1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

BH Gián đoạn KD tại BV HN

46 873 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2001
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 237 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BH Gián đoạn KD tại BV HN

Trang 1

định và phát triển nền kinh tế.

Trong thời gian thực tập tại phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp thuộc công tyBảo hiểm Hà Nội, đợc tiếp xúc với nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, tôinhận thấy tuy đây là một nghiệp vụ bảo hiểm mới mẻ nhng rất có tiềm năng trên thịtrờng Việt Nam Tuy nhiên, quá trình triển khai nghiệp vụ này tại công ty Bảo Việt

Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn Với mong muốn đợc nghiên cứu, tìm hiểu tình hìnhtriển khai nghiệp vụ gián đoạn kinh doanh, trên cơ sở đó đa ra một số giải pháp

nhằm phát triển nghiệp vụ này, tôi đã chọn "Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại

Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001" làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của

mình Mặc dầu vậy, do thời gian quá ngắn cũng nh phạm vi thực tập chỉ giới hạntrong "Phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp" nên trong luận văn này tôi sẽ đi sâuvào nghiên cứu về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Công ty Bảo hiểm

Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001

Kết cấu luận văn bao gồm 3 chơng:

Chơng 1 : Lý luận chung về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

Chơng 2 : Thực tiễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh

doanh tại Công ty Bảo hiểm Hà Nội

Chơng 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng và hiệu quả hoạt

động kinh doanh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Công

ty bảo hiểm Hà NộiMặc dù rất cố gắng, song do thời gian quá eo hẹp và trình độ nghiên cứu có hạn, vìvậy luận văn này không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong nhận đợc sự

Trang 2

đóng góp chân tình từ phía các thầy cô giáo và độc giả để luận văn này đợc hoànthiện hơn

Chơng 1

lý luận chung

về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

1.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

1.1.1 Sự ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

Bảo hiểm là một hoạt động tài chính, có tính chất chuyên ngành mà thông qua cáchoạt động này các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội cùng tham gia đóng góp mộtkhoản tiền nhất định để tạo lập nên quĩ bảo hiểm và khoản đóng góp đó gọi là phíbảo hiểm Khi không may gặp phải những rủi ro, tổn thất ngoài mong đợi của cácthành viên đóng góp thì lúc đó quĩ bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng của nó là giúp đỡcác thành viên này nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống, tiếp tục công việc

Trang 3

kinh doanh một cách bình thờng Ngày nay, hoạt động bảo hiểm chủ yếu đợc thựchiện thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm.

Nhìn lại sự ra đời và phát triển của bảo hiểm, chúng ta thấy bảo hiểm có nguồn gốc

từ rất xa xa trong lịch sử nền văn minh nhân loại Tuy vậy, khi mới ra đời thì cácnghiệp vụ bảo hiểm không phong phú, đa dạng nh ngày nay Xã hội ngày càng pháttriển, hoạt động kinh doanh ngày càng hoàn thiện đã dần dần làm nảy sinh nhiềunhu cầu bảo hiểm mới Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một trong các nghiệp vụbảo hiểm mới đó So với bảo hiểm hàng hải hay bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm gián

đoạn kinh doanh ra đời muộn hơn rất nhiều Vào những năm đầu của thế kỷ XX,mặc dù bị sự thúc ép của chính phủ và yêu cầu của các nhà sản xuất nh ng các công

ty bảo hiểm ở Anh vẫn cha tiến hành bất cứ loại hình bảo hiểm "tổn thất hậu quả"nào Sự chậm trễ đó là do tính phức tạp trong việc phân tích các chi phí tài chính,xác định phạm vi bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế chính trị cha ổn định Sau đó,với sự ra đời của hai nguyên tắc Herry Booth & Commercial Union (năm 1923) vàPolikoff Ltd vs North British and Mercantile (năm 1936) mới thật sự đặt nền móngcho bảo hiểm gián đoạn kinh doanh hình thành và phát triển

Khi mới triển khai, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đợc biết đến dới tên gọi "bảohiểm mất lợi nhuận" hay "tổn thất hậu quả" do mục đích của nó là bồi thờng cho ng-

ời đợc bảo hiểm đối với trờng hợp bị mất lợi nhuận và các chi phí phụ để tiếp tụckinh doanh Những tổn thất này thờng xuất hiện sau một khiếu nại thiệt hại về một

vụ cháy hay sau những tổn thất đợc bảo hiểm khác Trong thực tế, những loại bảohiểm chính (nh bảo hiểm cháy, kỹ thuật) sẽ bảo hiểm cho tổn thất hay thiệt hại cơbản, tuy nhiên ngời đợc bảo hiểm vẫn cha đợc đền bù hoàn toàn vì anh ta phải chịunhững chi phí bổ sung cha đợc bảo hiểm theo các đơn bảo hiểm này Do đó, việcxuất hiện bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một nhu cầu hoàn toàn khách quan,cần thiết

Mặc dù "mầm mống" ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã xuất hiện từnhững năm 1920 nh đã đề cập ở trên, nhng phải đến năm 1985 sự giao dịch của bảohiểm gián đoạn kinh doanh mới xuất hiện tại Uỷ ban tổn thất hậu quả (một bộ phậntrong Uỷ ban bảo hiểm hoả hoạn ở Anh) Đây là nơi đánh dấu sự ra đời bản mẫu đầutiên về đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Mẫu đơn này đã đợc thông qua và sửdụng ở một số nớc Tây Âu Vào tháng 10 năm 1989, Hiệp hội các nhà bảo hiểmLondon (ABI) đã xem xét lại mẫu đơn này trên cơ sở thống nhất lại phạm vi bảohiểm và sau đó chính thức phát hành Từ đó đến nay, hầu hết các quốc gia đều ápdụng theo mẫu đơn đó

Trang 4

Ngày nay, ở các nớc phát triển, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã trở nên thôngdụng và phổ biến rộng rãi Nó đã góp phần đắc lực vào việc ổn định tâm lý cũng nh

an toàn sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp

ở Việt nam, nghiệp vụ này mới đợc triển khai khoảng chục năm trở lại đây trên cơ

sở mẫu đơn của nớc Anh Tuy mới triển khai nhng loại hình này đã khẳng định đợc

vị trí, vai trò và tiềm năng cũng nh những u điểm không thua kém gì các nghiệp vụ

"đàn anh, đàn chị" khác Những năm gần đây, nghiệp vụ này đã thu hút đợc sự chú ýcủa nhiều nhà bảo hiểm Vào thời gian từ 18 đến 22/08/1997 tại Hà nội đã diễn rahội thảo bảo hiểm ngừng trệ kinh doanh (hay bảo hiểm gián đoạn kinh doanh) doMuniche và Vinare đồng tổ chức Từ đó đến nay, hàng năm các công ty bảo hiểm

đều liên kết với nhau tổ chức hội thảo đề cập tới vấn đề này Điều này khẳng địnhvai trò quan trọng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh trong việc đảm bảo hoạt độngsản xuất kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế, tạo tâm lý ổn định cho các nhà đầu

t,

Tóm lại, nếu ta coi bảo hiểm thiệt hại vật chất là điều kiện cần thì bảo hiểm gián

đoạn kinh doanh sẽ là điều kiện đủ trong một đơn bảo hiểm hỗn hợp

1.1.2 Vai trò kinh tế xã hội của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

1.1.2.1 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "lá chắn kinh tế" của các doanh nghiệp, góp phần giảm thiểu những hậu quả ảnh hởng của các rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong cuộc sống hàng ngày cũng nh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗidoanh nghiệp đôi khi xảy ra những rủi ro bất ngờ mà không ai lờng trớc đợc Các rủi

ro đã và đang gây nên những tổn thất, thiệt hại về tài sản, về tính mạng của con

ng-ời, làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật đợcứng dụng trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho qui mô của hoạt động sản xuấtkinh doanh ngày càng mở rộng Do vậy, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngày cànglớn Nếu chẳng may rủi ro thiệt hại xảy ra thì hậu quả thờng rất nặng nề và ảnh hởnglâu dài không chỉ tới bản thân chính doanh nghiệp mà còn ảnh hởng đến cả cácdoanh nghiệp, cá nhân thờng xuyên có quan hệ với doanh nghiệp Sự ra đời của cáccông ty bảo hiểm đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh ổn định tình hình sản xuất,

đảm bảo công việc kinh doanh đợc tiến hành bình thờng Thông qua việc bồi thờngmột cách kịp thời, chính xác, trung thực đã giúp cho các doanh nghiệp nhanh chóngkhắc phục đợc hậu quả thiệt hại Bên cạnh đó, với sự chuyển đổi của cơ chế quản lý,Nhà nớc đã chủ động giao vốn cho các doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp

Trang 5

Nhà nớc Trong việc bảo tồn và phát triển vốn, các doanh nghiệp không có sự hỗ trợnhiều của Nhà nớc nh trong thời kỳ bao cấp trớc đây Nếu khi có thiệt hại gì xảy ra,doanh nghiệp không đợc quyền ghi giảm vốn đặc biệt là những thiệt hại gây ra bởicác rủi ro các công ty bảo hiểm trong nớc đã triển khai hay với các loại hình tơng tự.Vì vậy bảo hiểm sẽ là "lá chắn kinh tế" để đảm bảo sự bảo toàn vốn cho các doanhnghiệp khi không may gặp phải những thiệt hại của thiên tai hoặc do sự sơ suất vô ýcủa ngời lao động.

Trên thực tế, sau khi rủi ro xảy ra đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinhdoanh thì hầu nh mọi hoạt động không thể tiến hành bình thờng nh kế hoạch đã đặt

ra trớc Từ đó dẫn đến nhiều khoản tổn thất không đợc bồi thờng trong đơn bảo hiểmtài sản nh chi phí về thuê nhà, trụ sở, chi trả lơng công nhân viên Để khắc phụctình trạng doanh nghiệp có thể bị phá sản hoặc lâm vào tình thế khó khăn khi phải

đối mặt với các tổn thất đó, tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là cách tốt nhất

để bù đắp thiệt hại Khi tham gia loại hình bảo hiểm này, nếu tổn thất xảy ra, các cơquan, doanh nghiệp không những đợc bồi thờng cho những khoản chi phí nói trên

mà còn đợc bù đắp phần lợi nhuận ròng bị mất mát mà lẽ ra họ có thể nhận đợc nếu

nh không có tổn thất xảy ra Vậy cùng với đơn bảo hiểm tài sản, bảo hiểm gián đoạnkinh doanh đã góp phần làm hạn chế đến mức tối thiểu những hậu quả ảnh hởng củacác rủi ro tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

1.1.2.2 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần mang lại sự an toàn trong xã hội

Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa nh hiện nay, nớc ta đã thu hút đợc lợng lớn vốn

đầu t không những của các nhà đầu t trong nớc mà còn của các nhà đầu t nớc ngoài.Các nhà đầu t, vì mục đích kinh doanh của mình, luôn quan tâm đến việc bảo toàn

và phát triển vốn, làm sao có thể an toàn nhất tránh các rủi ro đáng tiếc xảy ra với

đồng vốn của họ Tuy nhiên, trong sản xuất kinh doanh có nhiều yếu tố rủi ro mangtính ngẫu nhiên xảy ra bất cứ lúc nào và không loại trừ bất cứ ai Các công ty bảohiểm là các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động trên cơ sở xử lý, chuyển giao, phântán rủi ro, vì vậy để hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, cần thiết các doanhnghiệp bảo hiểm phải tìm cách giảm thiểu xác suất xảy ra rủi ro Một trong số cácbiện pháp mà các doanh nghiệp bảo hiểm đang áp dụng rất hiệu quả đó là biện pháp

đề phòng, hạn chế tổn thất nhằm bảo vệ đối tợng bảo hiểm Hàng năm, các công tybảo hiểm thờng trích ra một khoản theo tỉ lệ nhất định trên cơ sở nguồn phí thu đợc

để thực hiện các biện pháp phòng tránh cần thiết có hiệu quả nhất Phí thu đợc từcác đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tất yếu sẽ có phần đóng góp trong đó Vìvậy, có thể nói bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần đề phòng, hạn chế tổn thất,

Trang 6

mang lại sự an toàn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng và cho toànxã hội nói chung

1.1.2.3 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nớc, thúc đẩy kinh tế phát triển

Cũng nh nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nói riêng và những loại hình kinh doanhdịch vụ khác nói chung, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngânsách Nhà nớc, đặc biệt tăng nguồn thu từ ngoại tệ cho Nhà nớc Một phần nguồn phíthu đợc từ nghiệp vụ bảo hiểm này hàng năm đợc đóng góp vào ngân sách Nhà nớc

để sử dụng vào các mục đích chính trị, xã hội Ngoài ra, một phần phí thu đ ợc tạmthời nhàn rỗi từ các hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã tạo ra lợng vốn lớn

để phát triển nền kinh tế thông qua việc đầu t

Tất cả những gì đã nêu trên là minh chứng rõ ràng và đầy đủ cho sự cần thiết củaviệc tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

1.2 Những nội dung cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

1.2.1 Đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh "bảo hiểm cho các tổn thất mất giảm thu nhập thực

tế và tiềm năng cũng nh các phụ phí phát sinh từ hậu quả của tổn thất vật chất"[3,5/7] Do vậy, nó có một số các đặc điểm riêng biệt so với các loại bảo hiểm khác

nh sau:

- Đặc điểm về đối tợng bảo hiểm:

Khi có một rủi ro xảy ra, ví dụ một vụ hoả hoạn, gây thiệt hại tài sản, ng ời đợc bảohiểm sẽ đợc bảo hiểm theo đơn bảo hiểm tài sản (cụ thể là đơn bảo hiểm hoả hoạn

và các rủi ro đặc biệt) Với số tiền bảo hiểm nhận đợc, ngời đợc bảo hiểm có thể có

đủ khả năng khôi phục lại cơ sở hạ tầng, mua lại các thiết bị, máy móc, phục vụcho việc sử dụng nh trớc khi xảy ra rủi ro Tuy vậy, nếu nh số tài sản bị thiệt hại

đang đợc sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh thì nhà kinh doanh sẽ phải chịucả những thiệt hại về mặt kinh doanh nh mất lợi nhuận, mất khả năng kinh doanhtrong một thời gian nhất định Hơn thế nữa, anh ta phải chịu những chi phí nh chiphí thuê nhà xởng, chi phí trả lơng cho công nhân viên, lãi suất ngân hàng, mặc dùkhông thực hiện sản xuất kinh doanh hoặc những chi phí thuê nhà xởng, máy móctạm để tiếp tục sản xuất kinh doanh trong thời gian sửa chữa, phục hồi cơ sở sảnxuất Nói cách khác, tuỳ vào mức độ thiệt hại gây ra mà công việc kinh doanh bìnhthờng của ngời đợc bảo hiểm sẽ bị ngng trệ hoặc giảm sút Chúng ta hãy cùng xemxét ví dụ minh hoạ sau đây:

Trang 7

Hình dới đây miêu tả tổn thất về doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêmtrọng Cần chú ý rằng doanh thu (số tiền doanh nghiệp thu đợc) sẽ chỉ trở lại bìnhthờng sau 9 tháng kể từ khi có vụ cháy xảy ra cho dù công việc xây dựng lại chỉ mất

3 tháng Trờng hợp này xảy ra do nguyên nhân một số khách hàng không chắc chắn

đợc liệu công ty có tiếp tục kinh doanh nữa hay không và nếu khách hàng có thể dễdàng tìm ra những hãng cung cấp thay thế thì thời gian hồi phục kinh doanh sẽ bịkéo dài Khác hẳn với thiệt hại vật chất, thiệt hại mà nhà kinh doanh phải gánh chịutrong trờng hợp bị ngừng trệ kinh doanh là rất trừu tợng và đợc cụ thể hoá vào thời

điểm trong tơng lai khi mà doanh nghiệp của ngời đợc bảo hiểm trở lại tình trạngvốn có nh trớc khi tổn thất xảy ra Nói tóm lại, đối tợng của bảo hiểm gián đoạnkinh doanh là đối tợng vô hình

(Nguồn: Hình 4.1 - [17, 112])Trong biểu đồ trên, ngời ta đã giả định một doanh thu tĩnh song trong thực tế, rấtnhiều ngành nghề biến động theo mùa và tất nhiên cần phải xem xét yếu tố này khigiải quyết bất kỳ khiếu nại nào Vì vậy, trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanhthờng nêu rõ công thức sẽ đợc sử dụng khi giải quyết bồi thờng tổn thất

- Đặc điểm về giai đoạn bồi thờng:

Một đặc trng cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là ngời đợc bảo hiểm đợcchọn một "giai đoạn bồi thờng" Đó là giai đoạn mà theo tính toán của ngời đợc bảohiểm sẽ đủ để ngời đó khôi phục lại kinh doanh, hoàn toàn khôi phục lại khả nănghoạt động và doanh thu kể cả khi đã xảy ra vụ hoả hoạn nghiêm trọng nhất Ngời đ-

ợc bảo hiểm sẽ chọn "giai đoạn bồi thờng" tối đa, có thể là 12 tháng, 18 tháng, , và

"giai đoạn bồi thờng" sẽ đợc đa vào hợp đồng bảo hiểm "Giai đoạn bồi thờng" tối

đa phụ thuộc vào các yếu tố sau:

"+Thời gian để sửa chữa, xây dựng lại tài sản bị thiệt hại Thời gian này đợc tính baogồm cả thời gian thiết kế, lên kế hoạch và cả thời gian xin các loại giấy phép

Trang 8

+ Thời gian thay thế máy móc, nguyên vật liệu Việc đánh giá chính xác khoảngthời gian này là rất quan trọng và phụ thuộc vào loại máy móc, nguyên vật liệu Nếu

nh doanh nghiệp sử dụng các máy móc, nguyên vật liệu phải nhập khẩu hoặc loại

đặc biệt thì việc ổn định tình hình kinh doanh trong một thời gian ngắn là hết sứckhó khăn

+ Thời gian cần thiết để khôi phục năng suất và tính hiệu quả kinh doanh trở vềbình thờng nh trớc khi xảy ra tổn thất, bao gồm cả thời gian để giành lại nhữngkhách hàng đã mất." [5, 6]

- Đặc điểm về tổn thất vật chất:

Điều kiện tiên quyết để ngời đợc bảo hiểm có quyền đòi bồi thờng theo đơn bảohiểm gián đoạn kinh doanh là "tại thời điểm xảy ra tổn thất, các thiệt hại của các tàisản của ngời đợc bảo hiểm tại địa điểm đợc bảo hiểm phải đợc bảo vệ bởi một đơnbảo hiểm thiệt hại vật chất" [2, 1] Điều kiện này đợc biết đến trong ngành bảo hiểmthế giới nh "qui định tổn thất vật chất" (material damage provisio) Qui định này cónghĩa là trớc khi giải quyết khiếu nại gián đoạn kinh doanh, phải có một khiếu nạitheo đơn thiệt hại vật chất đã đợc thanh toán bồi thờng hay trách nhiệm theo đơnbảo hiểm đó đã đợc chấp nhận Vì vậy, thông thờng bảo hiểm gián đoạn kinh doanhchỉ là đơn bảo hiểm mở rộng phạm vi bảo hiểm của một đơn bảo hiểm vật chất Rủi

ro trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, trừ những trờng hợp loại trừ, phảitrùng khớp với rủi ro trong đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất

1.2.2 Nội dung cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm nói chung và trong hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói riêng

1.2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm

1.2.2.1.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm

"Hợp đồng bảo hiểm là một thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảohiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểmphải trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khixảy ra sự kiện bảo hiểm" [6,16]

Nh vậy, đứng trên góc độ pháp lý thì hợp đồng bảo hiểm thực chất là một hợp đồngkinh tế trong đó một bên đồng ý bồi thờng, trả tiền bảo hiểm cho bên kia khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm với điều kiện bên kia chấp nhận đóng phí bảo hiểm Theo hợp

đồng bảo hiểm, mối quan hệ nhất định giữa hai bên ràng buộc với nhau bởi hai vấn

đề cơ bản: bồi thờng và nộp phí bảo hiểm

1.2.2.1.2 Điều kiện pháp lý áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm

Trang 9

Có hai loại điều kiện đợc áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm, đó là:

họ chính là ngời tham gia bảo hiểm

- Tín nhiệm tuyệt đối: Điều kiện "tín nhiệm tuyệt đối" đợc áp dụng trong quan hệbảo hiểm giữa ngời bảo hiểm đối với ngời tham gia bảo hiểm Điều đó có nghĩa làngời tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ và chính xácgiá trị tài sản hoặc là tình trạng sức khoẻ, trong phạm vi kiến thức và sự hiểu biếtcủa họ khi ngời bảo hiểm yêu cầu Những thông tin này là cơ sở để ngời bảo hiểm

có chấp nhận bảo hiểm cho đối tợng bảo hiểm hay không Ngời tham gia bảo hiểmkhông đợc thực hiện bất cứ hành vi man trá hay gian dối nào trong thời gian hiệu lựccuả hợp đồng nhằm trục lợi Việc tuân thủ đúng nguyên tắc này đóng vai trò quantrọng trong việc giao dịch bảo hiểm

-Bồi thờng: Khi có sự cố rủi ro thuộc trách nhiệm bảo hiểm gây thiệt hại cho ngời

đ-ợc bảo hiểm, ngời đđ-ợc bảo hiểm sẽ đđ-ợc bồi thờng theo đúng qui định của hợp đồng.Hiện nay có ba hình thức bồi thờng đợc sử dụng:

+ Thanh toán bằng tiền mặt Đây chính là hình thức phổ biến nhất Công ty bảohiểm xác định giá trị tổn thất thực tế bằng tiền và thực hiện bồi thờng cho kháchhàng

+ Sửa chữa đối với loại tài sản bị tổn thất còn khả năng sửa chữa

+ Thay thế hay phục hồi, phơng pháp này thờng đợc áp dụng trong trờng hợp tổnthất toàn bộ

Đó là các điều kiện ngầm định đợc áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm Hai điều kiện

đầu đợc coi là hai điều kiện quan trọng phải đợc thực hiện trớc khi hình thành hợp

Trang 10

đồng Trong trờng hợp những điều kiện này không đợc tuân thủ, tính hợp lệ của toàn

bộ hợp đồng sẽ không đợc đảm bảo

b) Những điều kiện rõ ràng

Cùng với việc thực hiện những điều kiện ngầm định, giữa ngời bảo hiểm và ngời đợcbảo hiểm cũng có những "điều kiện rõ ràng" đợc qui định bằng văn bản trong hợp

đồng bảo hiểm buộc hai bên cùng phải tôn trọng thực hiện Các điều kiện đó sẽ đợcxem xét một cách cụ thể trong phần tiếp theo của hợp đồng bảo hiểm

1.2.2.1.3 Kết cấu và nội dung của hợp đồng bảo hiểm

* Đơn yêu cầu bảo hiểm:

Đơn yêu cầu bảo hiểm là hình thức phổ biến nhất để công ty bảo hiểm có thể nhận

đợc các thông tin liên quan tới rủi ro sẽ đợc bảo hiểm Đối với hầu hết các loại bảohiểm, ngời yêu cầu bảo hiểm sẽ điền vào đơn yêu cầu bảo hiểm và nộp cho công tybảo hiểm Các đơn này có thể do công ty bảo hiểm gốc hoặc môi giới bảo hiểm haytrung gian bảo hiểm cung cấp

Trong hầu hết các đơn bảo hiểm thờng có những câu hỏi chung nh sau:

 Tên, địa chỉ của ngời yêu cầu bảo hiểm (nếu bảo hiểm liên quan đến cá nhân có thể có câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp, tuổi tác)

 Thời gian yêu cầu bảo hiểm

 Ngành nghề kinh doanh

 Cơ sở tính phí bảo hiểm (đồ đạc, nhà cửa, bảng lơng, doanh thu, )

Bên cạnh đó cũng có những câu hỏi liên quan đến các rủi ro cụ thể Nói cách khác,một đơn yêu cầu bảo hiểm sẽ chứa đựng các câu hỏi chung và riêng, và tất cả cáccâu hỏi đó đều có giá trị đối với công ty bảo hiểm

Đơn yêu cầu bảo hiểm chính là cơ sở của hợp đồng bảo hiểm và là một phần khôngthể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm

* Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm:

Sau khi đơn yêu cầu bảo hiểm đợc trình bày hợp lý và công ty bảo hiểm chấp nhận

đơn đó, công ty bảo hiểm sẽ cấp cho ngời đợc bảo hiểm đơn bảo hiểm kèm theo giấychứng nhận bảo hiểm Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng vềviệc xác lập hợp đồng, trong đó bao gồm mọi chi tiết về việc bảo hiểm Trong đơnbảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm phải đề cập đợc các nội dung sau:

 Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm hoặcngời thụ hởng

Trang 11

 Đối tợng bảo hiểm

 Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản đợc bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản

 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

 Thời hạn bảo hiểm

 Mức phí bảo hiểm, phơng thức đóng phí bảo hiểm

 Thời hạn, phơng thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thờng

 Các qui định giải quyết tranh chấp  Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng Ngoài ra còn có thể có những nội dung khác do các bên thoả thuận 1.2.2.2 Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh giống nh bất kỳ một hợp đồng bảo hiểm nào đều mang đầy đủ các nội dung cũng nh đặc điểm của một hợp đồng bảo hiểm nh đã đề cập ở phần lý luận trên Tuy nhiên, do tính đặc thù của loại nghiệp vụ bảo hiểm này nên nó cũng có những đặc điểm riêng so với các loại hợp đồng bảo hiểm khác Trong phần lý luận sau, do phạm vi nghiên cứu của đề tài này nh đã đề cập ở phần giới thiệu, sẽ chỉ đề cập tới hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy 1.2.2.2.1 Một số khái niệm về doanh thu, chi phí cố định, chi phí biến đổi, lợi nhuận thuần, lợi nhuận gộp "Doanh thu bán hàng là toàn bộ các khoản doanh thu về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá dịch vụ" [11, 83] Đây là bộ phận chủ yếu, chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu Ngoài ra, doanh thu còn từ các hoạt động khác bao gồm các khoản từ hoạt động đầu t tài chính (thu từ hoạt động đầu t, thu về việc mua bán chứng khoán, lãi kí quĩ, hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay ), và từ hoạt động bất thờng (thu về nhợng bán thanh lý tài sản cố định, thu từ phạt vi phạm hợp đồng, nợ khó đòi đã đòi đợc, nợ phải trả không xác định đợc chủ, thu nhập năm trớc bị bỏ sót )

"Chi phí cố định là những chi phí có đặc trng cơ bản là tổng số của nó không thay đổi khi khối lợng kinh doanh thay đổi" [18,90] Khoản chi phí này là những khoản chi phí tồn tại ngay cả khi không tiến hành sản xuất kinh doanh, ví dụ nh tiền thuê nhà xởng, thuê đất, tài sản cố định,

"Chi phí biến đổi là chi phí biến đổi thuận chiều với sự thay đổi khối lợng kinh doanh của doanh nghiệp" [18,90], ví dụ nh chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí thuê nhân công hợp đồng

Trang 12

"Lợi nhuận thuần là khoản lợi nhuận thu đợc sau khi đã trừ đi tất cả các khoản dựphòng, các chi phí cố định kể cả những chi phí khấu hao, nhng phải đợc tính trớc khitrừ đi các loại thuế tính trên thu nhập" [5, appendix A]

"Lợi nhuận gộp = [Doanh thu + (giá trị hàng tồn kho và hàng hoá đang trong kì sảnxuất ở cuối kỳ - giá trị hàng hoá đang trong kỳ sản xuất đầu kì) - tổng chi phí sảnxuất không đợc bảo hiểm]" [5, appendix A]

1.2.2.2.2 Đối tợng bảo hiểm

Nh đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, đối tợng bảohiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tợng vô hình Khác với các loạinghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tợng bảo hiểm là hữu hình, đối tợng bảohiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh do đặc tính trừu tợng nh vậy đã gây rấtnhiều khó khăn cho các nhà bảo hiểm Đây cũng chính là lý do khiến cho mộtnghiệp vụ bảo hiểm rất quan trọng nh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã ra đời quámuộn so với các nghiệp vụ khác Theo đơn bảo hiểm qui chuẩn của Anh quốc màngày nay rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang sử dụng thì đối tợng bảo hiểmcủa bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "tổn thất mang tính hậu quả do việc ngừng trệhay gián đoạn" [5, 6]

1.2.2.2.3 Số tiền bảo hiểm

Khác với số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất đợc xác

định dựa trên giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm của bảo hiểm gián đọan kinh doanh

đợc xác định dựa trên giá trị lợi nhuận gộp hàng năm của doanh nghiệp tham giabảo hiểm Số tiền bảo hiểm trong loại hình nghiệp vụ này do ngời đợc bảo hiểm xác

định, đợc tính từ số liệu kế toán của ngời đợc bảo hiểm và phải thể hiện đợc giá trịlợi nhuận gộp ớc tính trong tơng lai của doanh nghiệp đợc bảo hiểm Để xác địnhgiá trị đó, số liệu kế toán của năm gần nhất sẽ đợc sử dụng Tuy nhiên, thờng thì ng-

ời ta sử dụng số liệu kế toán của hai hoặc ba năm liên tiếp nhằm tránh những biến

động bất thờng có thể ảnh hởng tới tính chính xác của số liệu "Khi thời hạn bồi ờng là 12 tháng hoặc thấp hơn, số tiền bảo hiểm phải là giá trị hàng năm của lợinhuận gộp Nếu thời hạn bồi thờng vợt quá 12 tháng số tiền bảo hiểm phải là lợinhuận gộp cho thời hạn bồi thờng đợc chọn" [5, 7] Ví dụ nếu thời hạn bồi thờng là

th-3 năm thì số tiền bảo hiểm là th-3 lần giá trị lợi nhuận gộp hàng năm

Tuy vậy, mục đích của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không những bảo hiểm phầnlợi nhuận bị mất đi so với cùng kỳ năm trớc mà còn bồi thờng cho thêm cả phần lợinhuận họ sẽ thu đợc theo tỉ lệ tăng doanh thu bình quân năm kế tiếp Để tránh sự

đánh giá thấp của số tiền bảo hiểm, ngời ta còn phải tính đến hệ số tăng bình quân

Trang 13

doanh thu của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách so sánh nhiều nămtài chính dựa trên cơ sở kế toán tính trớc khi kí kết hợp đồng gián đoạn kinh doanh.Bằng cách đó ngời ta có thể tính đợc số tiền bảo hiểm nh sau:

Số tiền bảo hiểm = Lợi nhuận

gộp cả năm x

hệ số tăngbình quân x

thời hạn bồi thờngtính bằng tháng

(2) trách nhiệm của công ty bảo hiểm, trong mọi trờng hợp, sẽ không vợt quá :(i) Tổng số tiền bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm tơng ứng với mỗi khoản mục

đợc kê khai trong giấy chứng nhận bảo hiểm

(ii) Bất cứ trách nhiệm đợc đa ra trong giấy chứng nhận bảo hiểm hay bất cứ

số tiền bảo hiểm nào đợc sửa đổi bởi các sửa đổi bổ sung đính kèm và

đ-ợc ký xác nhận bởi công ty bảo hiểm hay ngời đại diện cho công ty bảohiểm" [2, 1]

1.2.2.2.5 Điều khoản loại trừ

"Đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không bảo hiểm cho các tổn thất do hậu quảcủa:

- Thiệt hại do thiết kế sai, khuyết tật của nguyên vật liệu hay do tay nghề kém; donhững khuyết tật ẩn tì; do sự thoái hoá dần giá trị hoặc do sự biến dạng, hao mòn tựnhiên; do việc ngừng cung cấp điện, nớc, khí đốt hay các nguồn nguyên liệu kháchay do sự h hỏng của hệ thống thải rác; do ăn mòn, gỉ; do sự thay đổi độ ẩm hay khô

Trang 14

của thời tiết; do nấm mốc mục nát; do hao hụt bay hơi, do h hại do tác động của ánhsáng, sâu bọ côn trùng; do các hành động lừa dối không trung thực

- Thiệt hại do những mất mát không giải thích đợc, những thiếu hụt do lỗi kế toán,lỗi kiểm kê, quản lý hành chính

- Thiệt hại do đổ vỡ, rạn nứt hay áp suất quá tải của nồi hơi, bình đun bằng hơi,bình hay đờng ống dò gỉ; do h hỏng trục trặc máy móc thiết bị về đo điện hay cơkhí; vỡ, tràn nớc, tháo nớc hay dò gỉ

- Thiệt hại do sự xói mòn của sông biển; sụt lở đất, lún đất

- Thiệt hại do tài sản bị biến mất, thiếu hụt khi kiểm kê trong quá trình vận chuyểnngoài khu vực đợc đề cập hoặc không rõ nguyên nhân

- Thiệt hại do thông tin bị tẩy xoá, mất mát, bóp méo trên hệ thống máy tính hoặccác chơng trình phần mềm lu trữ số liệu khác

- Thiệt hại đối với kính lắp cố định, kính và các đồ dễ vỡ khác, các máy điện toán,các thiết bị xử lý dữ liệu, máy móc thiết bị đang lắp đặt, di chuyển, tài sản đangtrong quá trình kiểm tra, lắp đặt, sửa chữa, xây dựng, xe cơ giới đang lu hành trên đ-ờng

- Thiệt hại do bất kỳ hành động cố ý hay sự cẩu thả cố tình của ngời đợc bảo hiểmhay bất kỳ ai đại diện cho họ

- Thiệt hại do hậu quả dù trực tiếp hay gián tiếp của chiến tranh, xâm lợc, cáchành động thù địch, nội chiến, binh biến, bạo động, hành động khủng bố

- Thiệt hại gây ra do ngời đợc bảo hiểm bị tớc quyền sở hữu tạm thời hay vĩnhviễn do bị tịch thu tài sản, trng dụng tài sản theo lệnh của nhà cầm quyền hợp pháp

- Thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp hoặc phát sinh từ hậu quả hay do ảnh hởng mộtphần của bất kỳ nguyên liệu vũ khí hạt nhân nào, phóng xạ ion hoá hay do ô nhiễmphóng xạ" [2, 3]

1.2.2.2.6 Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đợc tính trên cơ sở số tiền bảo hiểm do ngời đợcbảo hiểm chọn (gọi là số tiền bảo hiểm đăng ký) Để đăng ký một hợp đồng bảohiểm thiệt hại kinh doanh ngời tham gia bảo hiểm phải thông báo một loạt số liệu về

kế toán, đặc biệt là tài khoản kết quả sản xuất kinh doanh thực hiện một số năm trớc

đó Căn cứ vào tài khoản này cộng thêm với lời khai báo, hai bên thỏa thuận vớinhau về số tiền bảo hiểm (cụ thể số tiền bảo hiểm ở đây là lợi nhuận gộp) Việc thoả

Trang 15

thuận đợc số tiền bảo hiểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho công tác tính phí vìthực chất phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đợc xác định nh sau:

Phí bảo hiểm = số tiền bảo hiểm x tỉ lệ phí bảo hiểm

Tỉ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản:

- Xác suất rủi ro của nghiệp vụ bảo hiểm

- Phạm vi bảo hiểm

- Số tiền bồi thờng cho một số năm trớc đây

Tuy vậy, trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, tỉ lệ phí bảo hiểm đợc tính dựa trên

tỉ lệ phí bảo hiểm chung cho rủi ro hoả hoạn

Việc tính phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào yếu tố thời gian, cụ thể là thời hạn bồi ờng Thời hạn bồi thờng càng cao có nghĩa là trách nhiệm bồi thờng của nhà bảohiểm càng lớn, vì thế phí bảo hiểm cũng tăng tơng ứng Ví dụ, theo biểu phí BảoViệt Hà Nội hiện đang triển khai thì nếu thời hạn bồi thờng là 3 tháng thì tỉ lệ phíbảo hiểm là 50% tỉ lệ phí bảo hiểm của bảo hiểm hoả hoạn, nếu 6 tháng là 75%, nếu

th-12 tháng là 100% Tuy nhiên, thời hạn bồi thờng tăng đến một mức nhất định thì phíbảo hiểm có xu hớng giảm dần do cơ sở tính phí sẽ thay đổi

1.2.2.2.6 Thời hạn và phơng thức bồi thờng

Bồi thờng là nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm Trong bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh, rất khó xác định số tiền bồi thờng mặc dù đã có công thức xác định cách giảiquyết tổn thất đợc ghi trong nội dung đơn bảo hiểm Kế toán của ngời đợc bảo hiểmthờng tham gia xác định mức lãi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thu đợc nếu nh vụhoả hoạn hay một hiểm hoạ nào đó không xảy ra

Vấn đề bồi thờng trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khác với bồi thờng trongthiệt hại vật chất Nếu nh mục đích của bảo hiểm bồi thờng trong các đơn bảo hiểmthiệt hại vật chất là đa ngời bảo hiểm trở về vị trí giống nh trớc khi xảy ra tổn thất ,thì đối với bảo hiểm gián đoạn kinh doanh lại không hoàn toàn nh vậy Chúng ta hãyxem xét một ví dụ ngắn Một nhà sản xuất hàng phục vụ lễ Giáng Sinh.Và hiện giờhàng đang trong nhà kho chờ ngày đem bán Một vụ cháy xảy ra ở nhà kho, phá huỷhầu hết số hàng hoá phục vụ cho Giáng Sinh Nh vậy ta sẽ thấy ngay có một số nhân

tố khiến hầu nh không thể đa ngời đợc bảo hiểm trở về vị trí tài chính giống nh trớckhi xảy ra tổn thất nh nhà sản xuất đã bỏ lỡ thị trờng, mất khách hàng Vì vậy, đốivới các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, bồi thờng có thể đợc coi là một nỗ lực

đa ngời bảo hiểm trở về vị trí tài chính mà lẽ ra ngời đó sẽ phải có nếu nh tổn thấtkhông xảy ra

Trang 16

Để xác định số tiền thiệt hại lợi nhuận gộp, công thức sau thờng đợc sử dụng:

Tỉ lệ lợi nhuận gộp =

lợi nhuận đợc đảm bảoTổng giá trị các tài khoản thu nhập liênquan đến hoạt động của doanh nghiệp

Thiệt hại doanh

Thiệt hại lợi nhuận gộp cho phép ta xác định đợc số tiền bồi thờng tối đa, nhng phảitrừ đi mức miễn thờng (thờng đợc tính bằng ngày trong bảo hiểm thiệt hại kinhdoanh) "Giả định, mỗi đơn vị doanh thu bao gồm 0,6 đơn vị là chi phí mua nguyênvật liệu và các chi phí biến đổi khác, 0,3 đơn vị là chi phi cố định, 0,1 đơn vị là lợinhuận ròng Tuy nhiên, khi xảy ra tổn thất làm gián đoạn kinh doanh thì ngời đợcbảo hiểm sẽ không phải gánh chịu tổn thất của cả 1 đơn vị doanh thu đó mà sự giảmdoanh thu sẽ kéo theo việc giảm tơng ứng chi phí biến đổi, vì vậy ngời bảo hiểm sẽkhông chịu trách nhiệm đối với 0,6 đơn vị chi phí mua nguyên vật liệu và các chiphí biến đổi khác mà chỉ cần bồi thờng 0,4 đơn vị chi phí cố định và lợi nhuận ròng

là có thể đa ngời đợc bảo hiểm trở về tình trạng tài chính mà lẽ ra ngời đó có nếu

nh tổn thất không xảy ra" [5, 61] Do đó, số thiệt hại lợi nhuận gộp là số tiền bồi ờng tối đa mà ngời đợc bảo hiểm có thể nhận đợc Tuy nhiên trên thực tế, nh đãphân tích trong ví dụ trên, thì số tiền bồi thờng sẽ hiếm khi đạt đợc bằng số thiệt hạilợi nhuận gộp

th-Yếu tố thời hạn bồi thờng đợc đa vào đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khác hoàntoàn so với đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất, thời hạn bồi thờng trong bảo hiểm gián

đoạn kinh doanh đợc ghi rõ trong đơn bảo hiểm và phải do ngời đợc bảo hiểm tựchọn

Chơng 2 Thực tiễn triển khai nghiệp vụ

Trang 17

bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại công ty bảo hiểm Hà nội từ năm 1998 - 2001

2.1 Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Công ty bảo hiểm Hà Nội

2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty bảo hiểm Hà Nội

Công ty bảo hiểm Hà Nội (gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội) đợc thành lập từ năm 1980theo quyết định số 1125/QĐ-TCCB ngày 17/11/1980 của Bộ Tài chính, và trựcthuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam Nhiệm vụ chủ yếu của Bảo Việt Hà Nội là

tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thơng mại trên địa bàn thành phố Hà Nội.Trải qua 21 năm hoạt động liên tục, công ty Bảo Việt Hà Nội đã không ngừng lớnmạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Từ lúc đầu thành lập chỉ có 10 cán bộ với mộtphòng nhỏ làm trụ sở, đến nay Bảo Việt Hà Nội đã trở thành một đơn vị kinh tếmạnh với đội ngũ hàng trăm cán bộ bảo hiểm, có trụ sở chính khang trang, thành lậpcác văn phòng trực thuộc tại tất cả các quận, huyện trên địa bàn thành phố cùngmạng lới cộng tác viên, đại lý phủ kín các địa bàn dân c của thành phố, sẵn sàng đápứng mọi nhu cầu của nhân dân, trở thành một đơn vị chủ lực của Tổng công ty bảohiểm Việt Nam Theo cơ cấu tổ chức văn phòng hiện nay, song song với nhiệm vụkhai thác khách hàng, văn phòng công ty có chức năng quản lý và giám sát hoạt

động của các văn phòng địa phơng trực thuộc Bởi vậy, ngoài các phòng ban phụtrách các vấn đề tổ chức nhân sự, kế toán, , những phòng nghiệp vụ ngoài nhiệm vụtrực tiếp tiến hành kinh doanh các nghiệp vụ trên địa bàn mà công ty phân cấp còn

có chức năng giúp đỡ các văn phòng tại các quận, huyện trong việc quan hệ vớikhách hàng, cân nhắc chấp nhận bảo hiểm, phát hành hợp đồng bảo hiểm, xử lýkhiếu nại, giám định và bồi thờng

Cơ cấu tổ chức hiện nay của Bảo Việt Hà Nội đợc biểu hiện qua sơ đồ sau:Giám đốc

Phòng kiểm tra nội bộ

Phòng tổng hợp

Phòng

BH kỹ thuật

Phòng

BH cháy &

rủi ro hỗn hợp

Phòng

BH quốc phòng

Phòng giám

định bồi

th ờng

Trang 18

Trong vài năm gần đây, kinh tế xã hội của cả nớc nói chung và thủ đô nói riêng tiếptục ổn định và phát triển Đây là yếu tố thuận lợi cho công tác kinh doanh của cácdoanh nghiệp bảo hiểm nói chung và của Bảo Việt nói riêng Đợc sự quan tâm chỉ

đạo và ủng hộ của lãnh đạo Tổng công ty, sự hợp tác giúp đỡ thờng xuyên của cácphòng ban thuộc Tổng công ty, cán bộ công nhân viên của Bảo Việt Hà Nội đã từngbớc tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động cạnh tranh Hơn nữa, dù trong bất kỳ hoàncảnh nào cán bộ công ty cũng luôn đoàn kết nhất trí trên dới một lòng hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ kinh doanh của Tổng công ty và Nhà nớc giao cho Năm nào BảoViệt Hà Nội cũng hoàn thành vợt mức kế hoạch kinh doanh, đạt tốc độ tăng trởngcao về doanh số và tỷ lệ tích luỹ, đóng góp không nhỏ vào thành tích chung củaTổng công ty và của ngành bảo hiểm nói chung Đó là những dấu hiệu đáng mừng

đối với Bảo Việt Hà Nội Bên cạnh đó, hoạt động của Công ty Bảo Việt Hà Nội cũnggặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh của thị trờng bảo hiểm cao hơn những năm tr-

ớc Địa bàn thủ đô là nơi diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt không chỉ giữa các công tybảo hiểm trong nớc mà còn với công ty bảo hiểm nớc ngoài Bảo Việt Hà Nội phảicạnh tranh với các công ty khác không những về tỉ lệ phí, chi kinh doanh mà còn cảnhững yếu tố về phục vụ Việc mở rộng hoạt động của các công ty bảo hiểm nớcngoài trên thị trờng làm cho tính cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm trong nớcvốn đã gay gắt nay càng thêm khốc liệt dẫn đến việc phí bảo hiểm có xu hớng giảm,nhất là trong các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm Doanh thuphí bảo hiểm của các hoạt động này giảm đáng kể do phí bảo hiểm giảm và phảichia xẻ phí do đồng bảo hiểm Hơn nữa, trong năm 2000 và 2001, tốc độ giải ngâncác nguồn vốn đầu t cho các dự án trên địa bàn Hà Nội còn chậm làm ảnh hởng đến

kế hoạch khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng, lắp đặt

Trớc điều kiện khó khăn nh vậy, công ty đã tổ chức phục vụ tốt khách hàng để giữvững địa bàn và phát triển kinh doanh, đồng thời áp dụng linh hoạt chính sách củaNhà nớc, các quy định của Tổng công ty vào hoạt động kinh doanh Một biện phápquan trọng Bảo Việt Hà Nội đang thực hiện nhằm cải thiện, nâng cao chất lợng dịch

vụ, đảm bảo khả năng cạnh tranh là thay đổi phơng thức hạch toán kinh doanh, giaokhoán cụ thể hoạt động kinh doanh cho từng phòng, và các phòng phải có nhiệm vụtơng hỗ nhau nhằm thực hiện chỉ tiêu kinh doanh tốt hơn

Trang 19

Với phơng châm "phục vụ khách hàng là phục vụ chính mình", "đáp ứng những cáikhách hàng cần chứ không phải những gì mình có", Bảo Việt Hà Nội đã khôngngừng đổi mới phong cách làm việc để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn Vìvậy, Bảo Việt Hà Nội vẫn luôn là ngời bạn đồng hành tin cậy của khách hàng Ngoài ra, nhằm đảm bảo khả năng bồi thờng cho khách hàng và năng lực nhận bảohiểm cho các dự án đầu t lớn, hiện nay Bảo Việt Hà Nội thông qua Tổng công ty bảohiểm Việt Nam đã quan hệ với nhiều công ty tái bảo hiểm, các công ty giám định,

điều tra tổn thất có uy tín trên toàn thế giới nh Lloyd's, Commercial Union (UK),AIG, CIGNA (Mỹ), Tokyo Marine, Yasuda Mitsui Marine (Nhật), Muniche(Đức), Trong vài năm gần đây, Bảo Việt Hà Nội đã nhận đợc sự cộng tác, giúp đỡtận tình của các công ty này trong việc đánh giá, chấp nhận rủi ro, thanh tra và xử lýkhiếu nại

2.1.2 Sự ra đời và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội

Mặc dù bảo hiểm hoả hoạn là một nghiệp vụ bảo hiểm xuất hiện từ rất xa xa tronglịch sử phát triển của bảo hiểm, nhng tại Việt Nam nói chung và tại Bảo Việt Hà Nộinói riêng, mãi đến ngày 17/1/1989 nghiệp vụ bảo hiểm cháy (hay bảo hiểm hoảhoạn) mới chính thức đợc triển khai theo quyết định số 06-TC-QĐ của Bộ Tài chính.Ngay sau khi đợc triển khai, nghiệp vụ bảo hiểm này đã khẳng định ngay vai tròquan trọng của nó qua việc doanh thu phí bảo hiểm tăng đều đặn qua các năm vàngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu phí của tất cả các nghiệp vụ Bảohiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tuy là một nghiệp vụ mở rộng phạm vi của bảohiểm cháy và đóng vai trò không kém phần quan trọng so với bảo hiểm cháy nh ngthực chất nó lại không ra đời vào thời điểm bảo hiểm cháy bắt đầu đợc triển khai.Phải cho tới năm 1994, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh mới bắt đầu đợc đa vào thửnghiệm Từ khi đa vào triển khai, số đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy

do Bảo Việt Hà Nội kí đợc với khách hàng vẫn cha nhiều, chủ yếu là với các công tyliên doanh và các công ty 100% vốn nớc ngoài Hầu hết các đơn bảo hiểm đợc cấpthông qua môi giới Chúng ta có thể xem qua tỉ trọng của doanh thu bảo hiểm gián

đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội thông qua bảng sau:

Bảng 1: Tỉ trọng doanh thu bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo

Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001

Trang 20

Doanh thu bảo hiểm gián

đoạn kinh doanh sau

cháy(tr đ)

Doanh thu toàn công ty (tr đ)

Tỷ lệ doanh thu bảo hiểm gián

đoạn kinh doanh sau cháy/ doanh thu toàn công ty (%)

Nguồn số liệu: Phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp - Bảo Việt Hà Nội

Số liệu bảng 1 cho thấy tỷ lệ doanh thu bảo hiểm gián đoạn kinh doanh chiếm một

tỉ lệ rất khiêm tốn so với tổng doanh thu của Bảo Việt Hà Nội Tuy nhiên, chúng tacũng nhận thấy rằng doanh thu của nghiệp vụ này ngày càng tăng cả về số tơng đốilẫn số tuyệt đối Trong khi nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nh bảo hiểm trách nhiệmdân sự xe cơ giới, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, đang có xu hớng giảm dần doanh thukhai thác do phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các công ty bảo hiểm khácthì nghiệp vụ bảo hiểm này lại đang mang lại cho Bảo Việt Hà Nội doanh thu ngàycàng tăng hơn qua các năm triển khai Điều đó chứng tỏ bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh là một nghiệp vụ đầy tiềm năng, hứa hẹn mang lại nguồn thu không nhỏ choBảo Việt Hà Nội

Hơn thế, với mục tiêu giữ khách hàng, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàngtrong thời buổi cạnh tranh gay gắt nh hiện nay, cùng với mục tiêu tăng trởng và hiệuquả, ngoài việc củng cố, hoàn thiện, tiếp tục phát triển các nghiệp vụ truyền thống

có doanh thu cao, Bảo Việt Hà Nội đã và đang tìm cách phát triển các nghiệp vụ khókhai thác nh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy

2.2 Một số thuận lợi và khó khăn khi tiến hành triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội

2.2.1 Những thuận lợi cơ bản

Khởi xớng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Việt Nam đã thựchiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trờng dới

sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa Có thể nói đây là sự

"cởi trói" tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các đơn vị phát huy tiềm năng, thếmạnh của mình để mở rộng và thúc đẩy sản xuất phát triển Đại hội Đảng toàn quốc

VI đợc đánh giá là sự kiện làm "hồi sinh" nền kinh tế xã hội Việt Nam, một bớcngoặt của công cuộc đổi mới toàn diện đa đất nớc từ chỗ bế tắc dần dần đi vào thế

ổn định và khởi sắc Từ đó đến nay, Việt nam đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể

Trang 21

trong phát triển kinh tế xã hội nh giữ vững nền kinh tế tăng trởng và ổn định, khốngchế chỉ số lạm phát ở mức vừa phải, tăng đầu t trong nớc và nớc ngoài, tăng thu nhậpdoanh nghiệp, nâng cao đời sống ngời dân về kinh tế cũng nh về văn hoá xã hội,

Điều kiện kinh tế, xã hội càng phát triển, ngời dân không còn chỉ lo nghĩ đến cái ăn,cái mặc mà họ đã nghĩ xa hơn, đó là làm sao để có cuộc sống ổn định Đây chính lànền tảng cho ngành bảo hiểm Việt Nam phát triển

Trong vài năm gần đây, trên thế giới xảy ra không biết bao nhiêu biến động cả vềkinh tế lẫn chính trị, ảnh hởng đến nền kinh tế của hầu hết các quốc gia, đặc biệt làcác nớc phát triển cao nh Nhật, Hàn quốc, Thái Lan, Argentina, Đặc biệt vụ khủng

bố xảy ra trên nớc Mỹ vào ngày 11/9/2001 đã làm cho kinh tế của rất nhiều quốc giatrên thế giới lao đao và năm 2001 đợc đánh giá là một năm u tối trong lịch sử kinh tếthế giới Trong bối cảnh nh vậy, Việt Nam là một trong số ít quốc gia vẫn giữ đợctốc độ tăng trởng kinh tế cao trong vài năm qua, năm 2001 tốc độ tăng trởng kinh tếcủa nớc ta là hơn 6% Hơn nữa, đầu năm 2002, Việt Nam đã nhận danh hiệu "Thủ

đô Hà Nội - thành phố an ninh nhất thế giới" do UNESCO công nhận Điều đókhẳng định rằng trong khi nền kinh tế, chính trị thế giới có nhiều biến động phứctạp, rối ren thì Việt Nam vẫn là quốc gia có nền kinh tế, chính trị ổn định, tạo môitrờng an toàn thu hút đầu t Tất cả những điều đó đã tạo cơ hội thuận lợi cho ngànhbảo hiểm nớc nhà phát triển, từ việc khai thác tới việc sử dụng tạm thời nguồn vốnnhàn rỗi để đầu t Đặc biệt, khi đầu t phát triển thì nhu cầu bảo toàn vốn kinh doanhcàng đợc chú trọng và điều đó tạo cơ sở vững chắc cho bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh tồn tại và phát triển

Bên cạnh đó, do thực hiện xoá bỏ nhanh chóng cơ chế tập trung bao cấp, đổi mới cơchế quản lý, thực hiện giao vốn cho các doanh nghiệp Nhà nớc, làm cho việc bảotoàn và phát triển vốn trở nên rất khó khăn và nặng nề Đặc biệt với Thông t82/TCLN ngày 31/12/1991 hớng dẫn thực hiện Chỉ thị số 332/HĐBT của Bộ Tàichính hớng dẫn "Nhà nớc sẽ không cho ghi giảm vốn trong trờng hợp tài sản bị tổnthất do những rủi ro mà các công ty bảo hiểm trong nớc đã triển khai hoặc nhữngloại hình tơng tự" Chính vì vậy, các doanh nghiệp đã thấy đợc yêu cầu cấp thiếtphải mua bảo hiểm để tạo nguồn bù đắp cho những thiệt hại có thể xảy ra nhằm đảmbảo khả năng ổn định kinh doanh Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, với mục tiêugiúp các doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, chắc chắn sẽ nhanh chóng tìm

đợc chỗ đứng của mình nếu công ty bảo hiểm biết khai thác triệt để nghiệp vụ nàytrong nền kinh tế cạnh tranh nh hiện nay

Hơn nữa, việc ra đời Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 cùng các Nghị định, Thông tnhằm cụ thể hoá và hớng dẫn thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm đã tạo cơ sở pháp

Trang 22

lý cho hoạt động bảo hiểm đợc thực hiện qui củ hơn, tránh đợc nhiều hiện tợng tiêucực trong hoạt động bảo hiểm nh trớc Đặc biệt với việc Bộ Tài chính thông quaThông t số 71/2001/TT-BC ngày 28/8/2001 qui định tỉ lệ chi hoa hồng cho từngnghiệp vụ bảo hiểm chỉ trong hạn mức cho phép đã tránh tình trạng nổi cộm tronghoạt động bảo hiểm trớc đây, đó là hiện tợng trả hoa hồng cao quá mức dẫn đếnnguy cơ không đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các công ty bảo hiểm Nói cáchkhác, sự ra đời của Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hớng dẫn đã tạo ra mộtmôi trờng pháp lý thuận lợi cho hoạt động bảo hiểm

Ngoài ra, cùng với sự trởng thành của công ty qua nhiều năm hoạt động trong thị ờng cạnh tranh, đội ngũ cán bộ công nhân viên đã có nhiều cơ hội để tự hoàn thiệnchuyên môn cũng nh phong cách làm việc nhằm đáp ứng xu thế phát triển chung.Bảo Việt Hà Nội trong những năm đổi mới, song song với việc đào tạo lại cán bộ,

tr-đã và đang tuyển dụng đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nhanh nhạy với cơ chế thịtrờng Chủ trơng phát triển nhân tố con ngời của Bảo Việt Hà Nội có thể đợc coi làmột chủ trơng hoàn toàn đúng đắn trong tình hình hiện nay giúp cho hoạt động kinhdoanh bảo hiểm tiến những bớc xa hơn

Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng thị trờng bảo hiểm Việt Nam rất có nhiềutiềm năng phát triển Đây là cơ hội tốt nhất cho công ty Bảo hiểm Hà Nội triển khaicác nghiệp vụ bảo hiểm của mình trên địa bàn thủ đô, một trung tâm kinh tế quantrọng nhất của đất nớc, và các khu vực lân cận Kinh tế và hoạt động kinh doanhcàng phát triển sẽ là điều kiện thuận lợi để công ty phát triển các nghiệp vụ bảohiểm cha mấy phổ biến, trong đó có bảo hiểm gián đoạn kinh doanh

Mặc dù có những thuận lợi nh vừa đề cập ở trên, nhng nhìn chung ngành bảo hiểmnớc ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn

ăn thua lỗ, không có hiệu quả, dẫn đến phá sản, tạo gánh nặng cho một nền kinh tế

đang yếu kém Hơn thế, khi chuyển sang cơ chế mới, lãnh đạo một số đơn vị, xínghiệp do mang nặng t tởng bao cấp cũ, họ cha thấy rõ đợc trách nhiệm phải bảotoàn vốn tốt nhất bằng con đờng tham gia bảo hiểm Một số đơn vị kinh doanh khácthì mặc dù đã nhận thức rõ đợc những khó khăn, phức tạp trong việc bảo toàn đồng

Trang 23

vốn kinh doanh của mình sao cho an toàn nhất nhng họ lại không có những hiểu biếtnhất định về việc kinh doanh bảo hiểm và họ cảm thấy bi quan, không tin tởng vàohoạt động của các công ty bảo hiểm nên chỉ tham gia một cách dè dặt hoặc khôngdám tham gia bảo hiểm.

Mặt khác, về phía công ty bảo hiểm, do bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy làmột nghiệp vụ mới, công việc xác định chính xác số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm,

số tiền thiệt hại về lợi nhuận gộp là rất khó khăn, nên trong quá trình khai thác rấtkhó cho cán bộ bảo hiểm giải thích cho khách hàng hiểu và tin tởng vào loại hìnhbảo hiểm này Thêm vào đó, tuy công ty bảo hiểm Hà Nội có một đội ngũ cán bộkhá đông đảo nhng trình độ chuyên môn lại không cao so với các công ty bảo hiểmkhác Điều này đã đợc minh chứng rất rõ trong nhiều vụ nhân viên t vấn sai chokhách hàng mua nhầm loại bảo hiểm đã gây khó khăn cho công tác bồi thờng khixảy ra tổn thất, gây nghi ngờ cho khách hàng Đối với bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh thì vấn đề còn khó khăn hơn rất nhiều vì tính trừu tợng thể hiện trong loại bảohiểm này cao hơn rất nhiều so với các loại bảo hiểm khác

Một khó khăn nữa phải kể đến là hoạt động bảo hiểm gián đoạn kinh doanh saucháy ra đời đúng thời kỳ Chính phủ mới ban hành Nghị định 100/CP ngày18/12/1993 và tiếp sau đó là Nghị định 74/CP ngày 14/6/1997 cho phép nhiềudoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế kể cả doanh nghiệp nớc ngoài tham giakinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, phá vỡ thế độc quyền của Bảo Việt Vì vậy,nghiệp vụ này từ khi mới ra đời đã phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của cáccông ty bảo hiểm trong và ngoài nớc Hơn nữa, hầu hết các hợp đồng bảo hiểm gián

đoạn kinh doanh mà Bảo Việt Hà Nội kí đợc từ trớc tới nay đều khai thác đợc từ đốitác liên quan đến nớc ngoài là chủ yếu Các công ty bảo hiểm nớc ngoài hoạt độngtại Việt Nam đã và đang giành giật số khách hàng này về phía họ bằng lợi thế vềngôn ngữ, bề dày kinh nghiệm cũng nh khả năng tài chính khổng lồ của các công tybảo hiểm đó Điều đó đặt ra thách thức lớn cho Bảo Việt Hà Nội cần phải đổi mới tduy, cung cách phục vụ khách hàng tốt hơn thì mới có khả năng cạnh tranh trongviệc khai thác nghiệp vụ bảo hiểm đầy tiềm năng nh nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạnkinh doanh sau cháy

2.3 Thực trạng tình hình thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội

Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, công ty Bảo Việt Hà Nội triển khai hoạt độngcủa mình trên tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm theo các khâu truyền thống nh sau:

 Khâu khai thác

 Khâu đề phòng và hạn chế tổn thất

Ngày đăng: 06/09/2012, 18:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình dới đây miêu tả tổn thất về doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêm trọng - BH Gián đoạn KD tại BV HN
Hình d ới đây miêu tả tổn thất về doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêm trọng (Trang 7)
Bảng 2: Kết quả khai thác của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau - BH Gián đoạn KD tại BV HN
Bảng 2 Kết quả khai thác của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau (Trang 24)
Bảng 4: Thực tế bồi thờng của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau - BH Gián đoạn KD tại BV HN
Bảng 4 Thực tế bồi thờng của nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau (Trang 30)
Bảng 5: Tình hình chi kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn - BH Gián đoạn KD tại BV HN
Bảng 5 Tình hình chi kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w