Học thuyết đa trí tuệ đa trí thông minh ra đời đóng vai trò quan trọng đối với giáo dục hiện đại, đặc biệt là giúp học sinh có những định hướng nghề nghiệp trong tương lai vì khi xác đị
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 3
===== =====
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ VÀO TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC CHỦ ĐỀ 7,8,9 (CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP 10 - BỘ CÁNH DIỀU) ĐỂ
ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT QUỲ HỢP 3 LĨNH VỰC : HOẠT ĐỘNG TN-HN
Tác giả: 1 LÊ HUY THIÊN
Trang 2DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 3PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm học 2022 - 2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức áp dụng chương trình giáo dục tổng thể 2018 ở bậc THPT với lớp 10 và năm học 2023-2024 áp dụng với lớp 11 Theo đó, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là một bộ phận của chương trình giáo dục tổng thể , là hoạt động giáo dục bắt buộc do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, có tính thống nhất về mục tiêu, phương pháp và cách thức đánh giá với chương trình tổng thể Chương trình giáo dục phổ thông hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐ ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã quy định mục tiêu của chương trình
như sau: “có khả năng phát triển hứng thú nghề nghiệp và ra quyết định lựa chọn
được nghề nghiệp tương lai; xây dựng được kế hoạch rèn luyện đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và trở thành người công dân có ích”
Như thế, nhiệm vụ cơ bản nhất của chương trình giáo dục ở bậc THPT là giúp học sinh lựa chọn được nghề nghiệp trong tương lai Xuyên suốt cả chương trình hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 10,11 học sinh sẽ được tạo cơ hội tiếp cận các vấn đề, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, hiểu rõ về bản thân, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng các môn học
để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống
Để lựa chọn được nghề nghiệp trong tương lai, yếu tố đóng vai trò quyết định chính là năng lực của mỗi người Mà mỗi cá nhân là độc lập, duy nhất với những năng khiếu, sở trường, tiềm năng và những niềm đam mê khác nhau cần được nuôi dưỡng và phát huy từ sớm Các nhà nghiên cứu đã phát hiện con người không chỉ có trí thông minh logic (IQ), mà trí thông minh vô cùng đa dạng Sứ mệnh cao cả của giáo dục chính là hình thành và phát triển năng lực của người học thông qua nắm bắt, khám phá khả năng tiềm ẩn và trí tuệ của người học Giáo dục hiện đại quan tâm nhiều hơn đến giáo dục từng cá thể và phát triển trí thông minh đa dạng Thuyết đa trí tuệ đã chỉ ra rằng mỗi người trong chúng ta đều tồn tại một vài kiểu thông minh trong số 8 loại: ngôn ngữ, logic/toán học,
âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp ( tương tác cá nhân), nội tâm ( hướng nội), thiên nhiên ( tự nhiên học) Tuy nhiên, ứng với mỗi cá nhân sẽ có những loại trí thông minh vượt trội hơn các trí thông minh còn lại
Học thuyết đa trí tuệ (đa trí thông minh) ra đời đóng vai trò quan trọng đối
với giáo dục hiện đại, đặc biệt là giúp học sinh có những định hướng nghề nghiệp trong tương lai vì khi xác định trí thông minh của bản thân, con người có thể tập trung nâng cao thế mạnh để phát huy tốt nhất khả năng tiềm ẩn của cá nhân Từ đó tự tin trong việc lựa chọn ngành, nghề phù hợp với mình.Thuyết đa trí tuệ sẽ giúp giáo viên phân nhóm học sinh theo năng lực, giáo viên khi thực
Trang 4hiện các chủ đề Trải nghiệm - hướng nghiệp sẽ đưa ra được những giải pháp phát huy năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh một cách phù hợp và chính xác hơn
Khi thực hiện chương trình hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc truyền tải nội dung của các chủ đề, nặng về lí thuyết mà chưa chú trọng tới việc hình thành các năng lực và kĩ năng sống cho học sinh thông qua các trải nghiệm trong thực tiễn Giáo viên thường hướng dẫn thực hiện các hoạt động mang tính đại trà, số đông mà chưa phân luồng được năng lực và thế mạnh để đưa ra giải pháp phù hợp với từng nhóm năng lực ở người học Học sinh THPT đã có nhận thức tương đối về bản thân nhưng các em chưa nhận ra hết năng lực, năng khiếu, trí tuệ của bản thân và chưa có cơ hội để đánh thức và phát huy những điều đó để định hướng nghề nghiệp cho tương lai
Xuất phát từ những cơ sở trên chúng tôi lựa chọn giải pháp “ Vận dụng
thuyết đa trí tuệ vào tổ chức thực hiện các chủ đề 7,8,9 (chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp 10 - bộ Cánh diều) để định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT Quỳ Hợp 3 ” để nghiên cứu và thực hiện
II MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1.Mục tiêu
- Hiểu hơn về học sinh để có những phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy năng lực, trí tuệ của học sinh, giúp các em tự tin, tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức và hình thành những kĩ năng, phát triển nhân cách, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực theo yêu cầu mới, phù hợp với bản thân và với sự thay đổi của xã hội
2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu các tài liệu về thuyết đa trí tuệ
- Nghiên cứu tài liệu về hoạt động TN-HN
- Nghiên cứu các cách để đánh giá học sinh
- Quan sát và nghiên cứu về tâm lí học sinh
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện giải pháp để có những sự điều chỉnh, bổ sung phù hợp
III ĐỐI TƯỢNG TÁC ĐỘNG
- Là HS trường THPT Quỳ Hợp 3
IV THỜI GIAN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HIỆN
- Học kì I năm học 2022-2023 đến nay chúng tôi bắt đầu nghiên cứu và áp dụng giải pháp
Trang 5V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp phân tích kết quả khảo sát
VI Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢI PHÁP
- Sử dụng thuyết đa trí tuệ vào hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp giúp học sinh nhận biết được bản thân minh thuộc trí thông minh nào, thích ứng với nghề nghiệp gì Điều này hướng học sinh đến việc lựa chọn công việc mình yêu thích
và phát huy được hết khả năng của mình trong công việc Từ đó, học sinh sẽ đạt được thành công trong tương lai Nó hướng học sinh tới những mối quan hệ, cả trong học tập, trong công việc lẫn quan hệ cá nhân, ở đó học sinh sẽ có nhận thức sâu sắc hơn về bản thân
- Sử dụng thuyết đa trí tuệ thông qua các hoạt động trải nghiệm trong thực tiễn giúp học sinh cảm nhận rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu, tư duy, niềm tin, động lực và cảm xúc Càng hiểu rõ bản thân, học sinh càng có thể kiểm soát và lựa chọn ngành nghề phù hợp Sự tự nhận thức là cơ sở - nền tảng - nền móng - hỗ trợ tất cả các năng lực tư duy cảm xúc
- Việc sử dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học giúp giáo viên hiểu rõ về những khả năng bẩm sinh của học sinh Bên cạnh đó giúp học sinh suy nghĩ về việc làm thế nào để có thể sử dụng thế mạnh của mình vào các môn học để từ đó đưa ra sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp với ngành, nghề trong tương lại
- Mặt khác, sử dụng thuyết đa trí tuệ trong hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp còn góp phần hình thành nhân cách và lối sống cho học sinh: tự tin, hợp tác, học hỏi, lắng nghe…
- Giải pháp mang đến phương pháp mới, học sinh có thể tiếp thu một cách dễ dàng, tác động mạnh mẽ vào nhận thức của các em học sinh để từ đó các em biết mình nên làm gì và cần làm những gì để đưa ra những lựa chọn nghề nghiệp phù hợp cho bản thân
- Thông qua giải pháp các em sẽ nhận thấy được thành công trong cuộc sống đến
từ việc hiểu rõ bản thân và có những kĩ năng cần thiết.Từ đó hình thành cho các
em thói quen rèn luyện năng lực của bản thân
- Giải pháp còn giúp giáo viên vận dụng vào việc giáo dục học sinh theo hướng phát huy năng lực và phẩm chất để từ đó định hướng được nghề nghiệp trong tương lai đúng như yêu cầu của chương trình mới
- Giải pháp còn giúp giáo viên đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong việc hình
Trang 6thành các hình thức tổ chức sáng tạo trong hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
PHẦN 2: NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Chương trình hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp
Đặc điểm của Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai
Mục tiêu của Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và các năng lực đặc thù cho học sinh; nội dung hoạt động được xây dựng dựa trên các mối quan hệ của cá nhân học sinh với bản thân, với xã hội, với tự nhiên và với nghề nghiệp Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp giúp hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo được biểu hiện qua các năng lực đặc thù: năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp
So với cấp Tiểu học và Trung học cơ sở, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp trung học phổ thông tập trung hơn vào hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp Thông qua các hoạt động hướng nghiệp, học sinh được đánh giá và tự đánh giá về năng lực, sở trường, hứng thú liên quan đến nghề nghiệp, làm cơ sở để tự chọn cho mình ngành nghề phù hợp và rèn luyện phẩm chất và năng lực để thích ứng với nghề nghiệp tương lai
Để thực hiện được mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất của chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp thì bản thân HS phải hiểu rõ được năng lực, thế mạnh của bản thân đồng thời với việc được trải nghiệm, phát triển năng lực, năng khiếu đó
2 Thuyết đa trí tuệ ( Trí thông minh)
2.1 Khái niệm:
Thuyết đa trí tuệ là một lý thuyết về trí thông minh của con người được nhìn nhận bằng nhiều cách, mang tính đa dạng, được nghiên cứu và công bố bởi tiến
Trang 7sĩ Howard Gardner Theo Gardner, trí thông minh (intelligence) được ông quan niệm như sau “là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm mà các giải pháp hay sản phẩm này có giá trị trong một hay nhiều môi trường văn hóa” và trí thông minh cũng không thể chỉ được đo lường duy nhất qua chỉ số
IQ Năm 1983, ông xuất bản một cuốn sách có tựa đề “Frames of Mind”, trong
đó ông đưa ra các nghiên cứu và lý thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh (Lý thuyết vềnhiều trí thông minh)
2.2 Các dạng trí thông minh/trí tuệ theo thuyết đa trí tuệ
Thuyết đa trí tuệ đã mang đến cho thế giới cái nhìn bao quát và toàn diện về tiềm năng não bộ của con người, nó đề cập đến sự đa dạng về trí tuệ của mỗi cá nhân Theo đó, mỗi cá nhân sinh ra đều có 8 loại hình thông minh khác nhau:
(1) Trí tuệ ngôn ngữ: Là khả năng sử dụng có hiệu quả các từ ngữ,
hoặc bằng lời nói hoặc bằng chữ viết Ví dụ: Thích đọc sách, trò chơi chữ, kể chuyện, viết lách tốt; phát âm chuẩn, vốn từ phong phú, nói chuyện lôi cuốn,
có thể thuyết phục người khác bằng lời,
(2) Trí tuệ logic - toán học: Là khả năng sử dụng có hiệu quả các con
số và lí luận về logic, trật tự một cách thông thạo: Tính nhẩm nhanh, thích thú làm việc và vui chơi với các con số; Thích toán, các trò chơi đòi hỏi động não,
tư duy logic; Thích tìm ra các bố cục, quy luật và trình tự các đồ vật, thích làm thí nghiệm, quan tâm đến các vấn đề khoa học tự nhiên,
(3) Trí tuệ không gian - hội họa: Là khả năng tiếp cận một cách chính
Trang 8xác thế giới không gian Trí thông minh không gian liên quan đến việc suy nghĩ bằng hình ảnh, biểu tượng và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo các góc
độ khác nhau của thế giới không gian trực quan Những người có trí thông minh này thường: Nhạy cảm về màu sắc, đường nét, hình dạng và tương quan giữa chúng; Biết và thích vẽ; Đọc bản đồ, biểu đồ, sơ đồ và tranh ảnh dễ dàng hơn từ ngữ;
(4) Trí tuệ hình thể - vận động: Là sự thành thạo và khéo léo trong việc
sử dụng toàn bộ cơ thể để thể hiện các ý tưởng, cảm xúc và hoạt động nào đó: thích chơi và chơi tốt thể thao, làm thủ công tốt; Khó ngồi yên một chỗ trong thời gian dài; Thích các trò chơi sôi động, tháo gỡ rồi lắp ghép các đồ vật;
(5) Trí tuệ âm nhạc: Là khả năng cảm nhận, thưởng thức và tạo ra các
tiết tấu nhịp điệu, đó là trí thông minh của các nhạc công hay những ca sĩ, ngoài
ra trí thông minh âm nhạc còn có trong tiềm thức của bất cứ cá nhân nào, miễn
là người đó có khả năng nghe tốt và hát theo giai điệu Những người sở hữu trí thông minh âm nhạc: Nhạy cảm với nhịp điệu, âm sắc, âm tần của một bản nhạc; Nhớ được giai điệu các bài hát; Thích hát và hát hay, biết chơi nhạc cụ; Thích gõ nhịp hay hát khẽ một mình khi làm việc, học hành;
(6) Trí tuệ giao tiếp: Đây là năng lực hiểu và làm việc được với những
người khác, khả năng nhìn thấu suốt bên trong người khác, từ đó nhìn ra viễn cảnh bên ngoài bằng chính con mắt của họ Là khả năng cảm nhận và phân biệt giữa các tâm trạng, ý đồ, động cơ và cảm nghĩ của người khác; Thích tham gia các hoạt động tập thể, thoải mái, tự tin giữa đám đông, biết chia sẻ, quan tâm đến người khác và cũng được người khác chia sẻ, khuyên bảo;
(7) Trí tuệ nội tâm: Là năng lực tự nhận thức về bản thân, nhìn rõ được
những cảm xúc của bản thân mình, người có trí thông minh này họ thường hay xem xét bản thân và thích trầm tư suy nghĩ, được ở trạng thái tĩnh lặng hay các trạng thái tìm hiểu tinh thần một cách sâu sắc khác, họ thích làm việc một mình hơn làm việc cùng những người khác, họ là người có tính độc lập và tính tự giác tốt Họ biết rõ ưu điểm, hạn chế của mình; Ý thức đầy đủ và đúng
về tâm trạng, động cơ, tính khí, ước mơ của bản thân; Khả năng tự kiềm chế, tự kiểm soát, lòng tự trọng;
(8) Trí tuệ tự nhiên học: Là khả năng nhận dạng, phân loại các loài sinh
vật; hiểu biết về các hiện tượng thiên nhiên; thích dã ngoại, chăm sóc con vật;… Gần đây, các nhà nghiên cứu đã đề nghị bổ sung trí thông minh thứ 9 được
gọi là “Trí thông minh theo chủ nghĩa hiện sinh” hay “Trí thông minh triết
học” Điều quan trọng là quá trình khai thác và phát triển chúng để đạt được sự
phát triển toàn diện nhất
2.3 Vai trò của thuyết đa trí tuệ trong việc dạy học
Từ các đặc điểm trên cho thấy, thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner đã giúp chúng ta hiểu thêm về trí tuệ của con người theo cách thức mới, đa dạng
Trang 9hơn, rộng mở hơn Thuyết đa trí tuệ ra đời đã được các nhà GD nghiên cứu và
áp dụng một cách khoa học, sáng tạo vào nhiều lĩnh vực và hoạt động của nhà trường, từ chiến lược xây dựng và triển khai mục tiêu, chương trình GD; Xây dựng môi trường/cảnh quan trường học, lớp học, công tác quản lí lớp học; Đánh giá kết quả đầu ra, cho đến nhận thức và hành động của mỗi giáo viên
* Đối với người dạy:
Một trong những đóng góp lớn nhất mà Thuyết đa trí tuệ mang lại là sự tác
động đến việc đổi mới PPDH của giáo viên, đổi mới cách nhìn nhận năng lực người học, bao gồm cả việc soạn giáo án theo lí Thuyết đa trí tuệ để phù hợp
và khuyến khích tư duy của mọi người học Thuyết đa trí tuệ đã gợi mở ra rất
nhiều PPDH tích cực Không thể phủ nhận hoàn toàn vai trò của các PPDH truyền thống Các phương pháp này cũng đã góp phần phát triển ở người học một
số dạng trí tuệ nhất định (như trí tuệ ngôn ngữ, logic-toán học) Người dạy khi
đã hiểu rõ bản chất của Thuyết đa trí tuệ, họ sẽ là người tự giác và tích cực đổi
mới các PPDH theo hướng khai phá tiềm năng của người học, góp phần “thức tỉnh” các dạng trí tuệ tiềm ẩn của người học Mỗi dạng trí tuệ sẽ có các PPDH phù hợp và đặc trưng Ví dụ: Các PPDH phù hợp với dạng trí tuệ ngôn ngữ gồm có kể chuyện, động não, viết nhật kí, , hoặc đối với dạng trí tuệ không gian thì có các phương pháp: vẽ tranh, lập mã bằng màu sắc, biểu tượng bằng đồ thị, sơ đồ tư duy; các phương pháp góp phần phát huy dạng trí tuệ giao tiếp như thảo luận nhóm,… Tuy nhiên, không có phương pháp nào là vạn năng hay duy nhất để “thức tỉnh” đầy đủ cả 8 dạng trí tuệ Vì vậy, người dạy cần áp dụng linh hoạt nhiều PPDH khác nhau và phải biết cách lựa chọn phù hợp, phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp, có như vậy mới khơi dậy, phát huy tối đa các dạng trí tuệ ở người học
Hiểu biết về các dạng trí tuệ khác nhau còn giúp cho giáo viên thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về khả năng, phong cách học tập đa dạng của người học, tránh sự áp đặt những cách học, cách dạy không phù hợp với đặc điểm cá nhân, khó phát huy tiềm năng của người học Đặc biệt, với vận dụng thuyết đa trí tuệ, nhà GD sẽ thực hiện được mục tiêu cá thể hóa trong dạy học, phát huy thế mạnh học tập riêng ở người học
Thông điệp của Howard Gardner truyền tải cho các GV rất rõ ràng: Khi giáo dục con người cần thông qua các điểm mạnh của họ, chúng ta không chỉ kích thích
sự phát triển mà còn đặt niềm tin vào người học mới có thể đạt được các mục tiêu giáo dục
* Đối với người học:
Thuyết đa trí tuệ không chỉ giúp bài học trở nên thú vị mà còn giúp học sinh tiếp cận, lưu giữ thông tin theo những cách khác nhau Ý nghĩa cao nhất mà
thuyết Đa trí tuệ mang đến là cá nhân hóa việc học: HS được học tập đúng
Trang 10phong cách, đặc điểm, nhu cầu và sở thích cá nhân, được phát huy thế mạnh riêng HS được đặt niềm tin và giữ vai trò trung tâm, chủ động và tích cực tiếp cận bài học theo cách riêng phù hợp
Đồng thời với hoạt động học, HS được đánh giá linh hoạt ở nhiều dạng trí thông minh đa dạng Tránh một phương pháp học tập theo kiểu “một cỡ vừa cho tất cả”
3 Thực trạng vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10 trên địa bàn huyện Quỳ Hợp
* Thực trạng:
Thuyết đa trí tuệ đã được vận dụng vào dạy học ở các nước trên thế giới khá phổ biến Ở nước ta chủ yếu xuất hiện ở một số trường năng khiếu hay các trường mầm non Ở các cấp THPT, dạy học theo thuyết đa trí tuệ được đề cập đến ở một
số bài tạp chí chuyên ngành hay bước đầu vận dụng vào các môn KHTN, môn tiếng Anh Tuy nhiên, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy bất cứ tài liệu nào vận dụng thuyết đa trí tuệ trong tổ chức thực hiện các chủ đề của Hoạt động trải nghiêm, hướng nghiệp
Vì vậy, việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong tổ chức HĐTN, HN vẫn đang ở giai đoạn tìm tòi và nghiên cứu Thực trạng này vừa là cơ hội vừa là thử thách để các nhà giáo dục, các GV tâm huyết đổi mới giáo dục bắt tay vào việc vận dụng, ứng dụng dạy trải nghiệm, hướng nghiệp mang lại hiệu quả cao
- Về phía GV
Trong thời gian nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã khảo sát và điều tra việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào tổ chức các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp của
21 giáo viên trong các trường trên địa bàn huyện Quỳ Hợp gồm THPT Quỳ Hợp
và THPT Quỳ Hợp 3 Chúng tôi thu được kết quả như sau:
1 Thầy cô đã từng nghe nói đến việc vận dụng
thuyết đa trí tuệ vào dạy học hay chưa?
2 Thầy cô đã bao giờ vận dụng thuyết đa trí tuệ và
dạy Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp chưa?
3 Thầy cô có quan tâm đến việc vận dụng thuyết
đa trí tuệ vào tổ chức các hoạt động chủ đề 7,8,9
trong Trải nghiệm, hướng nghiệp 10 để định
hướng nghề nghiệp cho HS không?
Trang 11
Khi được hỏi hiểu biết như thế nào về thuyết Đa trí tuệ thì có 40% GV trả lời
đã đọc, đã nghe nói và biết được thuyết đa trí tuệ (trí thông minh đa dạng), và 60% GV chưa nghe nói đến Tương ứng như thế, chỉ có 15% thầy cô có đã vận dụng nó vào trong quá trình dạy HĐTN, HN Thế nhưng, điều đáng chú ý là có đến 83% GV mong muốn sẽ được vận dụng học thuyết này vào quá trình triển
khai các chủ đề 7,8,9 của hoạt động
- Về phía HS:
Chúng tôi tiến hành khảo sát 270 HS khối 10 trường THPT Quỳ Hợp và Quỳ Hợp 3 để tìm hiểu xem các em đã định hình được nghề nghiệp của mình trong tương lai của mình như thế nào Kết quả thu được như sau:
Em đã xác định được nghề nghiệp trong tương lai của mình hay chưa?
* Nguyên nhân:
Thực trạng trên có thể xuất phát từ nhiều phía
- Về phía GV: chưa coi trọng vai trò của HĐTN, HN; không được đào tạo chuyên sâu cho hoạt động giáo dục bắt buộc này vì hầu hết họ là những GV thiếu tiết bên chuyên môn, được bố trí dạy để đảm bảo định mức nên thiếu kinh nghiệm, thiếu đam mê GV cũng chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học cho đúng với đặc trưng của hoạt động này GV chủ yếu còn tổ chức hoạt động dưới hình thức nặng về lí thuyết, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động ở
HS để HS có cơ hội bộc lộ hết năng khiếu và thế mạnh của mình Thuyết đa trí tuệ tuy
Trang 12- Về phía HS: với sự đổi mới toàn diện của chương trình giáo dục tổng thể, HS dành nhiều thời gian cho các hoạt động học tập của những môn học chính; các
em cũng chưa nhận diện được vai trò quan trọng của HĐTN, HN nên tham gia hoạt động một cách đối phó HS của trường chủ yếu là con em dân tộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên hay mang trong mình tâm lí an phận, ngại thay đổi, ngại bứt phá Mỗi cá nhân HS là một tính cách, một năng khiếu, sở trường riêng biệt thế nhưng các em chưa biết đánh thức giá trị bản thân để tạo dựng tương lai cho chính mình, chưa có cơ hội để trải nghiệm cho việc định hướng nghề nghiệp
II GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1 Sử dụng phương pháp khảo sát để phân luồng năng lực theo nhóm trí thông minh của học sinh
Dạy học theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ dựa trên sự khác biệt về biểu hiện các dạng trí tuệ nổi trội của mỗi HS Vì thế, việc xác định được các dạng trí tuệ của HS là khâu đầu tiên của việc dạy học theo hướng vận dụng thuyết Đa trí tuệ, có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thiết kế kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, đánh giá quá trình dạy học về sau
Cách tốt nhất để đánh giá các trí tuệ là thông qua thực tế đánh giá thành tích trong nhiều dạng HĐ, thực hiện nhiệm vụ học tập, kiểm nghiệm liên kết với từng dạng trí tuệ Có rất nhiều công cụ, phương tiện đo lường các dạng trí tuệ của HS trong lớp học Trong điều kiện dạy học ở trường THPT hiện nay, GV có thể sử dụng các phương pháp thu nhận thông tin như: bộ công cụ để test về các dạng trí tuệ, quan sát, phỏng vấn, thiết kế bảng hỏi, nghiên cứu hồ sơ… để xác
định các dạng trí tuệ nổi trội của HS Ở đậy chúng tôi ưu tiên cho phương pháp
khảo sát qua hình thức sử dụng phiếu trắc nghiệm bởi tất cả thông tin và kết quả thu được đều do HS trả lời có thể không đạt đến độ chính xác tuyệt đối nhưng
nó cũng nằm ở kết quả tin cậy cao hơn Hiện nay có thể sử dụng bộ công cụ
test của Thomas Armstrong để kiểm tra các dạng trí tuệ của HS GV có thể sử dụng google form hoặc in ra văn bản giấy và tiến hành khảo sát
Với HS có thiết bị học tập và Internet đầy đủ, chúng tôi tiến hành khảo sát trực tuyến qua link kết nối:
https://docs.google.com/forms/d/1wL2HL0yYtu069GQBBS5gmZuVn226P5CWi8kyqwev4GM/edit
Với HS không có thiết bị, không có kết nối mạng, chúng tôi khảo sát qua phiếu khảo sát trực tiếp
Nội dung bộ trắc nghiệm trên gồm 80 tình huống diễn tả về đặc trưng của 8 dạng trí tuệ: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic/toán, trí tuệ không gian, trí tuệ giao tiếp, trí tuệ nội tâm, trí tuệ âm nhạc và trí tuệ tự nhiên học (mỗi dạng trí tuệ gồm
10 tình huống), sử dụng để thu thập thông tin và phát hiện thiên hướng phát triển
Trang 13các dạng trí tuệ của HS Mỗi tình huống được đánh dấu tính 1 điểm Điểm tối đa cho mỗi dạng trí tuệ là 10 điểm
Từ kết quả khảo sát tiến hành xử lí, phân tích để đưa ra đánh giá bước đầu
và phân loại trí thông minh/trí tuệ của HS thành các nhóm, … Việc tổng hợp, xử
lí kết quả ngay sau khi tiến hành khảo sát là cơ sở dữ liệu quan trọng để đề xuất thiết kế vận dụng thuyết đa trí tuệ cho vào dạy học văn bản HS THPT Quy trình
xử lí số liệu được tiến hành một cách khoa học, chuẩn xác qua vận dụng google
from hoặc bản giấy in A4
* Hướng dẫn thực hiện:
- HS đọc kĩ từng nhóm trí tuệ, mỗi ý đúng với bản thân HS cho 1 điểm, không đúng cho 0 điểm
- HS cộng điểm theo từng nhóm
- Điểm nhóm nào cao nhất thể hiện HS có xu hướng nghề theo nhóm trí tuệ đó
.2 Thành lập các nhóm trí thông minh ( 8 nhóm trí thông minh) phù hợp với năng lực nghề nghiệp
Sau khi thu thập và xử lí kết quả khảo sát, chúng tôi thành lập 8 nhóm trí
thông minh theo thuyết đa trí tuệ Hầu hết, HS ở mỗi nhóm có biểu hiện dạng trí tuệ ở mức độ I, II Cũng không nhất thiết là HS chỉ được tham gia một nhóm, các em có thể hoạt động ở hai đến 3 nhóm trí tuệ khác nhau Bởi chúng tôi muốn
để HS được trải nghiệm ở nhiều năng lực khác nhau và tự nhận diện sở trường của mình là ở lĩnh vực nào mà phát huy
* Mục đích thành lập các nhóm trí thông minh:
Việc thành lập các nhóm trí thông minh là cách dạy phân hoá theo năng lực Dạy học phân hoá là xu thế tất yếu, là một đòi hỏi khách quan Bởi lẽ, nhu cầu của xã hội đối với việc đào tạo nguồn nhân lực vừa có những điểm giống nhau về nhân cách người lao động trong cùng một xã hội, lại vừa có sự khác nhau về trình độ phát triển, về khuynh hướng và tài năng; HS trong cùng độ tuổi vừa có sự giống nhau, lại vừa có sự khác nhau về nhận thức, tư duy, năng khiếu,
sở trường, điều kiện, hoàn cảnh, nền nếp gia đình
Phương pháp dạy học và tổ chức hoạt động này được tiến hành dựa trên những mục tiêu cụ thể như sau:
- Nhóm trí thông minh là nơi có những hoạt động phù hợp với năng lực của HS, tạo môi trường cho các HS có khả năng và năng khiếu được bộc lộ, phát triển Bên cạnh định hướng giá trị mới, tạo điều kiện cho HS trưởng thành về mọi mặt
- Tạo điều kiện cho HS giao tiếp, ứng xử, vui chơi giải trí lành mạnh, bày tỏ quan điểm, tâm tư nguyện vọng, đồng thời hỗ trợ giải quyết các vấn đề khó khăn,
Trang 14vướng mắc trong việc định hướng nghề nghiệp Phát huy tối đa năng lực của từng đối tượng học sinh
- Nhóm trí thông minh giúp GV đánh giá đúng năng lực của HS, GV kịp thời hỗ trợ hợp lí cho từng đối tượng nhóm Tạo cơ hội học tập, hoạt động công bằng cho tất cả các HS; HS cảm thấy được khuyến khích hoặc được thách thức xuyên suốt trong quá trình tham gia hoạt động
* Quy trình vận hành các nhóm trí thông minh:
Bước 1: Căn cứ vào trí tuệ vượt trội; căn cứ vào nguyện vọng của HS Bầu trưởng
và phó nhóm
Bước 2: Các nhóm phối hợp với GV phụ trách chủ đề xây dựng kế hoạch, xác
định mục tiêu, nội dung hoạt động, hình thức tổ chức
Bước 3: Tập hợp các thành viên, xây dựng tổ chức, thống nhất nguyên tắc hoạt
động, thông qua kế hoạch, xây dựng nội quy hoạt động, thống nhất lịch sinh hoạt Xây dựng kế hoạch dài hạn và ngắn hạn
Bước 4: Tham gia các hoạt động; xác định rõ công việc cần làm Sau mỗi hoạt
động cần có kiểm tra và nhận xét đánh giá, khen thưởng
* Nguyên tắc hoạt động của các nhóm:
Tham gia trên tinh thần tự nguyện; không phân biệt đối xử; đảm bảo sự công bằng; phát huy tính sáng tạo; tôn trọng ý kiến và nhân cách của nhau; bình đẳng giới; học sinh là chủ thể quyết định mọi vấn đề của nhóm
Có thể nói, khi học sinh có cơ hội được thể hiện mình, được trải nghiệm thường xuyên những năng lực, sở trường của mình thì chắc chắn những tiềm năng
đó sẽ được đơm hoa, kết trái Không gian nhóm trí tuệ sẽ trở thành môi trường lý tưởng chắp cánh những khả năng, sức sáng tạo của các em học sinh Không những thế, khi các Nhóm trí tuệ được tiếp nối, duy trì, phát triển thì cũng đồng nghĩa với việc tạo dựng môi trường giáo dục thực sự là "an toàn", thân thiện để các em thêm gắn bó với trường, lớp, bè bạn, hạn chế thời gian dư thừa hoặc sa đà vào những trò chơi, thói hư, tật xấu
3.Tổ chức diễn đàn
Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia của học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người lớn khác có liên quan Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực Thông qua diễn đàn, học sinh có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nào
đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau Vì vậy, diễn đàn như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý kiến của mình một cách trực
Trang 15tiếp với đông đảo bạn bè và những người khác Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và đa dạng với những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh
Mục đích của việc tổ chức diễn đàn là để tạo cơ hội, môi trường cho học sinh được bày tỏ ý kiến về những vấn đề các em quan tâm, giúp các em khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để khẳng định mình Qua các diễn đàn, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh và những người lớn có liên quan nắm bắt được những băn khoăn, lo lắng và mong đợi của các em về bạn bè, thầy cô, nhà trường và gia đình,… tăng cường cơ hội giao lưu giữa người lớn và trẻ em, giữa trẻ em với trẻ em và thúc đẩy quyền trẻ
em trong trường học Giúp học sinh thực hành quyền được bày tỏ ý kiến, quyền được lắng nghe và quyền được tham gia,… đồng thời giúp các nhà quản lí giáo dục và hoạch định chính sách nắm bắt, nhận biết được những vấn đề mà học sinh quan tâm từ đó có những biện pháp giáo dục và xây dựng chính sách phù hợp hơn với các em
Ở chủ đề 8: Thông tin nghề nghiệp Để giúp HS phát huy được thế mạnh của
mình, chúng tôi đã tổ chức diễn đàn với chủ đề “ Giao lưu với người thành
công”
*Cách thức tiến hành như sau:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
+ Nhóm trí thông minh ngôn ngữ: thực hiện nhiệm vụ xây dựng kịch bản chương trình
+ Nhóm trí tuệ giao tiếp: thực hiện nhiệm vụ làm người dẫn chương trình, tương tác với khách mời, là khán giả đặt câu hỏi giao lưu với khách mời
+ Nhóm trí tuệ không gian - hội hoạ: thực hiện nhiệm vụ thiết kế sân khấu, làm maket cho chương trình
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
Các nhóm trí thông minh thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công Các nhóm trí thông minh tự phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm mình để đạt được hiệu quả cao nhất
Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
Tổ chức diễn đàn“ Giao lưu với người thành công”
Trang 16Hình ảnh diễn đàn: giao lưu với người thành công
- Thông qua tổ chức diễn đàn về nghề nghiệp, chúng tôi đã cho các nhóm trí thông minh thực hiện nhiệm vụ theo thế mạnh của mình và cũng là nhóm nghề
mà mình quan tâm Để từ đó xác định được năng lực và phẩm chất của bản thân
có phù hợp với những nhóm nghề mà mình đang thực hiện không Chúng tôi
nhận thấy việc tổ chức diễn đàn về chủ đề “Giao lưu với người thành công” đã
rèn luyện cho học sinh tính chủ động tìm hiểu, phân tích những năng lực, phẩm chất của bản thân và những yêu cầu đối với nghề dự định để đưa ra được những đánh giá về sự phù hợp của bản thân đối với nhóm nghề dự định Thông qua buổi diễn đàn các nhóm trí thông minh được giao nhiệm vụ có cơ hội để hiểu hết
về thế mạnh của bản thân để từ đó bản thân sẽ lựa chọn được cách rèn luyện phù hợp về phẩm chất và năng lực cần thiết cho nhóm nghề định lựa chọn Bên cạnh đó những bạn HS khác khi tham gia buổi diễn đàn cũng sẽ biết thêm nhiều thông tin về nghề nghiệp mà nhóm bạn đang thực hiện
- Sau buổi diễn đàn, chúng tôi nhận thấy học sinh thuộc các nhóm trí thông minh ngôn ngữ, giao tiếp, không gian - hội hoạ là những nhóm trực tiếp tham gia vào buổi diễn đàn các em rất vui và hào hứng vì bản thân đã thể hiện được khả năng
và thế mạnh của mình Các em có thể định hướng được những nhóm ngành nghề
cơ bản phù hợp với năng lực của bản thân Nhận thức được việc bản thân muốn làm nghề gì? Chọn làm nghề gì? Nghề gì phù hợp mới mình? Và cần làm gì để
đạt được ước mơ đó?
4.Tổ chức trò chơi
Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều
bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với học
sinh nói riêng Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung
kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học
mà chơi”
Trang 17Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn
Có nhiều hình thức tổ chức trò chơi như: Gọi tên cảm xúc, chiếc khăn giấy, vẽ hình, kịch câm, ai nhanh hơn Mỗi trò chơi được tổ chức bằng những hình thức khác nhau nhưng mục đích chính là thông qua việc tổ chức trò chơi giúp các nhóm trí thông minh có thể phát huy thế mạnh của mình từ đó tự điểu chỉnh và rèn luyện bản thân để định hướng được nghề nghiệp trong tương lai
Với những đặc trưng trên, hoạt động tổ chức trò chơi rất phù hợp với việc phát huy được năng lực của một số nhóm trí thông minh từ đó giúp học sinh cái nhìn đúng về bản thân và đánh giá được sự phù hợp của bản thân với nhóm nghề định lựa chọn
- Ở CĐ 8: Chọn nghề, chọn trường Chúng tôi đã tổ chức cho học sinh chơi trò
chơi kịch câm ( dùng ngôn ngữ hình thể để diễn tả nghề nghiệp, đặc thù, tính chất của công việc ) Qua đó, các em định hình được các đặc thù của mỗi ngành nghề Với hoạt động trò chơi này rất thích hợp cho một số nhóm trí tuệ tham gia như: Nhóm trí tuệ hình thể - vận động, nhóm trí tuệ ngôn ngữ, nhóm trí tuệ giao tiếp là ba nhóm phụ trách chính; các nhóm trí tuệ còn lại tham gia trò chơi Cách thức thực hiện như sau:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
+ Giao cho nhóm trí tuệ ngôn ngữ là nhóm trực tiếp điều hành trò chơi
+ Giao cho nhóm trí tuệ hình thể - vận động chuẩn bị 5 đoạn kịch câm ngắn với nội dung diễn tả về một nghề nghiệp trong đó vở kịch diễn tả được đặc thù, tính chất công viêc, đặc điểm riêng biệt
+ Giao cho các nhóm trí tuệ khác trực tiếp tham gia trò chơi Nhóm này có nhiệm
vụ đoán ra tên nghề nghiệp thông qua các đoạn kịch câm ngắn mà nhóm trí tuệ hình thể - vận động đã chuẩn bị
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
Bước 3: Tổ chức trò chơi
Trang 18Hình ảnh: trò chơi đoán nghề qua ngôn ngữ hình thể Bước 4: Nhận xét, đánh giá
- Việc tổ chức hoạt động trò chơi đã giúp cho một số nhóm trí thông minh phát huy được sở trường của mình
- Ở CĐ 9: Rèn luyện bản thân theo định hướng nghề nghiệp Chúng tôi cũng
sử dụng phương pháp trò chơi với tên gọi “Ai nhanh hơn” Cách thức thực hiện
như sau:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ học tập
GV trình chiếu một số ngành nghề phổ biến HS nêu được ít nhất 2 phẩm chất
và năng lực cần có của ngành nghề tương ứng Mỗi nhóm trí thông minh cử 1 bạn tham gia trò chơi Sau khi GV trình chiếu hình ảnh, bạn nào giơ tay nhanh nhất sẽ
là người được trả lời câu hỏi Mỗi câu trả lời đúng sẽ nhận được 1 ngôi sao may mắn Đội giành chiến thắng là đội có nhiều ngôi sao may mắn nhất
Có trách nhiệm với công việc
Có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp
+ Nhóm nghề giáo dục cần rèn luyện một năng lực, phẩm chất như:
Trang 19Yêu thương, tôn trọng, thân thiện với HS; giữ gìn đạo đức, uy tín, lương tâm nhà giáo
Có năng lực chuyên môn, ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin
Có năng lực nghiệp vụ sư phạm
Năng lực xây dựng những mỗi qua hệ xã hội
Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
Các nhóm trí thông minh thực hiện nhiệm vụ bằng cách cử một bạn đại diện của nhóm lên tham gia trò chơi
Bước 3: Tổ chức trò chơi
Giao cho nhóm trí thông minh giao tiếp điều hành trò chơi
Bước 4: Nhận xét đánh giá
Hình ảnh HS giới thiệu phẩm chất, năng lực của nghề
- Thông qua trò chơi “ Ai nhanh hơn” mà chúng tôi đã tổ chức, HS rất hào
hứng và thích thú tham gia trò chơi Trên cơ sở những phẩm chất, năng lực của mỗi nhóm nghề cần có HS sẽ đưa ra cách rèn luyện cho mỗi phẩm chất, năng lực theo định hướng nghề nghiệp trong tương lai
- Có thể nói hoạt động tổ chức trò chơi là hoạt động thu hút sự quan tâm của học sinh nhất Bởi đây không chỉ là động giải trí, thư giãn mà nó còn có chức năng tổ chức, hướng dẫn và động viên học sinh tìm kiếm và lĩnh hội tri thức, học tập và rèn luyện kĩ năng, tích lũy và phát triền các phương thức hoạt động, nâng cao khả năng hợp tác và hành vi ứng xử Việc tạo trò chơi trong học tập là một hoạt động mang tính giáo dục cao Khi tham gia trò chơi, chúng tôi nhận thấy các
em rất hào hứng, các em đã tạo ra được những phút giây thư giãn thoải mái để vừa học vừa chơi nhưng quan trọng hơn học sinh có cơ hội được trải nghiệm những tình huống, hoạt động trong thực tiễn để rèn luyện những phẩm chất như tinh thần hợp tác, lòng kiên trì, sự tự tin, sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và đặc
Trang 20biệt giúp các em thể hiện được sở trường của bản thân để từ đó giúp các em thêm
tự tin để có thể lựa chọn được ngành nghề phù hợp với bản thân trong tương lại
5.Phương pháp đóng vai
- Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách ứng
xử, một việc làm, một hành động nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy.Khi sử dụng phương pháp đóng vai đòi hỏi GV phải đưa ra tình huống đóng vai phù hợp với chủ đề bài học, đối tượng học sinh, trình độ và điều kiện
- Để phương pháp đóng vai đạt hiệu quả cao, yêu cầu các em phải chuẩn bị tích cực, chu đáo Khi nhận nhiệm vụ GV giao cho, HS cần nghiên cứu và làm việc nghiêm túc
Ở CĐ 8: Chọn nghề, chọn trường Trong nội dung thực hành tham vấn hướng
nghiệp, chúng tôi cho HS đóng vai trong một tình huống cụ thể Mỗi tình huống đưa ra sẽ phát huy được năng lực của nhóm trí thông minh Chúng tôi đã tiến hành như sau:
Bước 1 Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ:
GV đưa tình huống để HS nhập vai:
Tình huống 1: Huy là học sinh học rất tốt ban KHTN Huy có sở thích và thế
mạnh là am hiểu về các loại cây cối vì thế em muốn trở thành một kĩ sư nông – lâm nghiệp Bố mẹ Huy là bác sĩ, mong muốn và nguyện vọng của bố mẹ là con theo nghề truyền thống của GĐ Nhưng Huy lại chọn ngành nông lâm để thi
Tình huống 2: Một HS đóng vai Hoàng, băn khoăn vì không hiểu rõ bản thân
thích nghề gì và có sở trường về lĩnh vực nào HS khác đóng vai là GVCN của Hoàng, tham vấn cho Hoàng để làm rõ sở thích nghề nghiệp và điểm mạnh của
• Từ kết quả trắc nghiệm GV định hướng nghề nghiệp cho HS
• Nếu lựa chọn ngành nghề đó em sẽ gặp khó khăn gì?
Bước 2 HS thực hiện nhiệm vụ:
- HS nhận nhiệm vụ và tập đóng vai ở nhà qua 2 tình huống Các nhóm trí thông minh sẽ lựa chọn vai diễn và phân công nhiệm vụ cho từng bạn
Trang 21Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
Trong buổi hoạt động giáo dục theo chủ đề Các nhóm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình
Câu 2: Vì sao em thích vai diễn đó?
Câu 3: Qua các tình huống đó, em có định hướng được nghề nghiệp tương lai cho bản thân mình hay không? Nghề em sẽ chọn là gì?
- GV cho bạn nhập vai tự phát biểu ý kiến về các vai diễn mà mình vừa thể hiện thông qua một số câu hỏi gợi ý:
Câu 1: Em có thích ngành, nghề mà em vừa nhập vai không?
Câu 2: Em đã phát huy được thế mạnh của bản thân khi tham gia vào tình huống trên chưa?
Câu 3: Vậy em sẽ làm gì để theo đuổi sự lựa chọn của mình?
- GV đưa ra nhận xét, đánh giá và kết luận cuối cùng Định hướng cho HS về
cách lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích của HS
Hình ảnh HS nhập vai với 2 tình huống
Từ các tình huống mà HS đóng vai, các em nhận ra rằng: năng lực của bản thân có phù hợp với vai diễn mà mình vừa nhập vai không? Để có thể đưa ra được lựa chọn đúng đắn các em có thể tham khảo ý kiến của mọi người xung quanh (thầy cô, bạn bè, gia đình) Từ đó các em có thêm thông tin để đối chiếu, đánh giá và đưa ra định hướng học tập phù hợp với dự định chọn nghề
Như vậy, thông qua hoạt động đóng vai mà chúng tôi đã tổ chức ở chủ đề 8 Chúng tôi nhận thấy một số hiệu quả nhất định:
Trang 22+ Học sinh cuốn hút vào hoạt động học tập mà GV thiết kế và tổ chức
+ Các nhóm trí thông minh rất chủ động tích cực trong việc tìm hiểu, thực hiện nhiệm vụ mà GV giao phó
+ Lựa chọn được cách rèn luyện phù hợp về phẩm chất và năng lực cần thiết cho nhóm nghề định lựa chọn
+ Tích cực xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập, rèn luyện bản thân theo định hướng nghề nghiệp
6 Tổ chức cuộc thi
Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc Chính vì vậy, tổ chức hội thi cho học sinh là một yêu cầu quan trọng, cần thiết của nhà trường, của giáo viên trong quá trình tổ chức HĐTN sáng tạo
Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục của nhà trường; đáp ứng nhu cầu
về vui chơi giải trí cho học sinh; thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức Hội thi/cuộc thi có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: Thi vẽ, thi viết, thi tìm hiểu, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi thời trang, thi kể chuyện, thi chụp ảnh, thi kể chuyện theo tranh, thi sáng tác bài hát, hội thi học tập, hội thi thời trang, hội thi học sinh thanh lịch,… có nội dung giáo dục về một chủ đề nào đó Nội dung của hội thi rất phong phú, bất cứ nội dung giáo dục nào cũng có thể được tổ chức dưới hình thức hội thi/cuộc thi Điều quan trọng khi tổ chức hội thi là phải linh hoạt, sáng tạo khi tổ chức thực hiện, tránh máy móc thì cuộc thi mới hấp dẫn
- Ở chủ đề 8: Chọn nghề, chọn trường Chúng tôi đã cho HS tham gia cuộc thi
“Hoá thân vào nghề em chọn” Cách thức thực hiện như sau:
Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ
Mỗi nhóm trí thông minh sẽ hoá thân vào 1 số ngành, nghề phù hợp để tự trải
nghiệm Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ
Các nhóm theo trí thông minh lựa chọn các ngành, nghề dự định nhập vai theo gợi ý của GV hoặc theo sự lựa chọn của nhóm Tìm hiểu và tự tập hoá thân vào ngành nghề đó (Các nhóm nghề tập luyện trước khi diễn ra hoạt động theo chủ đề)
Trang 23Bước 3: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
Các nhóm thực hiện trải nghiệm hoá thân trong buổi hoạt động chủ đề theo lịch
Câu 3: Nhận xét về ưu điểm và nhược điểm của từng nhóm?
Câu 4: Sau khi xem các màn hoá thân, em có định hướng được nghề nghiệp tương lai cho bản thân mình hay không? Nghề em sẽ chọn là gì?
+ GV cho các nhóm vừa tham gia cuộc thi tự phát biểu ý kiến về các vai diễn mà mình vừa hoá thân thông qua một số câu hỏi gợi ý:
+ GV đưa ra nhận xét, đánh giá và kết luận cuối cùng Định hướng cho HS về
cách lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích của HS
Hình ảnh hoá thân vào nghề
Trang 24PHẦN 3: KẾT QUẢ
- Sử dụng thuyết đa trí tuệ để định hướng nghề nghiệp cho HS THPT hiện nay sẽ giúp các em có một lộ trình đúng đắn và tự tin vào lựa chọn của mình Khi biết rõ được năng lực và thế mạnh của bản thân, nhiều khả năng con người theo đuổi đúng cơ hội hơn, biết cách vận dụng thế mạnh của mình vào công việc và điều quan trọng nhất là các em sẽ lựa chọn được ngành, nghề phù hợp với bản thân giúp các em tránh được rủi ro làm việc trái ngành, thất nghiệp hoặc không đúng với sở trường Càng hiểu rõ về mặt ưu điểm và mặt hạn chế bao nhiêu thì chúng
ta càng phát huy toàn bộ tiềm năng của mình tốt bấy nhiêu
- Qua việc sử dụng phiếu khảo sát về khả năng định hướng nghề nghiệp của
HS, chúng tôi thu lại kết quả như sau ( kết quả khảo sát tính theo tỉ lệ %):
Trang 25Bảng : Kết quả thu thập và xử lí phiếu khảo sát của HS
- Qua kết quả từ phiếu KS chúng tôi nhận thấy trước khi áp dụng giải pháp, các em rất mơ hồ khi nhắc đến ngành, nghề mình sẽ lựa chọn ở tương lai Nhiều HS không nhận ra ưu điểm và nhược điểm của mình, các em không biết mình muốn gì? Dự định tương lai là gì? Tuy nhiên sau khi áp dụng thuyết đa trí tuệ, chúng tôi nhận thấy đa số HS đã nhận ra được thế mạnh của mình và định hướng được nghề nghiệp cho bản thân Kết quả
Tiêu chí 4
Tiêu chí 5
Tiêu chí 6
Tiêu chí 7
Tiêu chí 8
Tiêu chí 9
Tiêu chí 10
Trước khi áp dụng
Đạt Chưa đạt
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Tiêu chí 1
Tiêu chí 2
Tiêu chí 3
Tiêu chí 4
Tiêu chí 5
Tiêu chí 6
Tiêu chí 7
Tiêu chí 8
Tiêu chí 9
Tiêu chí 10
Sau khi áp dụng
Đạt Chưa đạt
Trang 26
Bảng:Thái độ của HS khi tham gia hoạt động TN-HN theo chủ đề
+ Qua phiếu khảo sát cho kết quả hầu hết học sinh trở nên hứng thú hơn với các hoạt động theo chủ để bằng nhiều hình thức mới lạ, sinh động, thu hút học sinh HS đã tích cực tham gia các hoạt động mà GV yêu cầu Và sau mỗi buổi hoạt động đó các em đã nhận thức được nhiều điều, làm nền tảng cho tương lai
10A1 10A2 10A3 10A4 10C1 10C2 10C3 10C4 10C5
Sau khi áp dụng
Có Không
Trang 27Biểu đồ: Thể hiện thái độ của học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa
TN-HN
* Từ số liệu ở bảng trên chúng tôi nhận thấy:
- Trước khi áp dụng giải pháp, chúng tôi nhận thấy đa số HS chưa nắm được đặc điểm về tính cách, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân một cách chính xác và cụ thể Các em còn định hướng nghề nghiệp theo dạng sở thích, số đông, HS cũng chưa chủ động trong việc tìm hiểu về các ngành nghề mà mình quan tâm hoặc dự định sẽ làm trong tương lai Đa số các em thụ động hoặc có suy nghĩ đến đâu thì hay đến đó nên chưa làm chủ được tính cách, tương lai của mình
- Để đáp ứng mục tiêu của chương trình Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, chúng tôi đã áp dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy ở khối lớp 10 bằng việc phân luồng, phân hoá năng lực học sinh kết hợp với hình thức đa dang hoá phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục theo chủ đề để thu hút HS tham gia nhằm giúp
HS nhận ra và phát huy được thế mạnh của bản thân để từ đó các em có thể định hướng được nghề nghiệp của mình Qua những buổi hoạt động theo chủ đề đó, chúng tôi nhận thấy HS đã nhận ra được điểm mạnh, sở trường của mình Đa số
HS nhận thức được đặc điểm, tính cách, quan điểm của bản thân để phát huy năng lực định hướng nghề nghiệp Việc phân chia theo nhóm trí thông minh giúp các
em có điều kiện hợp tác, trao đổi, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau, tạo điều kiện để cùng nhau phát triển Qua phiếu khảo sát chúng tôi nhận thấy, với việc giáo dục định hướng nghề nghiệp bằng thuyết đa trí tuệ cho HS thì đa phần HS chủ động lên kế hoạch cho tương lai, biết tìm hiểu những nhóm ngành nghề hợp với bản thân, biết theo đuổi ước mơ và hoài bão của mình; Giải thích được các điều kiện làm việc, công việc và vị trí việc làm của các nghề/nhóm nghề; Ra được quyết định lựa chọn nghề, trường đào tạo nghề, hướng học tập nghề nghiệp; Thể hiện được hứng thú đối với nghề hoặc lĩnh vực nghề nghiệp và thường xuyên thực hiện hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp đó…
- Năm học 2023-2024, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục áp dụng chương trình giáo dục tổng thể 2018 ở bậc THPT với lớp 11 và hoạt động trải nghiệm, hướng
87.50%
7.80%
3.10% 1.60%
Rất thích Thích Bình thường Không thích
Trang 28nghiệp vẫn là một động giáo dục bắt buộc Ở năm học này chúng tôi không chỉ áp dụng thuyết đa trí tuệ cho HS khối 10 mà còn áp dụng thuyết đa trí tuệ cho HS
11 Ở năm học này chúng tôi đã quen với cách thức tổ chức nên việc lên kế hoạch, chuyển giao nhiệm vụ học tập cho HS trở nên dễ dàng hơn Đối với lớp 10 các em đã hiểu rõ được ưu, nhược điểm của bản thân và bắt đầu định hướng nghề nghiệp cho tương lai Đối với lớp 11, các em đã xác định được ngành, nghề mình lựa chọn và đang cố gắng học tập, rèn luyện để đạt được ước mơ của mình Với kết quả đạt được như vậy, chúng tôi tin rằng tương lai của các em sẽ rộng mở hơn
Trang 29PHẦN IV KẾT LUẬN
1 Khả năng áp dụng của giải pháp
- Đề tài được áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng HS ở các cấp
- Đề tài là tài liệu tham khảo cho GV phụ trách hoạt động TN-HN, GVCN, GV
bộ môn, các tổ chức trong và ngoài nhà trường để giúp HS có thể định hướng
và lựa chọn được nghề nghiệp phù hợp với năng lực của bản thân
- Các giải pháp đưa ra rất thiết thực, dễ thực hiện và thực hiện có hiệu quả nếu
áp dụng Với việc phân thành các nhóm trí thông minh phù hợp với thế mạnh của bản thân giúp các em có điệu kiện hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, phát huy được năng lực của từng bạn để từ đó các em vừa có cái nhìn đúng đắn về mình và đưa ra được lựa chọn nghề nghiệp chính xác nhất
- Phương pháp giáo dục gần gũi với thực tế, hình thức mới lạ, sáng tạo, thu hút được HS tham gia HS được học tập, được trải nghiệm, được làm thử
- Các phương pháp đưa ra rất dễ thực hiện không chỉ ở trường THPT Quỳ Hợp
3 mà còn áp dụng được ở các đơn vị khác, không tốn quá nhiều chi phí và dễ dàng nhận được sự đồng ý và hỗ trợ của BGH nhà trường
- Đề tài mang tính giáo dục giúp HS hình thành và phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức các hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp thông qua các chủ đề hoạt động phù hợp với thế mạnh của từng nhóm trí thông minh Đề tài thu hút được sự quan tâm của tất cả mọi người Có hiệu ứng lan tỏa vì đây là giải pháp nhằm định hướng nghề nghiệp tương lai cho học sinh, giúp các em hoàn thiện nhân cách, có những nhìn nhận, đánh giá
về bản thân mình và từ đó tràu dồi, cố gắng học tập để đạt được mục tiêu
- Giải pháp không chỉ được áp dụng trong trường học mà còn có thể áp dụng ở ngoài cộng đồng
- Chúng tôi nhận thấy việc thiết kế lại hoạt động tổ chức giảng dạy theo thuyết đa trí tuệ để bản thân đạt hiệu quả là việc làm hết sức cần thiết trong qua trình dạy hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp
- Bố cục của sáng kiến đảm bảo, rõ ràng, rành mạch hướng tới chuẩn của một công trình nghiên cứu khoa học: hệ thống đề mục, cách trích dẫn tài liệu, cách lập thư mục tham khảo
- Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện các biện pháp nêu trong đề tài chúng tôi nhận thấy:
+ Hầu hết học sinh trong trường, trong lớp đã có những nhìn nhận và đánh giá đúng về năng lực riêng của bản thân - điều mà trước khi áp dụng đề tài HS còn mông lung và chưa hiểu rõ về mình
+ Đa số HS đã tự nhận thức được: đặc điểm, tính cách, thế mạnh, quan điểm sống của bản thân để biết cách phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu, ngày
Trang 30càng hoàn thiện mình hơn
+ Biết cách tìm hiểu thông tin về nhóm nghề mà mình quan tâm Xác định được năng lực và phẩm chất của bản thân có thể theo được những nhóm nghề nào, bản thân đam mê nghề gì Chủ động tìm hiểu, phân tích những năng lực, phẩm chất của bản thân và những yêu cầu đối với nghề dự định để đưa ra được những đánh giá về sự phù hợp của bản thân đối với nhóm nghề dự định lựa chọn Lựa chọn được cách rèn luyện phù hợp về phẩm chất và năng lực cần thiết cho nhóm nghề định lựa chọn Tích cực xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập, rèn luyện bản thân theo định hướng nghề nghiệp
+ Tự nhận thức được thế mạnh và khó khăn của bản thân trong giao tiếp, ứng xử hằng ngày, trong khả năng thu hút các bạn vào tham gia các hoạt động chung, trong việc thực hiện các hoạt động theo các chủ đề của hoạt động TNHN Rút ra được bài học cho bản thân khi tham gia các hoạt động giáo dục nhà trường; trong giao tiếp, ứng xử ở trường, lớp, nơi cộng cộng
+ HS đã tự nhận diện được thế mạnh của bản thân Tạo thói quen quan sát và học hỏi những kiến thức trong học tập, trải nghiệm Có những hành động để điều chỉnh tư duy theo hướng tích cực cho bản thân
+ Biết cách ứng xử với các tình huống giao tiếp khác nhau khi làm việc nhóm, khi tham gia hoạt động trải nghiệm Nhận thức được vai trò và ý nghĩa của các hoạt động cộng đồng để tham gia các hoạt động xã hội phù hợp với bản thân, thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao và hỗ trợ mọi người cùng tham gia Có ý thức thực hiện những hành vi, thói quen hành vi thể hiện văn hóa ứng xử nơi cộng đồng
2 Những khó khăn khi thực hiện giải pháp
- Đa số HS chưa hiểu hết về bản thân mình, chưa nhận ra được năng lực và thế mạnh của mình và chưa
- Học sinh trường THPT Quỳ Hợp 3 chủ yếu là con em dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa nên nhận thức của các em rất hạn chế HS chưa hiểu sâu được tầm quan trọng của việc định hướng nghề trong tương lai Các em chỉ nghĩ đơn giản là học để lấy bằng tốt nghiệp mà không nghĩ đến việc sẽ lựa chọn học ngành, nghề gì, tương lai như thế nào Vì thế mà vai trò của GV trong việc giáo dục và định hướng nghề nghiệp cho HS là vô cùng quan trọng
- Đây là một hoạt động mới, tài liệu tham khảo còn hạn chế Để giải pháp có 3
Đề xuất
- Đề giải pháp có được kết quả cao hơn nữa thì BGH nhà trường, GVCN, GV các
bộ phận liên quan, phụ huynh cần có sự kết hợp chặt chẽ với nhau để giáo dục định hướng nghề nghiệp cho HS
- Nhà trường, GV được phân công phụ trách hoạt động TN-HN cần đa dạng hơn nữa hình thức tổ chức hoạt động theo chủ đề để tăng thêm sự hứng thú cho HS khi tham gia