00060000876 nghiên cứu Đề xuất giải pháp Đổi mới phương thức triển khai nghị quyết Đại hội lần thứ xiii của Đảng cộng sản việt nam vào hoạt Động giáo dục – Đào tạo và khoa học công nghệ (trường hợp Đại học quốc gia hà nội)
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài: Nghiên cứu đề xuất giải pháp đổi mới phương thức triển khai
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ (Trường hợp Đại học Quốc gia
Hà Nội)
Mã số đề tài: QG.21.40
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Anh Cường
Hà Nội, 2023
Trang 21
PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
1.1 Tên đề tài: Nghiên cứu đề xuất giải pháp đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ (Trường hợp Đại học Quốc gia
Hà Nội)
1.2 Mã số: QG.21.40
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT Chức danh, học vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 PGS.TS Nguyễn Anh Cường Trường
ĐHKHXH&NV Chủ nhiệm đề tài
2 PGS.TS Phạm Quốc Thành Trường
ĐHKHXH&NV
Phó Chủ nhiệm đề tài, Thành viên chính
3 NCS Nguyễn Quỳnh Nga Trường
ĐHKHXH&NV Thư ký khoa học
4 TS Nguyễn Duy Quỳnh Trường
7 TS Vũ Hồng Huy Ban Tuyên giáo
Trung ương Thành viên chính
8 TS Phạm Đức Tiến Ban Tuyên giáo
Trung ương Thành viên chính
9 ThS Nguyễn Thị Kim Hoa Trường
ĐHKHXH&NV Thành viên chính
10 ThS Nguyễn Hữu Thọ Ban Tuyên giáo
Tỉnh ủy Đồng Nai Thành viên chính
Trang 32
1.4 Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 4 năm 2023
1.5.2 Gia hạn (nếu có):
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 3 năm 2023
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý)
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 200 triệu đồng
PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặt vấn đề
Triển khai hiệu quả Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn là một yêu cầu tất yếu mang tính sống còn đối với đảng cầm quyền Bởi lẽ, đảng lãnh đạo xã hội và nhà nước bằng Nghị quyết Thông qua việc triển khai Nghị quyết, Nghị quyết từng bước được thể chế hóa và luật hóa Chính quá trình này đã đưa Nghị quyết một cách hiệu quả nhất vào thực tiễn đời sống Không làm tốt công tác triển khai Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn là đồng nghĩa với việc tách rời mối liên hệ máu thịt giữa đảng với nhân dân, tiếng nói của Đảng không đến được với nhân dân và tâm tư, nguyện vọng của nhân dân cũng không đến được với Đảng
Giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ là hai lĩnh vực đặc biệt quan trọng của đất nước Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Coi giáo dục - đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng quan trọng và là động lực chủ yếu cho phát triển đất nước.” Do đó, nghiên cứu triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học công nghệ là rất cần thiết
Đảng ta hết sức quan tâm đến công tác triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ Những thành công hết sức to lớn của các cuộc kháng chiến chống xâm lược và công cuộc đổi mới đã minh chứng điều đó
Có thể khẳng định, mọi Nghị quyết của Đảng ra đời đã nhanh chóng được thể chế hóa, luật hóa, xã hội hóa và đã tạo nên sức mạnh to lớn cho công cuộc xây dựng và
Trang 43
bảo vệ đất nước thời gian qua Thực tế đã có những giải pháp khả thi, những mô hình hữu hiệu, tối ưu triển khai Nghị quyết vào vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ đã tạo nên những hiệu quả xã hội to lớn
Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, có tính tự chủ cao; đã và đang xây dựng mô hình đại học nghiên cứu tiên tiến Thời gian qua, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ như công tác đào tạo có nhiều đổi mới, chất lượng các chương trình đào tạo được nhiều đại học có uy tín trên thế giới thừa nhận, hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ ngày càng phát triển đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ cuộc sống
Thời gian qua, để triển khai hiệu quả Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã dùng nhiều giải pháp với nhiều phương thức khác nhau Có thể nói Đại học Quốc gia Hà Nội đã sử dụng một cách hết sức hiệu quả các biện pháp tuyên truyền như tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua hệ thống website, hội nghị, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã rất thành công trong việc triển khai Nghị quyết qua các lớp học khác nhau Đại học Quốc gia Hà Nội cũng huy động một cách tổng thể lực lượng tuyên truyền, triển khai Nghị quyết của Đảng thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đặc thù của họ Tuy nhiên, công tác triển khai một cách hiệu quả Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội đang đứng trước nhiều thách thức như cơ cấu đào tạo, nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học liên ngành, khoa học kỹ thuật và công nghệ chưa hoàn chỉnh; các đơn vị nghiên cứu, phát triển công nghệ còn ít về số lượng và chưa đồng đều về chất lượng;…
Chiến lược phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn năm
2030 xác định: Bám sát các Nghị quyết của Trung ương về đổi mới giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công nghệ, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Đại học Quốc gia Hà Nội lần thứ IV, xây dựng và phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội phù hợp với vai trò, vị thế và tình hình cụ thể của mình trong bối cảnh phát triển của đất nước Với những lý do trên, cần phải nghiên cứu tìm ra giải pháp đổi mới phương thức
Trang 54
triển khai hiệu quả Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội Đây là một yêu cầu cấp bách với công tác xây dựng Đảng nói chung và Đảng bộ Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng
2 Mục tiêu
- Phân tích, làm rõ được cơ sở lý luận, kinh nghiệm triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đánh giá được thực trạng triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016) đến năm 2020
- Dự báo được các xu hướng chính và các nhân tố cơ bản tác động đến triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống trong tình hình mới
- Đề xuất được các giải pháp đổi mới triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong các lĩnh vực giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng để xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã có và hệ thống hóa thành cơ sở lý luận của vấn đề đổi mới triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ Phương pháp này
sử dụng để phân tích các số liệu, dữ lịệu nhằm làm rõ thực trạng triển khai Nghị quyết của Đảng
- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để khảo sát thực trạng triển khai Nghị quyết XII của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn và hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phương pháp xử lý số liệu: xử lý các số liệu thu thập theo mẫu nghiên cứu được lựa chọn kỹ lưỡng cùng nhiều yếu tố khác có tác động đến việc triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 65
- Phương pháp chuyên gia được sử dụng để thảo luận và xác định vấn đề triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam; quan điểm đối với triển khai Nghị quyết XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phương pháp dự báo khoa học được sử dụng kết hợp với phương pháp chuyên gia để đưa ra những phân tích, dự báo về yêu cầu đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu
4.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ
Khái niệm phương thức triển khai nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ: Phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ là cách thức và phương pháp phổ biến,
tổ chức thực hiện, đưa nghị quyết của Đảng vào trong quá trình quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học
và trong quá trình nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ của cơ sở giáo dục và đào tạo nhằm nhận thức rõ và thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Đảng khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Khái niệm đổi mới phương thức triển khai nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ: Đổi mới phương thức triển khai nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ là quá trình thực hiện đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, có kế thừa, có sáng tạo theo những nguyên tắc nhất định nâng cao chất lượng, hiệu quả phương thức triển khai nghị quyết của Đảng nhằm giúp mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên nhận thức rõ và thực hiện
có hiệu quả nghị quyết của Đảng khi thực hiện hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ
Nội dung phương thức triển khai nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ Để triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ cần thực hiện một số phương thức sau: (1)
Trang 76
Xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ; (2) Tổ chức học tập, quán triệt; (3) Tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết; (4) Cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình hành động cụ thể Nội dung cơ bản Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về giáo dục – đào tạo: Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt
để phát triển đất nước Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, đặc biệt chú trọng giáo dục mầm non, tiểu học, tạo tiền đề và bảo đảm điều kiện thuận lợi để mỗi người dân có cơ hội được thụ hưởng công bằng thành quả của nền giáo dục Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, lấy chất lượng và hiệu quả đầu ra làm thước
đo Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục và đào tạo Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo gắn với đổi mới cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư
Nội dung cơ bản Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về khoa học công nghệ: Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh
tế Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ thể chế, chính sách ứng dụng, phát triển khoa học và công nghệ Nâng cao năng lực hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, cơ cấu lại các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc làm mục tiêu Phát triển một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, trực tiếp góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách, phù hợp với điều kiện, nguồn lực của đất nước Tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ
Nhân tố tác động đến phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ: Nhân tố quốc tế: Mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc cùng với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước là những yếu tố tác động đến phương
Trang 87
thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ Trong nhiều trường hợp nhân tố quốc tế ảnh hưởng gián tiếp đến việc triển khai nghị quyết của Đảng thông qua niềm tin, thái độ, trách nhiệm, quyết tâm của cả chủ thể triển khai nghị quyết của đối tượng triển khai nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ Nhân tố trong nước: Năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, giảng viên triển khai nghị quyết của Đảng; trình độ, năng lực và nhận thức của các chủ thể tác động trực tiếp đến hiệu quả việc nắm bắt nội dung, tầm quan trọng của nghị quyết; niềm tin, sự quyết tâm và trách nhiệm của người học; bệnh lười học tập chính trị của một số cán bộ, đảng viên ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai Nghị quyết của Đảng; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập nghị quyết; môi trường học tập
4.2 Thực trạng phương thức triển khai nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Tình hình và quá trình triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội: Trong giai đoạn 2016-2020, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng Đảng bộ Đại học Quốc gia Hà Nội đã luôn đoàn kết, thống nhất, nỗ lực vượt qua khó khăn để đạt được những kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hoạt động
Xác định học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng vừa là nhiệm vụ, vừa là quyền lợi của đảng viên và tổ chức Đảng, là khâu trước hết rất quan trọng nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng, là tiền đề đảm bảo đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ mà nghị quyết của Đảng đề ra, ngay sau khi Đảng ban hành Nghị quyết Đại hội XII năm 2016, Đảng ủy Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức hội nghị học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết này Công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XII của Đảng được các cấp ủy đảng chú trọng triển khai thực hiện với nhiều hình thức phù hợp, hiệu quả, đã tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực
Cấp ủy các cấp đã chỉ đạo kịp thời các cơ quan tham mưu giúp việc xây dựng kế hoạch, chương trình tổ chức hội nghị nghiên cứu, quán triệt, học tập, tuyên truyền nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên, giúp cán bộ, đảng viên nắm vững những nội dung cơ bản của các nghị quyết Đại hội XII vào hoạt động giáo dục- đào tạo và
Trang 98
khoa học công nghệ, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động; cụ thể hóa việc thực hiện nghị quyết của Đảng bằng chương trình hành động cụ thể, thiết thực, sát với thực tiễn ở đơn vị, góp phần đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội Đáng chú ý, công tác nghiên cứu, quán triệt, học tập và cụ thể hóa nghị quyết của Đảng được các cấp ủy quan tâm thực hiện và có nhiều đổi mới
Các Đảng bộ trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thường xuyên tiến hành các phương thức triển khai Nghị quyết XII của Đảng tại Đảng bộ mình, trên cơ sở đó các cán bộ, giảng viên nhận thức đầy đủ, tiến hành lồng ghép nội dung nghị quyết vào quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, nhất là các bài giảng; từ đó, nội dung của nghị quyết trở thành những việc cụ thể và phát huy được vai trò trong thực tiễn cuộc sống Ban Thường vụ Đảng ủy Đại học Quốc gia Hà Nội căn cứ chủ trương của Đảng, Chính phủ và của Đảng ủy Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ đạo tập trung nguồn lực để triển khai năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm đề ra trong năm được triển khai hiệu quả, đạt kết quả tốt, đó là: Kiện toàn
tổ chức và điều chỉnh, cập nhật văn bản quản lý; Xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp các lĩnh vực công tác và hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin trong Đại học Quốc gia
Hà Nội; Đổi mới công tác giảng dạy theo hướng cá thể hóa; triển khai đề án tuyển sinh mới cho các năm học và lộ trình các năm tiếp theo; Triển khai có hiệu quả các chương trình khoa học và công nghệ lớn
Trong thời gian triển khai nghị quyết Đại hội XII, công tác tuyên truyền đã thể hiện vai trò mũi nhọn, là vũ khí sắc bén trong việc cung cấp và định hướng thông tin trong hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ;góp phần quan trọng tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong toàn cán bộ của Đại học Quốc gia Hà Nội, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Đại học Quốc gia ngày càng vững mạnh Thành tựu trong triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội: quán triệt, học tập Nghị quyết XII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội được tổ chức nghiêm túc, đạt yêu cầu; công tác tuyên truyền Nghị quyết vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ có
Trang 109
đổi mới, hiệu quả được nâng lên; xây dựng hiệu quả chương trình hành động, kế hoạch triển khai Nghị quyết Đại hội XII; đội ngũ báo cáo viên triển khai Nghị quyết Đại hội XII ngày càng được nâng cao về trình độ và nghiệp vụ công tác
Hạn chế trong triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội: một số ít cấp ủy, cán bộ, đảng viên nhận thức chưa hết ý nghĩa và tầm quan trọng của việc triển khai Nghị quyết của Đảng nên việc triển khai quán triệt, học tập còn hạn chế; việc triển khai quán triệt Nghị quyết ở một số cấp ủy chỉ quan tâm đến việc tổ chức trong nội
bộ Đảng, triển khai ra đoàn viên, hội viên đoàn thể chưa được sâu rộng; nội dung về
tổ chức thực hiện trong chương trình, kế hoạch hành động còn chung chung; chưa thực sự có sự đổi mới đột phá về phương thức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến trong cán bộ, đảng viên của Đại học Quốc gia và các Đảng bộ trực thuộc; hiệu quả hoạt động đội ngũ báo cáo viên Đảng bộ chưa đáp ứng yêu cầu
4.3 Giải pháp đổi mới phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới
Nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy các cấp, nhất là bí thư cấp ủy trong việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục-đào tạo và khoa học công nghệ Đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai nghị quyết; đổi mới hình thức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết; đổi mới công tác quản lý các lớp học triển khai nghị quyết; tăng cường tổ chức nghiên cứu, học tập nghị quyết ở chi bộ; tăng cường đối thoại và thảo luận trong triển khai nghị quyết Đại hội XIII vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên các cấp trong triển khai nghị quyết; đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết; tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí cho tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ
5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận
Về lý luận, đề tài đã phân tích, làm rõ được cơ sở lý luận, kinh nghiệm triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo
Trang 11Về thực trạng, đề tài phân tích tình hình và quá trình triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội; đánh giá thành tựu trong triển khai Nghị quyết Đại hội XII vào thực tiễn hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội về các mặt tổ chức quán triệt, học tập nghị quyết; về công tác tuyên truyền nghị quyết; về xây dựng hiệu quả chương trình hành động, kế hoạch triển khai Nghị quyết Đại hội XII và về đội ngũ báo cáo viên ngày càng được nâng cao về trình độ và nghiệp vụ công tác Đề tài cũng đã phân tích hạn chế trong triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội về các mặt: nhận thức; triển khai quán triệt Nghị quyết; nội dung về tổ chức thực hiện trong chương trình, kế hoạch hành động; về hiệu quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên Từ đó, đề tài chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Về các xu hướng chính và các nhân tố cơ bản tác động đến triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống trong tình hình mới Đề tài đã phân tích tình hình mới, chỉ ra các xu hướng chính, yêu cầu đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội Bối cảnh mới đang đặt ra một loạt vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội Những vấn đề này đã
và đang trực tiếp ảnh hưởng tới triển khai nghị quyết Đại hội của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ Đồng thời, đề tài chỉ rõ những nhân tố quốc tế và nhân tố trong nước tác động đến phương thức triển khai Nghị quyết của
Trang 1211
Đảng vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ, gồm mâu thuẫn giữa các quốc gia, dân tộc cùng với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước; năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên triển khai nghị quyết của Đảng; niềm tin, sự quyết tâm và trách nhiệm của người học; bệnh lười học tập chính trị của một số cán bộ, đảng viên; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập nghị quyết; môi trường học tập nghị quyết
Về giải pháp, đề tài đề xuất được các giải pháp đổi mới triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong các lĩnh vực giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ bao gồm các giải pháp về nâng cao nhận thức, xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy các cấp, nhất là bí thư cấp ủy trong việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghị quyết; về đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Nghị quyết; về đổi mới hình thức tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết; về đổi mới công tác quản lý các lớp học triển khai Nghị quyết; về tăng cường tổ chức nghiên cứu, học tập Nghị quyết
ở các chi bộ; về tăng cường đối thoại và thảo luận trong triển khai Nghị quyết; về đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên các cấp; về đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết và về tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí cho công tác tổ chức, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhìn chung, đề tài góp phần bổ sung và phát triển lý luận, phân tích thực tiễn triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ Việc nghiên cứu, tổng kết các tiếp cận, lý thuyết này có ý nghĩa khoa học và lý luận quan trọng nhằm đưa ra cách thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ hiệu quả Bên cạnh đó, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng phương thức triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội có ý nghĩa quan trọng góp phần tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, tiếp tục đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 1312
Triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ rất được Đại học Quốc gia Hà Nội quan tâm, chú trọng Thực hiện thắng lợi Nghị quyết XIII của Đảng nói chung, Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ nói riêng sẽ góp phần đưa Đại học Quốc gia Hà Nội ngày càng phát triển vững mạnh; đồng thời, tạo sự đồng thuận trong toàn đảng, toàn dân hoàn thành nhiệm vụ chính trị đưa đất nước ngày càng phát triển vững mạnh
6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)
Tiếng Việt
Việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng có vai trò hết sức quan trọng nhằm tạo ra sự thống nhất trong đảng và sự đồng thuận trong nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết của đảng và các nhiệm vụ chính trị tại đơn vị Triển khai học tập nghị quyết của Đảng là một trong ba khâu quan trọng để đưa nghị quyết vào cuộc sống, bởi chất lượng, hiệu quả của việc triển khai, học tập nghị quyết không tốt sẽ ảnh hưởng đến nhận thức, hiệu quả thực hiện nghị quyết của đảng viên và nhân dân Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là công việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt cả nhiệm kỳ Đại học Quốc gia Hà Nội với vị thế hàng đầu và vai trò trọng yếu trong hệ thống giáo dục và đào tạo Việt Nam đã tiên phong trong đổi mới, sáng tạo trong đào tạo, khoa học và công nghệ, góp phần đẩy mạnh đổi mới căn bản, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao cho đất nước, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín trong
và ngoài nước của một trường đại học hàng đầu ở Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ Và để đạt được những kết quả đó, triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là không thể thiếu
Để Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng triển khai hiệu quả vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ, điều này phụ thuộc rất lớn ở khâu xây dựng và
tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch hành động Đây là một trong những yếu tố
có tính quyết định Chương trình, kế hoạch thực hiện phải được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; đồng thời, có sự phân công trách nhiệm và quy định
Trang 1413
thời gian thực hiện Cùng với đó, phải thường xuyên đôn đốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện, kịp thời bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp Đặc biệt phải xây dựng chương trình hành động hiệu quả phù hợp với thực tế Đại học Quốc gia Hà Nội
Cần phát huy, nêu cao vai trò, trách nhiệm của Ban Thường vụ cấp ủy, đặc biệt
là bí thư cấp ủy trong xây dựng kế hoạch, tổ chức nghiên cứu, quán triệt, tổ chức thực hiện và đôn đốc, kiểm tra thực hiện nghị quyết của Đảng Đồng thời, tập trung vào những vấn đề bức xúc của cơ quan, đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội coi đây là nhiệm vụ trọng tâm có tính quyết định đến hiệu quả của việc triển khai thực hiện nghị quyết XIII của Đảng
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ, đề xuất giải pháp
cơ bản đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội; xây dựng bản tư vấn chính sách đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Tiếng Anh
Learning, mastering and organizing the implementation of the Party's Resolutions plays a very important role in creating unity within the Party and consensus among the people, contributing to the successful implementation of the Party's resolutions and the Party's resolutions political duties in the unit Implementing and learning the Party's resolutions is one of the three important steps
to bring the resolution to lifes, because the quality and effectiveness of the implementation and learning of the Party's resolutions will affect the perception and actual effectiveness of implementing resolutions of party members and people Researching, studying, mastering, propagating and implementing the Resolution of the 13th Party Congress is a regular work that must be carried out in a serious, methodical and scientific manner throughout the term
Vietnam National University, Hanoi, with its leading position and key role in the education and training system of Vietnam, has pioneered in innovation and creativity
in training, science and technology, contributing to promoting innovation meeting the
Trang 1514
needs of training high-quality human resources for the country, increasingly affirming and constantly improving the position and prestige at home and abroad of a leading university in Vietnam, especially in the fields of education, training and science and technology And to achieve those results, effectively implementing the Resolution of the 13th Party Congress is indispensable
In order for the Resolution of the 13th Party Congress to be effectively implemented in education, training and science and technology activities, this depends greatly on the formulation and implementation of the program and action plan This is one of the decisive factors Implementation programs and plans must be concretized with targets, tasks and solutions; at the same time, there is the assignment
of responsibilities and the time limit for implementation Along with that, it is necessary to regularly urge, supervise and inspect the implementation, promptly supplement and adjust accordingly Especially, it is necessary to develop an effective action plan in line with the reality of Vietnam National University, Hanoi
It is necessary to promote and uphold the roles and responsibilities of the Standing Committee of the Party Committee, especially the Secretary of the Party Committee in planning, organizing research, mastering, organizing the implementation, and urging and inspecting the implementation of the Party's resolutions At the same time, focusing on pressing issues of agencies and units affiliated to Hanoi National University, considers this a key task that is decisive to the effectiveness of the implementation of Resolution XIII of the Party
On the basis of clarifying a number of theoretical issues about the method of implementing the Party's Resolution in education - training and science and technology activities, proposing fundamental solutions to renovate the method of implementing Resolution XIII of the Party, Party activities in education - training and science and technology at Hanoi National University; developing a policy advisory document on reforming the method of implementing Resolution XIII of the Party into education, training and science and technology activities at Hanoi National University
Trang 16- Làm rõ nội dung phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
- Làm rõ nội dung cơ bản Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục – đào tạo
và khoa học công nghệ
- Phân tích, làm rõ tình hình và quá
trình triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đánh giá thành tựu trong triển
khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội và nguyên nhân
- Đánh giá hạn chế trong triển khai
Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo
và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội và nguyên nhân
- Chỉ ra vấn đề đặt ra trong triển
khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội thời gian qua
- Báo cáo đã phân tích rõ khái niệm phương thức triển khai và đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
- Báo cáo đã phân tích nội dung phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
- Báo cáo đã phân tích nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
- Báo cáo đã phân tích tình hình và quá trình triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Báo cáo đã phân tích thành tựu
trong triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Báo cáo đã phân tích hạn chế trong triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
và nguyên nhân
- Báo cáo đã chỉ ra vấn đề đặt ra trong triển khai Nghị quyết XII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 17- Nhân tố trong nước tác động đến triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống trong tình hình mới
- Báo cáo đã phân tích các nhân tố quốc tế tác động đến triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống trong tình hình mới
- Báo cáo đã phân tích các nhân tố trong nước tác động đến triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống trong tình hình mới
- Đưa ra quan điểm đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đề xuất giải pháp cơ bản đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Xây dựng bản tư vấn chính sách đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia
Hà Nội
- Báo cáo đã phân tích tình hình mới và yêu cầu mới đối với việc đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào thực tiễn hoạt động giáo dục – đào tạo
và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Báo cáo đã đưa ra quan điểm đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Báo cáo đã đề xuất giải pháp cơ bản đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia
Hà Nội
- Báo cáo đã xây dựng bản tư vấn chính sách đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 18Hà Nội
- Làm rõ những nhân tố tác động đến triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống trong tình hình mới
- Đề xuất giải pháp triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Báo cáo đã phân tích cơ sở lý luận
và thực tiễn triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội
- Báo cáo đã phân tích nhân tố quốc tế và nhân tố trong nước tác động đến triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống trong tình hình mới
- Báo cáo đã đề xuất giải pháp triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
5 Báo cáo
tư vấn
Giải pháp đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
(01 báo cáo chi tiết và 01 báo cáo tóm tắt)
01 báo cáo chi tiết và 01 báo cáo tóm tắt về giải pháp đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết XIII của Đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
sản phẩm)
Ghi địa chỉ và cảm
ơn sự tài trợ của ĐHQGHN đúng quy định
Đánh giá chung
(Đạt, không đạt)
1 Báo cáo khoa học kiến nghị, tư vấn chính sách theo đặt hàng của đơn
vị sử dụng
Trang 1918
1.1 01 báo cáo tư vấn chi tiết và
01 báo cáo tư vấn tóm tắt về
Giải pháp đổi mới phương
thức triển khai Nghị quyết
XIII của Đảng vào hoạt động
giáo dục- đào tạo và khoa học
công nghệ tại Đại học Quốc
gia Hà Nội
Đã có giấy xác nhận sử dụng của Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận án: Hệ thống chính trị cấp xã các huyện ngoại thành Hà Nội hiện nay: Thực trạng, vấn đề đặt ra và giải pháp đổi mới
Đã bảo vệ tại hội đồng đánh giá tổng thể luận án
2 Nguyễn Thu
Trang
Luận án: Truyền thông chính sách trong hoạch định chính sách công và một số gợi ý cho Việt Nam
Đã bảo vệ
Trang 201 Bài báo công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo
4 Bài báo quốc tế không thuộc hệ thống ISI/Scopus 0 0
5 Số lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của
ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành quốc
gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội
nghị quốc tế
6 Báo cáo khoa học kiến nghị, tư vấn chính sách
theo đặt hàng của đơn vị sử dụng
7 Kết quả dự kiến được ứng dụng tại các cơ quan
hoạch định chính sách hoặc cơ sở ứng dụng
KH&CN
Trang 2120
PHẦN V TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KINH PHÍ
Kinh phí được duyệt
(triệu
đồng)
Kinh phí thực hiện
(triệu
đồng)
Ghi chú
A Chi phí trực tiếp
1 Thuê khoán chuyên môn 143,1741 143,1741
2 Nguyên, nhiên vật liệu, cây con 0 0
Trang 2221
PHẦN VII PHỤ LỤC (minh chứng các sản phẩm nêu ở Phần III)
- Báo cáo về cơ sở lý luận và thực tiễn triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội
- Báo cáo về những nhân tố tác động đến triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn cuộc sống trong tình hình mới
- Báo cáo về giải pháp triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội
- Báo cáo tổng kết đề tài
- Báo cáo tư vấn (01 báo cáo chi tiết và 01 báo cáo tóm tắt)
- Đào tạo/Hỗ trợ đào tạo Nghiên cứu sinh
Trang 23PHỤ LỤC 1
Báo cáo về cơ sở lý luận và thực tiễn triển khai Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công
nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 24ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÁO CÁO KHOA HỌC
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO VÀ KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Anh Cường
Mã số đề tài: QG.21.40 Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Hà Nội – 2023
Trang 251 Khái niệm phương thức triển khai và đổi mới phương thức triển khai nghị quyết của đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
1.1 Phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng
Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch hoặc các vấn đề cụ thể Dưới góc độ lãnh đạo quản
lý, nghị quyết được xem là sản phẩm của hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quản lãnh đạo Đảng các cấp Sau khi nghị quyết được ban hành, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp phải tổ chức học tập, quán triệt trong cán bộ, đảng viên và tuyên truyền sâu rộng đến nhân dân Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng, then chốt nhằm tạo sự thống nhất nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong Nhân dân, là tiền đề cho sự thành công trong tổ chức thực hiện nghị quyết, đảm bảo nghị quyết đi vào cuộc sống
Thuật ngữ “phương thức”, “triển khai” được sử dụng phổ biến bởi các phương tiện truyền thống đại chúng, các nhà nghiên cứu, quản lý cũng như hầu hết người dân Mặc dù không có nhiều nghiên cứu về nội hàm thuật ngữ
“phương thức”, “triển khai” nhưng đại đa số được sử dụng nhằm chỉ cách thức
tổ chức thực hiện quyết định quản lý trong phạm vi cơ quan, đơn vị hoặc trong vùng lãnh thổ hoặc trong phạm vi cả nước để trở thành hành vi thực tế của các chủ thể
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2003 do giáo sư Hoàng Phê (chủ biên) định nghĩa thuật ngữ phương thức như sau: Phương thức
là cách thức và phương pháp (nói tổng quát) Triển khai là mở rộng ra trên một phạm vi, quy mô lớn, ví dụ như triển khai công việc, triển khai đội hình Dưới góc độ này phương thức triển khai là việc tổ chức thực hiện trên thực tế một quyết định của chủ thể lãnh đạo quản lý Tùy thuộc vào từng chủ thể ban hành
mà quyết định quản lý được thể hiện dưới hình thức là văn bản, lời nói hoặc hành vi; tên gọi quyết định rất đa dạng, đó là nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản cá biệt hoặc là quyết định chỉ đạo một công việc cụ thể
Trang 262
Quyết định của các tổ chức, cá nhân lãnh đạo, quản lý muốn phát huy hiệu lực, vai trò trên thực tế cần phải được áp dụng vào thực tế, từ đó mới biến thành những hành vi, xử sự phù hợp với ý chí của tổ chức, cá nhân lãnh đạo, quản lý
Phương thức triển khai Nghị quyết của Đảng được tổ chức thực hiện bởi
tổ chức Đảng và đông đảo đội ngũ đảng viên Nghị quyết của Đảng được triển khai thực hiện bởi nhiều phương thức khác nhau gồm xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện nghị quyết; tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết; tuyên truyền, phổ biến nghị quyết; xây dựng chương trình hành động cụ thể nhằm cụ thể nghị quyết của Đảng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của cơ quan, tổ chức, đơn vị
Từ những phân tích trên có thể hiểu phương thức triển khai nghị quyết
của Đảng là cách thức và phương pháp tổ chức thực hiện, hiện thực hóa các quyết định của Đảng thành những hành vi xử sự trên thực thế nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra
1.2 Hoạt động giáo dục - đào tạo
Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động tuyển sinh, tổ chức hoạt động giáo dục, quản lý điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục trong cơ sở giáo dục
Một là, hoạt động tuyển sinh Hoạt động này gồm nhiều hoạt động nhỏ
như sau: Xây dựng chiến lược tuyển sinh phù hợp với chiến lược phát triển theo từng giai đoạn; Phối hợp với các đơn vị có liên quan xây dựng Đề án tuyển sinh trình phê duyệt; tổ chức và triển khai Đề án này tuyển sinh đạt số lượng và chất lượng đã được phê duyệt: Lập kế hoạch tư vấn tuyển sinh và phối hợp với các Khoa/Phòng/Ban có liên quan thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra; Xây dựng kế hoạch và tập huấn đội ngũ tham gia tư vấn tuyển sinh hằng năm (cán bộ tư vấn, chuyên viên, cộng tác viên sinh viên); Tích cực mở rộng hợp tác với các đơn vị ngoài trường nhằm thu hút nguồn tuyển sinh; Triển khai công tác tổ chức tuyển sinh theo chỉ đạo của Hội đồng tuyển sinh Xây dựng chiến lược, lập kế hoạch truyền thông nội bộ và truyền thông bên ngoài nhằm không ngừng quảng bá thương hiệu và nâng cao uy tín trường Tổ chức và triển khai truyền thông hiệu quả, phù hợp với xu thế truyền thông hiện đại; Xây dựng, quản trị, cập nhật thông tin, và chịu trách nhiệm về nội dung website, mạng xã hội của; thường
Trang 27xuyên hỗ trợ và phối hợp các Khoa/Phòng/Ban nhằm đẩy mạnh hoạt động truyền thông nội bộ và bên ngoài của trường Tổ chức thực hiện và phát hành các ấn phẩm truyền thông (ấn phẩm, video, quảng cáo, ) Quản lý, giám sát và chịu trách nhiệm việc thực hiện quy định về các hoạt động thông tin, tuyên truyền trên hệ thống mạng của Nhà trường; quản lý các tài khoản trên mạng, theo dõi các sự kiện liên quan đến hoạt động của Trường; thường xuyên theo dõi
và cảnh báo rủi ro truyền thông
Hai là, tổ chức hoạt động giáo dục và đào tạo Đây là hoạt động trọng tâm
của các cơ sở đào tạo Hoạt động này có mục đích giúp người học nắm vững được những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức các hoạt động giáo dục như: mục đích, nguyên tắc, yêu cầu; các phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục; Các nội dung tổ chức hoạt động giáo dục; phối hợp với các lực lượng khi tổ chức hoạt động giáo dục trong nhà trường Tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường Hình thành và rèn luyện cho người học các kỹ năng cơ bản về tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường Từ đó, vận dụng vào thực tiễn hoạt động giáo dục tại đơn vị công tác nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ở các cơ sở giáo dục
Đây là hoạt động chính mà đội ngũ cán bộ, giáo viên các cơ sở đào tạo có thể lồng ghép, triển khai nghị quyết của Đảng nói chung, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Có thể thấy thời gian qua nội dung này đã đạt một số kết quả như chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được tích cực triển khai, bước đầu có hiệu quả Mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô Giáo dục và đào tạo ở những vùng khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú trọng hơn Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới được ban hành và đang tích cực triển khai; phương pháp giảng dạy và học tập có bước đổi mới Giáo dục mầm non đạt chuẩn phổ cập cho trẻ em 5 tuổi và giáo dục phổ thông có chuyển biến tốt, được thế giới công nhận Công tác thi, kiểm tra và đánh giá kết quả thực chất, hiệu quả hơn Quản
lý, quản trị đại học có bước đổi mới, chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng lên Giáo dục nghề nghiệp có nhiều chuyển biến Đào tạo, bồi dưỡng
Trang 284
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chú trọng cả về số lượng và chất lượng Chi đầu tư cho giáo dục và xã hội hoá giáo dục được tăng cường Cơ chế, chính sách tài chính cho giáo dục và đào tạo từng bước đổi mới Cơ chế tự chủ, cơ chế cung ứng dịch vụ công trong giáo dục và đào tạo được thể chế hoá
và đạt kết quả bước đầu Hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo tiếp tục được
mở rộng Nhân lực chất lượng cao tăng cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như: Đổi mới tư duy, hoạt động giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; một số nhiệm vụ, giải pháp đổi mới còn thiếu hệ thống, chưa ổn định Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo chưa cao Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa bảo đảm tính đồng bộ và liên thông giữa các trình độ, các phương thức giáo dục và đào tạo Nội dung, chương trình giáo dục
và đào tạo còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo vẫn thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động Chưa chú trọng đúng mức đến phát triển phẩm chất và kỹ năng người học Giáo dục "làm người", đạo đức, lối sống còn bị xem nhẹ Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trên một số mặt vẫn còn bất cập về chất lượng,
số lượng, cơ cấu và chính sách đãi ngộ Quản lý nhà nước và quản lý - quản trị nhà trường còn nhiều hạn chế Nguy cơ tái mù chữ có xu hướng tăng ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
1.3 Hoạt động khoa học và công nghệ
Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ Theo đó, hoạt động khoa học và công nghệ gồm những hoạt động cụ thể sau:
Một là, nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu
bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học gồm hai hoạt động, đó
là, (1) Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy
Trang 29luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy (2) Nghiên cứu ứng dụng
là hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội
Hai là, phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ
bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới
Ba là, dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ
thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Hoạt động khoa học và công nghệ có những nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy giá trị truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học của thế giới
Hai là, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ công nghệ
tiên tiến, công nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người; kịp thời dự báo, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai
Ba là, tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra,
ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống
Trang 30Đổi mới là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều Văn kiện, Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước; là thuật ngữ đã được nhiều nhà khoa học bàn luận, quan tâm nghiên cứu Đổi mới là quá trình làm cho thay đổi tốt hơn, tiến
bộ hơn Đổi mới phải thay đổi về chất trong tư duy, nhận thức, hoạt động Đổi mới phải được tiến hành đồng bộ, toàn diện, có bước đi, hình thức, cách làm phù hợp, có tính kế thừa, có sáng tạo Đổi mới phải phù hợp với điều kiện lịch sử, phù hợp với bối cảnh chung của đất nước Đổi mới phải kiên định với đường lối phát triển đất nước Đổi mới phải dựa vào dân, vì lợi ích nhân dân, đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,…
Đổi mới phương thức triển khai nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ là quá trình thực hiện đồng bộ, toàn diện,
có trọng tâm, trọng điểm, có kế thừa, có sáng tạo theo những nguyên tắc nhất định nâng cao chất lượng, hiệu quả phương thức triển khai nghị quyết của Đảng nhằm giúp mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên nhận thức rõ và thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Đảng khi thực hiện hoạt động giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ
2 Nội dung phương thức triển khai nghị quyết của đảng vào hoạt động giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
Để triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ cần thực hiện một số phương thức sau:
2.1 Xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ
Kế hoạch là việc xác định phương hướng, nhiệm vụ, chỉ tiêu, biện pháp
Trang 31tiến hành một lĩnh vực, một nhiệm vụ công tác của Nhà nước nói chung hoặc của từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương nói riêng Kế hoạch thường được xây dựng cho từng thời gian nhất định theo niên hạn như: kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn, kế hoạch ngắn hạn Khi kế hoạch được thông qua thì cơ quan, đơn vị hoặc từng cá nhân trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đó phải triển khai thực hiện và hoàn thành đúng thời hạn Kế hoạch được hoàn thành tốt và đúng thời hạn hay không là căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao của một cơ quan, đơn vị
Kết quả xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ được thể hiện dưới hình thức văn bản, trong đó xác định mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu của nhiệm vụ cần hoàn thành trong khoảng thời gian nhất định và các biện pháp về tổ chức, nhân
sự, cơ sở vật chất cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đó
Kế hoạch tổ chức triển khai Nghị quyết của Đảng vào hoạt động giáo dục
- đào tạo và khoa học công nghệ có một số mục đích sau:
Một là, nhằm giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, những
điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng kế hoạch/chương trình hành động để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII Tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng bộ, tạo sự thống nhất
về ý chí và hành động trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Công tác
tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải được thực hiện nghiêm túc, khoa học, thực chất, hiệu quả
Hai là, các tổ chức đảng, đơn vị, đoàn thể tổ chức cho cán bộ, đảng viên
nghiên cứu, học tập, quán triệt và tuyên truyền phổ biến sâu, rộng đến viên chức, đoàn viên, hội viên và người học nội dung Nghị quyết Đại hội XIII Trong quá trình nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết, phải đề cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, ý thức tự giác, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp ủy, tổ chức đảng
Ba là, đề cao vai trò của bí thư cấp ủy, người đứng đầu trong tổ chức quán
triệt Nghị quyết; chỉ đạo xây dựng, thảo luận kế hoạch/chương trình hành động của cấp ủy các cấp, xây dựng chương trình hành động của cá nhân thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII
Trang 328
Bốn là, các tổ chức đảng, đơn vị, đoàn thể gắn học tập, truyền đạt nội
dung Nghị quyết với việc uốn nắn những nhận thức lệch lạc, làm cho cán bộ, đảng viên, viên chức và người học có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, kịp thời về đường lối, chủ trương của Đảng, từ đó tích cực đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch
Việc xây dựng kế hoạch/chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải hoàn thành ngay sau khi nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm về xây dựng kế hoạch/chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của cấp mình trên cơ sở vận dụng các mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ bộ phận, chi bộ và tình hình thực tiễn của đơn vị để rà soát, điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ, giải pháp trong kế hoạch/chương trình hành động của cấp mình đạt hiệu quả Trong đó, các mục tiêu của tổ chức đảng, đơn vị đề ra phải có tính chiến đấu cao, thể hiện ý chí, quyết tâm khát vọng vươn lên của từng cấp, từng tập thể, cá nhân và có giải pháp thực hiện đảm bảo khả thi, hiệu quả Đồng thời người đứng đầu cấp ủy, đơn vị phải có kế hoạch hành động cá nhân thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII phù hợp với chức trách, nhiệm vụ được giao; thể hiện quyết tâm, tinh thần đổi mới, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của người đứng đầu
2.2 Tổ chức học tập, quán triệt
Công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết là khâu đầu tiên và rất quan trọng nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên và Nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
Để nghị quyết của Đảng kịp thời được quán triệt, học tập, tuyên truyền triển khai thực hiện đòi hỏi cấp ủy đảng phải luôn chủ động, sáng tạo, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quán triệt, học tập, tuyên truyền triển khai thực hiện nghị quyết, nhằm giúp cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động hiểu sâu, thấu đáo nội dung nghị quyết, từ đó vận dụng vào tình hình thực tiễn ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp góp phần “đưa nghị quyết vào cuộc
Trang 33sống” Việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng giúp đảng viên nâng cao ý thức trách nhiệm, tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện tốt nhiệm vụ của người đảng viên theo Điều lệ Đảng và các nhiệm vụ được chi bộ, đảng bộ phân công; đồng thời, giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần tự học tập, tự nghiên cứu, tăng cường trao đổi, thảo luận để tìm ra giải pháp triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao Thông qua học tập, quán triệt Nghị quyết, các Đảng bộ, Chi bộ trực thuộc xây dựng chương trình hành động, giải quyết hiệu quả những vấn đề bức xúc, cấp bách tại cơ quan, đơn vị
Học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng có vai trò rất quan trọng vừa là nhiệm vụ vừa là quyền lợi của đảng viên Đây cũng là khâu đầu tiên rất quan trọng nhằm tạo sự thống nhất trong Đảng, là tiền đề bảo đảm đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, thực hiện thắng lợi trong các nhiệm vụ mà nghị quyết đề ra Phải làm cho nghị quyết của Đảng thấm nhuần trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động Nghị quyết của Đảng là những định hướng chính trị phát triển đất nước, tỉnh, ngành, lĩnh vực trong từng giai đoạn cách mạng, là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng, thể hiện ý chí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức Do đó, sau khi Nghị quyết được ban hành, cấp
ủy các cấp lãnh đạo tổ chức học tập, quán triệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động, nhằm tạo sự nhất trí giữa nhận thức và hành động của
cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận trong quần chúng Nhân dân Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý cần phải làm cho nghị quyết của Đảng thấm nhuần trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, làm cho toàn Đảng, toàn dân hiểu sâu sắc, cặn kẽ những nội dung trong nghị quyết của Đảng
2.3 Tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết
Ttuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là công việc thường xuyên, phải được thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học trong suốt cả nhiệm kỳ Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2021, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên đều nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận cao trong nhân dân; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn
Trang 3410
quân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là nhằm góp phần tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; uốn nắn những nhận thức lệch lạc; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch Các cấp ủy, tổ chức Đảng, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chủ trì và chịu trách nhiệm về chất lượng nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng chương trình hành động của cấp ủy
Nội dung nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bao gồm: Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII; Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về các văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Báo cáo chính trị; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030; Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020
và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025; Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng khóa XII
Công tác tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cần được tiến hành thường xuyên, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, phong phú Nội dung tuyên truyền tập trung về thành công của Đại hội, về những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi và khó khăn, thách thức trong những năm tới; chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm "lấy xây làm chính", "lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực"; phản ánh kịp thời, toàn diện việc triển khai thực hiện Nghị quyết tới các tầng lớp nhân dân trong nước và đồng bào ta ở nước ngoài góp phần củng cố niềm tin, tạo đồng thuận trong thực hiện mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc Việc
tổ chức tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phải kết hợp với thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị khác, bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả, an toàn
Trang 352.4 Cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình hành động cụ thể
Chương trình là văn bản dùng để trình bày, sắp xếp toàn bộ những việc cần làm đối với một lĩnh vực công tác hoặc tất cả các mặt công tác của cấp ủy,
tổ chức, cơ quan đảng (hoặc của các đồng chí lãnh đạo) theo một trình tự nhất định, trong một thời gian cụ thể
Xây dựng chương trình, kế hoạch hành động để cụ thể hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng là bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của cấp ủy Chỉ khi mỗi cấp ủy đưa ra được chương trình hành động thỏa đáng, đúng tinh thần nghị quyết, phù hợp với điều
kiện của cơ quan, đơn vị thì nghị quyết của Đảng mới thực sự đi vào đời sống
Ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương, chương trình hành động phải thật cụ thể, bám sát vào tinh thần nghị quyết của cấp ủy cấp trên, chứ không phải sao chép lại câu chữ của cấp ủy cấp trên Chương trình hành động phải căn cứ vào điều kiện cụ thể và yêu cầu nhiệm vụ phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương
đã được xác định trong văn kiện đại hội đảng cấp mình, có đối chiếu, rà soát với nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để cập nhật, bổ sung, sửa đổi cho đầy đủ, phù hợp gắn với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị
Trong xây dựng chương trình hành động, cần xác định rõ: cần làm gì, làm như thế nào, ai làm, làm trong thời gian bao lâu Chương trình hành động cần thể hiện rõ việc, rõ người, rõ thời gian, sát với yêu cầu, mục tiêu cụ thể, có lộ trình cụ thể, không chung chung Để xây dựng chương trình hành động thể hiện sự quyết tâm, sáng tạo và bảo đảm tính khả thi, thiết thực, hiệu quả, cần tránh tình trạng xây dựng chương trình hành động theo hướng chung chung, đối phó, miêu tả lại nghị quyết, không cụ thể, không rõ ràng Hệ quả, nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương không biết chương trình hành động viết gì, trách nhiệm của từng cá nhân là gì, thời gian, lộ trình thực hiện như thế nào Khi sơ kết, tổng kết nghị quyết, không quy được tránh nhiệm cho ai, chất lượng của việc thực hiện nghị quyết tương đối thấp
Trong chương trình hành động cần đề cao vai trò của người đứng đầu Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội các cấp chủ trì thảo luận về Chương trình hành động, Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của tập thể để bổ sung, hoàn thiện và triển khai thực hiện theo lộ trình, thể
Trang 3612
hiện quyết tâm “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung” Hằng năm, tiến hành kiểm điểm tiến độ thực hiện chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết đã đề ra Kết quả thực hiện chương trình, kế hoạch đề ra là cơ sở quan trọng để đánh giá hằng năm và cả nhiệm kỳ đối với tập thể cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu
3 Nội dung cơ bản nghị quyết đại hội XIII của đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ
3.1 Nội dung cơ bản Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về giáo dục và đào tạo
Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước Tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, đặc biệt chú trọng giáo dục mầm non, tiểu học, tạo tiền đề và bảo đảm điều kiện thuận lợi để mỗi người dân có cơ hội được thụ hưởng công bằng thành quả của nền giáo dục Củng cố
và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục Thực hiện tốt hơn phân luồng học sinh sau trung học cơ sở Đa dạng hoá các loại hình đào tạo Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời Đẩy mạnh tự chủ đại học Có chính sách đột phá
Trang 37phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục đại học Thúc đẩy phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao Xây dựng các cơ chế, chính sách và giải pháp để đào tạo lại lực lượng lao động phải chuyển đổi ngành nghề do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáo dục Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, lấy chất lượng và hiệu quả đầu ra làm thước đo Xây dựng và triển khai thực hiện lộ trình tiến tới miễn học phí đối với học sinh phổ thông, trước hết là đối với học sinh tiểu học và trung học cơ sở Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các cơ sở đào tạo ngoài công lập phù hợp với xu thế của thế giới và điều kiện của Việt Nam trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội và các giá trị cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa Quan tâm thích đáng đến phát triển giáo dục ở miền núi, vùng cao, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục và đào tạo Gắn kết chặt chẽ giáo dục và đào tạo với nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới; hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, các nhóm đổi mới sáng tạo mạnh Cùng với đề cao vị trí, vai trò và trách nhiệm xã hội, cần đổi mới mạnh mẽ chính sách đãi ngộ, chăm lo xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt Sắp xếp, đổi mới căn bản hệ thống các cơ sở đào tạo sư phạm, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách và giải pháp để cải thiện mức sống, nâng cao trình độ và chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo gắn với đổi mới cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư Hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo đúng hướng, hiệu quả Đầu tư thích đáng cho giáo dục và đào tạo chất lượng cao, trình độ cao; có chính sách đầu tư đặc thù cho vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội trong giáo dục và đào tạo Đẩy mạnh đổi mới đồng bộ,
Trang 38và thực hiện ổn định các phương thức đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục
và đào tạo, thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và đào tạo nghề Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo Phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về giáo dục và đào tạo ở khu vực, bắt kịp với trình độ tiên tiến của thế giới, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về giáo dục và đào tạo có một số điểm mới như sau:
Một là, về đề mục, các văn kiện lần này, như trong Báo cáo Chính trị tập
trung đề cập đến giáo dục và đào tạo ở mục V, so với Đại hội XII, tên đề mục đã thay cụm từ ” phát triển” bằng cụm từ “ nâng cao” chất lượng nguồn nhân lực và thêm cụm từ ” phát triển con người” Trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2021-2030, vấn đề này được đề cập ở tiểu mục 3, phần V, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế- xã hội, với tiêu đề: phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế Điểm mới lần này, trực tiếp đề cập đến giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, trước đây chỉ nhấn mạnh “phát triển nhanh giáo dục và đào tạo”
Hai là, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục và đào
tạo, yêu cầu phải “Xây dựng đồng bộ thể chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước” Trước đây chỉ đề cập phương hướng chung: “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Văn kiện lần này yêu cầu xác định rõ mục tiêu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới, nhằm
Trang 39xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khoẻ, năng lực, trình
độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc và
“Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Ba là, nhấn mạnh, giáo dục và đào tạo thích ứng với Cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế, do vậy phải đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản
lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người Trước đây chỉ đề cập:“ chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức”, điểm mới lần này nhấn mạnh đổi mới chế độ tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo Đặc biệt, chú ý phát hiện, bồi dưỡng, đãi ngộ, thu hút nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt; bảo đảm thống nhất với chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là ở nông thôn; giảm tỉ lệ lao động khu vực phi chính thức Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động
Bốn là, cụ thể hóa yêu cầu hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân, sắp xếp
lại hệ thống trường học, phát triển hài hoà giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền, ưu tiên các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu
số, biên giới, hải đảo và các đối tượng chính sách Đa dạng hóa các loại hình đào tạo Đặc biệt chú trọng giáo dục mầm non, tiểu học trong điều kiện mới, tạo tiền
đề và bảo đảm điều kiện thuận lợi, để mỗi người dân đều được thụ hưởng một
Trang 40Năm là, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo,
như: thực hiện phổ cập giáo dục mầm non và giáo dục tiểu học bắt buộc Đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu, chú trọng xây dựng nền tảng kỹ năng nhận thức và hành vi cho học sinh phổ thông Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học ngoại ngữ, coi trọng dạy, học và sử dụng tiếng Anh Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông Giảm tỉ lệ mù chữ ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo Nghiên cứu để hoàn thiện, ổn định hệ thống sách giáo khoa và chế độ thi cử ở các cấp học
Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến, qua Internet, truyền hình, các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội ”Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội;
có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ
số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế”
Sáu là, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển giáo dục
Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, “Lấy chất