ĐỀ TÀI Giám sát Hiến pháp - Các mô hình bảo hiến trên thế giới
và Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam
Trang 2BỐ CỤC ĐỀ TÀI
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
II CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
III CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP QUA 4 BẢN HIẾN PHÁP (1946, 1959, 1980, 1992)
IV KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Trang 3kỳ xác lập quyền bảo hiến cho Tòa án Theo gương Hoa
Kỳ, các nước Brazin (1891), Uruguay (1917) lần lượt xác lập quyền bảo hiến của toà án
Ở châu Âu, trước chiến tranh thế giới thứ hai, theo mô hình của Hoa Kỳ, các nước như Na Uy, Hy Lạp, và một số bang của Thuỵ Sĩ cũng thiết lập quyền bảo hiến của toà án
Trang 4I CƠ SỞ LÝ LUẬN
2 Đối tượng của quyền giám sát Hiến pháp
Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật có
hiệu lực thấp hơn Hiến pháp Thứ hai, các văn bản,
điều ước trong nội bộ quốc gia
Thứ ba, sự phù hợp giữa các văn bản quy phạm
pháp luật trong nước với các điều ước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hoặc gia nhập
Thứ tư, hành vi của những người giữ các cương
vị quan trọng của nhà nước cũng có thể là đối tượng của hoạt động giám sát Hiến pháp
Thứ năm, văn bản và hoạt động của tổ chức xã
hội được trao cho thực hiện chức năng quản lý nhà nước cũng trở thành đối tượng của quyền giám sát Hiến pháp
Trang 5I CƠ SỞ LÝ LUẬN
3 Cơ quan giám sát Hiến pháp
Cơ quan thực hiện quyền giám sát Hiến pháp có thể là: người đứng đầu nhà nước, nghị viện, chính phủ, toà án có thẩm quyền chung, toà án hành chính (trong phạm vi thẩm quyền giải quyết các vụ việc hành chính),
cơ quan chuyên môn như Toà án Hiến pháp hay Hội đồng Bảo hiến
Thứ nhất, quyền giám sát Hiến pháp được thực
hiện bởi tổng thống, nghị viện, chính phủ hay cơ quan trực thuộc (không phải là cơ quan tư pháp – Pháp)
Thứ hai, quyền giám sát Hiến pháp được thực
hiện bởi cơ quan tư pháp (Hoa Kỳ)
Trang 6I CƠ SỞ LÝ LUẬN
4 Sự cần thiết phải giám sát Hiến Pháp
Nếu không có cơ chế giám sát Hiến pháp thì
sao? Không có cơ chế giám sát việc tuân theo Hiến
pháp thì có Hiến pháp cũng như không Hiến pháp sẽ không có hiệu lực pháp lý cao nhất như đặc trưng vốn
có của nó
Không thể kiểm soát quyền lực của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, dẫn đến tình trạng vượt quyền, lạm quyền, không đảm bảo thực thi các quyền hiến định của công dân, có khả năng gây tổn hại hoặc ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của công dân
Trang 7II CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
1 Nghị viện (hoặc các cơ quan của nghị viện)
- Chỉ có nghị viện có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản do mình thông qua, văn bản của cấp dưới và của cơ quan chịu sự giám sát của nghị viện
- Một số ít nước trên thế giới áp dụng mô hình
này (18 quốc gia) vì nó có hạn chế rất lớn là sự tự kiểm
tra (vừa ban hành vừa kiểm tra các đạo luật) không đảm bảo tính độc lập, khách quan Nghị viện là một cơ quan chính trị, nên không có trình tự, thủ tục phù hợp để tiến hành phán xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật
Trang 8II CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
2 Hội đồng hiến pháp
- Các vấn đề về hiến pháp do hội đồng HP xem xét theo thủ tục đặc biệt
- Hội đồng hiến pháp có nhiều đặc điểm của một
cơ quan chính trị không phải là một cơ quan tài phán hiến pháp thực thụ (các cựu tổng thống là thành viên đương nhiên, tiêu chí tuyển chọn thành viên không bắt buộc phải
có chuyên môn vế pháp luật, quy trình giải quyết không công khai và thiếu đặc trưng của thủ tục tố tụng, trước năm 2008 chỉ kiểm tra các đạo luật trước khi công bố) Điển hình một số nước áp dụng như Angiêri, Cadăcxtan, Campuchia
Trang 9II CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
3 Tòa án tối cao hoặc tòa án thẩm quyền chung
- Tòa án tối cao: Đây là mô hình tập trung, theo
đó, tòa án tối cao là cơ quan duy nhất được trao thẩm quyền bảo vệ hiến pháp
- Tòa án thẩm quyền chung: Các vấn đề về hiến pháp do các tòa án có thẩm quyền chung xem xét theo thủ tục thông thường
Trang 10II CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
Mô hình này có 4 đặc điểm (TA thẩm quyền chung):
+ Bảo hiến phi tập trung: trao quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật cho tất cả các thẩm phán của các tòa án thường
+ Bảo hiến cụ thể: Trong một vụ việc được giải quyết tại tòa, các bên có quyền đề nghị kiểm tra tính hợp hiến của một đạo luật áp dụng để giải quyết vụ việc đó
+ Bảo hiến sau bằng việc từ chối không áp dụng đạo luật vi hiến
+ Phán quyết kiểm hiến của tòa án chỉ có giá trị đối với các bên tham gia vụ việc, không có giá trị đối với các chủ thể khác
Trang 11II CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI
4 Tòa án hiến pháp
Là mô hình tài phán hiến pháp tập trung, có các đặc điểm sau:
- Bảo hiến tập trung
- Bảo hiến trừu tượng
- Bảo hiến trước và sau do các chủ thể chính trị
đề nghị
- Phán quyết về tính hợp hiến hoặc vi hiến của tòa án hiến pháp có giá trị bắt buộc chung đối với mọi đối tượng, có tính chất chung thẩm và không được khiếu kiện
Trang 12III CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP QUA 4 BẢN HIẾN PHÁP (1946, 1959, 1980, 1992)
1 Giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1946
- Không có điều khoản nào của HP trực tiếp quy định hiệu lực tối cao của Hiến pháp
- Chỉ có những điều khoản quy định chung về sự kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền nhưng không có quy định nào cụ thể, rõ ràng về kiểm tra, giám sát hiến pháp
Trang 13III CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
2 Giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1959
- Xác định: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” và một trong những quyền hạn quan trọng nhất của QH là “giám sát việc thi hành HP”
- Ủy ban TVQH hội là cơ quan có thẩm quyền
xử lý những văn bản của cơ quan nhà nước trái HP chứ không phải là Quốc hội
- Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giam sát và
xử lý các văn bản “không thích đáng” không chỉ có Quốc hội mà Hiến pháp còn quy định thẩm quyền của nhiều cơ quan nhà nước khác
Trang 14III CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
3 Giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp năm 1980
- “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước”
- Thẩm quyền xử lý các văn bản của cơ quan nhà nước then chốt trong trung ương trái với HP vẫn giao cho cơ quan thương trực của mình là Hội đồng Nhà nước
- Tuy nhiên, các quy định trong HP 1980 còn nặng tính tuyên ngôn, duy ý chí, không có hiệu lực thực tế
Trang 15III CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
4 Giám sát Hiến pháp theo HP 1992 (SĐBS năm 2001)
- Tiếp tục quy định “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước” (Điều 83 HP92)
- Đồng thời, quy định thẩm quyền giám sát của những cơ quan khác trong bộ máy nhà nước
Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành (Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật Ban
hành văn bản QPPL năm 2008…) cũng đã quy định
tương đối đầy đủ và toàn diện về hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo hiến pháp và pháp luật
Trang 16IV KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤTBảng thống kê, so sánh mô hình cơ quan bảo vệ
Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới
(Theo số liệu cập nhật của Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992)
Mô hình bảo vệ Hiến pháp Số quốc gia áp dụng Tỷ lệ phần trăm
Trang 17IV KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
1 Thành lập Hội đồng Hiến pháp (độc lập) để:
- Kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ tịch nước, UB TVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- Kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn
- Kiến nghị QH xem xét lại; yêu cầu CTN, UB TVQH, CP, TTCP, TANDTC, VKSNDTC sửa đổi, bổ sung hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp (dự thảo sửa đổi HP 92)
Trang 18IV KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
2 Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật và xử lý văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp, pháp luật theo hướng:
- Cụ thể hóa cơ chế kiểm tra, xử lý các văn bản
do Quốc hội, UBTV QH, Chủ tịch nước, Chính phủ,
TTCP ban hành (NĐ 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010
chỉ quy định văn bản từ Thông tư trở xuống): sửa đổi,
bổ sung vào Luật Ban hành VB QPPL năm 2008.
- Cụ thể hóa các biện pháp xử lý đối với cơ
quan, người đã ban hành văn bản trái Hiến pháp, pháp
luật (Điều 7, NĐ 40: Tuỳ theo tính chất và mức độ vi
phạm của văn bản trái pháp luật, cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật phải chịu trách nhiệm
kỷ luật, trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật).
Trang 19IV KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
3 Nâng cao vai trò, vị trí, trách nhiệm và củng cố, kiện toàn
cơ cấu, tổ chức, nhân sự của các cơ quan thẩm tra, thẩm định
dự thảo văn bản QPPL như:
- Hội đồng Dân tộc
- Ủy ban Pháp luật và các UB khác của Quốc hội.
- Cục Kiểm tra văn bản QPPL của Bộ Tư pháp
- Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp.
Và các cơ quan có liên quan như: UB TVQH, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội,…; đặt biệt là vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, các
đoàn thể chính trị - xã hội (trưng cầu dân ý).
Trang 20IV KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
4 Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các
cơ quan có thẩm quyền ban hành, cơ quan thẩm tra, thẩm định văn bản QPPL:
- Hoàn thiện cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc phê chuẩn (chế tài giám sát)
- Nâng cao hiệu quả của hoạt động chất vấn
5 Nâng cao tiêu chuẩn, chất lượng hoạt động của Đại
biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (đại biểu chuyên trách)./
6