Theo chúng tôi, để đem lại kết quả tốt nhất cho việc dạy học tự chọn phải làm tốt hai yêu cầu sau: -Chọn nội dung và phương pháp dạy học các chủ đề tự chọn phù hợp với đối tượng học sinh
Trang 1I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Dạy học tự chọn là góp phần dạy học phân hóa, trên cơ sở bảo đảm mặt bằng chuẩn kiến thức phổ thông thống nhất Thực hiện phân hóa nhằm đáp ứng nguyện vọng, phát triển năng lực và hướng nghiệp cho học sinh, cụ thể là:
-Củng cố, bổ sung, đào sâu chương trình môn học
-Đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của học sinh
-Rèn luyện tính tích cực, tự giác, khả năng tự học của người học
Trường THCS Nguyễn Bá Ngọc chúng tôi thuộc vùng nông thôn, điều kiệnkinh tế xã hội còn quá nhiều khó khăn, việc học tập của HS còn nhiều hạn chế vềmặt thời gian, sự quan tâm đầu tư của phụ huynh chưa được đúng mức, ý thức tựhọc, tự nghiên cứu của các em cũng chưa được cao nên chất lượng học tập còn ởmức khiêm tốn Vì vậy, việc tổ chức dạy học tự chọn cho bộ môn ngữ văn cáckhối lớp trong nhà trường theo tinh thần chỉ đạo của các cấp quản lí từ nhiều nămnay cũng đã phần nào góp phần giải quyết những tồn tại, những lỗ hổng kiến thứccho các em một cách thiết thực và hiệu quả
Tuy nhiên, việc dạy học tự chọn toàn cấp THCS còn rất nhiều bất cập Trong quá trình thực hiện, một mặt do điều kiện, phương tiện, cơ sở vật chất thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu, mặt khác GV giảng dạy chưa có kinh nghiệm, nên rất lúng túng trong việc soạn, giảng các chủ đề tự chọn
Làm thế nào để thực hiện việc dạy tự chọn trong nhà trường THCS đem lại kết quả tốt nhất là vấn đề chúng tôi rất trăn trở Theo chúng tôi, để đem lại kết quả tốt nhất cho việc dạy học tự chọn phải làm tốt hai yêu cầu sau:
-Chọn nội dung và phương pháp dạy học các chủ đề tự chọn phù hợp với đối tượng học sinh và đặc điểm riêng của từng trường
-Công tác tổ chức dạy học trên lớp phải linh hoạt
Không nằm ngoài những khó khăn đó, dạy học tự chọn cho bộ môn ngữ văn ởbậc THCS còn gặp nhiều khó khăn bởi chương trình thì vô cùng phong phú, khảnăng tích hợp rất lớn, nguyện vọng của học sinh khá đa dạng Trong khi đó tàiliệu chung cho chương trình chưa có, giáo viên tự biên soạn theo cảm tính củamình nên việc thực hiện các tiết dạy tự chọn môn văn còn mang tính chắp vá,thiếu thống nhất giữa các trường, giữa các giáo viên trong trường và dĩ nhiên hiệuquả của việc giảng dạy không đạt như yêu cầu đề ra của các cấp quản lí, và hứngthú người học Theo sự định hướng xây dựng các nội dung, phương pháp dạy học
tự chọn cho môn Ngữ văn THCS theo CV 7092/BGD-Đ -GDTrH, theo sự chỉ đạocủa nhà trường, nhóm GV dạy Ngữ văn 9 chúng tôi đã thảo luận và thống nhất
chọn chủ đề bám sát: Rèn kĩ năng xây dựng văn bản nghị luận xã hội để đưa
vào chương trình dạy tự chọn cho HS lớp 9 học kì II từ năm học 2008-2009
Trang 2II/ CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ:
1 / CƠ SỞ LÍ LUẬN
Hiện nay nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện nền giáo dục nói chung
và giáo dục phổ thông nói riêng Một trong số các mục tiêu đổi mới là giáo dục
toàn diện - đào tạo lớp người ngày càng đáp ứng được tốt hơn yêu cầu về “ nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” cho xã hội, đáp ứng nhu
cầu phát triển cá nhân và hứng thú của người học Để đạt được những mục tiêutrên, giáo dục phổ thông cần phải đề xuất những định hướng mới về chươngtrình, phương pháp dạy học, học liệu, cơ chế đảm bảo chất lượng dạy học ; mặtkhác cần phải đề xuất chiến lược dạy học đáp ứng với nhu cầu rất đa dạng củangười học nhằm phát triển từng cá thể học sinh
Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 9, lớp cuối cùng của cấp THCS,
có một vị trí hết sức quan trọng : Vừa phải tổng kết được những kiến thức kĩ năngđược học tập rèn luyện trong bốn năm học, vừa phải chuẩn bị tốt cho kì thi vàolớp 10 THPT, tạo được tâm thế, tiềm lực cho HS học lên THPT, đi vào cuộc sống
Vị trí quan trọng của chương trình và SGK Ngữ văn 9 còn thể hiện ở khốilượng giờ rất lớn của nó: Mỗi tuần 5 tiết ( Cả năm 175 tiết ), số giờ lớn hơn bất cứmôn nào khác ở lớp 9 và cũng lớn hơn số giờ môn ngữ văn ở các lớp 6,7 và 8.Môn Ngữ văn bao gồm 3 phân môn: Văn bản, tiếng Việt và Tập làm văn Tuynhiên so với ba lớp dưới, tỉ lệ số giờ văn học tăng lên rất nhiều: 81 tiết, tức chiếmgần nửa số giờ của môn học Điều đó nhắc nhở phải dành cho phân môn, phânmôn tập làm văn chỉ có thời lượng 1/3 bộ môn với nhiều kiểu bài Vì vậy theochúng tôi, cần phải có sự quan tâm thích đáng đối với phần tập làm văn trongchương trình dạy chủ đề tự chọn Bởi tập làm văn là phần thiên về thực hành màthời gian dành cho thực hành trong chương trình chưa phải là thỏa đáng
Một vấn đề cũng rất đáng quan tâm là chương trình tập làm văn lớp 9 dành gầnnửa số thời gian cho thể loại tự sự ở học kì I.Học kì II với thời lượng 26 tiết vớinhiều kiểu bài : Nghị luận xã hội, nghị luận văn học, biên bản, hợp đồng Điều
đó vừa tạo điều kiện thuân lợi cho việc thực hiện phương châm tích hợp doc, tíchhợp ngang , phục vụ tốt cho việc ôn tập - thi cử vào cuối cấp học Một điều khácbiệt so với chương trình trước thay sách là trong chương trình mới HS học nghịluận về xã hội với 2 dạng bài : Nghị luận về hiện tượng đời sống, nghị luận vềmột tư tưởng đạo lí với những cách làm mang tính tổng hợp cao, còn trước đây làkiểu bài bình luận cụ thể Các em phần nào gặp phải những khó khăn nhất địnhkhi giải quyết những vấn đề xã hội được đặt ra trong các đề bài SGK mà phầnlớn là dạng đề mở Điểm nổi bật trong các dạng đề này là tạo điều kiện thuận lợi
để học sinh trình bày những quan niệm, những suy nghĩ, nhận thức của mình vềcác hiện tượng xung quanh mình từ đó góp phần giúp các em nâng cao nhận thức
và trách nhiệm đối với xã hội mà điều đáng nói là khả năng diễn đạt vấn đề của
Trang 3các em còn hạn chế Vì vậy, cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản về kĩnăng làm kiểu bài nghị luận xã hội cũng là một cách để các em hiểu kĩ hơn, sâuhơn toàn diện hơn về việc trình bày những hiểu biết xã hội một cách có bài bảnTrên cơ sở đó, giúp các em có được khả năng cảm thụ tốt hơn các văn bản đượcchọn lọc mà lâu nay một căn bệnh “ trầm kha” là rất ngại và rất sợ khi tự mìnhtrình bày những cảm nhận về các vấn đề thực tiễn qua các bài tập làm văn
Dạy học tự chọn là một hình thức rất mới so với nước ta Tuy nhiên cũngcần thấy rằng, mới là mới ở hình thức và qui mô tổ chức, còn các nội dung DHTCthì thực ra không phải hoàn toàn xa lạ đối với nhà trường Việt Nam Trước đâycũng như hiện nay, ở trường phổ thông vẫn có những hình thức ngoại khóa, bồidưỡng cho HS giỏi và phụ đạo cho HS yếu kém Nội dung ngoại khóa bồi dưỡng
và phụ đạo nêu trên thực chất cũng tương ứng với các chủ đề: Đáp ứng, nâng cao
và bám sát mà tài liệu dạy học các nội dung tự chọn ở trường Trung học cơ sở đã
nêu lên
Việc bồi dưỡng HS giỏi và bồi dưỡng cho HS yếu kém.,hai hình thức này cónội dung dạy học thực chất là giống hai chủ đề nâng cao và bám sát mà đề tài nộidung các môn học tự chọn đã đề xuất: Tuy nhiên cả hai đều có nhược điểm là:nặng về tính tự phát, thiếu tính kế họach, phần lớn là tự biên tự diễn, không theomột chương trình và nội dung thống nhất Đối với việc bồi dưỡng HS giỏi thì biến
thành nhồi nhét theo kiểu “nuôi gà chọi” nhằm cạnh tranh trong thi cử, thi đua.
Với việc phụ đạo HS yếu kém thì thì tiến hành không đều, nặng về kinh tế vàchuẩn bị những bài mẫu, bài tủ sát với nội dung về kiểm tra, đánh giá
Những hạn chế của các hình thức ngoại khóa, bồi dưỡng HS giỏi và phụđạo HS yếu kém trên đây sẽ được khắc phục nếu tổ chức tốt nội dung dạy học tựchọn theo các chủ đề đáp ứng, nâng cao và bám sát
Việc đưa dạy học tự chọn vào nhà trường THCS có chương trình, có nộidung, tài liệu và kế họach dạy học thống nhất một mặt khắc phục được những hạnchế của các hình thức ngoại khóa, bồi dưỡng như trên đã nói
Với những mục đích ấy, được sự chỉ đạo của Ban giám hiệu, tổ chuyên
môn, chúng tôi thống nhất trong nhóm ngữ văn 9 đưa chủ đề : Rèn kĩ năng xây
dựng văn bản nghị luận xã hội vào dạy phần tự chọn cho học sinh lớp 9 Chủ đề
này gồm 6 tiết bao gồm phần lí thuyết ( ôn lại từ đầu ) : Phương pháp xây dựngvăn bản, dàn ý một bài văn bình luận và chú ý nhiều đến kĩ năng xây dựng mộtbài nghị luận theo cách thực hành trên lớp Chủ đề tự chọn này được thực hiệntrong thời gian của học kì II ( Theo sự bố trí của nhà trường ) nhằm giúp HS có
Trang 4cái nhìn tổng quát về cách làm, bồi dưỡng thêm cho các em nhất là đối tượng họcsinh yếu kém có được những kiến thức vững chắc hơn khi làm các dạng đề xã hộitrên cơ sở tích hợp với kiến thức đã học ở chương trình nghị luận giải thích, chứngminh ở lớp 7 ở mức độ cao hơn, giáo dục các em có thái độ trân trọng lòng tự hàogiá trị nền văn học dân tộc; biết giữ gìn và phát huy nền văn học nước nhà cũngnhư mạnh dạn bày tỏ những suy nghĩ, những quan điểm riêng của mình trước cácvấn đề xã hội đang diễn ra xung quanh mà không phải ai cũng có thể thấy và dámnói lên từ những mặt tốt đến những mặt chưa tốt hiện nay Những điều này khôngchỉ đáp ứng cho việc học của các em trong cấp học THCS mà cho cả sau này khicác em học lên các bậc học cao hơn và là vốn hiểu biết về xã hội giúp các em tựtin hơn trong cuộc sống
Trang 5
III/ NỘI DUNG THỰC HIỆN:
Chủ đề : PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VĂN BẢN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
( Thời gian : 6 tiết –Học kỡ II )
Tiết 1 : PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VĂN BẢN
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A Mục tiờu cần đạt : GV giỳp HS
- Qua tiết học củng cố, nắm lại nghị luận về một sự việc hiện tượng trong đời sống
xó hội
- Rốn kĩ năng viết văn nghị luận xó hội về sự việc hiện tượng đời sống
B Tài liệu : SGV ngữ văn 9 tập II
C Tổ chức cỏc hoạt động :
HĐ1 :GV vào bài trực tiếp
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
HĐ2 : GV cho HS nắm khỏi niệm
GV nờu lại yờu cầu bài nghị luận về nội
dung và hỡnh thức
HĐ3 : Hướng dẫn làm bài tập
BT1: Hóy chọn sự việc, hiện tượng sau để
viết bài nghị luận Cho biết vỡ sao em
chọn sự việc hiện tượng ấy ?
a Anh Nguyễn Ngọc Kớ vỡ bệnh tật mà
bị liệt tay Anh khụng thể làm bất kỡ việc
gỡ bằng đụi tay Nhưng anh đó khụng gục
ngó Anh đó tập làm mọi việc bằng đụi
chõn Hiện anh Kớ đó học xong đại học và
là cỏn bộ giảng dạy ở trường đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chớ Minh
b Anh Hoa Xuõn Tứ cũng cụt tay và
dựng vai để viết chữ
c Anh Trần Văn Thước lỳc sinh ra anh
cũng bỡnh thường như bao đứa trẻ khỏc,
anh đó gặp tai nạn, bị liệt toàn thõn nhưng
anh đó tự học để trở thành nhà văn Giờ
đõy, danh tiếng của anh đó được nhiều
II Yờu cầu đề bài nghị luận :
1 Nội dung :
- Phải nờu ra được sự việc hiện tượng cúvấn đề
- Phõn tớch mặt đỳng, sai, lợi, hại của nú
- Chỉ ra nguyờn nhõn và bày tỏ thỏi độ ýkiến của người viết
2 Hỡnh thức :
- Bố cục 3 phần mạch lạc, cú luận điểm rừràng, luận cứ xỏc thực, lập luận chặt chẽ
III Bài tập :
BT1,2 : HS tự làm
Trang 6thường thấy ở học sinh THCS để viết
thành bài văn nghị luận : không giữ lời
hứa , sai hẹn , nói tục , chửi bậy, lười
biếng , quay cóp trong giờ kiểm tra
HĐ4 : GV hướng dẫn cách làm bài nghị
luận về hiện tượng đời sống
GV nêu lại các đề bài nghị luận
GV cho HS nhắc lại dàn bi
GV hướng dẫn HS làm bài tập
BT1 :Hãy bàn luận về vấn đề được nêu ra
trong câu :
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẽo thơm một hạt, đắng cay muôn phần
- Tìm hiểu đề
- Lập dàn ý
- Viết bài văn hoàn chỉnh
BT2 : Hãy trình bày và nêu suy nghĩ của
em về một tấm gương HS nghèo vượt khó,
học giỏi mà em biết
BT3 : Trò chơi điện tử là món tiêu khiển
hấp dẫn Nhiều bạn vì mãi chơi mà xao
nhãng học tập và còn phạm nhiều sai lầm
khác Hãy nêu ý kiến của em về hiện
tượng đó
BT4 : Chất độc màu da cam mà đế quốc
Mĩ đã gieo rắc xuống các cánh đồng miền
Nam thời chiến tranh đã để lại di hoạ nặng
nề cho hàng chục vạn gia đình Hàng chục
vạn người chết, hàng vạn trẻ em dưới 15
tuổi bị tật nguyền suốt đời Cả nước đã
lập quĩ giúp đỡ các nạn nhân nhằm phần
nào cải thiện cuộc sống và xoa dịu nỗi đau
của họ Em hãy nêu suy nghĩ của mình về
sự kiện đó
- Ba đề văn ở BT 2,3,4 có gì giống nhau?
Hãy chỉ ra điểm giống nhau đó
IV/ Cách làm bài nghị luận về một sự
việc, hiện tượng đời sống :
- Có đề dưới dạng truyện kể, mẫu tin
- Có đề không cung cấp nội dung sẵn, chỉgọi tên
- Mệnh lệnh “nêu suy nghĩ” , “nêu nhận
xét”
2 Dàn bài : SGK
3 Bài tập :BT1,2,3,4 : HS tự làm
E Dặn dò :
+ Nắm nội dung bài
+ Tiết 23+24 : Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí
Trang 7*****************************************
-Xem lại các bài mẫu xác định
các phần mở bài, thân bài, kết
Có nhiều cách dẫn dắt :+ Nêu xuất xứ của vấn đề+ Nêu hoàn cảnh ( xã hội, lịch sử, nghệ thuật,học thuật ) của vấn đễúât hiện, nảy sinh + Nêu mục đích của vấn đề cần bàn bạc + So sánh
+ Nghi vấn + Tương phản
-Nhập : là nhập đề Dẫn dắt phải gắn liền với
nhập như hình với bóng Nhập là nêu vấn đềcần bàn luận Nếu là danh ngôn, câu văn, câuthơ, ca dao, tục ngữ được chỉ dịnh trong đềbài thì ta phải giới thiệu và trích dẫn
Mở bài của một bài văn nghị luận phải thểhiện được sự hấp dẫn thu hút người đọc bằngnhững cách đặt vấn đề có sức thuyết phục Mởbài phải đúng, trúng và hay thì bài văn mới tạođược ấn tượng tốt cho người đọc và quantrọng hơn là tạo tiền đề tốt cho phần thân bài
2 Thân bài ( có 3 bước )
Bước 1 : Giải thích ngắn gọn vấn đề nhất làkhi đề đưa ra các câu tục ngữ, ca dao hoặc cáccâu nói ngắn gọn, bóng bẩy, súc tích chứanhiều hàm ý Nếu là tục ngữ ca dao phải giảithích nghĩa đen, nghĩa bóng
Nếu là câu thơ, câu văn , danh ngôn phải giảithích các từ khó , khái niệm từ đó tìm ra hàmnghĩa, nội dung mà đề yêu cầu – Điều đặc biệt
là không thể bỏ bớt bước 1nếu là nghị luận ,bình luận về ca dao, tục ngữ, văn thơ cổ
-Bước 2 : Bình -Khẳng định vấn đề là đúng hoặc sai :
- Dùng lí lẽ phân tích mặt đúng và chỉ ra khía
Trang 8-Chỉ rõ sự khác nhau của ba kiểu
bài : giải thích, chứng minh,
bình luận ?
-Thế nào là luận ?
Nêu các bước thực hiện việc
luận ?
GV cho HS tìm hiểu một vài
đoạn văn mẫu
Nội dung của phần kết bài ?
Tìm một vài ví dụ minh họa ?
cạnh sai của vấn đề
- Chỉ ra nguyên nhân đúng hoặc sai : Tại saođúng, vì sao sai ? Đúng ( sai ) trong trườnghợp nào ? như thế nào ? Nếu thiếu lí lẽ hoặc
lí lẽ hời hợt hoặc người viết không có kiếnthức, kiến thức nông cạn thì không thể có ýkiến bình xác đáng được
- Có lúc để lí lẽ có sức thuyết phục, người viếtphải đưa vào bài một số dẫn chứng tiêu biểu
để minh họa cho ý kiến của mình
* Lưu ý : Quan điểm, lập trường, nhận thức và
tư tưởng về học thuật thể hiện rất rõ ở phầnbình này Cần viết ngắn gọn, sử dụng kiểucâu khẳng định hay phủ định tránh sử dụngcâu dài Tính chất tranh luận, tự luận ( ngẫm )được bộc lộ rõ
Bước 3 : Luận :-Luận là bàn bạc, bàn luận, mở rộng vấn đề ,lật đi lật lại vấn đề để chỉ ra , đối chiếu vấn đềđúng sai trong trường hợp nào Để bài viết cósức thuyết phục cao, người viết cần có sự sosánh đối chiếu với các vấn đề liên quan, tươngđồng
- Nêu bật tác dụng, tác hại của vấn đề, mặttích cực, hạn chế của vấn đề
* Hay nhất và cũng khó nhất là ở phần luận Chính phần này đòi hỏi người viết phải có vốnsống, có tư duy, lập trường tư tưởng rõ ràng,đúng đắn và nhạy bén trước vấn đề
Kết bài :
-Nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn
đề đang bình luận Rút ra bài học tư tưởng,nêu hướng hành động và mở ra một vấn đềliên quan đến vấn đề đang bình
TiÕt 3 : PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A Mục tiêu cần đạt: GV giúp hs:
-Nắm lại khái niệm, nội dung , hình thức nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
Trang 9-Và ứng dụng xây dựng được đoạn văn nghị luận về tư tưởng đạo lý.
C Tài liệu : SGV ngữ văn 9 tập II và tài liệu tổ CM.
D Tổ chức các hoạt động:
HĐ1: GV vào bài trực tiếp.
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ
HĐ2: Tìm hiểu khái niệm:
H: Thế nào là nghị luận về một vấn đề tư tưởng
đạo lý?
HS: Trả lời
GV: Chốt ghi bảng
H: Phân biệt điểm giống và khác nhau giữa văn
bản nghị luận về một sự việc hiện tượng đời
sống và văn bản nghị luận về vấn đề tư tưởng,
viết câu chuyện như sau:
“ Mẹ Tú mua về cho ông một cái tay bằng
nhựa, cái nắm đấm bằng dạ để ông tự gãi và
đấm lưng Mẹ nghĩ, người già thường nhứt mỏi
và hay bị dị ứng thời tiết.
Ông thích lắm, nói:
- Ừ, tiện thật!
Nhưng một thời gian ngắn sau, Tú thấy
ông không dùng nó nữa Trưa, ông gọi Tú đến,
bảo:
- Cháu gãi lưng dùm ông nội nhé!
Nó mãi chơi nên thoái thác:
- Nhưng ông có cái tay nhựa gãi lưng rồi cơ
mà!
Ông im lặng, buồn buồn.
Tối, ông than mỏi, kêu Tú:
- Cháu đấm bóp dùm ông nội nhé!
- Nhưng ông có cái nắm đấm dạ rồi!
I Khái niệm:
Nghị luận về vấn đề tư tưởngđạo lý là bàn về tư tưởng, vănhoá, đạo đức, lối sống … củacon người
- Các tư tưởng đó thường đượcđúc kết trong những câu tụcngữ, danh ngôn, ngụ ngôn,khẩu hiệu, khái niệm
VD: Học đi đôi với hành, có
chí thì nên, khiêm tốn, khoan dung, …
II.Phân biệt điểm giống và khác của Văn bản nghị luận
về 1 hiện tượng đời sống và tư tưởng đạo lí
1.Giống: Đều là văn bản nghị
luận
2.Khác:
-Nghị luận về hiện tượng đờisống: Xuất phát từ sự thực đờisống mà nêu ra tư tưởng , bày
II Bài tập:
HS viết 12 đến 15 câu
Trang 10Ông buồn buồn, im lặng.
Hôm sau, mẹ đem cất cái tay nhựa và cái
nắm đấm dạ đi gọi Tú lại, mẹ bảo:
- Mỗi trưa, con đến hỏi ông nội có muốn gãi
lưng không thì con gãi lưng cho ông Tối, nhớ
đấm bóp cho ông nghen!
Tú tròn mắt nhìn mẹ, nó hỏi:
- Vậy, cái tay nhựa và cái nắm đấm bằng dạ
mẹ mua về cho ông để làm gì?
Mẹ ôm Tú vào lòng, nói:
- Những thứ đồ nhựa, đồ dạ ấy không có hơi
người, lạnh léo lắm!
Tú ngẫm nghĩ một lúc, rồi vụt chạy khỏi tay
mẹ, vào với ông.
- Ông ơi! Ông ngứa đi, để Tú gãi cho ông.
Ngứa râu trước ông nhé Gãi râu thích hơn gãi
lưng.
Ông nội cười khà khà, gãi gãi lên mái tóc
xanh mướt của Tú.”
Câu hỏi:
1 Chủ đề câu chuyện trên là gì? Em có thể
nhan đề cho truyện giúp tác giả được không?
Chủ đề câu chuyện có nằm trong vấn đề tư
tưởng, đạo lí không?
2 Em hãy viết một đoạn văn nghị luận từ 12
đến 15 câu bàn về vấn đề tư tưởng, đạo lí mà
câu chuyện trên đã nêu ra
Bài tập 3: Hãy viết một bài nghị luận ngắn bàn
về vấn đề “Thời gian là vàng”
( SGK Ngữ văn 9 – tập 2- Trang 36 )
GV đọc mẫu chuyện nhà giáo Trần Thị Ngọc
Hồng cho hs nghe
H:Chủ đề câu chuyện là gì? Em có thể đặt cho
truyện nhan đề được không? Chủ đề câu
chuyện có nằm trong vấn đề tư tưởng đạo lý
không?
HS: Suy nghĩ –trả lời
H: Em hãy viết một đoạn văn nghị luận từ 12
đến 15 câu bàn về vấn đề tư tưởng, đạo lý mà
câu chuyện trên đã nêu ?
III.Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý.
1.Dạng đề:
-Dạng có lệnh: Suy nghĩ từchuyện ngụ ngôn: “Đẽo càygiữa đường”
-Dạng mở không có mệnh lệnh:Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
- Nhận định đánh giá câu tụcngữ trong bối cảnh cuộc sốngriêng, chung (bình luận)
- Mớ rộng vấn đề
KB: Tổng kết, nêu nhận địnhmới
-Tỏ ý khuyên bảo, tỏ ý hànhđộng
- Đưa ra ý kiến riêng của ngườiviết
B3:Viết bài.
Trang 11Bài tập2: Hãy viết một bài nghị luận ngắn bàn
Đề1: Đạo lý “uống nước nhớ nguồn”
Đề2: Suy nghĩ từ chuyện ngụ ngôn “Chân,
tay ,tai,mắt miệng”
Đề3: Bàn về ích kỷ cá nhân và quan tâm đến
mọi người
Đề4: Suy nghĩ từ câu ca dao:
Ai ơi giữ chí cho bền,
Dù ai xoay hướng đổi nền mặt ai,
H: các đề trên có gì giống nhau và khác nhau?
Thử lập dàn ý chi tiết các đề trên
B4:Đọc bài và sửa bài.
IV Bài tập:
-Các đề trên đều là đề văn nghịluận
-Có đề có lệnh,có đề không cólệnh
-Có đề nghị luận về một hiệntượng đời sống (Đ3)
A Mục tiêu cần đat: GV giúp hs:
- Nắm lại cách xây dựng văn bản nghị luận xã hội
- Nắm lại dàn bài, xây dựng văn bản
B.Chuẩn bị: GV: Tài liệu, bài soạn.
HS: Vở soạn
C.Kiểm tra bài cũ:
D.Các hoạt động dạy –học:
HĐ1: GV vào bài trực tiếp
LUYỆN TẬP XÂY DỰNG VĂN BẢN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI