Qua các xét nghiệm CĐHA phần nào có thể định hướng được tính chất của u tụy thể nang thông qua đánh giá vị trí, kích thước và tính chất dịch và vỏ nang nhưng bản chất của nang chỉ được c
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương nang tụy rất đa dạng về vị trí, cấu trúc, giải phẫu bệnh… gây nhiều khó khăn về điều trị U tụy thể nang ít gặp trên lâm sàng, nó chiếm 10% các nang tụy nói chung và khoảng 1% các u tụy Đại đa số các tổn thương nang không có triệu chứng Theo nghiên cứu của Ferrone đăng trên tạp chí Arch surg năm 2009 thì số lượng BN mắc u tụy thể nang mà không có triệu chứng chiếm đến 71%, tác giả không thấy có sự khác biệt giữa nhóm có triệu chứng lâm sàng và nhóm không có triệu chứng về tuổi, kích thước nang và tiền sử bệnh trước đó Thường các BN được phát hiện bệnh do tình cờ hoặc ở giai đoạn muộn khi có các biểu hiện như: đau, vàng da, sờ thấy u, gầy sút cân…[1] [2] [3] [4]
Chẩn đoán được bản chất nang trước mổ vô cùng khó mặc dù có các phương tiện chẩn đoán hiện đại Ngày nay cùng với sự phát triển của CĐHA như siêu âm, CT, MRI, siêu âm nội soi, các tổn thương dạng nang được chẩn đoán dễ dàng hơn Qua các xét nghiệm CĐHA phần nào có thể định hướng được tính chất của u tụy thể nang thông qua đánh giá vị trí, kích thước và tính chất dịch và vỏ nang nhưng bản chất của nang chỉ được chẩn đoán nhờ giải phẫu bệnh và thường là sau phẫu thuật [5] [6] [7] [8]
Giải phẫu bệnh của u tụy thể nang cũng rất phức tạp, phong phú, có nhiều cách phân loại U tụy thể nang có thể có loại lành tính, có loại ác tính,
có loại khó phân định lành tính ác tính nhưng có khả năng tiến triển ác tính Không có nhiều nghiên cứu về vấn đề này và còn nhiều ý kiến tranh cãi [9]
Vì có khả năng tiến triển ác tính nên việc cân nhắc thái độ điều trị rất quan trọng Phẫu thuật là phương án được lựa chọn khi u có kích thước lớn hoặc có các biến chứng Các phương pháp phẫu thuật sẽ phụ thuộc vào vị trí
u, kích thước u và mức độ xâm lấn, di căn sang các tổ chức lân cận và các tổ chức khác [1] [10]
Trang 2Năm 1978 Compagno và Oertel mô tả u tụy thể nang chỉ gồm có hai thể
là nang thanh dịch và u nang nhầy Sau đó Osahi và cộng sự phát hiện ra một thể mới là u nhầy thể nhú trong ống tụy Sau đó Tổ chức Y tế thế giới công nhận u nhầy thể nhú trong ống tụy là thể mới thứ phát sau u nang nhầy hoặc
do tác động của môi trường [3] Theo báo cáo của Panmucci và cộng sự năm
2014 tổn thương nang tụy bao gồm một chuỗi lớn các tổn thương từ các nang thật đến các tổn thương nang do thoái hóa U tụy thể nang chiếm khoảng 1%
u tụy và chỉ có 1% u tụy thể nang là u ác tính U nang thanh dịch, u nang nhầy, u nhầy thể nhú trong ống tụy và u đặc giả nhú chiếm tới 90% các khối u tụy thể nang [11]
Tại Việt Nam các nghiên cứu về u tụy thể nang còn rất hạn chế Tác giả Nguyễn Duy Huề viết về u nang tụy nhưng trên phương diện của chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, CT hay MRI [12] Gần đây nhất năm 2012 có đề tài luận văn tốt nghiệp nội trú của Nguyễn Trường Giang về u đặc giả nhú của tụy [13] Nhưng đó cũng chỉ là một trong số rất nhiều các tổn thương của u tụy dạng nang Theo Lê Tư Hoàng và cộng sự nghiên cứu trong 2 năm từ (2010-2011) tại BV Việt Đức có 22 BN được chẩn đoán u tụy thể nang và được phẫu thuật [5] Tại bệnh viện Việt Đức hàng năm có khoảng trên 10 BN được chẩn đoán u tụy thể nang và được điều trị bằng phẫu thuật Do bệnh lý ít gặp, ít có nghiên cứu sâu nên chẩn đoán và thái độ xử trí còn gặp nhiều khó khăn Nhằm tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả sớm phẫu thuật u tụy thể nang tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức từ năm
2010 đến 2014”
Với mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u tụy thể nang
2 Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật u tụy thể nang tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức từ năm 2010 đến năm 2014
Trang 3CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Giải phẫu tụy
Tụy là một tuyến thuộc bộ máy tiêu hóa nằm sau phúc mạc hình “Pistol” nặng trung bình 85gr và dài 12-15cm [14] [15] Nằm giữa tá tràng bên phải và lách bên trái, vắt ngang trước cột sống hơi chếch lên trên sang trái, một phần lớn ở tầng trên đại tràng ngang và một phần nhỏ ở tầng dưới, nó được xem như là cố định Do phát triển đi lên trong mạc treo vị sau, lên khi trưởng thành tụy đã nằm ở sau túi mạc nối và sau dạ dày, trong vùng thượng vị và vùng hạ sườn trái Tụy trông như cái búa dẹt, là tuyến duy nhất được chia ra làm 4 phần: đầu tụy, cổ tụy, thân tụy và đuôi tụy [16]
Hình 1.1: Tụy và các tạng liên quan [17]
Trang 41.1.1 Đầu tụy
Đầu tụy dài 4cm, rộng 7cm, cao 3 cm Nó nằm tương ứng với đốt sống thắt lưng thứ 2 ở giữa hoặc hơi lệch sang bên phải Đầu tụy được treo vào gan cùng với tá tràng bởi dây chằng gan – tá tràng Dây chằng này là ranh giới giữa đầu tụy và cổ tụy Phía trước là động mạch tá tràng, phía sau là đường nối từ tĩnh mạch cửa phải trên và tĩnh mạch mạc treo tràng trên dưới Đầu tụy dẹt có 2 mặt trước và sau Mặt trước liên quan tới rốn và bờ giữa của thận phải, tĩnh mạch thận phải, tĩnh mạch chủ dưới, nơi đây còn có tĩnh mạch thượng thận phải, trụ phải của cơ hoành và ống mật chủ nằm phía sau đầu tụy thành một rãnh
1.1.2 Móc tụy
Là phần nở to ra của phần thấp phía mặt sau đầu tụy, nó nằm trước tĩnh mạch cửa, và tĩnh mạch mạc treo tràng trên Trên lát cắt dọc móc tụy nằm giữa động mạch mạc treo tràng trên và động mạch chủ
1.1.3 Cổ tụy
Cổ tụy dài 1,5-2cm nó thường nằm trước đốt sống lưng thứ nhất, cố định bởi tĩnh mạch thân tạng ở trên và tĩnh mạch mạc treo tràng trên ở dưới Phía trước cổ tụy được môn vị che phủ một phần Mặt sau là tĩnh mạch cửa được tạo lên bởi hợp lưu tĩnh mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch lách tràng
1.1.4 Thân tụy
Hình lăng trụ có mặt trước, sau, trên và dưới, 2 bờ trên và dưới Thân tụy nằm ở vị trí đốt sống lưng 1 và được bao phủ phía trước bởi 2 lá sau của mạc nối nhỏ, nó cũng liên quan đến đại tràng ngang Động mạch đại tràng giữa tách ra từ đáy bờ dưới tụy chạy giữa 2 lá của mạc treo đại tràng
1.1.5 Đuôi tụy
Nằm ngang mức đốt sống thắt lưng L2 Là phần di động nhất của tụy Phần tận cùng đuôi tụy liên quan mật thiết với rốn lách cùng với động mạch
và tĩnh mạch lách Đuôi tụy được phủ bởi 2 lớp của mạc chằng lách thận
Bóng Vater là đoạn nở to ra của phần hợp nhất giữa OMC và ống tụy tới Papilla Giải phẫu của bóng Vater có thể thay đổi Sự thay đổi này bắt nguồn từ bào thai
Trang 5 Hệ thống cơ thắt Oddi là một hệ thống cơ gồm: Cơ thắt trơn trên, cơ thắt dưới, cơ thắt bóng và cơ thắt trơn ống tụy Vai trò chính của hệ thống cơ thắt này là chống trào ngược hệ dịch tiêu hóa vào đường mật tụy
Ống tụy: Gồm ống tụy chính (Wirsung) và ống tụy phụ (Santorini) Hai ống có thể đi riêng rẽ đổ vào 2 Papilla cũng có thể hợp với nhau rồi đổ chung
và một Papilla Sự không thông thương giữa OTC và OTP chiếm khoảng 10%, đôi khi người ta còn thấy có 3 Papilla
Hệ thống mạch máu tụy:
Hình 1.2: Hệ thống động mạch tụy[16]
+ Động mạch: Tụy được nuôi bởi động mạch thân tạng và động mạch
mạc treo tràng trên Đầu tụy được cấp máu giàu hơn thân và đuôi tụy, cổ tụy
là nơi được cấp máu ít nhất Động mạch tá tụy là động mạch lớn nhất cấp máu cho vùng đầu tụy tách ra từ động mạch vị tá tràng, động mạch vị tá tràng tách
ra từ động mạch gan chung bắt nguồn từ động mạch thân tạng Động mạch mạc treo tràng trên cho ra 2 nhánh là động mạch tá tụy dưới trước và sau liên
Trang 6tiếp nối với tá tụy trên trước và sau hình thành nên cung mạch cho đầu tụy Ngoài ra tụy còn được nuôi bởi các động mạch như: Động mạch thân tụy, động mạch tụy dưới, các nhánh của động mạch lách và động mạch đuôi tụy
+ Hệ tĩnh mạch tụy
Hình 1.3: Hệ thống tĩnh mạch và bạch huyết tụy [18]
Nói chung tĩnh mạch tụy thường hay đi song song với động mạch và nằm nông hơn động mạch nhưng cả hai đều nằm sau ống tụy Hệ tĩnh mạch tụy dẫn máu về tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch màng treo tràng dưới
Như vậy xét về phương diện giải phẫu ngoại khoa, tụy có thể chia làm 2 phần cơ bản, phần bên phải động mạch chủ là phần nguy hiểm – vùng bên trái động mạch chủ là vùng an toàn (Nền tảng của nhận xét này là sự liên quan của tụy với các mạch máu lớn)
+ Hệ bạch huyết của tụy:
Hệ bạch huyết của tụy rất phong phú nối với nhau thành lưới đổ về những kênh chính chạy dọc theo bề mặt tuyến và khoang liên thùy cùng với hệ mạch
Trang 7máu chúng đổ về 5 hệ hạch chính: Hạch trên, hạch dưới, hạch trước, hạch sau
và hạch lách
+ Thần kinh chi phối tụy:
Tụy được chi phối bởi hai hệ: Hệ giao cảm gồm các sợi tách ra từ thần kinh hoành và hệ phó giao cảm tách ra từ dây X
Cấu trúc vi thể của tụy [Microscopic Anatomy]
Hình 1.4: Hình ảnh vi thể một đảo tụy và nang tuyến xung quanh [17]
+ Chùm nang tụy: Là tổ chức liên kết tinh tế gồm những tiểu thùy ngăn cách nhau bởi những vách, mỗi tiểu thùy chứa một số nang chế tiết Nang chế tiết tạo lên bởi những tế bào nang tiết hình núm và tế bào ống dẫn dẹt mở vào trung tâm nang Những ống trung tâm nang nối với nhau đổ về ống gian tiểu thùy ở vách liên kết rồi đổ vào ống tụy Tế bào nang tụy chứa nhiều mạng hệ lưới nội nguyên sinh phong phú, bộ máy golgi phát triển và nhiều hạt chế tiết + Đảo tụy: Tế bào đảo tụy nằm rải rác giữa các nang tụy, chúng không tiếp nối với hệ ống tụy Đó là tiểu đảo Langerhan, tiểu đảo nằm độc lập với nang chế tiết bởi hệ thống lưới sợi xơ mảnh và được phân bố giàu mạch máu các tế bào nội mạch mao mạch của nó có cửa sổ Tiểu đảo tụy có kích thước
từ 75-100mm, tụy có khoảng 1 triệu đảo chiếm 1-2% trọng lượng tụy
Trang 81.2 Sinh lý tụy [19] [20]
Tụy là một tuyến vừa ngoại tiết và nội tiết
+ Tụy ngoại tiết:
Tụy ngoại tiết chế tiết ra dịch tụy, một chất lỏng kiềm tính, gồm các loại muối Canxi, Natri và các enzym: protease, amylase, và lipase, những enzym tiêu hóa ba loại chất dinh dưỡng: protein, carbohydrate và lipid Những enzym tiêu protein tạo thành 70% enzym trong dịch tụy (kể cả trypsin, chymotrypsin và elastase) Enzym amylase của tụy thủy phân tinh bột và glycogen thành dissacharid Enzym lipase của tụy làm các triglycerid chuyển thành những acid béo và glycerol
Amylase và lipase được tụy chế tiết dưới dạng hoạt động còn những enzym tiêu protein được chế tiết dưới dạng những tiền chất chưa có khả năng hoạt động Do đó, trong ruột non, enterokinase của niêm mạc ruột chuyển chất trypsinogen thành trypsin là enzym có khả năng hoạt động Đồng thời, chất trypsin đến lượt mình có khả năng hoạt hóa tất cả những tiền enzym tiêu protein khác
Các enzym của tụy khi vẫn còn ở trong tế bào của nang đều được bao bởi một màng, nghĩa là chúng vẫn ở dạng tiền enzym không hoạt động, do đó không gây tổn thương cho tụy Nhưng trong điều kiện bệnh lý, các tiền enzym
có thể chuyển thành enzym hoạt động Các enzym này có khả năng tiêu hủy ngay chính bản thân tuyến tụy
+ Tụy nội tiết [20]:
Sản phẩm chính của tụy nội tiết là insulin, một polypeptid gồm 51 acid amin Insulin là loại hormon rất quan trọng, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến chức năng của hầu hết các cơ quan, làm giảm đường huyết do ảnh hưởng đến sự vận chuyển glucose qua màng của nhiều loại tế bào, đặc biệt là
tế bào cơ, tế bào gan, tế bào mỡ
Trang 9Khi insulin liên kết với màng bào tương của tế bào, sẽ làm tăng khả năng xâm nhập của glucose vào bào tương của tế bào Hiện tượng glucose dễ dàng vào trong tế bào một mặt làm tăng nguồn năng lượng cần thiết cho sự hoạt động của các tế bào, mặt khác giúp cho sự chuyển hóa trong tế bào diễn ra bình thường Trong tế bào, insulin nhanh chóng được phosphoryl hóa dẫn đến kết quả tăng tích lũy glucose trong tế bào và đồng thời làm nồng độ glucose trong máu giảm Glucose trong tế bào sẽ được tích lũy dưới dạng glycogen
Chất glucagon có tác dụng ngược lại với insulin, nghĩa là làm cho nồng
độ glucose trong máu tăng Có lẽ glucagon làm tăng hoạt tính của enzym phosphorylase trong gan khởi động khả năng chuyển glycogen dự trữ trong tế bào thành glucose và giải phóng glucose vào máu
1.3 Các nghiên cứu về u tụy thể nang
Trang 10- Gầy sút cân: triệu chứng ít gặp và thường có tiên lượng xấu triệu chứng hay gặp trong các tổn thương ác tính Tỉ lệ gặp trong nghiên cứu của
Lê Tư Hoàng là 31,8% Của Le Borgne đối với u thanh dịch thì tỉ lệ gầy sút chỉ là 4/170 còn đối với nang nhầy là 6/150 nhưng với nang ác tính thì tỉ lệ này lên tới 13/78
- Vàng da: Bản thân u tụy thể nang không gây vàng da Dấu hiệu vàng da chỉ xuất hiện khi có chèn ép OMC Với các u vùng đầu tụy thì nguy cơ vàng cao hơn Theo Lê Tư Hoàng thì tỉ lệ này chỉ gặp trong 4.5%, theo Le Borgne thì tỉ lệ vàng da tăng cao trong u ác tính Với u nang thanh dịch tỉ lệ trong nghiên cứu của ông chỉ là 7/170, đối với nang nhầy là 4/150, còn u nang ác tính tỉ lệ gặp 32/78
- Viêm tụy cấp: trong nghiên cứu của Lê Tư Hoàng không thấy đề cập đến nhưng theo Le Borgne thì tỉ lệ gặp viêm tụy cấp không nhiều 14/398
- Không có triệu chứng: trong nghiên cứu của Le Borgne tỉ lệ không có triệu chứng lâm sàng là 72/398 Còn theo nghiên cứu của R Ferrone tỉ lệ BN
BN phát hiện ngẫu nhiên là 71%
- Bệnh phối hợp Trong nghiên cứu của Le Borgne cho thấy các BN u tuy thể nang tụy có một số bệnh kèm theo như Đái tháo đường, Tăng huyết áp, ung thư cơ quan khác 26/398 BN có ĐTĐ, 27/398 BN có THA, 38/398 BN
có u cơ quan khác
- Chúng tôi không tìm được nghiên cứu nào thống kê về tỷ lệ gặp các triệu chứng toàn thân khác như gan lách to, hạch to, thiếu máu, phù trong bệnh u tụy thể nang trên thế giới cũng như tại Việt Nam
Trang 11- Vị trí u:
Bảng 1.1: Phân bố vị trí u nang theo một số nghiên cứu
+ Siêu âm [12] [21]:
Tụy là tạng nằm sâu trong ổ bụng có các tạng rỗng bao quanh nên việc thăm dò tụy bằng siêu âm gặp nhiều trở ngại Tuy nhiên siêu âm là phương tiện CĐHA phổ biến và dễ thực hiện ở mọi cơ sở y tế Là xét nghiệm thường quy của tất cả các BN bị đau bụng, vàng da hay khám sức khỏe định kì Siêu âm là
sự lựa chọn đầu tiên để đầu tiên phát hiện tổn thương, định hướng cho các biện pháp tiếp theo Qua siêu âm có thể xác định được vị trí nang, tính chất dịch, thành nang dày hay mỏng Đối với siêu âm Doppler còn có thể xác định tăng sinh mạch quanh u Nhưng kết quả phụ thuộc nhiều vào máy móc, trình độ bác sỹ…[22]
- U nang tuyến thanh dịch: Gặp khoảng 30% trong các u tụy thể nang Có thể thấy u nang tuyến thanh dịch ở mọi vị trí của tụy nhưng hay gặp ở thân và đuôi Hình ảnh trên SÂ là thấy các nang nhỏ trong trung tâm, các nang lớn ngoại
Trang 12vi Kích thước thường nhỏ hơn 5cm, trung bình khoảng 2,5-3cm Nhiều vách ngăn, trung tâm xơ hóa Dịch trong nang là thanh dịch hoặc chảy máu
- Nang tuyến nhỏ thanh dịch:
Gồm nhiều nang nhỏ, thông thường trên 6 nang nhỏ Mỗi nang nhỏ kích thước từ 0,1–2cm Các khối không đều, chủ yếu tăng âm, vôi hóa trung tâm Nang lớn hơn ở ngoại vi
Hình 1.5: Hình ảnh siêu âm nang tuyến nhỏ thanh dịch tụy [12]
- Nang tuyến thanh dịch khổng lồ
Đây là tổn thương hiếm gặp, có thể 1 nang hay nhiều nang nhưng ít nang và nang lớn hơn nang tuyến nhỏ Dễ nhầm lẫn với u nang nhầy hoặc nang giả tụy
Hình 1.6: Hình ảnh siêu âm u nang tuyến khổng lồ [21]
Trang 13- U nang tuyến và ung thư nang tuyến dịch nhầy
U nang tuyến nhầy là nang đơn độc hoặc một vài nang Kích thước lớn 6-35cm thường có vị trí ở thân và đuôi, trên siêu âm có thể thấy thành dầy và không thông với ống tụy trừ trường hợp dò với ống tụy Dịch trong nang thường là dịch nhầy, chảy máu hay hoại tử Đặc trưng của u nang nhầy là có
nụ sùi trong nang Thành nang gồm 2 lớp, lớp trong là lớp chế nhầy, lớp ngoài
là lớp vỏ có thể có vôi hóa
Hình 1.7: Hình ảnh u nang nhầy [12]
- U nhú dịch nhầy trong ống tụy
Hay gặp ở nam giới trung niên Hình ảnh giãn ống tụy khu trú, tăng sinh
tổ chức, tăng âm trong ống tụy giãn
Hình 1.8: U nhú dịch nhầy trong ống tụy [12]
Trang 14- U đặc giả nhú
U đặc giả nhú hay gặp ở phụ nữ trẻ, có thể gặp ở mọi vị trí của tụy, Trên siêu âm hình ảnh đặc trưng của khối u có kích thước lớn từ 6-15cm, ranh giới rõ, đồng nhất hoặc không, chứa thành phần đặc và nang thể hiện bằng những vùng cản âm và trống âm Thành phần đặc của u có thể thay đổi từ tăng âm, đồng âm tới giảm âm tương ứng với mức độ hoại tử chảy máu và thoái hóa dạng nang Thành phần nang là những vùng trống âm kèm theo có tăng âm ở mô tụy phía sau Tuy nhiên đôi khi trên siêu âm chỉ thấy thành phần đặc mà không thấy hình ảnh nang dịch nhất là với u có kích thước nhỏ dù trên vi thể u vẫn có thoái hóa nang và chảy máu trong u Siêu âm cũng có thể thấy nốt canxi hóa trong u
Hình 1.9: Hình ảnh siêu âm u đặc giả nhú [12]
Độ tin cậy của siêu âm đạt 63-78% có khi đến 93%
+ CT scanner [12] [23] [24] [25] [26] [27]:
Đây là phương tiện CĐHA được sử dụng thường xuyên nhất để khẳng định chẩn đoán và quyết định phẫu thuật Trên phim chụp có thể xác định được vị trí của u nang, số nang, tính chất dịch , thành nang dày hay mỏng, độ bắt thuốc cản quang, liên quan với các tạng xung quanh [28] [29].Sau đây là hình ảnh CT của một số u tụy thể nang
Trang 15- U nang xơ: Trên CT là các nang có thành mỏng, tỉ trọng dịch trong nang bằng tỉ trọng dịch Hay gặp trên các BN bị bệnh Hippen Lindau, kèm với là các nang xơ ở gan và thận
Hình 1.10: CT nang xơ (nang tụy, nang thận, nang gan) [22]
- U tuyến nhỏ thanh dich
Hình ảnh khối giảm tỉ trọng (<20 HU), hình ảnh tổ ong sau tiêm cản quang, có thể có vôi hóa trung tâm Có các vách xơ, như các khối rắn nêu nang nhỏ dễ nhầm với các u nang thần kinh trên hình ảnh cắt ngang Trên MRI có thể phân biệt dấu hiệu này tốt hơn
Hình 1.11: CT u tuyến nhỏ thanh dịch [12]
Trang 16- U nang tuyến và ung thư nang tuyến dịch nhầy
Nang đơn độc hoặc một vài nang, thành dày, có nụ sùi và vách ngăn trong nang, vôi hóa ngoại vi
Hình 1.12: CT u nang tuyến và ung thư nang tuyến dịch nhầy [12]
- U nhú dịch nhầy trong ống tụy
Hình ảnh giãn ống tụy nếu u ở vùng đầu tụy, giãn ống tụy khu trú nếu u ở vùng thân tụy, tăng sinh tổ chức, tăng âm trong ống tụy giãn Kèm theo là hình ảnh viêm tụy cấp thứ phát, đây là hậu quả tất yếu của u nhầy nhú ống tụy
Hình 1.13: CT u nhú dịch nhầy trong ống tụy [12]
Trang 17- U đặc giả nhú
Hình ảnh đặc trưng của u đặc thể giả nhú trên CT là một khối tròn kích thước lớn, bờ rõ nét Thành phần của u thay đổi từ hỗn hợp đặc và nang, tới đặc đơn thuần, hoặc nang đơn thuần, phụ thuộc vào mức độ hoại
tử chảy máu trong u Thành phần đặc có thể đồng tỷ trọng hoặc giảm tỷ trọng so với nhu mô lành Có thể có nốt vôi hóa trong thành phần đặc của
u Tỷ trọng của thành phần nang cao hơn tỷ trọng của nước do có các sản phẩm thoái hóa của máu Sau khi tiêm thuốc cản quang thành phần đặc ở ngoại vi của u ngấm thuốc nhanh và không đồng nhất ở thì động mạch, tăng dần ở thì tĩnh mạch, trong khi thành phần nang hoại tử chảy máu ở trung tâm thì không ngấm thuốc
Trang 18hiện được ở các cơ sở y tế, trung tâm lớn và hình ảnh trên CT cũng có độ tin cậy và chẩn đoán cao lên MRI chưa được sử dụng nhiều
- U nang thanh dịch
Trên MRI u nang thanh dịch là một cụm các nang nhỏ trong tuyến tụy, không có sự thông thương với ống tụy, các nang hiển thị tín hiệu dịch trên T2W, vách xơ mỏng giữa chúng làm tăng độ tương phản
Hình 1.15: MRI u nang thanh dịch [29]
- U nang nhầy
Trên MRI u nang nhầy là một nang đơn độc hoặc là các tổn thương có vách ngăn thành dầy, tăng độ tương phản Dịch trong nang đồng nhất, thấp cường độ tín hiệu trên T1, cao cường độ ở T2
Trang 19Hình 1.16: MRI u nang nhầy[29]
- U nhầy thể nhú trong ống tụy
MRI có giá trị hơn CT trong u nhầy thể nhú trong ống tụy do phân biệt ống tụy tốt hơn MRI cho phép quan sát dọc ống tụy hoặc một phần ống khu trú đối với từng loại u nhầy thể nhú Phân biệt với viêm tụy mạn tính tiến triển
do cũng mất tín hiệu trên T1, giãn nhiều nhánh trên T2W
- U đặc giả nhú
Hình ảnh nang của u đặc giả nhú là sự thoái hóa thứ phát của khối u Tăng tín hiệu trên T2 giống tính chất dịch và tăng tín hiệu các thành phần mô mềm trông u Đây là dấu hiệu phân biệt u nang thanh dịch, u nang nhầy
Hình 1.17: MRI u đặc giả nhú [13]
Trang 20+ Siêu âm nội soi [22] [30] [31] [32]:
Siêu âm nội soi (SANS) là xét nghiệm có xâm lấn và là xét nghiệm duy nhất có thể chẩn đoán được bản chất u nang trước mổ SANS ngày càng được
sử dụng nhiều để chẩn đoán phân biệt u nang lành tính, tiền ác tính và ác tính Xác định bản chất u nang sẽ quyết định đến thái độ điều trị, theo dõi hay chỉ định phẫu thuật với các u chưa có biến chứng, các u được phát hiện tình cờ Với các u nang nhỏ có kích thước <2cm sẽ khó có thể đánh giá được các thương tổn trên CT hay MRI nhưng SANS lại có thể đánh giá các u nang nhỏ rất tốt
Nội soi dạ dày tá tràng đơn thuần thường chỉ cho thấy hình ảnh khối từ tụy đè đẩy vào dạ dày tá tràng nhưng siêu âm qua nội soi ngoài đánh giá nang
có thể giúp chọc hút dịch nang tụy để xét nghiệm (amylaza, CEA, CA19-9…)
và sinh thiết, có thể coi như tiêu chuẩn vàng chẩn đoán trước mổ Ngoài ra qua nội soi có thể chụp ống tụy ngược dòng để đánh giá sự thông thương giữa nang và ống tụy [6] [33] [30] [34]
Ngoài việc chẩn đoán nội soi siêu âm còn có thế là một phương tiện điều trị Theo tác giả Siriboon Attasaranya và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 48
BN Thực hiện chọc hút qua nôi soi siêu âm có kết quả tốt Các BN đều giảm các triệu chứng như đau bụng, sút cân, vàng da hay viêm tụy
Hình 1.18: Nội soi siêu âm chẩn đoán
Trang 21+ Xét nghiệm Tumor Marker [2]:
Các Tumor Marker được chỉ định làm thường quy là CEA, CA19-9, AFP
CEA (Carcinoembryonic antigen) là một protein được tìm thấy trong nhiều loại tế bào, liên quan đến các khối u và thai nhi đang phát triển
Giá trị bình thường của CEA là nhỏ hơn 2,5ng/ml đối với người không hút thuốc lá là nhỏ hơn 5ng/ml đối với người hút thuốc lá CEA có thể tăng trong các khối u lành tính, người hút thuốc, viêm tụy, viêm ruột, xơ gan… nhưng không tăng quá 10ng/ml
CEA được sử dụng trong chẩn đoán các ung thư, đặc biệt là ung thư đường ruột như ung thư đại tràng, trực tràng, tuyến tụy, dạ dày, vú, phổi, tuyến giáp, buồng trứng Nếu CEA lớn hơn 20ng/ml trước khi điều trị có liên quan đến ung thư đã có di căn
CEA còn có giá trị trong theo dõi tiến triển và tái phát của ung thư, có giá trị đối với các ung thư biểu mô và bào thai đang phát triển
CA19-9 (cancer antigen 19-9) là một kháng nguyên ung thư tồn tại trên bề mặt của một số tế bào ung thư nhất định
Giá trị bình thường của CA19-9 nhỏ hơn 37 U/ml CA19-9 tăng trong 70% ung thư tụy tiến triển nhưng nó cũng có thể tăng trong một số ung thư khác như ung thư đại trực tràng, phổi, túi mật, tắc mật, viêm tụy, xơ gan… CA19-9 có độ nhạy và độ đặc hiệu thấp, nó chỉ được coi như một chất chỉ điểm khối u có tác dụng sàng lọc ung thư CA19-9 không được dùng để chẩn đoán bệnh cụ thể Nó chỉ có tác dụng để phân biệt ung thư tụy với các bệnh khác, theo dõi hiệu quả điều trị của ung thư tuyến tụy, theo dõi tái phát của ung thư tuyến tụy
Trang 22CA19-9 tăng cao nhất trong ung thư tuyến tụy ngoại tiết, u có nguồn gốc
ở các tế bào sản xuất các enzyme tiêu hóa thức ăn và của ống tụy Nhưng khi phát hiện CA19-9 ở mức cao thì ung thư tuyến tụy cũng ở giai đoạn muộn
AFP (anpha fetoprotein) là một protein được sản xuất ở gan của thai nhi và các phần khác của phôi thai phát triển Nồng độ thường tăng lên đến khi em bé được sinh ra và giảm nhanh chóng sau đó Ở trẻ em khỏe mạnh và người lớn không mang thai nồng độ AFP rất thấp AFP thường được chỉ định trong các ung thư gan và các ung thư nguyên bào nuôi Trong ung thư tụy AFP được chỉ định với ý nghĩa sàng lọc di căn gan là chủ yếu
Trong SANS khi lấy được mẫu là dịch trong nang sẽ được cho làm các tumor marker để sàng lọc và tiên lượng điều trị
1.3.3 Giải phẫu bệnh
Hình 1.19: Các dạng tổn thương nang tụy và vị trí hay gặp
Có nhiều cách phân loại tổn thương nang tụy, có thể chia các tổn thương nang tụy như sau Đây là cách được nhiều nhà lâm sàng ưu thích do có giá trị với thái độ xử trí [9]
Trang 23* Tổn thương lành tính không u
- Nang giả tụy (Pseudocysts)
- Nang ruột (Enterogenous cyst)
- Nang dạng vảy (Squamoid cyst)
- Nang xơ (Cystic fibrosis)
…
- Nang biểu mô lympho (lymphoepithelial cysts)
* Tổn thương u lành tính
- U nang nhày (Mucinous cystic neoplasm)
- Nang thanh dịch ít nang (Oligocystic serous cystadenoma)
- Nang thanh dịch vi nang (Microcystic serous cystadenoma)
- U nhày thể nhú trong ống tụy, lành tính (Intraductal papillary mucinous neoplasm, benign)
- Nang tế bào thần kinh đệm (Cystic schwanoma)
* Tổn thương trung gian (giữa lành tính và ác tính)
- U nang nhày (Mucinous cystic neoplasm, boderline)
- U đặc giả nhú (Solid-pseudopapillary neoplasm)
- U nhày thể nhú trong ống tụy, dạng trung gian (Intraductal papillary mucinous neoplasm, boderline)
- Nang thần kinh nội tiết (Cystic neuroendocrine tumor )
- Nang di căn (Cystic metastases)
- Ung thư biểu mô nang (Cystic acinar cell carcinoma)
Trang 241.4 Điều trị u nang tụy
1.4.1 Nội khoa
Khi xác định được bản chất u nang là nang thanh dịch và kích thước u nhỏ hơn 2 cm thì có thể theo dõi định kì không cần can thiệp Nếu u lớn hơn hoặc có các biến chứng thì lên cắt phần tụy có chứa u nang U nang thanh dịch là thể mà khả năng ác tính là thấp nhất [5]
1.4.2 Ngoại khoa
Chỉ định:
Đối với các u có triệu chứng hoặc có biến chứng như chèn ép OMC hay OTC, u có nguy cơ thoái hóa ác tính, khi nghi ngờ ác tính hay u ác tính
Các tác giả đều thống nhất quan điểm phẫu thuật lấy bỏ triệt để tổ chức u
là phương pháp điều trị chủ yếu cho u tụy thể nang Cắt bỏ toàn bộ u, nạo vét hạch (nếu nghi ngờ ác tính), phần tụy lân cận và những cơ quan có liên quan Xâm lấn tại chỗ, di căn khu trú, hay ung thư tái phát đều không phải là chống chỉ định của phẫu thuật [35] [36] Phẫu thuật được khuyến cáo ngay cả khi u
đã xâm lấn tại chỗ, và trong những trường hợp mà phẫu thuật triệt để là bất khả thi thì cắt bỏ u kết hợp với xạ trị tại chỗ sau mổ vẫn cho kết quả tốt [37] Tùy theo vị trí của khối u mà có các phương pháp phẫu thuật tương ứng như lấy bỏ u tại chỗ, cắt thân và đuôi tụy và cắt khối tá tụy
Khi u ở eo hoặc thân tụy có thể tiến hành phẫu thuật cắt tụy trung tâm và nối phần tụy còn lại với dạ dày Phương pháp này có lợi là bảo tồn được một phần nhu mô tụy và lách
Cắt thân và đuôi tụy kèm cắt lách: được thực hiện lần đầu bởi Billrotth năm 1884, là phẫu thuật cắt phần tụy từ đuôi cho tới sát bờ trái của động mạch mạc treo tràng trên, không bao gồm tá tràng và đường mật Được chỉ định khi u nằm ở đuôi tụy hoặc thân và đuôi tụy, chưa vượt quá bờ trái
Trang 25động mạch mạc treo tràng trên, đã có hoặc chưa có xâm lấn lách, động, tĩnh mạch lách Cắt thân và đuôi tụy bảo tồn lách: áp dụng cho những trường hợp u nằm ở thân và đuôi tụy chưa có xâm lấn lách hoặc mạch lách, bó mạch lách có khả năng tách ra và bảo tồn nhằm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn và rối loạn đông máu sau cắt lách
Cắt khối tá tụy: được chỉ định cho u nằm ở vùng đầu tụy chưa vượt quá động mạch mạc treo tràng trên, là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ khối tá tràng cùng đầu tụy Sau đó thực hiện các miệng nối: tụy-dạ dày hoặc tụy ruột, mật-ruột,
vị tràng Đây là một phẫu thuật rất nặng nề, cần được tiến hành bởi phẫu thuật viên có kinh nghiệm
Đối với các u nang thuộc typ lành tính hoăc độ ác tính thấp, tiên lượng tốt, khối u thường có ranh giới rõ ràng với tổ chức tụy, phẫu thuật bảo tồn như khoét nhân u, cắt u tại chỗ, cắt tụy trung tâm và cắt bỏ một phần đầu tụy đã được đưa ra như một phương án an toàn và hiệu quả, đặc biệt là với những
BN nhỏ tuổi [38] [39] [40] Tuy nhiên các tác giả cũng khuyến cáo cần làm sinh thiết tức thì trong mổ Nếu kết quả giải phẫu bệnh là ác tính, chỉ định cắt rộng rãi (cắt khối tá tụy, cắt thân và đuôi tụy) cần được đặt ra
Các phẫu thuật triệt căn vẫn được chỉ định với u có xâm lấn tại chỗ hay
di căn Sperti thông báo 17 trường hợp tạo hình mạch máu với tỷ lệ tử vong 0% [41] Yu thông báo 3 trường hợp thay đoạn tĩnh mạch cửa do u xâm lấn với kết quả xa tốt [42] Martin thông báo 4 trường hợp cắt u tụy kèm cắt gan
do di căn, trong đó 2 BN sống thêm hơn 6 và 11 năm [43]
1.4.3 Kết quả sớm phẫu thuật u tụy thể nang [43] [44] ,[ 45] [46] [47]
Như đã trình bày ở trên, phẫu thuật điều trị u tụy thể nang gồm có : cắt khối tá tụy, cắt thân đuôi tụy, cắt u tại chỗ, cắt tụy trung tâm Do đó cũng như tất cả các phẫu thuật cắt tụy do nguyên nhân khác, biến chứng thường gặp sau
Trang 26phẫu thuật cắt tụy do u tụy thể nang gồm có: tử vong, rò tụy, chảy máu sau
mổ, áp xe tồn dư, nhiễm trùng vết mổ, rối loạn chuyển hóa: đái tháo đường, thiếu hụt tụy ngoại tiết Những biến chứng ít gặp hơn như: rò tá tràng, rò mật,
rò dạ dày, viêm tụy cấp, suy gan, suy thận, suy tim sau mổ
Bảng 1.2: Biến chứng sau mổ cắt tụy trong một số nghiên cứu [48]
Biến chứng
Markus (2003) (%)
Deso (2011) (%)
Buchler (2000) (%)
cũ, nguyên nhân tử vong đa phần là do biến chứng tại chỗ đặc biệt là bục miệng nối tụy [50] Theo nghiên cứu của Markus trên 617 trường hợp cắt tụy
có 10 trường hợp tử vong sau mổ trong đó có 4 BN là do biến chứng tại chỗ:
Trang 272 áp xe ổ bụng kèm với suy đa tạng, 1 hoại tử ruột, 1 nhiễm trùng huyết sau rò mật, còn lại 6 trường hợp tử vong do biến chứng toàn thân gồm suy tim cấp, suy đa phủ tạng, nhiễm trùng huyết qua catheter [50] Nghiên cứu của Papavramidis trên 718 trường hợp UĐGN của tụy được phẫu thuật cũng ghi nhận 8 trường hợp tử vong sau mổ: 4 do chảy máu, 1 do nhiễm khuẩn, 1 do suy đa tạng, 2 trường hợp không rõ nguyên nhân [48]
Rò tụy là một trong những biến chứng thường gặp sau phẫu thuật cắt tụy Mặc dù có nhiều tiến bộ về kỹ thuật mổ cũng như chăm sóc hậu phẫu, rò tụy sau mổ vẫn chiếm tỉ lệ cao từ 5-30% Phân độ rò tụy theo ISGPF [45] Theo nghiên cứu của Wande trên 176 trường hợp phẫu thuật cắt tụy, có 30,1% rò tụy sau mổ, trong đó rò độ A chiếm 49%, rò độ B chiếm 40%, độ C chiếm 19% Rò độ A thông thường không cần phương pháp điều trị đặc hiệu, trong khi rò độ B cần phải điều trị ít nhất 1 trong các phương pháp: kháng sinh (81%), bổ sung dinh dưỡng (43%), octreotide (24%), và thường phải để dẫn lưu trên 3 tuần và phải tái nhập viện Rò độ C thường đi kèm với biến chứng nhiễm khuẩn và 100% phải điều trị kháng sinh và bổ sung dinh dưỡng Có 3 phương án điều trị rò tụy độ C được nêu ra: (1) phẫu thuật, (2) dẫn lưu qua da, (3) kháng sinh và theo dõi Trong nghiên cứu của Nguyễn Cao Cường trên
270 BN được phẫu thuật u tụy tại bệnh viện Bình Dân từ 1998-2007, tỉ lệ rò tụy sau cắt khối tá tụy là 8,16%, sau mổ cắt thân đuôi tụy là 16,44% [51] Trong nghiên cứu của Trịnh Hồng Sơn (2012) trên 59 trường hợp cắt khối tá
tụy ghi nhận 1 trường hợp rò tụy mức độ B theo ISGPF [45]
Trang 28Bảng 1.3: Phân độ rò tụy sau mổ theo ISGPF
>3 lần nồng
độ huyết thanh bình thường
>3 lần nồng độ huyết thanh bình thường
>3 lần nồng
độ huyết thanh bình thường
Điều trị đặc
Siêu âm/CT Âm tính Âm tính Âm/Dươngtính Dương tính
Dẫn lưu trên
Dấu hiệu
Nhiễm trùng
Tử vong liên
quan tới rò
tụy
Chảy máu sau mổ: Chảy máu sau mổ là biến chứng sau mổ tụy chiếm khoảng 2-15% Hội nghiên cứu quốc tế về phẫu thuật tụy đã đưa ra định nghĩa
về chảy máu sau mổ cắt tụy dựa vào thời gian vị trí và mức độ chảy máu Thời điểm chảy máu có thể sớm (trước 24h sau mổ) hoặc muộn (sau 24h sau mổ) Vị trí chảy máu có thể trong lòng ống tiêu hóa (miệng nối, diện cắt tụy,
Trang 29loét, giả phình mạch, ) hoặc ngoài ống tiêu hóa (các mạch máu, diện bóc tách, miệng nối, ) Mức độ chảy máu có thể nhẹ: lượng máu chảy qua dẫn lưu hoặc qua sonde dạ dày, hình ảnh trên siêu âm không nhiều, giảm nồng độ hemoglobin<3g/dL, biến đối lâm sàng không nghiêm trọng, truyền từ 1-3 đơn
vị hồng cầu khối trong 24 giờ sau mổ Nặng: lượng máu mất nhiều, giảm nồng độ Hemoglobin>3g/dL, dấu hiệu lâm sàng rối loạn: mạch nhanh, huyết
áp tụt, thiểu niệu, sốc phải truyền trên 3 đơn vị hồng cầu khối ISGPS cũng đưa ra 3 mức độ chảy máu sau mổ tụy (A,B,C)
Bảng 1.4: Phân độ chảy máu sau mổ tụy theo ISGPS [52]
âm, CT
Không
B
Sớm, trong/ng
oài ống
tiêu hóa,
nặng
Muộn, trong/ngoài đường tiêu hóa, nhẹ
Thường tốt/Hiếm khi đe dọa tính mạng tức thời
Thăm khám, CTM, siêu
âm, CT, chụp mạch, nội soi
Truyền dịch/máu, HSTC, nội soi can thiệp, nút mạch, mổ lại cho chảy máu sớm
C Muộn, trong/ngoài
ống tiêu hóa, nặng
Nặng, đe dọa tính mạng
Chụp mạch,
CT, nội soi
Nút mạch, cầm máu nội soi hoặc mổ lại, HSTC
Chảy máu muộn, trong/ ngoài ống tiêu hóa, mức độ nhẹ có thể không đe dọa tính mạng ngay lập tức nhưng có thể là dấu hiệu cảnh báo cho chảy máu nặng tiếp theo nên được xếp vào độ B.Nội soi dạ dày nên được tiến hành khi
có các dấu hiệu xuất huyết tiêu hóa (đi ngoài phân đen, nôn máu hoặc máu chảy qua sonde dạ dày)
Trang 30CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm tất cả các BN được mổ với chẩn đoán u tụy, u nang tụy có kết quả giải phẫu bệnh thuộc nhóm u tụy thể nang theo WHO năm 2000 tại BV Việt Đức trong 5 năm từ năm 2010 đến năm 2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Cỡ mẫu
Sử dụng cỡ mẫu không xác suất (mẫu tiện lợi) bao gồm các BN đủ tiêu chuẩn lựa chọn trong thời gian nghiên cứu bằng phương pháp mô tả cắt ngang
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu hồi cứu: Tất cả những BN được chẩn đoán u tụy, u nang tụy được mổ có kết quả giải phẫu bệnh u tụy thể nang, tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức từ 1/2010 – 7/2014
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu các bước theo quy trình như sau:
- Lấy mã bệnh u tụy chung theo ICD 10 là C25
- Tra toàn bộ HSBA có mã C25 từ 1/1/2010 – 31/7/2014 Lấy những BN
có chẩn đoán u nang tụy, nang tụy, u tụy kèm có hình ảnh nang tụy trên SA hoặc phim CT, có kết quả GPB thuộc nhóm u tụy thể nang
- Lấy mã bệnh án của từng BN tại phòng hồ sơ lưu trữ
- Kiểm tra hồ sơ đầy đủ mới lựa chọn
- Vào số liệu theo một mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất
Trang 312.2.4 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Mỗi bệnh nhân được lựa chọn nghiên cứu có đầy đủ các tiêu chuẩn sau:
- Có kết quả giải phẫu thuộc nhóm u tụy thể nang (WHO năm 2000)
- Cả nam và nữ, mọi lứa tuổi
- Được mổ tại bệnh viện Việt Đức trong thời gian nghiên cứu
- Có đầy đủ hồ sơ bệnh án với lâm sàng và kết quả cận lâm sàng, biên bản phẫu thuật, giấy kết quả giải phẫu bệnh
2.2.5 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những bệnh nhân không còn tiêu bản lưu trữ
- Những bệnh nhân không có đầy đủ hồ sơ, bệnh án, không có kết quả giải phẫu bệnh
2.2.6 Địa điểm nghiên cứu: BV hữu nghị Việt Đức
2.2.7 Đạo đức nghiên cứu:
- Đề tài đã được thông qua đề cương tại Bộ môn ngoại - Đại học Y Hà nội
- Tuân thủ nguyên tắc giữ bí mật các tài liệu, thông tin của BN nghiên cứu
- Được sự đồng ý của BN
2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng
Trang 32+ Các triệu chứng cơ năng: có/không
Đau có/không, tính chất đau, vị trí đau…
Sốt có/không
Sờ thấy u có/không
+ Các triệu chứng toàn thân:
Gầy sút có/không, sút bao nhiêu kg?
Phù có/không, tính chất phù
Vàng da có/không
Hạch ngoại vi có/không, vị trí
Gan lách to có/không
Thiếu máu có/không
- Các biến chứng của ung thư
+ Hội chứng tắc mật: bệnh án ghi nhận da, củng mạc mắt vàng, túi mật
to hoặc xét nghiệm sinh hóa máu Bilirubin > 19 µmol/L
+ Xuất huyết tiêu hóa (XHTH): trong bệnh án ghi nhận bệnh nhân có nôn máu hoặc ỉa phân đen
Trang 33+ Chảy máu trong ổ bụng: bệnh án ghi nhận các triệu chứng lâm sàng của chảy máu trong ổ bụng hoặc cận lâm sàng: siêu âm, CLVT xác định có dịch máu trong ổ bụng
+ Hẹp môn vị: bệnh án ghi nhận các triệu chứng nôn ra thức ăn, lắc óc ách, bụng lõm lòng thuyền
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng
+ Canxi hóa trong u: có/ không
+ Giãn ống Wirsung: khi đường kính ống tụy trên 3mm
+ Giãn OMC: khi đường kính trên 7mm
Trang 34+ Giãn ống Wirsung: khi kích thước đo được trên 5mm
+ Giãn OMC: khi kích thước đo được trên 7mm
+ Xâm lấn mạch máu: Khi có một trong những tiêu chuẩn sau:
+ Xâm lấn vào lớp mỡ quanh mạch
+ Xâm lấn trực tiếp vào thành mạch gây biến dạng
+ Huyết khối: hình tăng tỷ trọng trong lòng mạch tạo hình khuyết thuốc cản quang
+ Khối u phát triển bao bọc xung quanh các mạch máu
+ Chẩn đoán di căn hạch: Khi hạch có kích thước >10mm Hạch là những khối tròn, giảm tỷ trọng, ít ngấm thuốc cản quang, bờ rõ
+ Liên quan giữa kích thước u và cấu trúc u: mô tả đặc điểm của u có đường kính dưới 2cm và u trên 2cm: vỏ xơ (có/ không), cấu trúc (đặc, nang, hỗn hợp), tính chất ngấm thuốc
- Cộng hưởng từ:
+ Vỏ u (đường riềm quanh u giảm tín hiệu cả trên T1, T2): có/ không + Cấu trúc u: Đặc (giảm tín hiệu trên T1, tăng tín hiệu trên T2), nang dịch (tín hiệu tương đương với nước trên T1,T2), hỗn hợp đặc và nang
+ Chảy máu trong u (tăng tín hiệu trên T1, giảm tín hiệu trên T2): có/ không
- Siêu âm nội soi
Trang 35+ Xâm lấn thành dạ dày hay các tạng lân cận
+ Sinh thiết có/không
+ Có sinh thiết thì bản chất u là gì
2.3.3 Giải phẫu bệnh
- Giải phẫu bệnh thường quy
Đối với mỗi bệnh nhân cần đánh giá
- Vị trí tổn thương: (dựa vào mô tả trong mổ của phẫu thuật viên) gồm:
đầu tụy, thân tụy, đuôi tụy, đầu-thân tụy, thân – đuôi tụy
- Đại thể u: dựa vào mô tả của giải phẫu bệnh
+ Vỏ, ranh giới u: rõ, không rõ
+ Màu sắc: trắng ngà, vàng, nâu đỏ hồng, màu khác
+ Dạng khối u: Nang dịch, nang chảy máu, nang hỗn hợp
- Vi thể:
+ Tế bào biểu mô có/không
+ Tính chất tế bào biểu mô
+ Chế nhầy có/không
+ Tế bào ác tính có/không
+ Đặc điểm xâm lấn mạch máu, tổ chức xung quanh
- Hóa mô miễn dịch
- Đánh giá liên quan các thể u với các tumor marker, siêu âm, CT
2.4 Đánh giá kết quả điều trị bằng phẫu thuật
2.4.1 Các phương pháp phẫu thuật
Cắt khối tá tràng đầu tụy (DPC)
Cắt thân đuôi tụy
Trang 36 Cắt tụy trung tâm
Cắt u chọn lọc
Thăm dò sinh thiết
Nối tụy ruột
Dẫn lưu nang
- Liên quan vị trí u, thể u với các chỉ định phẫu thuật
- Phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở
- Phẫu thuật đi kèm: cắt gan, cắt dạ dày, cắt đại tràng
- Thời gian mổ
- Thời gian trung tiện
- Thời gian nằm viện
- Biến chứng trong và sau mổ
2.4.2 Tai biến trong mổ
- Là những sự cố không mong muốn xảy ra trong lúc mổ được mô tả trong cách thức phẫu thuật: (Rách tĩnh mạch chủ dưới, rách tĩnh mạch mạc treo tràng trên, rách tĩnh mạch cửa, cắt phải động mạch gan chung)
Khai thác các mức độ rò, phương pháp điều trị: điều trị nội khoa, mổ lại
Trang 37+ Chảy máu sau mổ:
Bệnh án ghi nhận có chảy máu qua chân dẫn lưu, chảy máu trong ổ
bụng, xuất huyết tiêu hóa Biện pháp điều trị
Dấu hiệu nhiễm trùng gồm tăng thân nhiệt >38 C, tăng bạch cầu, sưng
nề tại chỗ, dẫn lưu ra mủ Nhập viện lại là tất cả BN phải vào viện lại trong vòng 30 ngày sau khi ra viện lần đầu Nhiễm trùng huyết là có nhiễm khuẩn tại chỗ và bằng chứng có vi khuẩn trong máu (rét run,tăng bạch cầu, kết quả cấy máu) cần phải điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch Bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm trùng có thể có 2 nguyên nhân sau:
+ Nhiễm trùng vết mổ: khi phải tách, cắt chỉ sớm
+ Áp xe tồn dư, viêm phúc mạc (hội chứng nhiễm trùng, bạch cầu tăng cao, siêu âm hay CLVT có dịch ổ bụng): có hay không, xử trí: điều trị nội, dẫn lưu qua da, mổ lại, nguyên nhân
+ Tắc ruột sớm sau mổ (đau bụng, chướng bụng, quai ruột nổi, rắn bò, bí trung đại tiện, chụp bụng không chuẩn bị có mức nước hơi): có hay không
Xử trí: điều trị bảo tồn, mổ lại
+ Biến chứng khác (viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu, nhiễm trung huyết):
có hay không, nêu cụ thể
+ Rò mật được định nghĩa là dịch dẫn lưu có chứa mật hoặc chẩn đoán hình ảnh xác định có dịch cần phải phẫu thuật, nội soi hoặc can thiệp qua siêu âm
2.4.4 Kết quả gần
Theo ghi nhận trong hồ sơ bệnh án
- Bệnh nhân ổn định: sau mổ diễn biến ổn định ra viện
- Tử vong sau mổ: Tử vong sau mổ được định nghĩa là tử vong xảy ra do bất kỳ nguyên nhân nào trong vòng 30 ngày sau mổ khi BN còn trong viện
Trang 38hoặc đã ra viện Xác định tử vong do nguyên nhân gì? Có liên quan đến bệnh
lý vừa phẫu thuật hay không?
Hình 2.1: Phẫu thuật cắt đầu tụy tá tràng (DPC) [18]
Hình 2.2: Phẫu thuật cắt thân đuôi tụy[18]
(a: bảo tồn lách-b:kèm cắt lách)
2.5 Xử lý số liệu
Các số liệu xử lý được ghi chép theo một mẫu bệnh án nghiên cứu, thu thập lại, các chỉ số nghiên cứu được xử lý theo thuật toán thống kê Y học theo chương trình SPSS 16.0 So sánh các số liệu: Trung bình (), độ lệch chuẩn (s), lấy mức so sánh có ý nghĩa thống kê với p ≤ 0,05
Trang 39CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ
Qua nghiên cứu 60 bệnh nhân được mổ u tụy thể nang chúng tôi thu được một số kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
3.1.1 Phân bố theo giới
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo giới
Nhận xét
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 47 nữ (78%), 13 nam (22%)
Tỉ lệ nữ/nam là 3,61/1
3.1.2 Phân bố theo tuổi
Bảng 3.1: Phân bố BN theo tuổi
Trang 4010 BN bị gầy sút cân
3.1.4 Thời gian có triệu chứng đến phẫu thuật
Bảng 3.3: Thời gian có triệu chứng đến phẫu thuật