1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

02050007863 noidung Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015

166 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015
Tác giả Ứng Hoàng Anh
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thị Thanh Loan
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 14,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

02050007863 noidung Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ỨNG HOÀNG ANH

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CỘNG HÒA PHÁP THEO CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LỊCH SỬ

Hà Nội - 2025

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ỨNG HOÀNG ANH

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI CỘNG HÒA PHÁP THEO CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015” là công trình nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố

Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2025

Tác giả Luận văn

Ứng Hoàng Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Đỗ Thị Thanh Loan - người

đã dành nhiều tâm huyết và công sức hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu và có giá trị của các thầy

cô tại các buổi thảo luận ở Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam giúp tôi hoàn thiện Luận văn

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Thư viện Quốc gia, Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2025

Tác giả Luận văn

Ứng Hoàng Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Bảng chữ viết tắt sử dụng trong luận văn 3

Danh mục các bảng trong luận văn 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do lựa chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 12

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Kết cấu của luận văn 14

Chương 1: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUAN HỆ VIỆT NAM - CỘNG HÒA PHÁP THEO CHỦ TRƯƠNG ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005 15

1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 15

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử 15

1.1.2 Chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 24

1.2 Quá trình thực hiện quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp 29

1.2.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng 29

1.2.2 Quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư 35

1.2.3 Quan hệ văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ 42

Tiểu kết chương 1 49

Chương 2: QUÁ TRÌNH TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN QUAN HỆ VIỆT NAM - CỘNG HÒA PHÁP THEO CHỦ TRƯƠNG ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015 51

2.1 Hoàn cảnh lịch sử mới và chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 51

Trang 6

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử mới 51

2.1.2 Chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam 56

2.2 Quá trình tăng cường thực hiện quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp 63

2.2.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng 63

2.2.2 Quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư 72

2.2.3 Quan hệ văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ 80

Tiểu kết chương 2 89

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 91

3.1 Một số nhận xét 91

3.1.1 Ưu điểm 91

3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 100

3.2 Một số kinh nghiệm 105

Tiểu kết chương 3 110

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 133

Trang 7

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN

ADB Asian Development Bank

Ngân hàng Phát triển châu Á

AFD Agence Française de Développement

Cơ quan Phát triển Pháp

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

APEC Asia - Pacific Economic Cooperation

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương

ASEM Asia - Europe Meeting

Diễn đàn Hợp tác Á - Âu

CCIFV Chambre de Commerce et d’Industrie Française au Vietnam

Phòng Thương mại và Công nghiệp Pháp tại Việt Nam

CCV-France

Centre Culturel du Vietnam en France

Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp

CFVG Centre Franco - Vietnamien de Formation en Gestion

Trung tâm Pháp - Việt Đào tạo về Quản lý

CNRS Centre National de la Recherche Scientifique

Trung tâm Nghiên cứu khoa học Quốc gia Pháp

EAS East Asia Summit

Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á

EFEO École Française d’Extrême-Orient

Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp

EVFTA EU - Vietnam Free Trade Agreement

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU

IDECAF Institut d’Échanges Culturels avec la France

Viện Trao đổi văn hóa với Pháp

IRD Institut de Recherche pour le Développement

Trang 8

Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp

IFV Institut Français au Vietnam

Viện Pháp tại Việt Nam

INSEE Institut National de la Statistique et des Études Économiques

Viện Thống kê và Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia của Pháp

NATO North Atlantic Treaty Organization

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

ODA Official Development Assistance

Viện trợ phát triển chính thức

OIF Organisation Internationale de la Francophonie

Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ

UAVF Union des Anciens Étudiants Vietnamiens en France

Hội Cựu du học sinh Việt Nam tại Pháp

UGVF Union Générale des Vietnamiens de France

Hội người Việt Nam tại Pháp

UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc

WTO World Trade Organization

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Trang Bảng 1.1: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa

Việt Nam và Pháp từ năm 1996 đến năm 2005

Bảng 2.1: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa

Việt Nam và Cộng hòa Pháp từ năm 2006 đến năm 2015

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Ngày 12/4/1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ tháng 7/1976 là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và Cộng hòa Pháp chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Trong những năm 1973 - 1991, quan hệ hai nước trải qua nhiều biến động do ảnh hưởng của bối cảnh Chiến tranh lạnh và vấn đề Campuchia; chỉ thực sự ấm dần lên sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Pháp François Mitterrand (02/1993)

Từ năm 1996 đến năm 2015, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng

mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế [3, tr 119] của Đảng Cộng sản Việt Nam, quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp từng bước phát triển, mở rộng trên các lĩnh vực, nâng cao hiệu quả hợp tác và đã đạt được những bước tiến quan trọng, đặc biệt là sự kiện hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược (9/2013)

Ngày 08/10/2024, lãnh đạo hai quốc gia nhất trí nâng cấp quan hệ song phương lên Đối tác chiến lược toàn diện - cấp độ cao nhất của mối quan hệ hợp tác Cộng hòa Pháp trở thành đối tác chiến lược toàn diện đầu tiên trong Liên minh châu Âu (EU)

và là đối tác chiến lược toàn diện thứ 8 trên thế giới của Việt Nam Sự lãnh đạo thực hiện quan hệ Việt Nam - Pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam là điển hình trong thiết lập, tăng cường quan hệ với các nước lớn Vì vậy, nghiên cứu chủ trương đối ngoại của Đảng và quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp góp phần đưa ra những định hướng đối ngoại của Việt Nam với các nước lớn nói chung Giai đoạn 1996 - 2015 có vai trò bản lề, định hình những khuôn khổ chủ yếu của quan hệ hai nước hiện nay Do đó, tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp thời kỳ này giúp nhận thức những vấn đề cơ bản nhất trong lịch sử quan hệ giữa hai quốc gia Đồng thời, việc nghiên cứu, làm rõ quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015 là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn; trên cơ sở đánh giá những

ưu điểm, hạn chế của quan hệ giữa hai quốc gia để rút ra bài học trong hoạch định

Trang 11

chủ trương, thực hiện đường lối đối ngoại của Việt Nam và trong việc tăng cường quan hệ với Cộng hòa Pháp

Với những lý do cơ bản trên, tôi lựa chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Quá trình

thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những công trình lựa chọn quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp làm đề tài nghiên cứu tập trung vào hai nhóm chính: Nhóm nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Pháp trên phương diện tổng thể và nhóm nghiên cứu quan hệ giữa hai quốc gia dưới góc độ từng vấn đề cụ thể

Những công trình nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Pháp trên phương diện tổng thể, thường phân tích kết quả hợp tác đạt được trên các lĩnh vực chính trị, kinh

tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ để từ đó đánh giá tiềm năng và triển vọng tăng cường quan hệ giữa Việt Nam và Pháp

Một số luận văn thạc sĩ tìm hiểu quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp trên ba nhóm lĩnh vực chủ yếu: chính trị, kinh tế và văn hóa - xã hội; nhận xét về mặt được, mặt chưa được trong mối quan hệ để đưa ra những giải pháp thúc đẩy hợp tác Việt - Pháp ngày càng hiệu quả Tiêu biểu cho hướng khai thác này là luận văn thạc sĩ lịch

sử Việt Nam Quan hệ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa

Pháp (1991 - 2005) của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh [100], phục dựng lại quan hệ Việt -

Pháp giai đoạn 1991 - 2005 trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật; rút ra nhận xét, những đặc điểm và bài học kinh nghiệm, những cơ hội và thử thách, nêu lên triển vọng của quan hệ hai nước

trong tương lai Luận văn thạc sĩ quan hệ quốc tế Quan hệ Việt Nam - Pháp giai đoạn

2013 - 2020 của Nguyễn Xuân Cương [110] phân tích những nhân tố tác động đến

quan hệ hai nước những năm 2013 - 2020; trình bày thực trạng quan hệ Việt - Pháp

về chính trị và quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội; trên cơ sở đó để đưa ra nhận xét, triển vọng và khuyến nghị giúp tăng cường mối quan hệ giữa hai quốc gia

Trang 12

Luận án tiến sĩ quan hệ quốc tế Quan hệ Cộng hoà Pháp - Cộng hoà xã hội chủ

nghĩa Việt Nam (1993 - 2008) của Võ Thị Thu Hà [169] và luận văn thạc sĩ quan hệ

quốc tế Quan hệ hợp tác Pháp - Việt từ 1993 đến nay của Nguyễn Minh Chi [96] có cách tiếp cận mới khi lựa chọn Pháp làm chủ thể, còn Việt Nam với tư cách là nước

đối tượng của quan hệ đối ngoại, tập trung nghiên cứu về quan hệ Pháp - Việt trên một số nhóm lĩnh vực; từ đó đưa ra những nhận xét, khái quát đặc điểm và triển vọng của quan hệ song phương Phạm vi nghiên cứu được lựa chọn từ sau sự kiện Tổng thống Pháp François Mitterrand thăm Việt Nam (02/1993), đánh dấu việc tái khởi động quan hệ hai nước sau Chiến tranh lạnh; cho đến năm 2006 (luận văn thạc sĩ của Nguyễn Minh Chi) và năm 2008 (luận án tiến sĩ của Võ Thị Thu Hà) Trong khi đó, quan hệ giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp đã có những bước phát triển mạnh mẽ từ năm 2010 đến nay

Các sách chuyên khảo được xuất bản nhân dịp Việt Nam - Pháp kỷ niệm 50 năm

thiết lập quan hệ ngoại giao Công trình Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Pháp

(2013 - 2023) của Phan Tri Tôn [112] đã trình bày quan hệ giữa Việt Nam và Pháp

trong 10 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược (9/2013), được xem xét trên các lĩnh vực tương đối toàn diện gồm chính trị, ngoại giao; kinh tế; văn hóa; giáo dục, đào tạo; khoa học, kỹ thuật; y tế; quốc phòng, an ninh; quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Pháp; hợp tác phi tập trung Từ đó, tác giả đưa ra những đánh giá về cơ sở và xu hướng phát triển của quan hệ hai nước trong

thời gian tới Công trình 50 năm quan hệ Việt - Pháp (1973 - 2023) của Võ Minh

Hùng [167] đã khái quát tiến trình phát triển của quan hệ Việt Nam - Pháp sau 50 năm hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, được phân chia thành giai đoạn

1973 - 1993 và giai đoạn 1993 - 2023 Tác giả cũng phân tích những hạn chế còn tồn đọng, triển vọng của quan hệ song phương và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng quan hệ giữa hai quốc gia lên một tầm cao mới

Một số bài viết đăng trên các báo, tạp chí khoa học tiêu biểu là: Ba mươi lăm

năm quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp của Nguyễn Thu Phương [105] - Tạp chí

Cộng sản, số 786 năm 2008; Quan hệ Việt Nam - Pháp: Thành tựu và kinh nghiệm

Trang 13

sau hơn 3 thập kỷ thiết lập quan hệ ngoại giao của Dương Thị Thanh Tình [77] - Tạp

chí Nghiên cứu châu Âu, số 5 (104) năm 2009; Việt Nam - Pháp: Hướng tới quan hệ

đối tác toàn diện của Trần Thị Khánh Hà [153] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 4

(139) năm 2012; Nhìn lại 40 năm quan hệ Việt - Pháp (1973 - 2013): Thực trạng và

triển vọng của Võ Minh Hùng [166] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 7 (154) năm

2013; Quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp từ 1991 đến 2013 của Nguyễn Thị Quế,

Nguyễn Thị Minh Thảo [103] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 5 (152) năm 2013;

60 năm quan hệ Việt Nam - Pháp và Liên minh châu Âu: Thành tựu và triển vọng của

Nguyễn Văn Khánh [107] - Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 2 năm 2014;

Quan hệ Việt - Pháp sau 50 năm nhìn lại của Nguyễn Văn Lan [109] - Tạp chí Lý

luận chính trị, số 543 năm 2023; Quan hệ Việt Nam - Pháp: Năm mươi năm hợp tác

và phát triển của Đinh Thị Ngọc Linh [74] đăng trên Tạp chí Cộng sản (bản điện tử),

ngày 26/3/2023 Những bài nghiên cứu trên đã điểm lại các sự kiện và kết quả chủ yếu của quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia trong lịch sử 50 năm quan hệ ngoại giao (1973 - 2023), đưa ra một số đánh giá, nhận xét từ quan điểm chủ quan của tác giả song dung lượng của các bài viết còn bị giới hạn

Nằm trong nhóm đề tài này còn có kỷ yếu của các hội thảo khoa học trong nước

và quốc tế, tiêu biểu là: Hội thảo khoa học 220 năm Cách mạng Pháp (1789 - 2009)

và quan hệ Việt - Pháp trong lịch sử [71] được tổ chức tại Huế (7/2009); Hội thảo

khoa học Việt Nam - Đối tác chiến lược mới của Pháp tại châu Á được tổ chức tại Paris, Pháp (11/2013); Hội thảo khoa học Quan hệ Việt Nam - Pháp: Từ chiến tranh

tới hòa bình diễn ra tại thành phố Montpellier, Pháp (4/2023)

Những công trình về mối quan hệ Việt Nam - Pháp dưới góc độ từng vấn đề

cụ thể, một số công trình bằng tiếng nước ngoài như: cuốn sách French and Japanese

Economic Relations with Vietnam since 1975 (Quan hệ kinh tế của Pháp và Nhật Bản

với Việt Nam từ năm 1975) của Henrich Dahm [174] phân tích hoạt động của Chính phủ và các doanh nghiệp của Pháp và Nhật Bản trong việc thiết lập quan hệ kinh tế với nước Việt Nam thống nhất từ sau năm 1975, từ đó so sánh chiến lược của hai quốc gia trên trong quá trình cạnh tranh ảnh hưởng về kinh tế và chính trị ở Việt Nam

Trang 14

Luận án tiến sĩ Les pratiques corruptrices dans les échanges économiques

internationaux: étude comparative France - Vietnam (Các hành vi tham nhũng trong

trao đổi kinh tế quốc tế: nghiên cứu so sánh giữa Pháp và Việt Nam) của Louise Portas [177] bảo vệ tại Đại học Toulouse (Pháp) vào năm 2015, tiếp cận các hành vi tham nhũng trong trao đổi kinh tế quốc tế từ góc độ luật hình sự; những khó khăn, trở ngại trong việc thực thi các biện pháp xử phạt và đề xuất một số cơ chế phòng ngừa Những bài viết đăng trên các báo, tạp chí khoa học tập trung nghiên cứu quá trình hợp tác Việt Nam - Pháp trên một lĩnh vực cụ thể, từ đó đưa ra một số nhận xét

và kinh nghiệm nhằm tăng cường quan hệ giữa hai quốc gia

Trong lĩnh vực chính trị - ngoại giao: bài viết Mối quan hệ kinh tế Việt - Pháp

và nỗ lực nâng quan hệ hai nước lên tầm cao mới mang tính chiến lược của Đoàn Tất

Thắng [76] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 11 (86) năm 2007; Quan hệ Việt - Pháp

về lĩnh vực chính trị (1993 - 2008) của Võ Thị Thu Hà [168] - Tạp chí Nghiên cứu

châu Âu, số 8 (107) năm 2009; Vị trí Việt Nam trong Chính sách châu Á mới của

Pháp của Võ Minh Hùng [164] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 8 (119) năm 2010 Trong lĩnh vực kinh tế, bài viết Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI của Pháp tại Việt Nam của Võ Minh Hùng [165] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 2

(125) năm 2011; Thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Pháp cho Việt Nam giai

đoạn 1993 - 2012 của Nguyễn Thị Kim Chi [97] - Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 5

(152) năm 2013

Trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục - đào tạo, bài viết Nhìn lại mối quan hệ Việt Nam - Pháp của Nguyễn Liên Hương [95] - Tạp chí Văn hóa - Nghệ thuật, số 365

năm 2014; Dạy học song ngữ tiếng Pháp ở Việt Nam: Mô hình và thực trạng của

Nguyễn Thị Thu Hiền, Đào Văn Toàn, Bùi Diệu Quỳnh [104] - Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 23 năm 2019

Trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bài viết Chiến lược về an ninh tại khu vực

Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Pháp và gợi ý chính sách đối với Việt Nam của

nhóm tác giả Lê Dũng, Đinh Trung Thành, Nguyễn Thị Lê Vinh, Văn Ngọc Thành, Nguyễn Trọng Xuân [87] - Tạp chí Khoa học Trường Đại học Vinh, tập 49, số 4B

Trang 15

năm 2020; Quan hệ quốc phòng Việt - Pháp trong bối cảnh chiến lược mới ở Ấn Độ

- Thái Bình Dương của Hoàng Thị Phương Thảo [80] - Tạp chí Khoa học Trường Đại

học Quốc tế Hồng Bàng, số 23 năm 2023

Một số kỷ yếu hội thảo khoa học trong nước và quốc tế nghiên cứu, thảo luận mối quan hệ Việt Nam - Pháp dưới góc độ một vấn đề cụ thể gồm có: Hội thảo khoa

học Điện Biên Phủ - 50 năm nhìn lại được tổ chức vào tháng 4/2004, nhân kỷ niệm

50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ; Hội thảo khoa học Kinh tế Việt Nam - Pháp:

Hướng tới phát triển xanh và bền vững (Relations économiques Vietnam - France: Vers le développement vert et durable) được tổ chức tại Hà Nội (7/2023)

Nhìn chung, các công trình khoa học, sách chuyên khảo, bài viết trên đây đã tìm hiểu, nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp trên phương diện tổng thể hoặc dưới góc độ từng vấn đề cụ thể Một số công trình lựa chọn cách tiếp cận theo hướng chuyên ngành lịch sử Việt Nam, quan hệ quốc tế; chưa có công trình nghiên cứu tổng thể quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp theo cách tiếp cận của chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015; từ đó đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế và đúc rút một vài kinh nghiệm chủ yếu

có giá trị tham khảo cho hiện tại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ hoàn cảnh lịch sử, những yếu tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp và chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015

- Làm rõ quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương đối ngoại của Đảng từ năm 1996 đến năm 2015

Trang 16

- Từ thực tiễn quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp trong giai đoạn 1996 - 2015, luận văn đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế và đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với

Cộng hòa Pháp theo chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996

đến năm 2015

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung khoa học, luận văn nghiên cứu chủ trương đối ngoại của Đảng và

quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp từ năm 1996 đến năm

2015 trên một số lĩnh vực: quan hệ về chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng; quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư và quan hệ văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ

- Về thời gian, luận văn lấy mốc mở đầu từ năm 1996, là năm diễn ra Đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam (6/1996), thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặt ra những yêu cầu cấp thiết về nguồn vốn, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và mở rộng thị trường thương mại Mốc kết thúc của luận văn là năm 2015, năm kết thúc 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011 - 2015) của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Về không gian, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa

Pháp

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

5.1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận, luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan, phương pháp

luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế

Phương pháp nghiên cứu, trong khuôn khổ luận văn, học viên sử dụng các

phương pháp nghiên cứu chủ yếu của khoa học lịch sử (phương pháp lịch sử, phương

Trang 17

pháp logic, phương pháp tổng kết thực tiễn); đồng thời kết hợp linh hoạt với phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp thống kê, so sánh

5.2 Nguồn tài liệu, để thực hiện đề tài trên, luận văn đã sử dụng các nguồn tài

liệu sau đây:

- Những văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng; Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng; các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác đối ngoại

- Các Hiệp định, Thỏa thuận, Nghị định thư, Bản ghi nhớ hợp tác được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Pháp

- Các báo cáo của các Bộ, ban, ngành và những đơn vị, tổ chức liên quan được lưu giữ tại các cơ quan lưu trữ Việt Nam, một phần đã được số hóa

- Các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, các bài viết của các nhà khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận văn được đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành

- Những tài liệu bằng tiếng Anh và tiếng Pháp được lưu trữ tại Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, Trung tâm Văn hóa Pháp tại Việt Nam (L’Espace); các bài phát biểu của những nhà lãnh đạo cấp cao Cộng hòa Pháp, các văn bản, thỏa thuận hợp tác với Việt Nam đã được số hóa

- Các báo cáo, thống kê, bài phân tích được số hóa và đăng tải công khai của các cơ quan, tổ chức Pháp và quốc tế như: Viện Thống kê và Nghiên cứu Kinh tế

Quốc gia của Pháp - INSEE; Cơ quan Giáo dục Pháp ở nước ngoài - AEFE; Viện

Pháp tại Việt Nam - IFV; Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ - OIF; Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc - UNESCO…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn làm sáng tỏ hoàn cảnh lịch sử, những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp giai đoạn 1996 - 2015

Trang 18

Từ thực tiễn quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương đối ngoại của Đảng từ năm 1996 đến năm 2015, luận văn đưa ra một số kết luận khoa học, góp thêm luận chứng, luận cứ cho việc hoạch định chủ trương, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế và tiếp tục tăng cường quan hệ song phương Việt Nam - Cộng hòa Pháp trong hiện tại và tương lai

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử đối ngoại, đường lối đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước nói chung; đồng thời góp phần nghiên cứu về lịch sử quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương, 6 tiết và phần kết luận

Chương 1: Quá trình thực hiện quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp theo chủ

trương đối ngoại của Đảng từ năm 1996 đến năm 2005

Chương 2: Quá trình tăng cường thực hiện quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp

theo chủ trương đối ngoại của Đảng từ năm 2006 đến năm 2015

Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm

Trang 19

Chương 1: QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN QUAN HỆ VIỆT NAM - CỘNG HÒA PHÁP THEO CHỦ TRƯƠNG ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG

TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005

1.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử

1.1.1.1 Tình hình thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Cuối những năm 80 - đầu những năm 90 của thế kỷ XX, thế giới chứng kiến những biến động chưa từng có Chiến tranh lạnh kết thúc, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ1, kéo theo sự tan rã của trật tự hai cực Yalta Một trật tự thế giới mới đang dần hình thành với các chiều hướng khó lường Hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế nhưng chiến tranh, xung đột cục bộ vẫn xảy ra ở một số khu vực, tiềm ẩn nguy cơ gây bất

ổn, thậm chí có thể leo thang thành xung đột diện rộng

Những tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ khiến các quốc gia ngày càng tránh xung đột quân sự không cần thiết Thay vào đó, phát triển kinh tế và khoa học - công nghệ trở thành ưu tiên hàng đầu trong chiến lược xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia, cũng là yếu tố mang tính sống còn đối với mỗi nước Toàn cầu hóa đã trở thành xu thế tất yếu, không thể đảo ngược Những quốc gia tận dụng được toàn cầu hóa có cơ hội bứt phá nhanh chóng về kinh tế, trong khi những nước không theo kịp xu thế sẽ phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn ra những chuyển biến quan trọng về chính trị, kinh tế và an ninh Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ điều chỉnh chiến lược đối ngoại, tăng cường sự hiện diện ở châu Á - Thái Bình Dương và duy trì, thiết lập quan hệ trên các lĩnh vực quan trọng với nhiều nước Đông Nam Á [98, tr 51]

1 Chế độ xã hội chủ nghĩa bắt đầu sụp đổ từ Đông Âu, với Ba Lan, Hungary, Đông Đức, Tiệp Khắc, Rumani (1989), Bungari (1990) Đến tháng 12/1991, các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô lần lượt tuyên bố độc lập, Tổng thống Gorbachev từ chức và lá cờ búa liềm được hạ xuống tại Điện Kremlin, đánh dấu sự chấm dứt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô

Trang 20

Trung Quốc thực hiện chính sách “Cải cách và mở cửa” (1978), tạo đà phát triển kinh

tế mạnh mẽ; Nhật Bản củng cố vị thế cường quốc kinh tế toàn cầu Sự trỗi dậy của những “con rồng châu Á” (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore) cùng các nền kinh tế công nghiệp mới như Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã góp phần khẳng định vị thế quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong quan hệ quốc tế Đồng thời, vai trò của các tổ chức đa phương ngày càng được củng cố, tiêu biểu

là Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được thành lập từ năm 1989 và Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) ra đời vào năm 1996 Với sự tham gia của những nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Australia, APEC và ASEM đã trở thành động lực mới cho sự tăng trưởng kinh tế và tiến trình hội nhập khu vực

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mở rộng hợp tác nội khối và kết nạp thành viên mới, đặc biệt từ sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết (1991): Kết nạp thành viên thứ 6 - Brunei (1984); Việt Nam và Lào tham gia Hiệp ước Thân hữu và Hợp tác (Hiệp ước Bali) và trở thành quan sát viên của ASEAN (1992); thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA - 1992); thành lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF - 1994); Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN (7/1995); ký kết Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á phi vũ khí hạt nhân (Hiệp ước Băng Cốc - 25/12/1995) [172] Bên cạnh đó, ASEAN từng bước xây dựng vị trí trung tâm trong tiến trình liên kết khu vực châu Á - Thái Bình Dương thông qua cơ chế ASEAN+1, thiết lập quan

hệ đối tác giữa ASEAN với Nhật Bản (1973), Australia (1974), New Zealand (1975),

Mỹ (1977), Liên minh châu Âu (EU, 1977), Hàn Quốc (1989), Trung Quốc (1991),

Ấn Độ (1992) và Liên bang Nga (1996) ASEAN+1 không chỉ mở rộng hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư mà còn tăng cường hoạt động đối thoại về chính trị và an ninh

Cuối thập niên 1980 - đầu thập niên 1990, bối cảnh quốc tế và khu vực mang đến cả cơ hội và thách thức đối với Việt Nam Trong xu thế hòa bình, ổn định, Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế và tiếp thu những thành

Trang 21

tựu khoa học - công nghệ từ các nước phát triển Tuy nhiên, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là tổn thất nặng nề của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới Quá trình toàn cầu hóa mang đến thời cơ hội nhập kinh tế quốc tế nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ can thiệp của các nước lớn vào nội bộ các quốc gia khác

1.1.1.2 Tình hình Việt Nam và sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Cộng hòa Pháp sau Chiến tranh lạnh

sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong những năm 1991

- 1995, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trưởng bình quân 8,2%/năm Lạm phát từng ở mức ba con số trước năm 1986, đã giảm còn 67,1% (năm 1991) và giảm xuống mức 12,7% vào năm 1995 [2, tr 58-59] Tình hình chính trị được giữ vững, quốc phòng và an ninh được củng cố, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế

Trong công tác đối ngoại, Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI) tháng 5/1988 đánh dấu sự đổi mới về tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam Tháng 6/1991, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [15, tr 410] Tiếp đó,

“Chính sách bốn điểm mới của Việt Nam đối với khu vực” (được công bố vào năm 1993) đã thể hiện quan điểm nhất quán của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và sẵn sàng tham

Trang 22

gia ASEAN vào thời điểm thích hợp [99, tr 36] Tháng 01/1994, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “tiếp tục đẩy mạnh chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa và đa phương hóa, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước” [7, tr 223]

Tính đến năm 1995, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 quốc gia và mở rộng quan hệ thương mại với trên 100 nước, trong đó đã củng cố, tăng cường quan hệ với các nước láng giềng (bao gồm các nước trong ASEAN); khôi phục quan hệ với các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây (Liên bang Nga, Trung Quốc, các nước SNG); đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia Nam Á, Nam Thái Bình Dương, Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh [2, tr 63]

Năm 1995 cũng đánh dấu những thắng lợi quan trọng trong hoạt động ngoại giao của Việt Nam, đó là: chính thức bình thường hóa quan hệ với Mỹ (11/7/1995);

ký kết Hiệp định khung về hợp tác với Cộng đồng châu Âu (EC) (17/7/1995); chính thức gia nhập ASEAN (28/7/1995) Những thành tựu trên đã giúp Việt Nam từng bước phá thế bao vây, cấm vận, góp phần cải thiện và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Việt Nam vẫn chưa thể thoát khỏi nước nghèo với năng suất lao động thấp và trình độ công nghệ còn hạn chế Mặt khác, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã tác động mạnh đến Việt Nam, trước hết về thị trường và nguồn vốn Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (01/1994) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định bốn nguy cơ lớn trước mắt là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch [7, tr 198]

Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Cộng hòa Pháp sau chiến tranh lạnh

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Cộng hòa Pháp duy trì chính sách đối ngoại cơ bản độc lập với Mỹ về quân sự, quốc phòng, kinh tế, ngoại giao Trên bình diện quốc

tế, Pháp xác lập vị thế cường quốc, xúc tiến ngoại giao hạt nhân; giữ vai trò chủ đạo

Trang 23

đối với quá trình phát triển của Cộng đồng châu Âu (EC) với quan điểm một nước Pháp mạnh trong một châu Âu; duy trì khu vực ảnh hưởng truyền thống, đặc biệt là châu Phi và tăng cường ngoại giao văn hóa thông qua Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp

Chiến tranh lạnh kết thúc và trật tự hai cực Yalta tan rã, thế giới chuyển sang hệ thống đa cực và Mỹ củng cố vị thế siêu cường trong quan hệ quốc tế Nhằm thích ứng với những diễn biến chính trị và an ninh toàn cầu, Cộng hòa Pháp đã có sự thay đổi, điều chỉnh trong chính sách đối ngoại song vẫn dựa trên mục tiêu “khôi phục địa vị

và uy danh của nước Pháp” [101, tr 9] và nguyên tắc đối ngoại cơ bản “độc lập tự chủ, đoàn kết và quảng bá những giá trị văn hóa, văn minh Pháp trên trường quốc tế” [101, tr 9]

Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống François Mitterrand, Pháp đã tái định hướng chiến lược đối ngoại, chuyển mình từ mô hình truyền thống dựa trên di sản thuộc địa sang một chính sách hiện đại, độc lập và tự chủ Pháp đã tập trung thúc đẩy quá trình hội nhập Liên minh châu Âu (EU); củng cố quan hệ song phương với các cường quốc như Mỹ, Nhật Bản và mở rộng quan hệ với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là tại châu Phi, châu Á Bên cạnh đó, Pháp chủ động tăng cường đối thoại đa phương, tham gia tích cực vào Liên hợp quốc và phát triển mối quan hệ đặc thù với Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp (Francophonie) Chính sách đối ngoại mới nhấn mạnh tinh thần đa phương, mở cửa và hợp tác, góp phần định hình vị thế quốc tế của Pháp trong bối cảnh trật tự thế giới mới đang hình thành

1.1.1.3 Sự lãnh đạo thực hiện quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp trước năm

1996 của Đảng Cộng sản Việt Nam

Ngày 12/4/1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ tháng 7/1976 là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và Cộng hòa Pháp chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Trong chuyến thăm Pháp của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa

Việt Nam Phạm Văn Đồng (4/1977), lãnh đạo hai quốc gia đã ký kết Hiệp định Hàng

không dân dụng và Hiệp định hợp tác về văn hóa, khoa học và kỹ thuật, đặt những cơ

sở đầu tiên cho quan hệ hợp tác song phương Tuy nhiên, trong những năm 1980,

Trang 24

quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp gặp nhiều biến động do bối cảnh Chiến tranh lạnh

và ảnh hưởng của vấn đề Campuchia

Với tư duy đối ngoại rộng mở, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện thiện chí trong việc xây dựng và phát triển quan hệ với các nước phát triển, trong đó có Cộng hòa Pháp Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Đảng chủ trương: “Mở rộng sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các nước Bắc Âu, Tây

Âu, Nhật Bản và các nước phát triển khác; thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan

hệ với Hoa Kỳ” [15, tr 411] Nhờ những nỗ lực từ cả hai phía, quan hệ giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp trước năm 1996 đã đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực hợp tác cụ thể

Lĩnh vực chính trị - ngoại giao, quan hệ Việt Nam - Pháp dần khởi sắc từ năm

1989, khi Pháp là quốc gia phương Tây đi đầu trong việc nối lại viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam; xóa nợ và hỗ trợ Việt Nam giải quyết các khoản nợ với các nước thuộc Câu lạc bộ Paris Trong bối cảnh Việt Nam chưa bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Tổng thống Pháp François Mitterrand thăm chính thức Việt Nam (02/1993) và trở thành người đứng đầu nhà nước phương Tây đầu tiên đến thăm nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam [168, tr 52] Chuyến thăm cũng góp phần thúc đẩy quá trình phục hồi của khối Pháp ngữ, khi hai bên ký kết thỏa thuận thành lập Văn phòng Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tại Hà Nội và nhiều hiệp định hợp tác

về thương mại, đầu tư, y tế, pháp luật

Trong năm 1993, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng Thương mại và Bộ trưởng Tư pháp Chính phủ Cộng hòa Pháp đã thăm, làm việc tại Việt Nam [168, tr 52] Tháng 11/1994, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Alain Juppé trong chuyến thăm chính thức Việt Nam đã khẳng định: “Nước Pháp nằm ở giữa lục địa châu Âu và ngày càng trở nên thống nhất, nước Việt Nam nằm ở lục địa châu Á đã được hòa giải và tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, hai nước chúng ta có thể cùng nhau làm nên việc lớn” [101, tr 16] Thông qua Việt Nam, các nhà lãnh đạo Cộng hòa

Trang 25

Pháp muốn mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam Á nói riêng, khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung

Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế và tranh thủ sự quan tâm chiến lược của Pháp, lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chủ động thúc đẩy quan hệ ngoại giao với Pháp, đồng thời thông qua Pháp mở rộng quan hệ với Liên minh châu Âu (EU) và khối Pháp ngữ Các chuyến thăm cấp cao của Việt Nam trong những năm

1993 - 1995 gồm có: Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt thăm Pháp (6/1993); Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nông Đức Mạnh hội đàm với các nghị sĩ và tham dự phiên họp Quốc hội Pháp (9/1993); Chủ tịch nước nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Lê Đức Anh thăm Pháp theo lời mời của Tổng thống François Mitterrand (5/1995) [106, tr 115]

Lĩnh vực quốc phòng, năm 1991, Pháp trở thành quốc gia phương Tây đầu tiên

mở Văn phòng Tùy viên hợp tác về quốc phòng tại Việt Nam [86] Đến năm 1993, Chính phủ Việt Nam thành lập Cơ quan Tùy viên Quốc phòng tại Pháp, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ quốc phòng hai nước Việc xúc tiến thành lập cơ quan này xuất phát từ mong muốn chung của Việt Nam và Pháp nhằm đơn giản hóa

các thủ tục ngoại giao và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau [181]

Lĩnh vực kinh tế - thương mại - đầu tư, hai nước đã ký kết và điều chỉnh nhiều

thỏa thuận: Ký kết Hiệp định khuyến khích bảo hộ và đầu tư (5/1992); Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế và Hiệp định hợp tác pháp lý và tư pháp (2/1993); hai lần sửa đổi Hiệp định Hàng không dân dụng (8/1994 và 9/1995) Bên cạnh đó, năm 1994, Việt Nam chính thức tham gia Câu lạc bộ Paris, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế Cũng trong năm 1994, Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) mở văn phòng đại diện tại Việt Nam, đưa đến cơ hội thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và Pháp trong lĩnh vực hợp tác phát triển

Trang 26

Từ năm 1991, quan hệ thương mại Việt Nam - Pháp có chiều hướng tốt đẹp, nhất là sau khi Hiệp định khung hợp tác Việt Nam - Cộng đồng châu Âu (EC) được

ký kết tháng 7/1995 Trao đổi thương mại hai chiều đã tăng gấp 1,8 lần trong những năm 1990 - 1994, từ 238,7 triệu USD (năm 1990) tăng lên mức 356,4 triệu USD vào năm 1994; đến năm 1995 đã đạt giá trị 445,7 triệu USD (trong đó xuất khẩu từ Việt Nam vào Pháp đạt 169,1 triệu USD; nhập khẩu từ Pháp vào Việt Nam đạt 276,6 triệu USD) [130, tr 209,213] Trong quan hệ đầu tư, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã tạo điều kiện cho

các tập đoàn, doanh nghiệp Pháp mở rộng đầu tư kinh doanh tại Việt Nam Từ năm 1988 đến năm 1995, Cộng hòa Pháp là đối tác đầu tư châu Âu lớn nhất của Việt Nam [100, tr 68]

Lĩnh vực văn hóa, giáo dục, tháng 7/1982, Viện Nghiên cứu Pháp ngữ được

thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh1, với nhiệm vụ tổ chức các lớp đào tạo tiếng Pháp, triển khai hoạt động văn hóa, duy trì thư viện và tư vấn du học Viện đã đóng góp tích cực vào việc phát triển và mở rộng quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với Pháp cũng như các nước trong Cộng đồng Pháp ngữ [70] Ngày 26/4/1991, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Pháp ký kết Thỏa thuận thành lập Trung tâm Ngôn ngữ và Văn minh Pháp (Alliance française) tại Hà Nội2, chính thức đi vào hoạt động từ năm 1993, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong hợp tác Việt - Pháp lĩnh vực văn hóa và giáo dục [79] Trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Pháp François Mitterrand (02/1993), lãnh đạo hai nước nhất trí mở lại Văn phòng đại diện của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) tại Hà Nội Đồng thời, Chính phủ Pháp quyết định nâng ngân sách dành cho hợp tác văn hóa, khoa học và kỹ thuật với Việt Nam, từ 50 triệu phrăng (1992) lên 72 triệu phrăng (1996), thể hiện cam kết mạnh mẽ của Pháp trong thúc đẩy quan hệ song phương

1 Nay là Viện Trao đổi Văn hóa với Pháp (IDECAF)

Trang 27

Việc giảng dạy tiếng Pháp ở bậc đại học đã được triển khai tại Việt Nam từ đầu những năm 1960, với sự ra đời của Khoa Pháp văn - Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội1 (9/1962) [83] và Khoa tiếng Pháp - Trường Đại học Ngoại ngữ2 (10/1967) [84]

Ở Pháp, Ban Việt học trực thuộc Khoa Ngôn ngữ và Văn minh châu Á, Trường Đại học Paris Diderot 7 được thành lập từ năm 1969, có nhiệm vụ nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt Hội người Việt Nam tại Pháp (UGVF) tại Thủ đô Paris cũng tổ chức các lớp dạy tiếng Việt từ những năm 1980 với giáo trình tự biên soạn

Ngày 10/4/1992, Chính phủ hai nước ký kết Thỏa thuận thành lập Trung tâm

Pháp - Việt Đào tạo về Quản lý (CFVG), xây dựng chi nhánh CFVG tại Hà Nội

(1992) và Thành phố Hồ Chí Minh (1993) [156] Sự kiện này đã mở ra những cơ hội mới trong hợp tác giáo dục đại học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường giao lưu học thuật giữa hai quốc gia

Hợp tác Việt Nam - Pháp lĩnh vực khoa học - kỹ thuật đã đạt được một số kết

quả tích cực Trên cơ sở Hiệp định hợp tác văn hóa, khoa học và kỹ thuật (27/4/1977),

cơ chế Ủy ban Hỗn hợp Hợp tác Văn hóa, Khoa học - Kỹ thuật liên Chính phủ được thiết lập từ năm 1982 và duy trì họp định kỳ hai năm một lần Năm 1983, Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam - VAST) và Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) đã ký kết Định ước hợp tác,

mở ra cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam vượt qua rào cản cấm vận, tiếp cận với nền khoa học tiên tiến và môi trường học thuật hàn lâm [78]

Nhìn chung, quan hệ Việt Nam - Pháp từ năm 1973 đến trước năm 1996 đã trải qua những biến động trong những năm 1980 Tuy nhiên, với nỗ lực từ cả hai phía và

sự chia sẻ tầm nhìn chung về một thế giới hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển, quan hệ giữa hai quốc gia được thúc đẩy trên một số lĩnh vực hợp tác trọng điểm Những kết quả đạt được đã đặt nền móng cho sự phát triển của quan hệ giữa Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Pháp giai đoạn 1996 - 2015

1 Nay là Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

2 Nay là Khoa Tiếng Pháp, Trường Đại học Hà Nội.

Trang 28

1.1.2 Chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (28/6 - 01/7/1996), Đảng Cộng sản

Việt Nam khẳng định “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng

mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại” [2, tr 120] Qua tinh thần

“Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [2, tr 120], Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện mong muốn mở rộng quan hệ hợp tác với mọi quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế

độ chính trị, miễn là tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và cùng chia sẻ mục tiêu chung về một thế giới hòa bình, phát triển Đây là chủ trương có tính kế thừa từ Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI) tháng 5/1988 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), đồng thời tiếp tục phản ánh sự đổi mới trong tư duy đối ngoại của Đảng

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng nhấn mạnh “hợp tác nhiều mặt, song

phương và đa phương với các nước” [2, tr 120] nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu Nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới

Trong chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Cộng hòa Pháp thuộc nhóm đối tượng thứ ba (các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới), cụ thể:

“Tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới tăng cường hoạt động ở Liên hợp quốc, tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp” [2, tr 121]

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996), Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh nhiệm vụ mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, lấy xuất khẩu

Trang 29

làm hướng ưu tiên và trọng điểm; đồng thời nêu lên vấn đề hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu và tiến tới thực hiện việc đầu tư ra nước ngoài [2, tr 90-91]

Ngày 18/11/1996, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ra Nghị quyết

số 01-NQ/TW “về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm 1996 - 2000” Nghị quyết số 01-NQ/TW đã tiếp tục cụ thể hóa chủ trương của Đảng Cộng

sản Việt Nam về kinh tế đối ngoại được đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) Bộ Chính trị Trung ương Đảng khẳng định “đa phương hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại nhưng có trọng tâm, trọng điểm tạo được nhiều thị trường ổn định, chú trọng những thị trường lớn” [8, tr 635-636]; đồng thời “tranh thủ ngày càng nhiều vốn đầu tư, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ nước ngoài và từng bước đầu tư ra nước ngoài” [8, tr 635] Nghị quyết xác định phương hướng phát triển kinh tế đối ngoại những năm 1996 - 2000, trong đó lấy xuất khẩu là hướng chiến lược trọng điểm Bộ Chính trị Trung ương Đảng cũng nhấn mạnh việc nghiên cứu chiến lược thị trường và đối tác, chú trọng các thị trường xuất khẩu chủ yếu trước mắt cũng như lâu dài; các thị trường có khả năng cung cấp vốn và công nghệ hiện đại cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [8, tr 640]

Ngày 29/12/1997, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa

VIII) thông qua Nghị quyết số 04-NQ/HNTW “về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi

mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000”

Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương tích cực và chủ động thâm nhập, mở rộng thị trường quốc tế, trong đó nhấn mạnh: “Giữ vững và mở rộng thị trường đã tạo lập được với các nước trong khu vực và các nước thuộc Liên minh châu Âu, khôi phục thị trường Nga và các nước Đông Âu, phát triển quan hệ thương mại chính ngạch với Trung Quốc, tăng cường quan hệ buôn bán, hợp tác với Ấn Độ, mở rộng thị trường

Mỹ, đẩy mạnh việc tìm kiếm thị trường mới ở Trung Cận Đông, châu Phi, Mỹ Latinh” [9, tr 612] Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 29/12/1997 đã khẳng định vị trí quan

Trang 30

trọng của Liên minh châu Âu nói chung, thị trường Pháp nói riêng trong chính sách thương mại của Việt Nam

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (19 - 22/4/2001), Đảng Cộng sản

Việt Nam tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; đồng thời phát huy tinh thần Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc

tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển [3, tr 119] So với Đại hội VIII (6/1996), văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) đã chuyển từ “muốn

là bạn” thành “sẵn sàng là bạn” và bổ sung thêm “là đối tác tin cậy” [3, tr 119] Nội dung trên tiếp tục thể hiện thiện chí, tư duy đối ngoại rộng mở của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời phản ánh vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao, hướng tới xây dựng những mối quan hệ đối tác bình đẳng với tất cả các quốc gia trên

cơ sở sự đồng thuận và tin cậy lẫn nhau

Công tác đối ngoại có nhiệm vụ tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia; đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới [3, tr 119-120]

Trong quan hệ quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định chủ trương “mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực” [3, tr 120]

Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những định hướng đối ngoại cơ bản, trong

đó Cộng hòa Pháp thuộc nhóm đối tượng thứ ba - gồm các nước phát triển và các tổ chức quốc tế, cụ thể:

“(1) Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng (bao gồm các nước trong ASEAN); (2) Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Trung Đông và Mỹ Latinh, các nước trong Phong trào Không liên kết; (3) Thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển và các tổ

Trang 31

chức quốc tế; (4) Củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân, với các đảng cánh tả; (5) Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền” [3, tr 121-122]

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001), Đảng đã xác định chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là một chủ trương lớn; nhấn mạnh nhiệm vụ phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế nhưng phải bảo đảm độc lập, tự chủ gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường [3, tr 120]

Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra một số yêu cầu trong công tác đối ngoại: tăng cường công tác thông tin đối ngoại và văn hóa đối ngoại; phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao Nhà nước, đối ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân [3, tr 122]

Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị (khóa IX) ra Nghị quyết số 07-NQ/TW “về hội

nhập kinh tế quốc tế” Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường,

tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trước mắt hướng tới thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010 và Kế hoạch 5 năm 2001

- 2005 [10, tr 872]

Nghị quyết số 07-NQ/TW cũng đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể đối với hội nhập

kinh tế quốc tế, nhấn mạnh việc kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) [10, tr 876-877] Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần giữ vững đường lối độc lập tự chủ, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa thị trường, đối tác và đảm bảo lợi ích quốc gia

Tháng 7/2003, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa

IX) đã ra Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong đó

đề cập đến ba vấn đề quan trọng về đối ngoại: về các mâu thuẫn của thế giới hiện nay; về lợi ích của Việt Nam; về đối tượng, đối tác Nghị quyết khẳng định “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản của cách mạng và cũng là lợi ích căn bản của quốc gia” [11, tr 414]; “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa

Trang 32

xã hội, lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa là lợi ích cao nhất của đất nước” [11, tr 414] Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) nhấn mạnh trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác và trong một số đối tác,

có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của Việt Nam, từ đó chủ trương mở rộng và phát triển các mối quan hệ quốc tế với tinh thần vừa hợp tác, vừa đấu tranh Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ

Chính trị, ngày 23/9/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ra Kết luận số

22-KL/TW “về kết quả kiểm tra qua hơn một năm thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế” Kết luận số 22-KL/TW tiếp tục khẳng định chủ

trương của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Hội nhập là để phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế song phải giữ vững độc lập tự chủ của đất nước Thực hiện đàm phán một cách chủ động, thiết thực để gia nhập WTO vào năm 2005” [11, tr 488-489]

Trong chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm

2005, Cộng hòa Pháp được xác định nằm trong nhóm các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII), các nước thuộc Liên minh châu Âu (Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII) hay các nước phát triển (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX) Đây là đối tượng thứ ba trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, sau nhóm các nước láng giềng (bao gồm cả các nước trong ASEAN) và các nước bạn bè truyền thống (những nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây) Trong bối cảnh Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII) và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX), quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp được coi trọng, giữ vững và mở rộng trên các lĩnh vực hợp tác nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kiến thức quản lý, đồng thời góp phần củng cố quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu (EU) và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Trang 33

1.2 Quá trình thực hiện quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Pháp

1.2.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng

đã tăng cường các chuyến viếng thăm cấp cao với Cộng hòa Pháp, từ đó nâng cao hiểu biết lẫn nhau và xây dựng sự thống nhất, đồng thuận về chính trị, góp phần thúc đẩy tiến trình hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia

Tại Hội nghị cấp cao các nước sử dụng tiếng Pháp (Francophonie) lần thứ 6 tổ chức tại Cotonou (12/1995), theo đề xuất của Tổng thống Pháp Jacques Chirac, Việt Nam được các nước trong Cộng đồng giao trọng trách tổ chức Hội nghị cấp cao lần thứ 7 vào năm 1997 [168, tr 53] Công tác chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao Pháp ngữ được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo

Ngày 09/3/1996, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt đã ban hành Quyết định số 147/TTg, thành lập Ủy ban Quốc gia

tổ chức Hội nghị Cấp cao lần thứ 7 của các nước có sử dụng tiếng Pháp, diễn ra tại

Hà Nội vào năm 1997 [24] Ủy ban Quốc gia có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, điều phối các Bộ, cơ quan của Chính phủ và các địa phương, đảm bảo công tác tổ chức hội nghị diễn ra hiệu quả, chặt chẽ và góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong Cộng đồng Pháp ngữ Đến ngày 26/3/1996, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt

đã ký Quyết định số 176/TTg ban Quy chế tổ chức và hoạt động của Ủy ban Quốc gia [25]

Hội nghị cấp cao lần thứ 7 các nước sử dụng tiếng Pháp được tổ chức tại Thủ

đô Hà Nội từ ngày 14 đến ngày 16/11/1997, với 50 đại biểu của các nước thành viên

Trang 34

và quan sát viên tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Hà Nội, Kế hoạch Hành động Hà Nội và Hiến chương Pháp ngữ sửa đổi, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong hợp tác giữa các quốc gia sử dụng tiếng Pháp; đồng thời bầu ra Tổng Thư

ký đầu tiên của Cộng đồng Pháp ngữ và Tổng Giám đốc Cơ quan Liên Chính phủ Pháp ngữ [126] Hội nghị cấp cao lần thứ 7 đánh dấu bước chuyển căn bản của Cộng đồng Pháp ngữ từ khuôn khổ hợp tác văn hóa thông qua ngôn ngữ chung là tiếng Pháp sang hợp tác toàn diện cả về chính trị, văn hóa và kinh tế Tính đến năm 1997, đây là hội nghị quốc tế lớn nhất mà Việt Nam được giao trọng trách đăng cai tổ chức

và cũng là lần đầu tiên một Hội nghị cấp cao Pháp ngữ được tổ chức tại khu vực châu

Á - Thái Bình Dương

Nhân dịp này, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã thăm chính thức Việt Nam Phía Pháp mong muốn tăng cường hơn nữa tình hữu nghị giữa hai nước; đồng thời thể hiện lập trường ủng hộ Việt Nam xây dựng một nền kinh tế mở cửa và hội nhập với cộng đồng quốc tế [168, tr 54] Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của ông Jacques Chirac kể từ khi được bầu làm Tổng thống, cũng là lần thứ hai một tổng thống Pháp thăm Việt Nam (sau Tổng thống François Mitterand vào tháng 02/1993), thể hiện vị trí ưu tiên của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Pháp ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Nhằm thu hút nguồn lực bên ngoài về vốn, công nghệ phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã chủ động, tích cực mở rộng quan hệ với các quốc gia thành viên của Cộng đồng châu Âu (EC), trong đó có Cộng hòa Pháp Tiếp nối chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Jacques Chirac (11/1997), Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phan Văn Khải đã thăm chính thức nước Cộng hòa Pháp vào tháng 4/1998

Từ ngày 21 đến ngày 25/5/2000, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu có chuyến thăm chính thức Pháp và khu vực Tây Âu Hai bên khẳng định quyết tâm tiếp tục nâng quan hệ Việt Nam - Pháp đang có chiều hướng tốt đẹp lên một tầm cao mới cả về bề rộng và chiều sâu [46] Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới trong mối quan hệ song phương,là “bước tiếp nối đỉnh cao của sự phát triển mạnh

Trang 35

mẽ quan hệ Việt - Pháp” [69, tr 2] Đây là lần đầu tiên một Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sang thăm Pháp và Tây Âu, thể hiện chủ trương nhất quán của Đảng

về mở rộng quan hệ đối ngoại, đặc biệt với các đối tác quan trọng ở châu Âu

Quan hệ Việt Nam - Pháp trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao được thúc đẩy từ

cả hai phía Việt Nam mong muốn củng cố quan hệ với Cộng hòa Pháp nhằm tranh thủ nguồn lực về vốn, công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao vị thế chính trị, kinh tế quốc tế Trong khi, các nhà lãnh đạo Pháp đã thể hiện quan điểm coi trọng Việt Nam thông qua những động thái cụ thể: Năm 1999, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã gửi thư cho Chủ tịch nước Trần Đức Lương để giải thích sự tham gia của Pháp trong sự kiện NATO can thiệp vào Kosovo Tiếp đó, Pháp đã tham khảo

ý kiến của Việt Nam về các vấn đề Pháp định nêu ra tại Hội nghị cấp cao G8 ở Okinawa (Nhật Bản) năm 2000 và G8 ở Genova (Ý) năm 2001 [96, tr 30]

Trong 4 ngày (28 - 31/10/2002), Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương thăm Pháp Trong cuộc hội đàm với Tổng thống Pháp Jacques Chirac, Chủ tịch nước Trần Đức Lương nhấn mạnh: “Pháp là đối tác châu Âu hàng đầu của Việt Nam về hợp tác và phát triển, trao đổi thương mại và đầu tư trực tiếp trong các lĩnh vực y tế, du lịch, giáo dục và đào tạo cán bộ” [118] Lãnh đạo hai nước nhất trí nâng tầm quan hệ Việt - Pháp trở thành “quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, lâu dài và tin cậy cho thế kỷ XXI” Chuyến thăm này đã khẳng định vị trí quan trọng của Pháp trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, đồng thời mở ra cơ hội thúc đẩy hợp tác đa lĩnh vực giữa hai quốc gia, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa

và giáo dục

Năm 2004, Việt Nam được các nước ASEM tín nhiệm giao trọng trách đăng cai Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác Á - Âu lần thứ 5 (ASEM 5), đã khẳng định vị thế của Việt Nam tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên trường quốc tế Hướng tới sự kiện ASEM 5, ngày 01/4/2003, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 44/2003/QĐ-TTg về việc thành lập Ủy ban Quốc gia chuẩn bị và tổ chức ASEM 5 Ủy ban này có nhiệm vụ chỉ đạo, điều phối các Bộ, ngành và các địa phương chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết

Trang 36

và tổ chức thành cơng sự kiện ASEM 5 [31] Nhằm phục vụ ASEM 5, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập 4 tiểu ban thuộc Ủy ban Quốc gia gồm: Tiểu ban Nội dung (Quyết định số 201/2003/QĐ-TTg ngày 30/9/2003) [27]; Tiểu ban An ninh (Quyết định số 202/2003/QĐ-TTg ngày 30/9/2003) [28]; Tiểu ban Tuyên truyền

- Văn hĩa (Quyết định số 203/2003/QĐ-TTg ngày 30/9/2003) [29] và Tiểu ban Lễ tân (Quyết định số 41/2004/QĐ-TTg ngày 19/3/2004) [32]

Trước thềm ASEM 5, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã thăm chính thức Việt Nam (10/2004) theo lời mời của Chủ tịch nước Trần Đức Lương Chuyến thăm Việt Nam lần thứ hai của Tổng thống Jacques Chirac là minh chứng cho sự phát triển mối

quan hệ rất năng động và đa dạng giữa hai quốc gia [40] Tại Hà Nội, trong Tuyên bố

của Tổng thống Pháp về mối quan hệ đối tác giữa Pháp và Việt Nam và hỗ trợ phát triển của Pháp 1 (07/10/2004), Tổng thống Jacques Chirac khẳng định: “Việt Nam và

Pháp cĩ mối quan hệ lịch sử lâu đời, nhìn chung đĩ là mối quan hệ tốt đẹp, đơi lúc thăng trầm nhưng chưa bao giờ tầm thường Việc hai nước tưởng niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ trên tinh thần tơn trọng lẫn nhau, thể hiện mong muốn cùng nhau hướng tới tương lai, cùng thực hiện những sứ mệnh chung… Pháp cũng hiện diện tại Việt Nam để thúc đẩy niềm tin và tầm nhìn chung về một thế giới sẻ chia: sự cần thiết của một quá trình tồn cầu hĩa nhân đạo và đồn kết hơn, cũng như mong muốn về một thế giới cân bằng và quan tâm nhiều hơn đến khoảng cách giàu nghèo” [173] Bên lề ASEM 5, Pháp và một số thành viên trong EU là nhĩm đầu tiên ký kết thỏa thuận ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Từ ngày 06 đến ngày 09/6/2005, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nơng

Đức Mạnh thăm chính thức nước Cộng hịa Pháp Hai bên ra Thơng cáo chung Việt

Nam - Pháp (ngày 9/6/2005) tại Paris, xác định những vấn đề quan trọng trong quan

hệ giữa hai quốc gia như hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hĩa - giáo dục, việc xin nhận con nuơi [43] Tổng thống Jacques Chirac nhấn mạnh Việt Nam và Pháp

1 Nguyên văn tiếng Pháp: Déclaration de M Jacques Chirac, Président de la République, sur le partenariat entre la France et le Vietnam et l’aide française au développement du pays, Hanọ le 7

Trang 37

là những đối tác tất yếu không thể thiếu trong quan hệ Á - Âu, cùng giữ vai trò trọng yếu trong việc đảm bảo cân bằng thế giới [42] Chuyến thăm của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đã đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ Việt - Pháp, chuyển từ quan hệ hợp tác trên một số lĩnh vực trọng điểm sang quan hệ đối tác sâu rộng và toàn diện hơn, đồng thời xác lập những nguyên tắc chung giữa hai nước trong phối hợp giải quyết các vấn đề khu vực và quốc tế

Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Việt Nam và Pháp trong những năm 1996 -

2005 được củng cố vững chắc, tạo cơ sở quan trọng để thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực khác Mối quan hệ này được xây dựng trên nền tảng sự đồng thuận và nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của đối phương Với Việt Nam, Pháp là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại và là đối tác hàng đầu về thương mại, đầu tư của Việt Nam ở khu vực Tây Âu Trong khi, Pháp mong muốn thông qua Việt Nam để mở rộng quan

hệ với các nước thành viên ASEAN Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhận định tình hình, nắm bắt bối cảnh quốc

tế và khu vực, đồng thời tranh thủ sự quan tâm chiến lược của Pháp đối với khu vực Đông Nam Á để đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam

1.2.1.2 Về an ninh - quốc phòng

Quan hệ an ninh - quốc phòng của Việt Nam với Cộng hòa Pháp trong những năm 1996 - 2005 được thực hiện trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam là độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, 6/1996) [2, tr 120]

Cộng hòa Pháp là đối tác tiềm năng của Việt Nam trong hợp tác về quốc phòng

và an ninh Pháp là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, có tiếng nói quan trọng trong Liên minh châu Âu (EU), cộng đồng Pháp ngữ và các diễn đàn

đa phương Bên cạnh đó, Pháp có tiềm lực quân sự hàng đầu châu Âu và trên thế giới, gồm đầy đủ các quân chủng với trang thiết bị hiện đại, đồng thời có nhiều kinh nghiệm trong công tác đào tạo và huấn luyện quân đội

Trang 38

Tuy nhiên, an ninh - quốc phòng là vấn đề tương đối phức tạp, liên quan trực tiếp đến độc lập tự chủ và chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam Do đó, trong quá trình hợp tác phải đảm bảo nguyên tắc cao nhất là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tuân thủ chính sách quốc phòng “Ba không1” (không tham gia các liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác) [52, tr 21]; đồng thời nắm vững quan điểm “trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác, trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của Việt Nam” [11, tr 414] theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Từ năm 1996 đến năm 2005, hợp tác lĩnh vực an ninh - quốc phòng giữa Chính phủ, Bộ Quốc phòng Việt Nam với Chính phủ và Bộ Quốc phòng Pháp tập trung vào trao đổi đoàn cấp cao và bước đầu hợp tác về hải quân, quân y Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thăm chính thức Cộng hòa Pháp vào các năm 1997, 2001; Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam thăm Pháp vào năm 2000 Về phía Pháp, Tham mưu trưởng Liên quân Pháp thăm chính thức Việt Nam vào năm 1997 và năm 2002 [90]

Trong khuôn khổ các chuyến viếng thăm cấp cao, Việt Nam và Pháp cùng chia

sẻ quan điểm chung về một trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm, được xây dựng trên

cơ sở xu thế hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển cũng như sự tôn trọng các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế Năm 1997, hai nước đã cùng ký kết Hiệp định hợp tác Thỏa thuận khung, thống nhất tiến tới tổ chức luân phiên hàng năm Ủy ban hỗn hợp về hợp tác quốc phòng (cấp Thứ trưởng) nhằm trao đổi về các vấn đề chiến lược và kế hoạch trang bị cho quân đội Việt Nam [110, tr 24] Hai bên tiếp tục duy trì các hoạt động trao đổi, đối thoại thường xuyên thông qua

1 Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 công bố chính sách quốc phòng “Ba không” Đến ngày 25/11/2019, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 công bố chính sách quốc phòng “Bốn không”, trong đó bổ sung thêm “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ

Trang 39

văn phòng Tùy viên Quốc phòng Pháp tại Việt Nam (được thành lập năm 1991) và

cơ quan Tùy viên Quốc phòng Việt Nam tại Pháp (được thành lập năm 1993) Tháng 5/2000, trong khuôn khổ chuyến thăm Pháp của Tổng Bí thư Đảng Cộng

sản Việt Nam Lê Khả Phiêu, Hiệp định hợp tác về hàng hải (23/5/2000) đã được ký

kết giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Pháp, mở ra những triển vọng mới trong hợp tác về hải quân Trên cơ sở Hiệp định hợp tác về hàng hải, năm 2001, tàu Hải quân Pháp Vendémiaire cập cảng Hải Phòng và thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên [158] Trong những năm 2002

- 2005, mỗi năm Chính phủ Việt Nam đều cho phép tàu Hải quân Pháp đến thăm xã giao Từ năm 2003, hai nước hợp tác trong triển khai Dự án phòng, chống sốt rét tại Việt Nam giai đoạn 2003 - 2008 Quân y Pháp đã hỗ trợ Việt Nam 6,5 triệu phrăng

và một số trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu [93]

Nhìn chung, quá trình thực hiện quan hệ an ninh - quốc phòng của Việt Nam với Cộng hòa Pháp từ năm 1996 đến năm 2005 đã đạt được những kết quả tích cực Các chuyến viếng thăm cấp cao được tiến hành, đặt nền móng ban đầu cho sự hợp tác trên lĩnh vực hải quân và quân y Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị, an ninh của khu vực châu Á - Thái Bình Dương diễn biến khó lường cuối những năm 1990 - đầu những năm 2000, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng quan hệ an ninh - quốc phòng với Cộng hòa Pháp một cách thận trọng với tinh thần vừa hợp tác, vừa đấu tranh; đảm bảo nguyên tắc cao nhất là giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Trên cơ sở sự đồng thuận về chính trị và chia sẻ tầm nhìn chung về an ninh khu vực, hai quốc gia còn nhiều triển vọng hợp tác về an ninh - quốc phòng, đặc biệt là đào tạo sĩ quan; phòng, chống tội phạm xuyên biên giới và hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng

1.2.2 Quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư

Trong những năm 1996 - 2005, quan hệ kinh tế - thương mại - đầu tư giữa Việt Nam và Cộng hòa Pháp đã đạt được những bước tiến quan trọng Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các trung tâm kinh tế - chính trị trên thế giới (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, 6/1996) [2, tr 121]; giữ vững

Trang 40

và mở rộng thị trường đã tạo lập được với các nước thuộc Liên minh châu Âu (Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 29/12/1997 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000) [9, tr 612]

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, 6/1996) và chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế và khu vực (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, 4/2001), việc thúc đẩy quan hệ với Cộng hòa Pháp đưa đến cơ hội thu hút vốn đầu tư, học hỏi công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ một nền kinh tế phát triển (Nghị quyết số 01-NQ/TW ngày 18/11/1996 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóa VIII) về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm 1996 - 2000) [8, tr 635]; đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của Pháp để tiến tới gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị (khóa IX) về hội nhập kinh

tế quốc tế) [10, tr 877]

Tháng 5/2000, nhân chuyến thăm Pháp của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt

Nam Lê Khả Phiêu, hai bên đã ký kết Thỏa thuận thành lập Diễn đàn Việt - Pháp về

kinh tế và tài chính Diễn đàn Kinh tế tài chính Việt - Pháp được thành lập từ năm

2000, do Cơ quan Hợp tác quốc tế Bộ Kinh tế Tài chính và Công nghiệp Pháp phối hợp với Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam đồng tổ chức, nhằm tạo kênh đối thoại và đưa ra đề xuất cho các vấn đề kinh tế, tài chính [46] Tháng 10/2002, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương thăm chính thức Cộng hòa Pháp Hai bên đã ký kết 11 văn bản thỏa thuận, tập trung vào việc tăng cường xuất khẩu của Việt Nam (nhất là hàng dệt - may, hải sản) sang Pháp và các nước châu Âu; Hợp đồng Việt Nam mua 5 máy bay chở khách A-

Ngày đăng: 19/05/2025, 22:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1986
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 53, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 55, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2015
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 56, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 60, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 62, Nxb, Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2016
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 63, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 66, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2017
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 69, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng: Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2018
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2019
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao khóa họp lần thứ 62 Đại hội đồng Liên hợp quốc và thăm chính thức Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Cộng sản (bản điện tử), ngày 21/9/2007, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoat-ong-cua-lanh-ao-ang-nha-nuoc/- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao khóa họp lần thứ 62 Đại hội đồng Liên hợp quốc và thăm chính thức Cộng hòa Pháp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2007
19. Bộ Chính trị Trung ương Đảng (2011), Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 06/7/2011 về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, https://vbpl.vn/bongoaigiao/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=50010, truy cập ngày 18/02/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 06/7/2011 về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị Trung ương Đảng
Nhà XB: Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật
Năm: 2011
12/11/2009, https://baochinhphu.vn/tao-da-moi-trong-quan-he-hop-tac-viet-nam-ch-phap-10228768.htm, truy cập ngày 20/02/2024 Link
75. Đỗ Thị Thảo, Nguyễn Thị Phong Lan (2013), “Những thành tựu cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ khi đổi mới đến nay”, Tạp chí Cộng sản (bản điện tử), ngày 26/5/2013, https://tapchicongsan.org.vn/en/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/21694/nhung-thanh-tuu-co-ban-ve-phat-trien-kinh-te---xa-hoi-cua-viet-nam-tu-khi-doi-moi-den-nay.aspx, truy cập ngày 25/7/2024 Link
170. Vũ Dương Ninh (2007), “ASEAN - những cột mốc trên tiến trình phát triển”, Tạp chí Cộng sản (bản điện tử), ngày 03/8/2007, https://www.tapchicongsan.org.vn/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/204/asean---nhung-cot-moc-tren-tien-trinh-phat-trien.aspx, truy cập ngày 25/02/2024.II. Tài liệu tiếng Anh và tiếng Pháp Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Tổng số vốn đầu tư của Pháp tại Việt Nam - 02050007863 noidung Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015
Bảng 1.2 Tổng số vốn đầu tư của Pháp tại Việt Nam (Trang 44)
Bảng 1.3: Thống kê số lượng khách du lịch Pháp đến Việt Nam - 02050007863 noidung Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015
Bảng 1.3 Thống kê số lượng khách du lịch Pháp đến Việt Nam (Trang 45)
Bảng 2.1: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam - 02050007863 noidung Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015
Bảng 2.1 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam (Trang 80)
Bảng 2.2: Tổng số vốn đầu tư của Pháp tại Việt Nam - 02050007863 noidung Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015
Bảng 2.2 Tổng số vốn đầu tư của Pháp tại Việt Nam (Trang 82)
Bảng 2.3: Thống kê số lượng khách du lịch Pháp đến Việt Nam - 02050007863 noidung Quá trình thực hiện quan hệ của Việt Nam với Cộng hòa Pháp theo chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2015
Bảng 2.3 Thống kê số lượng khách du lịch Pháp đến Việt Nam (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w