1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giai phap thuc day hoan thanh lo trinh tai co cau he thong NHTM VN doc

62 239 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp thúc đẩy hoàn thành lộ trình tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Công trình dự thi giải thưởng nghiên cứu khoa học sinh viên
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây nhất, Chính Phủ Pháp và Bỉ đã đưa ra kế hoạch 90 tỷ EUR 123 tỷ USD để giải cứu Dexia Bank1 Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO,nên c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOÀN THÀNH

LỘ TRÌNH TÁI CƠ CẤU

HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

Chương 1: CÁC HÌNH THỨC TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY 1

1.1 Các hình thức tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 1

1.1.1 1.1.2 1.1.3 1.1.4 Phân loại sức khỏe ngân hàng 1

Sáp nhập, hợp nhất 2

Đầu tư vốn trực tiếp của Nhà nước vào các TCTD 2

Tạo niềm tin 3

1.2 Thực trạng hiện tại của hệ thống NH Việt Nam 4

1.2.1 1.2.2 1.2.3 1.2.4 Nhiều NH với qui mô nhỏ và tín dụng tăng trưởng nóng 4

Vấn đề nợ xấu 6

Vấn đề thanh khoản 9

Những vấn đề cấp thiết khác 10

Chương 2: ĐÁNH GIÁ TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NHTM CỦA NHNN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NỢ XẤU TOÀN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 13

2.1 Mục tiêu và lộ trình thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống NH 13

2.1.1 Mục tiêu 13

2.1.2 Lộ trình tái cấu trúc 14

2.2 Đánh giá tiến trình thực hiện tái cấu trúc đến tháng 5/2012 15

2.2.1 Các tác động đến nền kinh tế khi thực hiện đề án tái cơ cấu 17

Trang 3

2.2.3 Ảnh hưởng của việc trì hoãn dự án đến niềm tin của người dân 23

2.3 Giải quyết nợ xấu sau khi sáp nhập 24

2.3.1 Nghịch lí nợ xấu ở Việt Nam 27

2.3.2 Thực trạng nợ xấu của hệ thống NH ở Việt Nam 28

2 3.3 Nguồn xử lí nợ xấu 30

2.3.4 Hướng xử lí nợ xấu 31

2.3.5 Công ty mua bán nợ xấu 34

2.4 Quản trị và kinh doanh của ngân hàng sau khi sáp nhập và hợp nhất 37

2.5 Đánh giá các yếu tố rủi ro trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 38

Chương 3: NHỮNG BẤT CẬP TỪ ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NHTM VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT 41

3.1 Những vấn đề bất cập từ chính nội tại của đề án 41

3.1.1 Tái cấu trúc không thể được nhìn nhận là một quá trình thường xuyên và liên tục 41

3.1.2 Hệ thống NHTM và TCTD ở Việt Nam chỉ đa dạng về hình thức 42

3.1.3 Đề án không nên có tính phân biệt đối xử giữa hệ thống các TCTD Việt Nam với nước ngoài: 44

3.1.4 Cần có quan điểm rạch ròi về quyền lợi của cổ đông và người gửi tiền 45

3.2 Những bất cập do tác động của đặc thù nền kinh tế Việt Nam hiện nay 46

3.2.1 Vấn đề minh bạch thông tin 46

3.2.2 Tiến độ thực hiện tái cấu trúc 48

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

NH Ngân hàng

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh

NHLD Ngân hàng liên doanh

Trang 5

Biểu đồ 1.1: Số lượng NH giai đoạn 2006 – 2010 và 11 NH vốn điều lệ trên 5.000 tỷBiểu đồ 1.2: Thị phần huy động vốn và thị phần cho vay của các khối NH

Biểu đồ 1.3: Tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động 2000-2010

Biểu đồ 1.4: Tỷ lệ nợ xấu hệ thống NH và một số NH năm 2010

Biểu đồ 1.5: Đường cong lãi suất huy động tại Việt Nam

Biểu đồ 2.1: Các đợt giảm lãi suất của NHNN từ đầu nằm 2012 đến nay

Biểu đồ 3.1: Tăng trưởng GDP theo từng quý từ 2005 – 2011

Biểu đồ 3.2: Biến động của CPI từ năm 1996 -2011

Trang 6

1 LÝ DO NGHIÊN CỨU

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu trên thế giới trong những năm gần đây, đặc biệt là khủnghoảng kinh tế năm 2008, đã làm cho cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu ngày càng trởnên gay gắt, đòi hỏi các nước, không phân biệt trình độ phát triển, phải tính toán lạichiến lược phát triển, cạnh tranh trong bối cảnh mới Chính vì vậy mà nhiều nước đãtiến hành tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế sau các cuộc khủng hoảng nhằm phân bổnguồn vốn một cách hiệu quả hơn, thực hiện các biện pháp mạnh mẽ và nhanh chónggiải cứu hệ thống ngân hàng để làm bàn đạp cho việc khôi phục kinh tế Chính phủAnh bỏ ra 37 tỷ GBP (63 tỷ USD) vốn để quốc hữu hóa một phần ngân hàng RoyalBank of Scotland và Loyds Mỹ chỉ cứu AIG (85 tỷ USD) và đã không ngần ngại khicho Lehman Brothers phá sản Gần đây nhất, Chính Phủ Pháp và Bỉ đã đưa ra kế hoạch

90 tỷ EUR (123 tỷ USD) để giải cứu Dexia Bank1

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO,nên cũng không tránh khỏi những tác động của Khủng hoảng tài chính thế giới 2008.Các NHTM Việt Nam đã và đang đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng do chất lượngtài sản kém, khó khăn về thanh khoản, chất lượng lợi nhuận thấp, yếu kém về quản trị

và về quản lý rủi ro Do vậy, ngày 1 tháng 3 năm 2012, Chính phủ đã trình Đề án táicấu trúc tổng thể nền kinh tế Việt Nam Đề án nhấn mạnh đến mục đích của tái cấu trúcnền kinh tế là giúp nền kinh tế phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn Bao gồm tái cấu trúc

hệ thống tín dụng, tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp nhànước Trong đó, tái cấu trúc hệ thống tín dụng chiếm vị trí quan trọng mà hệ thốngNHTM là huyết mạch của nền kinh tế

Tuy nhiên, tiến trình thực hiện tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam cho đến nay gặpphải khá nhiều những bất cập, làm chậm tiến độ và giảm hiệu quả quá trình tái cấu

1 Harry Hoan Tran CFA và Thuân Nguyễn FCCA, StoxPlus Coporation, “Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam theo hướng nào?”, P5

Trang 7

bất cập đó Chính điều đó đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Giải pháp thúc đẩy hoàn thành tái cấu trúc và hướng phát triển cho hệ thống ngân hàng Việt

Nam”.

2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong phạm vi phân tích tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay, chúng tôi tậptrung nghiên cứu những vấn đề bất cập từ bản thân đề án và từ đặc thù nền kinh tế gâynên Từ đó, kiến nghị những giải pháp thiết thực để thúc đẩy hoàn thành tái cấu trúc hệthống NHTM trong bối cảnh tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế Việt Nam

3 CÂU HỎI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

• Các bước chính thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam? Tiếntrình thực hiện đề án diễn ra như thế nào từ khi công bố đề án đến tháng 6/2012?

• Các hướng giải quyết nợ xấu sau sáp nhập như thế nào là phù hợp với điều kiệnnền kinh tế Việt Nam hiện nay?

• Tổ chức quản lý như thế nào sau khi sáp nhập, hợp nhất để kinh doanh hiệuquả?

• Những bất cập trong đề án tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng Việt Nam trong điềukiện kinh tế Việt Nam hiện nay?

• Những giải pháp cần thiết để xử lý các bất cập là gì để thúc đẩy hoàn thành

đúng mục tiêu lộ trình thực hiện của đề án?

Trong quá trình đi tìm lời giải cho những câu hỏi nghiên cứu vừa nêu để giải quyết vấn

đề nghiên cứu đặt ra, đề tài này nhằm vào các đối tượng nghiên cứu cụ thể sau đây:

Trang 8

đồng thời phân tích thực trạng hệ thống NHTM VN hiện nay qua đó đánh giá về

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính, thống kê, so sánh và tồng hợp số liệunhằm làm rõ những vấn đề nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung vào tái cấu trúc hệ thống NHTM trong bối cảnh táicấu trúc toàn bộ nền kinh tế

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1: Các cách thức tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng của một số nước đã thực hiệnthành công Thực trạng hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay, đưa ra các vấn đề cấpthiết cần phải thực hiện đề án tái cơ cấu

Chương 2: Các bước thực hiện đề án, tiến trình thực hiện của NHNN từ khi đưa ra đề

án đến tháng 6/2012 Phân tích các tác động của nền kinh tế VN đến lộ trình thực hiện

đề án, qua đó nhận xét khả năng đạt được mục tiêu 4 năm (2011-2015) đã đề ra

Trang 9

đó đưa ra các gaiỉ pháp để xử lý các bất cập đó

6 Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU CÔNG TRÌNH

Về mặt lý lu ận giúp cho ta có một cái nhìn sâu hơn về tái c ơ cấu hệ thống ngân hàngthông qua các cách thức tái cơ cấu, hiểu rõ hơn về vấn đề sáp nhập, hợp nhất, mua lại,cũng như vai trò của Nhà nước trong quá trình thực hiện tái cơ cấu

Về mặt thực tiễn, đề tài này đã đóng góp các giải thiết thực, hữu ích, góp phần thúc đẩyhoàn thành tái cấu trúc hệ thống NHTM, huyết mạch của nền kinh tế Qua đó, gópphần đẩy nhanh tiến trình và hiệu quả tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế Khi tái cấu trúcthành công, sẽ giúp phân bổ nguồn lực (nguồn vốn) hiệu quả h ơn, thúc đẩy tăng trưởng

và phát triển kinh tế, nâng cao vị thế Việt Nam trên trư ờng quốc tế và thúc đẩy ViệtNam thu ngắn khoảng cách với sự phát triển trên toàn cầu

Trang 10

Chương 1: CÁC HÌNH THỨC TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

VÀ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1 Các hình thức tái cơ cấu hệ thống ngân hàng

Kinh nghiệm giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới cho thấy việc xácđịnh kịp thời nợ xấu nợ dưới chuẩn, nhanh chóng xử lý các khoản nợ này và thực hiệncác biện pháp mạnh trong việc cơ cấu lại hệ thống NH là yếu tố thúc đẩy nhanh kinh tếnhanh hồi phục và khôi phục lại năng lực cho vay của lĩnh vực NH

Thời gian qua, các tổ chức xếp hạng hàng đầu trên thế giới đã liên tục hạ mức tín dụngcủa hàng loạt NH lớn trên thế giới Hầu hết các NH châu Âu đang đối mặt với nguy cơthua lỗ khổng lồ do đang sở hữu quá nhiều trái phiếu CP của các nước khu vực euro,một số NH lớn lo ngại sẽ bị phá sản do các CP châu Âu đã suy kiệt và đang dốc sức đểchống suy thoái kinh tế

1.1.1 Phân loại sức khỏe ngân hàng

Để tái cấu trúc hệ thống NH, Hàn Quốc đưa ra chương trình rà soát theo chuẩn quốc tế,phân loại những mầm mống nguy hiểm nhất Bộ khung tiêu chí được sử dụng để

“khám sức khỏe” hệ thống NH tạm gọi là PCA (Prompt Corective Actiosn) với nhữngnội dung xoay quanh hệ số an toàn vốn (CAR) của các NH

Nhóm những NH yếu kém nhất không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về an toàn vốn theoBasel I (CAR 8%) bị buộc chấm dứt hoạt động độc lập, sáp nhập với NH có tình hìnhtài chính tốt hơn Với nhóm NH thứ hai, dù hệ số CAR 8% nhưng có khả năng phụchồi, được yêu cầu sáp nhập với nhau

Những NH có tình hình tài chính tốt cũng được khuyến khích sáp nhập để hình thành

NH mới có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả hơn, cung cấp đa dạng các dịch vụ và đủsức phát triển trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng quyết liệt

Trang 11

Cũng từ đây, số lượng NH Hàn Quốc sau tái cấu trúc đã giảm 40%, từ 33 NH (năm1997) xuống còn 19 NH (năm 2002) nhưng quy mô vốn, chất lượng tài sản trên bảngcân đối kế toán, năng lực cạnh tranh và khả năng sinh lợi được gia tăng rõ rệt.

Tiếp theo đó, CP Hàn Quốc có một loạt động thái cải tổ chính sách nhằm hướng tới giatăng sức mạnh và tính hiệu quả cho ngành NH

1.1.2 Sáp nhập, hợp nhất

Mua lại, sáp nhập, hợp nhất để hình thành những định chế hoặc những tổ hợp tài chínhlớn hơn, mạnh hơn thông qua việc tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, đồng thờitạo lợi thế cạnh tranh nhờ việc gia tăng thị phần hoạt động là một xu thế phổ biến

và diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, và cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu trongquá trình tái cấu trúc hệ thống NH tại nhiều quốc gia

Có thể kể đến một số thương vụ sáp nhập lớn nhất trong lịch sử ngành tài chính NH.Đầu tiên là vụ sáp nhập lớn chưa từng thấy trong lịch sử ngành NH châu Âu nói riêng

và trong ngành công nghiệp tài chính toàn cầu nói chung của hai NH ABNAMRO của

Hà Lan và Barclays PLC của Anh, hình thành nên tập đoàn NH hàng đầu thế giới tínhtheo số vốn thị trường Kế tiếp là vụ sáp nhập của Bank of America với Merrill Lynch,giúp Bank of America đạt tham vọng đứng đầu ngành NH nội địa của Mỹ xét theo tiêuchí tiền gửi và lượng vốn hóa thị trường

Ngoài ra, có thể kể đến vụ sáp nhập của Wells Fargo với Wachovia giúp Wells Fargonâng tầm, đứng ngang hàng với các đối thủ tên tuổi khác tại Mỹ như JP Morgan Chase

và Bank of America Hoặc vụ sáp nhập của UFJ Holding với Mitsubishi Tokyo

Financial Group để hình thành Mitsubishi UFJ Financial Gropup hùng mạnh nhất thếgiới, vượt qua Citigroup về giá trị tài sản

1.1.3 Đầu tư vốn trực tiếp của Nhà nước vào các TCTD

CP có thể đầu tư vào vốn cổ phần của các NH Đây là giải pháp đã được thực hiện tại

Mỹ và nhiều nước Châu Âu Khởi đầu tại Anh, CP đã mua cổ phiếu Royal Bank of

Trang 12

Scotland (RBS) với giá 50,5 xu/cổ phiếu và sở hữu 67% NH này CP Anh hiện cũng sởhữu 43% NH Lloyds CP Hà Lan hiện sở hữu NH ABN Amro.

Tuy nhiên, việc đầu tư vào các NHTM chỉ là tạm thời, CP có chiến lược bán lại cổphiếu cho khối tư nhân khi hai NH này hồi phục Thực tế trước đó, RBS đã lỗ kỷ lục24,1 tỷ bảng (34,2 tỷ) USD trong năm 2008 Hậu quả là tỷ lệ an toàn vốn CAR thấphơn nhiều so với mức tối thiểu 8% theo yêu cầu và mức 10% theo kỳ vọng của thịtrường

Khi RBS có hệ số CAR rất thấp thì các NH và định chế tài chính khác sẽ cắt đứt quan

hệ tín dụng với RBS và RBS sẽ mất khả năng vay vốn trên thị trường liên NH Trongtình huống này, RBS mất thanh khoản hoàn toàn và lẽ đương nhiên, CP Anh đã ra taythay vì để phá sản như Lehman Brothers CP Anh ra tay bằng cách mua cổ phiếu của

NH với giá rất rẻ (50 xu/cổ phiếu) và yêu cầu RBS thực hiện chương trình tái cấu trúctài sản và nguồn vốn trong đó bao gồm bán đi hết các tài sản không thuộc phạm vi hoạtđộng cốt lõi Tương tự, NH Lloyds đã phải đóng cửa nhiều chi nhánh ở nước ngoài vàbán 300 tỷ bảng tài sản (25% tổng tài sản) không nằm trong hoạt động cốt lõi

1.1.4 Tạo niềm tin

Một trong những nhân tố tác động đến quá trình tái cơ cấu chính là niềm tin của ngườidân, bởi vì một khi đã thực hiện việc sáp nhập, hợp nhất sẽ làm cho người dân lo lắng

về một hệ thống bất ổn, phải cơ cấu lại Nếu NHNN không có các biện pháp kịp thờithực hiện đồng thời để duy trì lòng tin của người dân Theo kinh nghiệm tái cơ cấuTCTD của Malaysia, một nước có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng với Việt Nam

đã thực hiện thành công tái cơ cấu khu vực tài chính, là cần phải có lộ trình hợp lý vàthực hiện theo kế hoạch toàn diện, minh bạch, cập nhật trên các trang mạng của cơquan tái cơ cấu nợ nhà nước là Danaharta Đặc biệt, hệ thống dữ liệu được công khaiphải tạo niềm tin cho người dân

Ngoài ra, tại một số nước, CP có thể xem xét tăng mức bảo hiểm tiền gửi lên để giatăng lòng tin của công chúng Anh đã gia tăng mức bảo hiểm tiền gửi tối đa từ 35.000

Trang 13

GBP (55.000 USD) lên 85.000 GBP (135.000 USD) sau khủng hoảng tài chính năm

2008 Tại Philippines, mức bảo bảo hiểm tiền gửi là 500.000 peso (12.000 USD).Hiện nay, trước yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, CP Việt Nam đãchỉ đạo việc xây dựng đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động, quản trị tốt hơn, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, từngbước nâng cao tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh; không còn TCTD yếu kémkéo dài, ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế

1.2 Thực trạng hiện tại của hệ thống NH Việt Nam

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu gần đây nhất (2007-2009)xuất phát từ việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở Mỹ, buộc các quốcgia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các NH Việc tái cấu trúc NH trởnên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc gia, đảm bảo cho các NH thích nghi được với nhucầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động Ở Việt Nam, khi

mà thị trường chứng khoán chưa phát triển, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai NH, thìviệc giữ cho hệ thống NH ổn định và lành mạnh càng phải đặc biệt quan tâm

Có thể nói, nền kinh tế cũng như hệ thống NH Việt Nam đã cơ bản vượt qua cơn khủnghoảng 2007-2009 Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp thời gian gần đây củanền kinh tế thế giới, để ổn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả và bền vững, Đảng

và Nhà nước ta đã ra Nghị quyết tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó tái cấu trúc NH, táicấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc DN Nhà nước là 3 trụ cột trong tiến trình tái cấutrúc nền kinh tế

1.2.1 Nhiều NH với qui mô nhỏ và tín dụng tăng trưởng nóng

Tính đến cuối năm 2010, thị trường Việt Nam có 101 NH và chi nhánh NH nướcngoài, bao gồm NHTM trong nước, NH nước ngoài và chi nhánh NH nước ngoài Cụthể, có 5 NHTM quốc doanh, 38 NHTMCP, 53 NH 100% vốn nước ngoài và chi nhánh

NH nước ngoài và 5 NH liên doanh Trong đó, chỉ có 11/43 (25,6%) NHTM trongnước có vốn điều lệ trên 5.000 tỷ đồng Theo đánh giá của NH Thế giới (WB), “Việt

Trang 14

Nam hiện có quá nhiều NH có qui mô nhỏ, xuất phát điểm là các NHTM nông thônnhưng lại vươn ra hoạt động tại thành thị, do đó có tốc độ tăng trưởng tài sản và danhmục cho vay phát triển quá nóng Kèm theo đó là hệ thống quản lý rủi ro và kỹ năngquản lý hoạt động NH còn tương đối kém, gây tác động không tốt đến sự lành mạnhcủa hệ thống NH” (2)

Biểu đồ 1.1: Số lượng Ngân hàng giai đoạn 2006 -2012 và 11 NH có VĐL

2010 trên 5.000 tỷ

Ta có thể thấy, ngành NH tăng trưởng nhanh cả về số lượng và quy mô tài sản tronggiai đoạn 2006-2010 Tuy nhiên chỉ có 25.6% NH nội địa có vốn điều lệ trên 5000 tỷđồng

Thị phần tín dụng và huy động của khối NHTMQD vẫn dẫn đầu từ các năm

2005-2010, tuy nhiên có xu hướng ngày càng giảm Trong khi đó, khối NHNN được gỡ bỏhạn chế về huy động nên thị phần chiếm lĩnh ngày càng tăng, bắt đầu tham gia cạnh

2 Chuyên viên phân tích Quách Thùy Linh, Công ty Chứng Khoán Vietcombank, Báo cáo NH, trang 12.

Trang 15

tranh bình đẳng với ccá NHTM trong nước kể từ đầu 2011 Thị phần khối NHNN vàNHLD cũng có xu hướng cải thiện từ năm 2009.

Biểu đồ 1.2: Thị phần huy động vốn và thị phần cho vay của các khối NH

Có thể nói, Việt Nam đã đa dạng hóa hình thức sở hữu và loại hình hoạt động NH, pháttriển mạnh mẽ về quy mô, tạo điều kiện cho hệ thống NH huy động vốn trong và ngoàinước để đáp ứng vốn cho phát triển nền kinh tế

Trang 16

phụ thuộc vào hoạt động tín dụng Tỷ trọng thu nhập lãi/tổng thu nhập của một số NHlên tới 90% trong 2010.

Biểu đồ 1.3: Tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động 2000-2010

Tăng trưởng tín dụng nóng và quản trị hoạt động kém dẫn tới rủi ro nợ xấu cao Theobáo cáo của NHNN, nợ xấu và nợ dưới chuẩn (non-performing loan - NPL) của các

NH Việt Nam ở mức 3,1% tổng dư nợ vào ngày 30/6/2011, tương đương gần 4 tỉ USD

Hệ quả tất yếu của nợ xấu là khả năng bị mất vốn Dù các NH đã đạt hệ số an toàn vốntối thiểu (CAR) hơn 8% nhưng tỉ lệ này sẽ bị giảm sút rất nhanh nếu như hạch toánđúng dự phòng cho các khoản nợ NPL

Trang 17

Biểu đồ 1.4: Tỷ lệ nợ xấu hệ thống NH và một số NH năm 2010

Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống NH vào cuối quý I/2012 khoảng 3,6%, trongkhi Fitch Ratings ước lượng nợ xấu của Việt Nam khoảng 12 -13% và theo một sốnghiên cứu trong nước là khoảng 10% Thực tế, nợ xấu của hệ thống, theo đánh giá củaNHNN, tính chung trong toàn hệ thống thì tăng từ mức 6% đến mức 10% toàn hệthống Với n ợ xấu lớn như vậy làm cho chi phí vốn thực tế của các NHTM rất cao Dovậy, chiều hướng chung của lãi suất là có giảm nhưng chưa giảm được như mongmuốn của các DN, cũng như của chúng ta

Nếu chỉ dựa vào tỷ lệ nợ xấu 10% và tỷ trọng tài sản cho vay trên tổng tài sản của toànngành NH là 60%, thì 10% nợ xấu đang tác động nghiêm trọng đến khoảng một nửatổng vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống NH Việt Nam Hơn nữa, nếu khoảng 50% nợxấu có khả năng làm mất vốn các NH thì tình hình nợ xấu của toàn hệ thống có khảnăng tiêu hủy khoảng 1/3 vốn chủ sở hữu hiện nay của toàn ngành

Trên thực tế, với bất cứ quốc gia nào, vấn đề xử lý nợ xấu NH luôn khó khăn và phứctạp Tại Việt Nam, vấn đề này cũng cần đặt lên hàng đầu trong quá trình tái cấu trúc

Trang 18

1.2.3 Vấn đ ề thanh khoản

Tính thanh khoản của hệ thống NH Việt Nam không bền vững, bởi vốn huy động chủyếu ngắn hạn nhưng các NH cho vay trung và dài hạn vượt xa mức 30% (trên tổng sốnguồn vốn ngắn hạn) NHNN quy định

Tình trạng “lấy ngắn nuôi dài” đã đẩy nhiều NH vào tình thế mất cân bằng về thanhkhoản và buộc các NH này huy động lãi suất rất cao thậm chí vượt trần lãi suất quyđịnh của NHNN Đường cong lãi suất cũng thể hiện rõ ràng điều này khi mà lãi suấthuy động các kỳ hạn dài lại thấp hơn so với những kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống

Biểu đồ 1.5: Đường cong lãi suất huy động tại Việt Nam

Sự mất cân đối giữa kỳ hạn tiền gửi và cho vay đang trở nên nghiêm trọng Các khoảncho vay dài hạn lại chiếm tỉ trọng lớn hơn và quy mô lớn hơn nhiều so với các khoảntiền gửi có cùng kỳ hạn Nguyên nhân là nhiều NH trong một thời gian dài đã được sử

Trang 19

dụng như sân sau của các ông chủ NH, cho vay các dự án đầu tư dài hạn, trong đó chủyếu là BĐS, dẫn tới sự mất cân đối về kỳ hạn.

1.2.4 Những vấn đề cấp thiết khác

Theo NHNN, hiện có khoảng “mươi” NH được xếp loại yếu kém với những điểmchung: quy mô hoạt động tương đối giới hạn so với đối thủ cạnh tranh, vốn chủ sở hữuthấp, tỷ lệ cho vay BĐS và cho vay thế chấp là BĐS rất cao, tiền gửi khách hàng dễbiến động nếu lãi suất trần được điều chỉnh, nợ xấu tăng cao và khả năng thanh khoảnthấp Những NH này lại hoạt động trong một môi trường “overbanked” có quá nhiềuđối thủ cạnh tranh, nên rất chật vật trong việc huy động vốn và cho vay Do đó, các

NH này phải đối diện với các loại rủi ro càng ngày càng lớn (rủi ro tín dụng, rủi rothanh khoản và rủi ro thị trường)

Chính vì thế, đối với các NH yếu kém, quản lý rủi ro trở thành một vấn đề cấp thiết.Nhưng không chỉ đối với các NH yếu kém, mà nói chung, trong toàn hệ thống, hoạtđộng quản lý rủi ro còn kém xa các chuẩn mực quốc tế

Một vấn đề khác được các cơ quan quản lý và đặc biệt các nhà đầu tư tài chính nướcngoài rất quan tâm là vấn đề QTCT Ở Việt Nam, QTCT đã được luật pháp hóa và kháiniệm QTCT đã trở nên phổ biến hơn, đặc biệt trong thị trường tài chính NH, một thịtrường bị tác động rất mạnh bởi những thay đổi trong khu vực và thị trường tài chínhthế giới Tuy nhiên, đối với nhiều DN, trong đó có NH, QTCT vẫn chưa được đánh giáđúng mức và chưa được xem như là một mô hình thật sự cần thiết cho việc phát triểnkinh doanh của họ

Cụ thể, khảo sát về mức độ tham gia của HĐQT vào việc điều hành của NH cho thấy,HĐQT không những chỉ tham gia sâu vào những quyết sách của NH, mà thường canthiệp vào việc điều hành qua những yêu cầu trực tiếp hay gián tiếp ban điều hành raquyết định theo ý của HĐQT hay một số thành viên HĐQT Những biểu hiện rõ rệt chotrường hợp này là HĐQT tổ chức họp thường xuyên, thường là đột xuất và họp trong

sự căng thẳng Ranh giới giữa chỉ đạo, xây dựng và ban hành chủ trương, đường lối,

Trang 20

chính sách với việc thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách này không rõràng, thường đưa đến tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát cũng là một vấn đề thu hút sựquan tâm Tại nhiều NH có những cổ đông sáng lập là những cổ đông lớn, các cổ đôngnày thường cảm thấy có trách nhiệm rất lớn với sự sống còn của NH của mình, và vìthế, thường dành cho mình quyền kiểm soát tuyệt đối không chỉ với những nội dungliên quan đến chiến lược và định hướng mà ngay cả trong những quyết định quan trọngthuộc thẩm quyền ban điều hành Các cổ đông này thường cũng là thành viên HĐQT

và rất hay mắc phải hội chứng “micro-management” – quản lý tiểu tiết

Theo một báo cáo thẻ điểm QTCT (cách tính điểm để đo lường mức độ tuân thủ cácnguyên tắc QTCT theo thông lệ quốc tế) do IFC thực hiện thì kết quả tổng quát năm

2010 của các công ty niêm yết tại Việt Nam, trong đó có NH, là 44,7% (trong thangđiểm từ thấp nhất là 0% đến cao nhất là 100%), một thẻ điểm dưới trung bình và thấp

so với nhiều nước trong khu vực Hiển nhiên, vấn đề QTCT là một trong những vấn đềcần phải được xét đến trong tiến trình tái cấu trúc ngành NH Việt Nam

Tái cấu trúc NH muốn đạt hiệu quả phải gắn liền với tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế,trong đó đặc biệt quan tâm tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc DN

NHNN cần tạo ra khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho lộ trình tái cấu trúc cũng như tạo điềukiện thuận lợi để quá trình này diễn ra suôn sẻ, hướng dẫn và giám sát chặt chẽ việc tái

cơ cấu Và các NHTM cũng cần được NHNN hỗ trợ để có thể vượt qua khó khăn trongkhi tái cấu trúc Không áp dụng cứng nhắc theo mô hình của nước nào mà phải dựatrên thực tế Việt Nam

Xét các vấn đề cấp thiết đó NHNN đã ban hành đề án tái cơ cấu các TCTD ngày1/3/2012, xây dựng lại các TCTD theo hướng khuyến khích và tạo điều kiện các TCTDsáp nhập, hợp nhất, mua lại theo nguyên tắc tự nguyện để tăng quy mô hoạt động vàkhả năng cạnh tranh Đề tài chúng tôi tập trung đưa ra các giải pháp để thúc đẩy hoàn

Trang 21

thành tái cơ cấu hệ thống NH Do đó các dữ liệu nêu ra dưới đây chỉ đề cập đến tái cơcấu lĩnh vực NH, còn các TCTD liên quan thì không đi sâu phân tích.

Trang 22

Chương 2: ĐÁNH GIÁ TI ẾN TRÌNH THỰC HIỆN TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NHTM CỦA NHNN VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NỢ XẤU TOÀN

Các bước tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

kém thông qua hình thức hợp nhất, sáp nhập Vấn đề này, xem ra NHNN đã thực hiện

gần đến giai đoạn cuối Song còn nhiều yếu tố không minh bạch từ các NH đã làm choNHNN khó phát hiện được sức khỏe thực sự của các nhà băng Vì thực tế lãi suất trênthị trường đang giảm mạnh thời gian gần đây Trong đó, phải kể đến là các kỳ hạnngắn ngày, lãi suất chỉ còn 2 - 3%/năm Thế nhưng, thị trường vẫn tồn tại tình trạngmột số NH thỏa thuận lãi suất tiết kiệm, với mức lãi suất lên đến 15 - 16%/năm Qua

đó cho thấy, các NH này do không có tài sản thế chấp để vay vốn trên thị trường liên

NH nên đã đẩy mạnh huy động vốn từ tiền gửi của người dân, đảm bảo thanh khoản tốthơn

- Bước thứ hai trong tiến trình thực hiện đề án tái cấu trúc NH là xử lý nợ xấu.

NHNN đã bật đèn xanh bằng cách cho phép các NH gia hạn nợ đối với DN Đồng thời,mới đây NHNN đã cho phép các NH trong nhóm “G14” mua bán nợ dưới dạng cho

DN vay và nợ của các TCTD vay lẫn nhau Tuy nhiên, đến thời điểm này, việc xử lý

3 Trích Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015” của Thủ tướng CP, trang 1

Trang 23

nợ xấu của các NH vẫn chưa có gì tiến triển Cuộc họp ngày 31/5 của nhóm G14 đãthống nhất thành lập công ty mua bán nợ để giải quyết nợ xấu.

- Bước thứ ba là NHNN sẽ tiến hành tái cấu trúc về tổ chức hoạt động, tái cơ cấu

chiến lược, thiết kế lại hệ thống quản trị rủi ro NH.

Dự kiến sau 5 năm tái cấu trúc, hệ thống NH Việt Nam sẽ có khoảng 2 NH có đủ sứccạnh tranh với các NH trong khu vực, có khoảng 10-15 NH đủ lớn làm trụ cột cho các

NH trong nước, khoảng 8 NH nhỏ hoạt động lành mạnh với quy mô phù hợp Để táicấu trúc, NHNN sẽ phân loại các NH thành 3 nhóm:

- Nhóm thứ 1, gồm các NH có tình hình tài chính lành mạnh có năng lực và quy

mô đủ lớn để tiếp tục phát triển thành những NH trụ cột, đủ sức cạnh tranh với khu vực

và quốc tế Dự kiến sẽ có khoảng 15 NH loại này chiếm khoảng 80% thị phần hoạtđộng của cả hệ thống NH

- Nhóm thứ 2, là nhóm các NH có tình hình tài chính lành mạnh nhưng có quy mônhỏ, không có nhu cầu hoặc không có điều kiện phát triển quy mô cao hơn nữa Sẽ cóquy định đảm bảo giám sát chặt chẽ cũng như phân khúc thị trường để đảm bảo chocác NH này hoạt động hiệu quả

- Nhóm thứ 3, là nhóm NH đang có tình hình tài chính khó khăn cần phải cầu trúclại NHNN sẽ tham gia giám sát chặt chẽ, yêu cầu các NH lớn sẽ tham gia mua cổphần, tham gia vào quản trị điều hành và cơ cấu lại các khoản mục đầu tư; mua lại hoặchợp nhất, sáp nhập nếu cần

2.1.2 Lộ trình tái cấu trúc

- Năm 2012 sẽ dứt điểm xử lý các NH yếu kém nhưng không để đổ vỡ ảnh hưởngđến người dân

- Năm 2013 tiếp tục tái cơ cấu nhưng để các NH tự nguyện sáp nhập để tăng quy

mô, tăng khả năng tồn tại và cạnh tranh

- Năm 2014 -2015 Việt Nam sẽ có từ một đến hai NH tầm cỡ khu vực với trị giákhoảng 50 tỷ USD (NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là NH quy mô lớn nhất

Trang 24

hiện mới có giá trị khoảng 25 tỷ USD) Ngành NH sẽ có khoảng từ 12 đến 15 NH tốpđầu chiếm 80% thị phần, còn lại là các NH nhỏ hoạt động trong môi trường, cơ chếriêng, cùng với quỹ tín dụng nhân dân tạo thành mạng lưới rộng khắp, giúp tăng tiếpcận của người dân với các dịch vụ NH.

Phương châm của quá trình tái cơ cấu là không để NH nào đổ vỡ, đảm bảo quyền lợicủa người gửi tiền và khách hàng của NH Đây cũng là nguyên tắc được CP đảm bảotrong quá trình tái cơ cấu các NH

Có thể nhận thấy, NHNN vẫn chưa thực sự có một chiến lược rõ ràng nào cho kế hoạchtái cấu trúc NH Các chỉ tiêu cũng như lộ trình tái cấu trúc đưa ra chưa thật sự cụ thể rõràng Tái cấu trúc NH không thể thực hiện một sớm một chiều, mà cần phải có một kếhoạch dài hơi, thật chi tiết, rõ ràng Có như vậy tái cấu trúc NH mới mang lại hiệu quảcho nền kinh tế chứ không đơn thuần là việc chạy theo xu hướng TG

Trong thời gian qua NHNN đã chủ động phân nhóm các NH để phân chia hạn mức tíndụng theo sức khỏe của từng NH Đây là một nỗ lực đáng ghi nhận của NHNN tuynhiên dường như nó lại bị các NH sử dụng làm công cụ cạnh tranh lẫn nhau khi các

NH nhóm trên tiết lộ danh sách các NH nhóm dưới cho KH biết

Trong giai đoạn hiện nay tái cấu trúc chỉ có thể dễ dàng nhận thấy khi các NH sáp nhậpvới nhau để tăng tính thanh khoản cho mình chứ chưa thấy có NH nào có kế hoạchkiện toàn lại bộ máy hoạt động, nâng cao chất lượng quản trị cũng như tiến hành bảohiểm cho các khoản tiền gửi

2.2 Đánh giá tiến trình thực hiện tái cấu trúc đến tháng 5/2012

Nước ta chỉ mới bước vào giai đoạn đầu của tái cấu trúc NH nên hoạt động tái cấu trúcchỉ mới thể hiện ở việc sáp nhập các NH nhỏ với nhau, đây chỉ là bề nổi của tái cấutrúc Mục đích chủ yếu của tái cấu trúc là để bảo đảm hệ thống NH được quản trị tốt,hoạt động có hiệu quả, sản phẩm và dịch vụ đa dạng, từng bước nâng cao tiềm lực tàichính và khả năng cạnh tranh, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường

ở nước ta Việc sáp nhập các NH với nhau như hiện nay chỉ góp phần giúp mở rộng

Trang 25

vốn điều lệ của NH, phân tán rủi ro cho nhau giữa các NH chứ chưa bảo đảm được tínhthanh khoản, sự hiệu quả trong hoạt động của NH sẽ tăng lên sau khi sáp nhập.

Năm 2011, khi Thực hiện Nghị định 11 của CP và Chỉ thị 01 của NHNN, lượng tiềncung ứng được điều hành chặt chẽ ngay từ đầu năm, qua đó kiểm soát tăng trưởng tíndụng ở mức 12%, tổng phương tiện thanh toán tăng 10%, góp phần đưa lạm phát tăngchậm lại CP thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ dẫn đến xuất hiện nhiều cuộc chạyđua lãi suất giữa các NH trên thị trường chính thức cũng như thị trường liên NH Đểkiểm soát tình hình này, NHNN đã có nhiều cố gắng trong việc quy định mức lãi suấttrần huy động, tiến hành rà soát, xử phạt nhiều NH vượt lãi suất trần Tuy nhiên mứclãi suất NH cho các DN vay thì NHNN không thể kiểm soát tốt, có thời điểm DN phảivay với mức lãi suất trên 20% trong khi tỷ suất sinh lợi của DN không đạt được mứctrên 20% Điều này khiến cho các DN nhỏ khó tiếp cận nguồn vốn vay từ các NH.Trong khi đó tín dụng phi sản xuất (cho vay đầu tư BĐS, chứng khoán ) vốn là mộtkênh mang lợi nhuận cao nên các NH ồ ạt cho vay đầu tư BĐS, chứng khoán nhiều

NH đã nới lỏng các điều kiện cho vay, không quan tâm nhiều đến hiệu quả đầu tư của

dự án vì đã đặt trọn niềm tin vào các tài sản thế chấp (đa phần là BĐS) Do đó đến cuốinăm, khi tình hình trên thị trường BĐS, thị trường chứng khoán trở nên ảm đạm cùngvới công tác thanh tra, giám sát về lãi suất và hoạt động huy động, cho vay của các NHđược thực hiện quyết liệt đã khiến nợ xấu, thanh khoản của NH bộc lộ rõ

Việc này khuyến khích các NH tự nguyện liên kết, hợp nhất, sáp nhập để tăng cườngsức cạnh tranh, qua đó góp phần từng bước lành mạnh hóa hệ thống NH Ba NHTMCP

Đệ Nhất (Ficombank), Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và Sài Gòn (SCB) là ba NH đầu tiênthực hiệp sáp nhập kể từ sau khi NHNN công bố chủ trương tái cơ cấu toàn diện toàn

bộ hế thộng NH vào tháng 10/2011 Có thể nhận thấy phi vụ sáp nhập đầu tiên này diễn

ra khá êm thấm, điều này cũng khá dễ hiểu vì các cổ đông lớn của Ficombank,

TinNghiaBank, SCB có mối quan hệ mật thiết với nhau nên không có nhiều tranh chấpxảy ra trong quá trình sáp nhập Hơn nữa quá trình sáp nhập còn có sự tham gia của

Trang 26

NHNN đóng vai trò chủ đạo, đảm bảo tính thanh khoản (nguyên nhân chính dẫn đếnviệc cần phải sáp nhập) nên tất nhiên việc sáp nhập sẽ diễn ra khá suôn sẻ.

NHNN đã xác định chậm trễ giải quyết các TCTD yếu kém có thể đe dọa tới sự antoàn của hệ thống NH và ảnh hưởng tới nỗ lực ổn định nền kinh tế Hoạt động tái cấutrúc sẽ được thực hiện trên cơ sở tự nguyện giữa các TCTD, dưới sự giám sát chặt chẽcủa NHNN

Cuối năm 2011, NHNN đã cho 3 TCTD yếu kém hợp nhất và dự kiến sẽ có 8-10 NHđược sáp nhật trong năm 2012 Mới đây nhất, NHNN đã chấp thuận cho Habubank sápnhập vào SHB Việc sáp nhập tự nguyện của HBB là chính xác vì hiện nay NH này cómức nợ xấu cao, phần lớn là khoản vay của Vinashin Sau khi sáp nhập tổng tài sản của

NH mới xấp xỉ với các NH lớn như ACB, MB, Vietinbank,…

Ngày 6/6/2012, tổ chức xếp hạng tín dụng Standard & Poor’s đã nâng triển vọng xếphạng tín dụng của Việt Nam từ tiêu cực lên ổn định và chỉ ra rằng những rủi ro của ổnđịnh kinh tế vĩ mô và tài chính đã giảm bớt

2.2.1 Các tác động đến nền kinh tế khi thực hiện đề án tái cơ cấu

Trong dài hạn, NHNN không thể đảm bảo tính thanh khoản cho nhiều NH nhỏ khácđang đứng trước nguy cơ mất tính thanh khoản bằng cách sáp nhập hay hợp nhất Đểgiúp cho các NH có thể hồi phục để tự mình đứng vững cũng như kích thích tăngtrưởng kinh tế, từ đầu năm 2012 đến nay NHNN đã 3 lần hạ lãi suất chủ chốt Và gầnđây nhất ngày 11/6/2012, NHNN hạ trần lãi suất huy động VND từ 11%/năm về

9%/năm Theo đó, NHNN đã có bước đi chính xác khi điều hành chính sách tiền tệbám sát với tình hình lạm phát có xu hướng giảm trong những tháng đầu năm

Trang 27

Biểu đồ 2.1: Các đợt giảm lãi suất của NHNN từ đầu nằm 2012 đến nay

Biểu đồ 4 lần cắt lãi suất của NHNN VN

Lãi suất giảm tạo điều kiện phục hồi cho các DN nhỏ cũng như các NH đang đứng

trước nguy cơ mất tính thanh khoản Tuy nhiên, các DN vẫn chưa thể tiếp cận với

nguồn vốn vay lãi suất thấp như hiện nay do các NH ngày càng siết chặt các điều kiệncho vay, cũng như chỉ cho vay dựa trên tài sản thế chấp Dưới góc độ của NH ta có thề

dễ hiểu cho hành động này nhưng xét trên góc độ của DN thì cực kì khó khăn Trước

đây, đã vay với lãi suất cao nên kinh doanh khó khăn, nay CP đã từng bước nới lỏng

chính sách tiền tệ, hỗ trợ cho DN mở rộng sản xuất kinh doanh, nhưng DN lại không

thể tiếp cận nguồn vốn do những khoản vay trước đây chưa trả được, không còn tài sảnthế chấp để vay mới Vì thế chu chuyển vốn trong nền kinh tế bị ứ đọng, NH thì thừa

vốn trong khi DN thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh

Trong 4 tháng đầu năm 2012 đã có 17735(4) DN giải thể và ngừng hoạt động, 30% DNphá sản do thiếu vốn…Kinh tế đang đứng trước nguy cơ suy thoái Không thể cho DNvay nên NH phải chuyển sang đầu tư vào Tín phiếu, trái phiếu với lãi suất thấp hơn lãisuất cho vay Nếu như lạm phát không giảm như kì vọng thì các NH sẽ đứng trước

4 Nguồn: Tổng cục thống kê Bộ kế hoạch và đầu tư

Trang 28

nguy cơ thua lỗ do đầu tư kém hiệu quả nguồn vốn Không những thế, càng nhiều DN

bị phá sản thì các khoản nợ xấu của NH càng tăng, tính thanh khoản của các NH ngàycàng bị đe dọa

Do đó, không chỉ thực hiện giảm lãi suất huy động VND, NHNN cần phải đưa ra cơchế điều chỉnh các khoản lãi trước kia một cách linh hoạt nhằm tạo điều kiện cho các

DN thanh toán khoản nợ cũ và có điều kiện tiếp tục vay vốn mở rộng sản xuất

Nhìn chung, về cơ bản với việc thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ phù hợp kết hợpvới tình hình lạm phát có dấu hiệu khả quan, nền kinh tế đã có những dấu hiệu tíchcực:

- Thứ nhất, lạm phát giảm mạnh, kỳ vọng lạm phát được kiểm soát Đến cuối

tháng 5/2012, chỉ số CPI chỉ tăng ở mức 8,34% so với cùng kỳ năm ngoái và 2,78% sovới cuối tháng 12/2011 Đây cũng là lần đầu tiên trong năm 2012 chỉ số CPI so vớicùng kỳ năm trước trở về mức 1 con số

- Thứ hai, lần đầu tiên cả cán cân vãng lai và cán cân vốn thặng dư đã giúp cho

cán cân thanh toán tổng thể thặng dư 5 tỷ USD trong quý I/2012, nhờ đó NHNN đã giatăng dự trữ ngoại hối lên tới hơn 80% so với cuối năm 2011 Tỷ giá bình quân liên NHgiữa VND và USD vẫn tiếp tục được giữ ổn định

- Thứ ba, thị trường tiền tệ ổn định, thanh khoản của hệ thống NH về cơ bản được

đảm bảo và dần cải thiện Lãi suất huy động đã giảm 2 – 3% và lãi suất cho vay giảm1– 4% so với cuối năm 2011 Tín dụng tuy vẫn còn giảm nhẹ so với cuối năm trướcnhưng kể từ tháng 3 đã bắt đầu quay trở lại xu hướng tháng sau tăng cao hơn so vớitháng trước Công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD được tăng cường,NHNN đang tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý thanh tra, giám sát NH

- Thứ tư, quá trình tái cấu trúc hệ thống NH đang được triển khai quyết liệt, đảm

bảo tiến độ

Trang 29

2.2.2 Các hướng thực hiện đề án trong tương lai

Theo kế hoạch NHNN đề ra, dự kiến trong năm 2012 sẽ có 8-10 NH yếu kém được xử

lý bằng cách hợp nhất, sáp nhập Tuy nhiên trên thực tế, từ đầu năm 2012 đến đầu

tháng 6, chỉ có 2 NH HaBu Bank và SHB được sáp nhập với nhau Phải chăng, hoạt

động hợp nhất, sáp nhập NH đang diễn ra âm thầm, lặng lẽ?

Có thể nhìn nhận rằng, NHNN cũng đang đợi chờ, nhưng cũng có thể vì lý do kháchquan làm thay đổi kế hoạch ban đầu Điều này thể hiện qua việc NHNN khuyến khíchcác NH tự nguyện hợp nhất, sáp nhập Song, tiến trình tự thân của các NH khá trì trệ,đòi hỏi NHNN phải hành động quyết liệt để thúc đẩy các NH yếu kém sáp nhập Chiếnlược của NHNN chưa xem xét được tất cả mọi khía cạnh nên sự chậm trễ là điều dễhiểu, nhưng một phần cũng do thị trường hiện đang ở giai đoạn có nhiều biến động,gây khó khăn cho NHNN trong việc đưa ra những biện pháp có tính cụ thể và hệ thống.Liệu rằng trong 6 tháng cuối năm, NHNN có thực hiện được mục tiêu đề ra không?Đâu là nguyên nhân của sự trì hoãn trong những tháng đầu năm? Rủi ro của sự trì hoãnnày

Việc NHNN thực hiện chậm tiến độ tái cơ cấu hệ thống NH là có lý do:

- Lý do khách quan chính là phụ thuộc vào lịch họp ĐHĐCĐ của những NH đượcchú ý đều tổ chức trong tháng 4 Ta thấy xu hướng của NHNN là để các NH tự nguyệnhọp nhất, sáp nhập thông qua sự đồng thuận của các cổ đông Chính vì vậy, NHNN đã

“chờ” các NH tổ chức ĐHĐCĐ để lấy ý kiến của các cổ đông, điển hình là sự sáp nhậpcủa HBB và SBB

- Lý do xuất phát từ mối quan hệ giữa NHNN và CP Như ta đã biết, nước ta đangduy trì cơ cấu NHNN trực thuộc CP, do đó NHNN không tự đơn phương đưa ra quyếtđịnh và thực hiện các chương trình kinh tế CP can thiệp vào các quyết định của

NHNN và NHNN phải phối hợp với CP điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với tìnhhình kinh tế Thực tế, trong 2 quý đầu năm, NHNN đã 4 lần cắt giảm lãi suất, thực hiệnchính sách nới lỏng tiền tệ phù hợp với lạm phát có xu hướng giảm, thúc đẩy kinh tế

Trang 30

tăng trưởng Chính vì thực hiện mục tiêu khác nhau nên NHNN phải trì hoãn lại quátrình tái cấu trúc.

Qua hai nguyên nhân trên, NHNN trì hoãn tái cấu trúc là có cơ sở chứ không phải donăng lực yếu kém mà NHNN thực hiện chậm Hơn nữa, hiện tại NHNN đang dần hoànthiện các hành lang pháp lý cho việc tái cấu trúc hệ thống NHTM Thời điểm này chỉ

có thể kỳ vọng NHNN giám sát chặt chẽ hoạt động NHTM yếu kém và có biện pháp

hỗ trợ thanh khoản kịp thời, nhằm tránh các NHTM này lách luật trong hoạt động, gâybất ổn thị trường Tuy nhiên, xử lý các NHTM yếu kém chậm trễ đang tạo nên sự bất

ổn trong chính nội bộ các NHTM yếu kém, các lãnh đạo ở các NHTM nhỏ được dựđoán nằm trong danh sách 9 NHTM yếu kém sẽ có tâm lý bất an về việc sắp xếp nhân

sự khi việc hợp nhất diễn ra Thực tế đã có không ít người âm thầm tìm vị trí mới ởNHTM khác Điều này vô tình càng gây khó cho các NHTM yếu kém, ảnh hưởng đếntâm lý nhân viên, làm cho hiệu quả làm việc không cao Có thể, NHNN đã rút ra đượcnhiều kinh nghiệm sau lần hợp nhất ba NH là NHTMCP Đệ Nhất (Ficombank), TínNghĩa (TinNghiaBank) và Sài Gòn (SCB) nên cần thời gian để đưa ra quyết định đúngđắn

Việc thực hiện chậm trễ so với mục tiêu đề ra không phải là vấn đề đáng lo ngại, màhiệu quả mang lại trong hoạt động của NH sau tái cấu trúc mới quan trọng Vì thế, đòihỏi NHNN phải tính toán cẩn thận cách thức tổ chức, cơ cấu nhân sự, chi phí, việctham gia của các nhà đầu tư mới…đối với NHTM yếu kém Có như vậy những NHTMsau hợp nhất, sáp nhập mới phát triển một cách hòa hợp và bền vững Tuy nhiên, việcchậm trễ này có ảnh hưởng đến mục tiêu 4 năm trong đề án tái cấu trúc hay không?Như Thống đốc NHNN đã khẳng định tại phiên họp CP thường kỳ tháng 5, NHNN sẽsớm báo cáo CP Đề án xứ lý nợ xấu trong hệ thống NH để khơi thông nguồn vốn, đồng

thời trong sáu tháng cố gắng xử lý dứt điểm các NH yếu kém.

Trong tháng 6, NHNN sẽ ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm đánh giá, xếp hạng,

tổ chức lại các TCTD, hỗ trợ lãi suất…Thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP của CP ngày

Trang 31

3/1/2012 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển

xã hội và dự toán ngân sách nhà nước 2012, NHNN sẽ ban hành hàng loạt Thông tưliên quan tới hoạt động của các TCTD, chi nhánh NH nước ngoài Có khoảng 17 thông

tư và các văn bản khác được NHNN ban hành trong tháng 6/2012 Trong số 17 Thông

tư có rất nhiều những vấn đề quan trọng liên quan tới quá trình tái cơ cấu hệ thống NH,trong đó có Thông tư về Quy trình đánh giá, xếp hạng các TCTD, Thông tư về tổ chứclại TCTD…Sau Thông tư số 04/2010/TT-NHNN của NHNN quy định việc sáp nhập,hợp nhất, mua lại TCTD, NHNN tiếp tục sẽ ban hành Thông tư về tổ chức lại TCTD.Theo Dự thảo Thông Tư, các hình thức sáp nhập TCTD được xác định ở 5 trường hợp:

NH, công ty tài chính sáp nhập vào một NH; công ty tài chính sáp nhập vào một công

ty tài chính; công ty cho thuê tài chính sáp nhập vào một công ty cho thuê tài chính;quỹ tín dụng nhân dân sáp nhập vào một quỹ tín dụng nhân dân; tổ chức tài chính vi

mô sáp nhập vào một tổ chức tài chính vi mô

Ngoài ra, còn có hai Thông tư quy định điều kiện, hồ sơ, thủ tục thành lập, thay đổi tên,địa điểm và chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp củaNHTM và TCTD phi NH; Thông tư về giám sát, đánh giá và cảnh báo sớm rủi ro tíndụng đối với các tổ chức; Thông tư liên tịch quy định việc phối hợp hoạt động thanhtra, giám sát giữa NHNN và Bộ Tài chính; Thông tư về các tỷ lệ đảm bảo an toàn tronghoạt động của các NHTM và TCTD phi NH; Thông tư quy định về trình tự, thủ tụcthanh tra NH và giám sát NH cũng sẽ được ban hành trong tháng 6 Bên cạnh đó,NHNN sẽ ban hành Thông tư thay thế Quyết định 58/2006/QĐ-NHNN về mức lưu kýgiấy tờ có giá tại NHNN và Thông tư hướng dẫn về việc cấp, thu hồi giấy phép hoạtđộng cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán đối với các hoạt động không phải là NH;Thông tư quy định chi tiết việc thi hành hỗ trợ lãi suất đối với tổ chức, cá nhân vay vốntrung, dài hạn tại Quỹ đầu tư phát triển địa phương

Thực tế, NHNN đã thanh tra toàn diện, tổ chức kiểm toán 9 NH yếu kém, tạo tiền đềcho các bước xử lý tiếp theo Điển hình là NHNN đã thông qua đề án sáp nhập của 2

Ngày đăng: 09/03/2014, 07:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w