áo ướt,

Mấy con vãn cười

đùa,

Biết đâu lòng mẹ

xót

Lòng mẹ xót vì sao?

Đói kém phải phiêu

bạt

Nơi đây mùa khá

hơn,

Giá gạo không quá

đắt

Quản chi bước lưu

ly, Miễn sống qua thì đói

Nhưng một người làm thuê ,

Nuôi bốn miệng sao nổi!

Lần phố xin miếng

ăn, Cách ấy đâu được mãi!

Chết lăn rãnh đến nơi,

Thịt da béo cầy sói

Mẹ chết có tiếc gì, Thương đàn con vô tội,

Nỗi đau như xé lòng, Trời cao có thấu nổi?

Gió lạnh bỗng đâu

về Khách đi đường rầu

rĩ, Đêm qua trạm Tây

hà Mâm cổ sang vô kể?

Nào vây cá, gân hươu,

Lợn dê mâm đầy ngút,

Quan lớn không gắp qua,

Các thầy chỉ nếm chút

Thức ăn thừa đổ đi Quanh xóm no đàn chó,

Biết đâu bên đường quan,

Có mẹ con cực khổ!

Ai vẽ bức tranh này

Dâng lên nhà vua rõ! [3

Trích thi tập

U cư (Ở nơi u tịch, bài 2)

Dịch nghĩa:

Mười năm trong gió bụi, bỏ

quê hương đi xa,

My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù)

Dịch nghĩa:

Chung tử[8]

Trang Tích[9] khi ốm vẫn rên bằng

Trang 6

Đầu bạc bơ phờ, ở nhờ nhà

người

Đường dài, trời đã về chiều,

không có bạn mới,

Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ

lại nhiều

Vách nát, trăng sáng, rắn mối

leo quanh,

Ao hoang, nước cạn, ếch

nhái nhảy ra

Người đi xa chớ đọc bài phú

Đăng lâu[7]

Quá nửa tuổi xuân ở nơi góc

biển

tiếng Việt

Bốn bể gió bụi, nghĩ tình nhà việc nước mà rơi lệ

Mười tuần lao tù, lòng coi thường sống chết

Bao giờ mới hết mối hận Bình chương[10] ?

Khó mà tìm được phong cách cao thượng của người Cô Trúc[11]

Ta có một tâm sự không biết tỏ cùng

ai, Dưới chân núi Hồng, sông Quế giang sâu thẳm

Mạn hứng (Cảm hứng lan man)

Dịch nghĩa:

Bên bãi Long vĩ có nhiều

chim âu trắng,

Trong ngôi nhà bên sông

Lam có nhà nho nghèo

Một đời chuyên về từ phú,

biết là vô ích,

Sách đàn đầy giá, chỉ mình

làm ngu mình

Cuộc đời trăm năm buồn

thay chỉ là chốc lát,

Tuổi già mua vui, tiếc quá

ngắng ngủi

Biết rồi đây, khi nằm

xuống dưới gò phía tây,

Tiết trùng dương đến,

liệu có uống được một giọt

rượu nào không?

Độc Tiểu Thanh ký (Đọc tập Tiểu

Thanh[12]ký)

Dịch nghĩa:

Vườn hoa bên Tây hồ đã thành bãi hoang rồi,

Chỉ viếng nàng qua một tập sách đọc trước cửa sổ

Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết

Văn chương không có số mệnh mà cũng

bị đốt dở

Những mối hận cổ kim, khó mà hỏi trời được,

Ta tự coi như người cùng một hội, với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng

Chẳng biết ba trăm năm sau, Thiên hạ ai người khóc Tố Như?[13]

Trích nhận xét

GS Nguyễn Lộc viết:

"Nam trung tạp ngâm có tính chất nhật ký, bút ký của tác giả trong những năm tháng làm quan ấy Về đề tài, chưa có gì mới so với tập thơ đầu Những bài thơ trong tập thơ này vẫn là những tiếng thở dài của nhà thơ trước một thực trạng mà ông không thấy có gì gắn bó

Trong một số bài, Nguyễn Du lại nói về sự nghèo túng, ốm đau của mình

(Ngẫu đề, Thủy Liên đạo trung tảo hành ) hay nói một cách mỉa mai và

bóng gió về thói hay chèn ép[2] của các quan lại (Ngẫu đắc, Điệu

Trang 7

khuyển ) Trong một số bài khác, ông than thở việc ra làm quan là bị

nhốt vào lồng củi, không tìm đâu được những ngày phóng khoáng tự do

nữa (Tân thu ngẫu hứng, Tặng nhân, Vọng Thiên thai tự ) Trong một số

bài khác nữa, ông vẫn cứ trở đi trở lại với cái tâm sự u uất, bế tắc của

mình (Tạp ngâm, Thu chí, Giản Công bộ Thiêm sự Trần, Thu nhật ký hứng, Y nguyên vận ký Thanh Oai Ngô Tứ Nguyên )

Nói khác hơn, với nhà Nguyễn, ông được trọng vọng, mà trong thơ ông có

cái gì như chán chường nhà Nguyễn Và cũng giống như Thanh Hiên thi tập, trong Nam Trung tạp ngâm, chưa bao giờ Nguyễn Du nói rõ cái tâm

sự thật của mình; rải rác đây đó, trong thơ chỉ thấy ông than thở cuộc đời

là đáng buồn, đáng chán, là vô nghĩa, là bãi bể nương dâu [3]

[sửa] Trích thi tập

Thu chí (Thu đến)

Dịch nghĩa:

Sông Hương một mảnh nguyệt

Xưa nay gợi không biết bao nhiêu mối

sầu

Chuyện cũ chạnh thương mồ cỏ xanh,

Thu mới tới trên đầu tóc bạc

Có hình nên phải chịu vất vả,

Không bệnh mà lưng vẫn khom khom

Ngoảnh đầu trông về bến sông Lam,

Lòng nhàn xin tạ từ chim âu trắng

Quách Tấn dịch thơ:

Sông Hương một mảnh nguyệt,

Lai láng sầu cổ câm

Chuyện xưa mồ cỏ biếc, Thu mới tóc hoa râm

Có hình thân phải khổ, Không bệnh lưng vẫn khom Bến Lam Giang ngoảnh lại, Bầy âu vui sớm hôm

Ngẫu đề (Tình cờ đề vịnh)

Dịch nghĩa:

Thềm sân trống trơn chỉ có màu đêm

bàng bạc

Nhà sâu thăm thẳm, rèm buông

xuống

Dưới bóng trăng của nghìn nhà,

tiếng chày dập vải nghe rộn rã

Một viện gió thổi,

tàu chuối khua xào xạc tiêu điều

Phía bắc Hoành Sơn, mười miệng

kêu đói

Gió đông thành vua, một thân nằm

bệnh

Các bạn quen biết lấy làm lạ

tại sao ta sầu mộng

Thiên hạ ai là người không ở trong

mộng?

Quách Tấn dịch thơ:

Trống trải sân thềm đêm nhạt suông

Nhà sâu im ỉm bức rèm buông

Tiếng chày lan rộng trăng nghìn nóc,

Tàu chuối đìu hiu gió một phòng

Mười miệng đòi cơm ngoài cõi Bắc,

Một thân nằm bệnh cõi thành Đông

Người quen trách tớ hay sầu mộng

Thiên hạ còn ai tỉnh táo không?

Điệu khuyển (Điếu con chó chết)

Dịch nghĩa:

Thiên hạ có ngựa hay không chết già,

Quách Tấn dịch thơ:

Tuấn mã không chết già, Liệt nữ không chết yên

Trang 8

Người trinh liệt không chết yên lành

Phàm người sinh ra có khí phách khác

thường,

Trời đất không có chỗ dung túng

Nghĩ thương mày thuộc giống gia súc,

Lông xương cũng đồng với loài người

Ham tiến không biết dừng,

Bỏ mình trong núi lạnh

Bỏ mình chớ than tức,

Bao lần thử sức không thành công

Phàm khí phách khác thường,

Trời đất hay ghen tương Thương mày giống gia súc,

Cùng người đồng thịt xương

Ham tiến không biết thối,

Bỏ mình rừng gió sương

Bỏ mình chớ than tức, Chẳng vẹn công đấu trường[4]

Dịch thơ

Hoàng Tạo dịch theo thể song

thất lục bát

Đất Long thành khách giai nhân

nọ,

Không nhớ ra tên họ là gì

Nguyễn Cầm nổi tiếng đương thì,

Tên Cầm mượn của đàn kia gọi

người,

Khúc cung phụng những đời vua

trước,

Tưởng quân thiên nhã nhạc khôn

Nhớ hồi tuổi trẻ xưa kia,

Đêm bên hồ Giám một kỳ tiệc

vui

Xuân độ ấy đương hồi ba bảy,

Ánh hồng trang lộng lẫy mặt hoa

Não người vẻ rượu ngà ngà,

Năm cung dìu dặt này qua phím

đàn

Tiếng khoan thoảng thông ngàn

gió thổi,

Tiếng trong như hạc gọi xa xăm

Mạnh như Tiến Phúc sét gầm,

Buồn như tiếng Việt, Trang nằm

đau rên

Ai nấy nghe nhường quên mệt

mỏi,

Rõ tiếng đàn đại nội Trung Hoà

Tây sơn quan khách la đà,

Mải vui quên cả tiếng gà tan

canh

Tố Hữu dịch theo thể lục bát

Có người đẹp ở Long thành,

Họ tên không rõ nổi danh nguyệt cầm

Cô Cầm tên gọi tri âm, Khúc đàn Cung phụng thâm trầm triều xưa

Ngón tay nàng vuốt tiếng tơ, Nhạc hay những tưởng trời đưa xuống trần

Nhớ thời trai, đã một lần, Tiệc vui hồ Giám, giai nhân bên mình

Tuổi chừng hai mốt xuân xanh,

Áo hồng mờ trước mặt xinh hoa đào

Hơi men đỏ má, yêu sao!

Năm cung réo rắt, thấp cao đổi dòng

Tiếng khoan gió thoảng rừng thông,

Trong như tiếng hạc từng không đêm mờ

Mạnh như sét đánh bia xưa, Đau như Trang Tích ngâm thơ Việt buồn

Người nghe say đắm tâm hồn, Đẹp sao tiếng nhạc lầu son Trung hòa

Tây Sơn quan khách tiệc hoa, Ngả nghiêng vui thú sa đà suốt đêm

Trang 9

Tả lại hữu tranh giành gieo

thưởng,

Tiền như bùn ước lược qua loa,

Vương hầu thua kẻ hào hoa,

Ngũ Lăng chẳng trẻ ai mà kể chi

Băm sáu cung xuân kia chung

đúc,

Đất Trường An hạt ngọc liên

thành

Hai mươi năm, tiệc qua nhanh,

Tây Sơn sụp đổ thì mình về Nam

Chốn Long thành tấc gang chẳng

tới,

Còn nói chi những buổi đàn ca

Nặng tình quan sứ tiễn ta,

Tiệc hoa kén những bông hoa nói

cười

Mé cuối tiệc một người nho nhỏ,

Tóc hoa râm mặt võ mình gầy

Bơ phờ chẳng sửa đôi mày,

Tài hoa ai biết đất này không hai!

Thoáng mấy tiếng, thầm rơi giọt

lệ,

Lọt tai mà như xé tấc son!

Giật mình hai chục năm tròn,

Tiệc bên hồ Giám người còn chưa

quên

Cuộc thương hải tang điền thấm

thoắt,

Cõi nhân gian thành quách đổi

đời,

Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi,

Mà làng ca vũ một người còn trơ!

Ngàn trăm năm thì giờ chớp mắt,

Lệ thương tâm ướt vạt áo là

Nam về đầu bạc ngẫm ta,

Trách gì hương phấn bông hoa

chẳng tàn!

Trừng trừng đôi mắt mơ màng,

Quen mà hoá lạ nghĩ càng thêm

thương.[17]

Đua nhau tả hữu đổi bên, Xem như bùn đất, vung tiền thưởng ca

Vương hầu cũng kém hào hoa, Ngũ Lăng niên thiếu vào ra bao lần

Tưởng ba mươi sáu cung xuân, Trường An vật báu cũng ngần ấy thôi!

Tiệc xưa, nhớ lại một thời, Hai mươi năm đã hết đời Tây Sơn

Ta vào Nam, thuở vàng son, Long thành gang tấc, đâu còn trông ra?

Quan Tuyên phủ đã vì ta, Mua vui bày tiệc múa ca rộn ràng

Đào tiên trẻ đẹp bao nàng, Riêng người cuối chiếu võ vàng một cô

Hình hài, thần sắc héo khô, Đôi mày tàn tạ, vải thô nát nhàu Hoa râm tóc đã ngả màu,

Long thành ai nhớ ai đâu thuở nào

Tài danh bậc nhất cô đào, Canh khuya bỗng vút lên cao tiếng đàn

Khúc xưa, nghe những lệ tràn, Lòng đau chợt nhớ gặp nàng như

Hai mươi năm trước, ai ngờ, Tiệc vui hồ Giám, bây giờ thấy nhau?

Biết bao chìm nổi biển dâu, Đổi dời thành quách, khác mau việc đời

Tây Sơn cơ nghiệp tan rồi, Chỉ còn sót lại một người múa ca Trăm năm chớp mắt ngày qua, Đau lòng việc cũ, xót xa lệ sầu Nam ra, ta đã bạc đầu,

Trách gì người đẹp sắc màu tàn phai

Nhớ xưa, mở mắt nhìn ai,

Trang 10

Thương thay giáp mặt, cả hai ngỡ ngàng.[18]

Ngày đăng: 02/07/2014, 04:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w