Do đó thông tin di truyền từ bộ gene 3 loài Aspergillus vừa công bố đã cung cấp nguồn thông tin dồi dào không chỉ về quá trình tiến hóa mà còn cung cấp thông tin về các đặc tính có l
Trang 1Hoàn thành ba bộ
gene nấm mốc
Aspergillus
Trên tờ Narure số 428
(22-12-2005), trình tự genome 3 loài
nấm mốc Aspergillus đã được
công bố Cụ thể Aspergillus
oryzae, loài thường được dùng để
sản xuất rượu sake truyền thống
của Nhật; nấm Aspergillus
fumigatus loài gây bệnh trên
người và Apsergillus
Trang 2nidulans thường được dùng như
một mô hình trong các nghiên
cứu di truyền Cũng cần nhắc lại
rằng giốngAspergillus có khoảng
185 loài, trong đó có 20 loài gây bệnh cho người, nhiều loài gây
bệnh cho thực vật và nhiều loài được con người ứng dụng để sản xuất thực phẩm, hóa chất và các enzyme công nghiệm Do đó
thông tin di truyền từ bộ gene 3
loài Aspergillus vừa công bố đã
cung cấp nguồn thông tin dồi dào không chỉ về quá trình tiến hóa
mà còn cung cấp thông tin về các đặc tính có lợi và có hại của từng loài
Trang 3Các trình tự này được công bố từ nhóm các nhà khoa học bao gồm
Nhật, Mỹ và Châu Âu, tỷ lệ trình tự mỗi genome mà họ đọc được đạt
khoảng 95% Tổng dung lượng
genome từ 3 loài đã đọc là 95
Megabase, bao gồm 33.500 gene
mã hóa protein chứa trong 24
nhiễm sắc thể (8 NST mỗi loài) So sánh với bộ gene người, chúng ta nhớ lại rằng bộ gene người dài đến
320 Megabase nhưng chứa chỉ
30.000 gene mã hóa protein Cho thấy hệ số nén chặt gene trong
genome của Apergillus khá cao
1 Genome
Trang 4a Aspergillus ogyzae, loài đã được
sử dụng gần một ngàn năm nay để sản xuất thực phẩm và đồ uống lên men cổ truyền của Nhật Bản
Genome của nó dài hơn genome
của A fumigatus và A
nidulans khoảng 7-9 Mb Để giải
thích cho trường hợp này, các nhà khoa học giả định rằng đã có một
số gene được chuyển từ loài khác
sang A ozyrae trong quá trình tiến
hóa Hơn nữa, phần DNA phụ trội (dài hơn) này không nằm tập trung trong genome mà ngược lại chúng phát tán nữa khắp bộ gene, đặc biệt chúng chứa khá nhiều gene liên
Trang 5quan đến tổng hợp và vận chuyển nhiều chất chuyển hóa bậc hai - tức
là những hợp chất hóa học không liên quan trực tiếp đến sự tăng
trưởng, phát triển và sinh sản bình thường của sinh vật Các chất
chuyển hóa bậc hai thường mang tính đặc hiệu cho loài Do vậy, việc tìm thấy các gene liên quan đến
chất chuyển hóa bậc hai sẽ giúp
chúng ta hiểu biết kỹ hơn về đặc
tính sinh học đặc hiệu của loài quan tâm
Quan sát các loài tương cận với A
oryzae chẳng hạn A flavus và A
niger, các nhà khoa học cũng thấy
Trang 6bọn này cũng có phương thức
"chiêu mộ" gene tương tự Chẳng
hạn loài A flavus có 25 gene mã
hóa cho các protein liên quan đến con đường tạo ra độc tố "aflatoxin" Điều khá ngạc nhiên là các gene
"gây độc" này cũng hiện diện ở
loài A oryzae nhưng may mắn là
chúng không biểu hiện Điều này
gợi ý rằng tổ tiên của A flavus đã chuyển các gene "gây độc" vào A
oryzae, nhưng sau đó chúng đã bất
hoạt trong quá trình tiến hóa của A
oryzae
b Aspergillus fumigatus là loài
nấm mốc gây các căn bệnh chết
Trang 7người và là một dị ứng nguyên
không thể coi thường Trình tự A
fumigatus đã chỉ ra 9 gene liên
quan đến hiện tượng dị ứng không biết đến trước đây, cũng như nhiều gene liên quan đến quá trình sản
xuất các chất chuyển hóa bậc hai
đặc biệt, và một chuỗi các gene cơ bản có thể là cái đích tiềm năng cho thuốc tác dụng lên Tuy nhiên, các tác giả nghiên cứu nhận dịnh rằng các yếu tố đóng vai trò nền tảng
cho quá trình phát sinh bệnh của
loài A fumigatus này khá là phức
tạp, do đó để nhận diện đầy đủ bọn chúng, các nhà khoa học cần phải
sử dụng những khuynh hướng
nghiên cứu khác để bổ sung cho
Trang 8khuynh hướng phân tích genome
đang dùng Chẳng hạn, loài A
fumigatus phát triển rất mạnh trong
loài sinh vật máu nóng (như con
người chúng ta), do đó mà chúng
có khả năng chịu được nhiệt độ cơ thể cao (so sánh với nhiệt độ môi trường ngoài) Bằng cách sử dụng
kỹ thuật DNA microarray, các nhà khoa học đã xác định được một
chuỗi các gene gọi là "gene chịu
nhiệt" mà toàn bộ hoạt động của
chúng tăng cao ở 37 oC Tuy nhiên điều may mắn là khi nhiệt độ tăng lên 37 oC thì nó không đủ sức bật nhiều gene liên quan đến độc tính của loài này
Trang 9c Aspergillus nudulans từ đâu đã
được dùng như một sinh vật mô
hình nghiên cứu di truyền của nấm
Do đó mà bộ gene của nó được
xem là cốt yếu để tiến hành phân
tích so sánh ba loài Aspergillus, tuy nhiên bản thân bộ gen của A
nudulans cũng có những đặc tính
riêng biệt cần được khám phá
Chẳng hạn, sự điều hòa vài gene
riêng biệt đã được xác lập, trong đó các nhà khoa học đã nhận diện vị trí được giả định là nơi các yếu tố điều hòa và điều khiển phiên mã sẽ gắn lên Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn tìm thấy nhiều khung đọc
mở nhỏ nằm ở vùng thượng nguồn của gene có thể đóng vai trò ngăn
Trang 10cản sự biểu hiện của của gene nằm
kề dưới nó Thông qua bộ gene, các nhà khoa học còn tìm thấy nhiều
gene, mà người ta không biết tới,
liên quan đến nhiều quá trình sinh học khác thường như: quá trình trao đổi chất (oxy hóa acid béo), phát
triển (tăng trưởng theo cực) và con đường sửa sai DNA
2 Tiến hóa genome
Kết quả phân tích so sánh genome
cho thấy 3 loài Aspergillus này đã
phân ly từ hàng trăm triệu năm
trước và do đó bộ gene của chúng khác biệt rấr đáng xem xét Tính
Trang 11toán cho thấy có khoảng 3000
protein có liên hệ gần với nhau
hoặc "homologous" (tương đồng) trong bộ gene Trung bình, các
protein này có khoảng 68% acid
amine cơ định hiện diện trong tất cả
3 bộ gene - đây là một con số đáng
so sánh về sự tương đồng protein giữa thú có vú và cá vốn phân ly
khoảng 450 triệu năm trước Tuy
thế mà trật tự của các protein tương đồng dọc theo nhiễm sắc thế
(synteny - sự tương kề) lại được
bảo tồm nghiêm ngặt ở cả 3 loài,
cho thấy rằng không có sự nhân
genome trong suốt quá trình tiến
hóa Tuy nhiên, các vùng genome lớn lại thiếu sự tương kề (sự tương
Trang 12kề - syntency - được hiểu là 2 gene hay 2 locus nằm liền kề nhau trên một NST và giữa chúng có thể có hoặc không có sự liên kết về mặt di truyền) Nguyên nhân là do các
vùng lặp lại sóng đôi trước sau kích thước nhỏ nằm chen lẫn trong
genome, vì thế các gene thường
được tái sắp xếp nằm ở các đầu của NST, làm gián đoạn ngẫu nhiên và tái sắp xếp các khối tương kề Cấu trúc genome như thế này thường
được thấy ở A oryzae hơn là ở A
fumigatus
Xem xét tốc độ tiến hóa các acid
amine ở các gene tương đồng cho thấy tốc độ này giống nhau ở cả 3
Trang 13loài Điều này cho thấy sự tiến hóa
ở cấp độ vĩ mô (tức sự tái sắp xếp ở mức nhiễm sắct thể hay từng đoạn cấu trúc lớn) không song hành với tốc độ vi mô (tức tốc độ thay đổi
từng acid amine)
3 Giới tính của nấm mốc
Kết quả quan trọng bậc nhất thu
được từ sự so sánh 3 bộ gene đó là
hệ thống lai (giao phối) ở hai
loài A fumigatus và A oryzae
Sự sinh sản hữu tính ở nấm men
diễn ra giữa hai cá thể có giới tính đối nghịch và điều này được xác
định nhờ gene dạng giới
Trang 14tính.Aspergillus nidulans có cả hai
gene giới tính: một gene chứa hộp alpha và một gene chứa nhóm có khả năng di động cao (high
mobility group HMG - là những
protein được đặt tên dựa trên độ di động của chúng khi chạy trên
trường diện di) Do đó mà mỗi tế
bào Aspergillus nidulans có hai
giới tính và vì thế mà chúng là loài
tụ thụ Loài này còn có thể sinh sản
vô tính bằng cách tạo ra bào tử để rồi sau đó các bào tử này phát tán thông qua cuống bào tử đính
Trước đây người ta cho rằng A
oryzae và A fumigatus sinh sản vô
tính qua quá trình phân chia đẳng
Trang 15nhiễm Nhưng kết quả phân tích
genome cho thấy rằng mỗi loài
trong chúng nó đều có mang gene
giới tính Cụ thể: A oryzae mang gene giới tính kiểu alpha còn A
fumigatus mang gene giới tính kiểu
HMG Các gene này chiếm đóng vị trí trong genome gần như giống
nhau với khối liền kề chiếm khoảng 1,7 Mb Ngoài ra người còn tìm
thấy 215 gene tham gia vào pha
biệt hóa giới tính ở A
nidulans cũng được tìm thấy ở A oryzae và A fumigatus Dữ liệu này
cho thấy một khả năng rằng A
fumigatus và A oryzae là loài dị
giới tính, đồng thời sự bảo tồn từ
dạng lưỡng tính đến dị tính đã diễn
Trang 16ra trong suốt quá trình tiến hóa
Figure: Mô hình tiến hóa của gene
giới tính ở nấm Aspergillus Ở tổ
tiên chung, đặc tính lưỡng giới
được thể hiện ở sự tồn tại 2 gene giới tính: gene alpha (màu đỏ) và gene HMG (màu xanh); hai gene này hợp nhất cùng nằm trên cùng 1 NST, có chung đoạn liên sườn
Trang 17nhưng đối nghịch về hướng phiên
mã Quá trình tiến hóa đã phân ly
thành loài A nidulans hiện tại
lưỡng tính, nhưng NST đã bị đứt
đoạn và hai gene giới tính nằm ở
hai đầu mút của hai NST khác nhau nhưng đoạn liên sườn vẫn còn giữ
ở mỗi gene giới tính Trong khi đó
ở tổ tiên chung của hai loài A
oryzae và A fumigatus, hai gene
giới tính lại phân tách thành hai
loài riêng biệt nhưng vẫn giữa vùng liên sườn ở cả hai gene Sau khi
trình biệt hóa thành loài mới, cả
hai A oryzae và A fumigatus trở
thành loài dị giới đầy đủ, tức là một
cá thể chỉ có thể có hoặc gene giới tính alpha hoặc HMG
Trang 184 Tương lai
Các công trình này chỉ mới mô tả những thí nghiệm khởi đầu trên genome, dĩ nhiên, trình tự này sẽ cung cấp thông tin quý giá cho
nhiều mục đích nghiên cứu khác Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng trình tự genome của nhiều
loài Asperillus khác đang giải mã
sẽ sớm hoàn chỉnh, từ đó giúp các nhà khoa học hiểu rõ ràng và sâu sắc hơn sinh học và tiến hoá của
giống Aspergillus
Loài Aspergillus được mong chờ nhất là A niger, vốn là loài đã và
đang được sử dụng trong công
Trang 19nghiệp sản xuất acid citric Người
ta hồ nghi rằng trình tự thông tin
của một số loài Aspergillus có giá trị thương mại, bao gồm cả A
niger, có thể đã được đọc trình tự
nhưng chúng bị các công ty công
nghệ sinh học cất giữ như một dạng thông tin bí mật Tuy nhiên người
ta cho rằng trong tương lai tình
hình sẽ khác đi: một tổ hợp các
công ty Nhật Bản đã đồng ý cho
các ngân hàng gene công cộng sử
dụng trình tự genome A
oryzae và A.nidulans một cách rộng
rãi mà không thu lệ phí Một tin vui
đó là Bộ Năng lượng Mỹ đang đọc
trình tự A niger và gần hoàn chỉnh,
bộ genome của loài này cũng sẽ
Trang 20được sử dụng không thu phí khi nó hoàn tất Vì thế mà người ta cũng cho rằng thời kỳ trình tự genome là thông tin công nghệ bí mật đã chấm dứt