Do đó, xã hội không còn giai cấp,không còn bóc lột; các cá nhân thật sự bình đẳng với nhau, là người chủ thật sự của xã hội trên tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xãhộ
Trang 1PHẦN THỨ HAI
KINH TẾ CHÍNH TRỊ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở
VIỆT NAM
CHƯƠNG VIII
Trang 2THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
I NHỮNG DỰ BÁO CỦA C.MÁC VÀ PH ĂNGGHEN VỀ PHƯƠNGTHỨC SẢN XUẤT CỘNG SẢN CHỦ NGHĨA
1 Tính tất yếu khách quan của sự ra đời phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa
Trong chủ nghĩa tư bản, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất,tính chất xã hội hoá của sản xuất ngày càng tăng Quan hệ sản xuất tư bảnchủ nghĩa dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, từ chỗ là nhân tố tíchcực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, dần dần trở nên lỗi thời,lạc hậu, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất Theo yêu cầu của quyluật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cần được thay thếbằng quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa Sự sụp đổcủa chủ nghĩa tư bản và sự xuất hiện của chủ nghĩa cộng sản đều là tất yếukhách quan
2 Những đặc trưng kinh tế-xã hội chủ yếu của chủ nghĩa cộng sản
a) Lực lượng sản xuất ở trình độ cao
Đến giai đoạn cuối cùng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,lực lượng sản xuất đã đạt đến trình độ rất cao, quan hệ sản xuất tư bản chủnghĩa trở nên lỗi thời, cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được thay thế bằng quan hệ sản xuất cộng sảnchủ nghĩa, sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất lại đượcthiết lập, tạo điều kiện để lực lượng sản xuất phát triển hơn nữa Đó là “ nềnsản xuất với quy mô lớn và được tiến hành phù hợp với những yêu cầu củakhoa học hiện đại”.1 Sự phát triển cao của lực lượng sản xuất cho phép đápứng tốt tất cả các nhu cầu của con người, tạo điều kiện cho sự phát triển tự
do và toàn diện của mỗi cá nhân
b) Chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất được xác lập và thống trị
Sự phát triển cao của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải thay thế hìnhthức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất không chỉ bằng sở hữu công cộng về
1 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập NXB Chính trị quốc gia.Hà Nội, 1994, t.16, tr20.
Trang 3tư liệu sản xuất nói chung, mà còn là sở hữu công cộng ở trình độ cao: sởhữu toàn dân, sở hữu trên quy mô toàn xã hội.
Với sự thiết lập hình thức sở hữu này, sự khác biệt về địa vị của các
cá nhân với tư liệu sản xuất không còn Do đó, xã hội không còn giai cấp,không còn bóc lột; các cá nhân thật sự bình đẳng với nhau, là người chủ thật
sự của xã hội trên tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xãhội Sự phát triển cao của lực lượng sản xuất và chế độ sở hữu công cộng về
tư liệu sản xuất trên quy mô xã hội cho phép các cá nhân phát triển tự do,toàn diện và “ sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự pháttriển tự do của tất cả mọi người”.1
Việc xác lập hình thức sở hữu này là một quá trình hết sức lâu dài,phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
c) Tư liệu tiêu dùng được phân phối theo nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội
Với trình độ cao của lực lượng sản xuất, của cải vật chất trong chủnghĩa cộng sản rất dồi dào, có khả năng đáp ứng ở mức rất cao tất cả cácnhu cầu của con người Đồng thời, sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất chophép việc phân phối tư liệu tiêu dùng trong chủ nghĩa cộng sản vì tất cả mọi
người Chính những điều đó làm cho việc phân phối tư liệu tiêu dùng có thể
đáp ứng được ngày càng tốt hơn các nhu cầu của tất cả mọi người Đây là xãhội công bằng nhất trong lịch sử nhân loại
d) Mọi hoạt động kinh tế được điều hành thống nhất trên phạm vi xã hội
Tính chất xã hội hoá cao của nền sản xuất, một mặt làm cho quá trìnhsản xuất phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trở thành công việc của
xã hội, đòi hỏi phải có sự điều hành các hoạt động kinh tế trên phạm vi xãhội; mặt khác, tính chất xã hội hoá sản xuất còn được biểu hiện ở chỗ: chế
độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất thống trị tuyệt đối trong nền kinh tế,làm cho nền sản xuất xã hội chỉ còn một chủ thể duy nhất, và vì vậy có thểđiều tiết trực tiếp mọi hoạt động của nền sản xuất Như vậy, đến chủ nghĩa
cộng sản các hoạt động sản xuất, phân phối sản phẩm do xã hội điều tiết trực tiếp và vì vậy sẽ không còn sản xuất và trao đổi hàng hoá.
e) Xoá bỏ sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc
và lao động chân tay, xoá bỏ giai cấp
1 C.Mác và Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1995, t.4, tr 628
Trang 4Sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động chân tay và lao
động trí óc tồn tại và phát triển trong thời kỳ rất dài trong lịch sử Sở dĩ như
vậy là vì sự thấp kém của lực lượng sản xuất dẫn tới sự phát triển không đều
về không gian và lãnh thổ Những vùng, địa phương có điều kiện tự nhiênthuận lợi, phong phú các nguồn lực, giao thông thuận tiện sẽ phát triểnnhanh, trở thành các trung tâm kinh tế Đây chính là cơ sở kinh tế hình thànhnên các đô thị hay thành thị Những vùng, địa phương có điều kiện tự nhiênkhắc nghiệt, các nguồn lực nghèo nàn, giao thông khó khăn kinh tế pháttriển chậm, ngày càng lạc hậu tương đối so với thành thị Sự phân hoá giữanông thôn và thành thị ngày càng sâu sắc dưới sự tác động của các quy luậtthị trường
Trong chủ nghĩa cộng sản, sự phát triển cao của lực lượng sản xuấtcho phép phát triển tất cả những lĩnh vực khó khăn nhất, những vùng lạc hậunhất, san bằng sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa ngành, các địaphương Điều đó đã làm cho sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn hầunhư không còn nữa
Trong điều kiện lực lượng sản xuất thấp kém và chế độ tư hữu về tưliệu sản xuất, địa vị khác nhau của các cá nhân đối với tư liệu sản xuất và sựkhác biệt về chất lượng sức lao động là khách quan và điều đó dẫn đến kếtqủa lao động, mức độ hưởng thụ khác nhau Mức độ thụ hưởng khác nhaulại ảnh hưởng đến tái sản xuất sức lao động về chất lượng Nói cách khác,trong giai đoạn trước chủ nghĩa cộng sản, sự khác biệt giữa lao động trí óc
và lao động chân tay là tất yếu
Trong chủ nghĩa cộng sản, do lực lượng sản xuất phát triển cao vàquan hệ sản xuất dựa trên sở hữu toàn dân, các nhu cầu được thoả mãn đếnmức tốt nhất, con người được phát triển tự do và toàn diện, do đó, sự khácbiệt giữa lao động chân tay và lao động trí óc không còn đáng kể; cơ sởhình thành và tồn tại của giai cấp không còn
3 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản
Mặc dù ra đời từ xã hội tư bản, chủ nghĩa cộng sản có sự khác biệt vớichủ nghĩa tư bản không chỉ về trình độ, mà còn khác biệt về chất Bởi vậy,quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa không thể ra đời trong lòng chủ nghĩa
tư bản Điều đó có nghĩa là, sau khi chính quyền của giai cấp tư sản bị lật
đổ, chủ nghĩa cộng sản với những đặc trưng nêu trên mới được từng bướcthiết lập “ Việc thay thế những điều kiện kinh tế của sự nô dịch lao độngbằng những điều kiện của lao động tự do và liên hợp, chỉ có thể là một sự
Trang 5nghiệp tiến triển trong thời gian sau một quá trình phát triển lâu dài ”.1Sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, các giai cấp vẫn còn tồntại, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn được tiếp tục dưới những hình thức mới, vớinhững phương pháp và thủ đoạn mới; giai cấp vô sản phải sử dụng chínhquyền của mình để xây dựng phương thức sản xuất mới, xã hội mới cộngsản chủ nghĩa, có năng suất lao động xã hội cao, đảm bảo thắng lợi hoàntoàn của chủ nghĩa cộng sản đối với chủ nghĩa tư bản Như vậy, giữa chủnghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản sẽ có một thời kỳ quá độ từ xã hội nọsang xã hội kia Theo C Mác, “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộngsản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hộikia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và nhà nướccủa thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạngcủa giai cấp vô sản”.2 Thời kỳ đó là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản,
là giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản và còn được gọi là chủ nghĩa xãhội
Những đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản
Chủ nghĩa xã hội là một giai đoạn của phương thức sản xuất cộng sản
chủ nghĩa, do đó sẽ mang những đặc trưng của phương thức sản xuất này.Nhưng đây là xã hội mới thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, do đó về mọiphương diện, từ kinh tế đến đạo đức tinh thần còn mang những dấu vết của
xã hội cũ Bởi vậy, chủ nghĩa xã hội còn có những đặc trưng riêng.
a) Sở hữu tư liệu sản xuất tồn tại dưới hai hình thức: toàn dân và tập thể
Thiết lập phương thức sản xuất mới bao hàm cả việc xây dựng lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất mới Quan hệ sản xuất của chủ nghĩacộng sản có một đặc trưng hết sức quan trọng là dựa trên cơ sở chế độ cônghữu về tư liệu sản xuất Do đó, ngay trong chủ nghĩa xã hội, hình thức sở
hữu này phải giữ vai trò thống trị Tuy nhiên, lực lượng sản xuất trong giai
đoạn chủ nghĩa xã hội chưa phát triển thật cao nên bên cạnh hình thức sởhữu toàn dân còn có hình thức sở hữu ở trình độ thấp hơn, đó là sở hữu tậpthể về tư liệu sản xuất Trong hai hình thức sở hữu này, người lao động từngbước trở thành người chủ tư liệu sản xuất và làm chủ trong tổ chức, quản lýsản xuất
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NXB chính trị quốc gia Hà Nội, 1994, t 17, tr 725.
2 C.Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995, t 19, tr 47.
Trang 6b) Phân phối tư liệu tiêu dùng theo lao động
Đến chủ nghĩa xã hội, người lao động là chủ của quá trình sản xuất
nên việc phân phối phải được thực hiện vì lợi ích của họ Tư liệu tiêu dùng
sẽ được phân phối căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động Hình thức
phân phối này mặc dù có nhiều tiến bộ nhưng vẫn mang tính pháp quyền tư
sản và do đó chưa thật sự công bằng Trong chủ nghĩa xã hội, người laođộng vẫn còn sự khác biệt về sức khoẻ, tay nghề nên đóng góp về lao độngkhông giống nhau và vì thế, mức thu nhập, mức sống, điều kiện phát triển
sẽ không giống nhau Ngay trong trường hợp đóng góp về lao động như
nhau nhưng hoàn cảnh gia đình khác nhau và vì những lý do khác nên mứcsống vẫn khác nhau
c) Xã hội bao gồm hai giai cấp cơ bản: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể
Việc thiết lập chế độ công hữu làm thay đổi kết cấu giai cấp trong xãhội Những giai cấp gắn liền với chế độ tư hữu không còn là những giai cấp
cơ bản trong xã hội do chế độ tư hữu từng bước bị thu hẹp và thay thế bởichế độ công hữu Tương ứng với hai hình thức của chế độ sở hữu công cộng
về tư liệu sản xuất là hai giai cấp: giai cấp công nhân và giai cấp nông dântập thể Địa vị của giai cấp công nhân đã có những thay đổi căn bản so vớitrước: từ những người làm thuê họ trở thành người làm chủ, lãnh đạo xã hội;không chỉ đời sống vật chất mà cả tri thức, học vấn ngày càng được nângcao
Giai cấp nông dân, ngưòi bạn đồng minh đáng tin cậy của giai cấpcông nhân, được sự dìu dắt, giúp đỡ của giai cấp này, từng bước đi lên chủ
nghĩa xã hội bằng con đường hợp tác hoá Thông qua hợp tác hoá, chế độ tư
hữu nhỏ bị thủ tiêu, hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất được thiếtlập Người nông dân trở thành người chủ tập thể; đời sống vật chất và tinhthần không ngừng được nâng cao Do tác động của quá trình công nghiệphoá, giai cấp nông dân tập thể cũng từng bước thay đổi Một bộ phận nhữngngười lao động nông nghiệp chuyển sang làm việc trong công nghiệp, dịch
vụ, trở thành công nhân Những người làm việc trong nông nghiệp dần dần
trở thành công nhân nông nghiệp
Giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân không có sự đối kháng
về lợi ích vì họ đều là người lao động, là người chủ của xã hội mới Trongchủ nghĩa xã hội, mặc dù vẫn còn phân chia giai cấp nhưng do không có đối
Trang 7kháng về lợi ích cho nên về bản chất, xã hội xã hội chủ nghĩa là hoà bình, ổn
định
Để chiến thắng chủ nghĩa tư bản, nền sản xuất xã hội chủ nghĩa phảiđược dựa trên trình độ cao của khoa học - công nghệ Do đó, gắn liền với
chủ nghĩa xã hội là đội ngũ trí thức mới, trí thức xã hội chủ nghĩa.
d) Chuyên chính vô sản là công cụ bảo vệ và xây dựng xã hội mới, là nhân tố đảm bảo thắng lợi hoàn toàn của chủ nghĩa xã hội đối với chủ nghĩa tư bản
Sau khi chính quyền của giai cấp tư sản bị đánh đổ, những yếu tố của
xã hội cũ không lập tức bị xoá bỏ; những yếu tố và kết cấu của xã hội mớikhông phải đã được hình thành và cũng không thể hình thành một cách tựphát Giai cấp vô sản sẽ phải thiết lập chính quyền mới, nền chuyên chínhmới, chuyên chính vô sản
Trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, nhà nước mang bảnchất của giai cấp vô sản “ Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sảnchủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia.Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước củathời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng củagiai cấp vô sản”.1
Nhà nước vô sản có những đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, nhà nước vô sản là nhà nước của dân, do dân và vì dân
Trong xã hội có giai cấp, nhà nước bao giờ cũng mang bản chất củamột giai cấp nhất định Mang bản chất của giai cấp vô sản, do chính đảngcủa giai cấp công nhân lãnh đạo, nhà nước vô sản là công cụ để đề bẹp sựphản kháng của giai cấp bóc lột, tổ chức xây dựng xã hội mới, từng bướcxoá bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng nền kinh tế mới tạo tiền đề vậtchất để người lao động làm chủ xã hội Như vậy, sự tồn tại của nhà nước vôsản không chỉ vì lợi ích của giai cấp vô sản mà còn vì lợi ích của quảng đạiquần chúng nhân dân lao động Do đó, nhà nước vô sản là nhà nước củadân, do dân và vì dân
Thứ hai, nhà nước vô sản là công cụ để bảo vệ và xây dựng xã hội mới
Sau khi thiết lập chính quyền của giai cấp vô sản, giai cấp thống trị,bóc lột chưa hoàn toàn bị tiêu diệt và không ngừng phản kháng nhằm lật đổchính quyền vô sản, ngăn cản công cuộc xây dựng chế độ mới, nền kinh tế
1 C.Mác và Ăng ghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 19, tr.47
Trang 8mới Vì vậy, nhà nước vô sản có chức năng bạo lực, là công cụ để bảo vệchế độ mới.
C Mác, F Ăngghen và Lênin đã dự báo khả năng cải tạo hoà bìnhgiai cấp tư sản Các ông cho rằng điều này rất quý, cần được tận dụng.Nhưng các ông cũng chỉ rõ, khả năng này chỉ xuất hiện khi chuyên chính vôsản có đủ sức mạnh để trấn áp các lực lượng phản kháng
Chức năng bạo lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhưng chuyênchính vô sản không phải là bạo lực và cũng không phải chủ yếu là bạo lực.Nhân tố đảm bảo cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là phải có nền sản xuất
có năng suất cao hơn chủ nghĩa tư bản Điều đó không phải tự nhiên mà có,
mà chỉ có thể là kết qủa của quá trình xây dựng lâu dài, hết sức khó khăn,phức tạp Do đó, chuyên chính vô sản còn có chức năng tổ chức, xây dựng
và đây mới là chức năng chủ yếu của chuyên chính vô sản
Trên đây là những đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa xã hội Những
đặc trưng đó được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra từ sự
phân tích khách quan quy luật phát triển tất yếu của sản xuất xã hội Nhữngđặc trưng đó mang tính phổ biến Trong điều kiện cụ thể của quốc gia, ngoàinhững đặc trưng mang tính phổ biến đó, chủ nghĩa xã hội có thể còn cónhững sắc thái riêng
Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, được Đại hội lần thứ VII Đảng cộng
sản Việt Nam dự báo, bao gồm các đặc trưng chủ yếu sau1:
- Nền sản xuất hiện đại
- Chế độ công hữu với tư liệu sản xuất chủ yếu Quan hệ kinh tế ngàycàng sâu sắc hơn, tính chất xã hội hoá ngày càng cao
-Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
-Con người có điều kiện phát triển tự do và toàn diện
-Các dân tộc trong nước bình đẳng, cùng tiến bộ
-Có quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước
Đó chính là mục tiêu mà Đảng và nhân dân ta phấn đấu, thực hiệntrong mấy chục năm qua và trong hàng chục năm tới
Đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam nói rõ hơn về chế độ sởhữu công cộng: “Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuấtchủ yếu là sản phẩm của nền kinh tế phát triển với trình độ xã hội hóa cao
1 Văn kiện Đại hội lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam Nxb chính trị quốc gia H.1991 tr 19
Trang 9các lực lượng sản xuất hiện đại, từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thếtuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản Xây dựng chế
độ đó là một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài qua nhiều bước,nhiều hình thức từ thấp đến cao” 1
4 Quá độ lên chủ nghĩa cộng sản bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Theo C.Mác và F Ăngghen, loài người sẽ lần lượt trải qua nămphương thức sản xuất nhưng mỗi dân tộc không nhất thiết phải phát triểntuần tự như vậy, mà có thể bỏ qua một vài phương thức sản xuất Lịch sử đãtừng biết tới điều đó Chẳng hạn, nước Mỹ tiến thẳng từ chế độ chiếm hữu
nô lệ lên chế độ tư bản chủ nghĩa; một số bộ tộc của vùng Trung Á tiếnthẳng từ cộng sản nguyên thuỷ lên chủ nghĩa tư bản Điều đó có nghĩa làmột số dân tộc cũng có thể bỏ qua phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản
Nghiên cứu điều kiện cụ thể của nước Nga thế kỷ XIX, C.Mác và F.Ăngghen cho rằng các nước lạc hậu có thể phát triển theo con đường rútngắn, “bỏ qua toàn bộ thời kỳ tư bản chủ nghĩa” chuyển thẳng lên hình thức
sở hữu cộng sản chủ nghĩa với điều kiện là cách mạng vô sản đã thắng lợi ởTây Âu “Thắng lợi của giai cấp vô sản Tây Âu đối với giai cấp tư sản vàgắn liền với điều đó, việc thay thế nền sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng nềnsản xuất do xã hội quản lý - đó là điều kiện tiên quyết tất yếu để nâng công
xã Nga lên cùng một trình độ phát triển như vậy”2
II QUAN ĐIỂM CỦA V.I LÊNIN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦNGHĨA XÃ HỘI
1 Tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa xã hội với những đặc trưng trên đây, cũng không thể xuất
hiện ngay sau khi chủ nghĩa tư bản bị đánh đổ Giữa chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội nhất định sẽ phải có một thời kỳ quá độ Thời kỳ đó được
Lênin gọi là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ chuyển biến từ xã hội
nọ sang xã hội kia; là thời kỳ các lực lượng tư bản chủ nghĩa ngày càng suyyếu và bị thu hẹp; là thời kỳ các lực lượng xã hội chủ nghĩa ngày càng lớnmạnh Đó là thời kỳ đấu tranh quyết liệt giữa một bên là chủ nghĩa xã hội
1 Văn kiện Đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam Nxb chính trị quốc gia H.2001, tr.87
2 C.Mác và Ăng ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 22, tr 629-630
Trang 10mới ra đời còn non trẻ với một bên là các thế lực tư bản chủ nghĩa và tính tựphát tiểu tư sản, tuy đã bị lật đổ về chính trị nhưng về kinh tế vẫn còn sứcmạnh to lớn Cuộc đấu tranh này rất gay go phức tạp, quanh co, rích rắcnhưng thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về chủ nghĩa xã hội, bởi vì chủ nghĩa xã
hội sẽ đưa ra được và thực hiện được một kiểu tổ chức xã hội về lao động có năng suất cao hơn chủ nghĩa tư bản
2 Đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
a) Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ chuyển biến từ xã hội
nọ sang xã hội kia và vì thế nó không thể không bao gồm kết cấu của cả haichế độ xã hội, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Về mặt kinh tế, tính chấtquá độ ấy có nghĩa là cơ cấu kinh tế phải bao gồm nhiều thành phần kinh tế.Trong cơ cấu kinh tế đó, các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu côngcộng (công hữu) về tư liệu sản xuất và thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩađấu tranh với nhau quyết liệt và các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sởhữu công cộng về tư liệu sản xuất ngày càng thắng thế, giữ vai trò chủ đạotrong nền kinh tế
b) Sản xuất hàng hoá vẫn tồn tại và phát triển
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế bao gồm nhiềuthành phần kinh tế khác nhau Hình thức tổ chức sản xuất, kinh - doanh phổ
biến là doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp là chủ thể độc lập Bởi vậy, sản xuất vẫn mang tính chất tư nhân, xã hội chưa thể sản xuất và phân phối sản
phẩm một cách trực tiếp, tức là sản xuất vẫn do từng chủ thể kinh tế quyết
định và sản phẩm được phân phối gián tiếp thông qua quá trình trao đổi.
Như vậy, sản xuất hàng hoá vẫn tồn tại và phát triển trong suốt thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội
c) Tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do còn tồn tại nhiều hìnhthức sở hữu tư liệu sản xuất cho nên có nhiều hình thức phân phối thu nhập.Trong thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa có phân phối thu nhập theo tưbản và theo giá trị sức lao động; trong các thành phần kinh tế dựa trên chế
độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, phân phối thu nhập theo lao động
là hình thức phân phối chủ yếu Bên cạnh các hình thức phân phối thu nhập
đó, còn có phân phối thu nhập từ các quỹ phúc lợi xã hội Cùng với sự
Trang 11thắng thế của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân phối thu nhập theolao động dần dần trở thành hình thức phân phối thu nhập chủ yếu.
3 Quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay
Trên cơ sở tư tưởng của C.Mác và F Ăngghen về thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa cộng sản, Lênin tiếp tục nghiên cứu “sự quá độ” đó trong điềukiện lịch sử mới Khi mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến đỉnh cao, đến
“giai đoạn tột cùng” là chủ nghĩa đế quốc thì mâu thuẫn cơ bản của chủnghĩa tư bản đã phát triển đến mức sâu sắc không chỉ trong phạm vi quốcgia mà mang tính quốc tế Điêù đó đã tạo ra tiền đề vật chất cho sự thay thếchủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới
Vận dụng học thuyết cách mạng vào thực tiễn, Lênin đã lãnh đạothành công cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, tháng mười năm 1917.Nước Nga là nước tư bản ở trình độ trung bình, tính chất xã hội hoá của lựclượng sản xuất chưa thật cao Tuy nhiên, do tính chất của thời đại, cáchmạng xã hội chủ nghĩa vẫn có thể nổ ra và giành thắng lợi ở nước Nga.Lênin cho rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Nga chỉ thắng lợi triệt
để với những điều kiện sau:
- Sự thống trị của giai cấp vô sản ở trong nước
- Sự ủng hộ kịp thời của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước hay một
số nước tiên tiến
- Sự liên minh giữa giai cấp vô sản đang nắm chính quyền với đại đa sónông dân Trong điều kiện chưa có sự giúp đỡ của cách mạng xã hội chủnghĩa ở một nước hay một số nước tiên tiến thì sự liên minh này có ýnghĩa quyết định
Cũng do tính chất của thời đại, theo Lênin, các quốc gia dù phát triểnhay chậm phát triển đều có thể thực hiện thành công cách mạng xã hội chủnghĩa, khi quốc gia đó là “khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền” của chủnghĩa đế quốc
Các nước chậm phát triển khi quá độ lên chủ nghĩa xã hội phải cóđiều kiện tiên quyết là: giai cấp vô sản giành lấy chính quyền, thiết lập liênminh công nông, sử dụng chính quyền đó để xây dựng chủ nghĩa xã hội Dotình trạng chậm phát triển, các nước này đi lên chủ nghĩa xã hội sẽ khó khăn
và lâu dài hơn, không thể quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội mà phải trảiqua “một loạt những bước quá độ”1 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978, t.44, tr.189
Trang 12thời kỳ đấu tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội mới ra đời còn non trẻ
và chủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng vẫn còn sức mạnh to lớn Trongcuộc đấu tranh đó, chủ nghĩa xã hội có thể thắng lợi và cũng có thể thất bạitạm thời Thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa xãhội tạo ra được năng suất lao động xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản
Như vậy, theo Lênin, các nước chậm phát triển có thể quá độ lên chủnghĩa xã hội với các điều kiện chủ yếu:
- Thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới
- Giai cấp vô sản giành được chính quyền, thiết lập liên minh công nông.Thông qua chính quyền đó, giai cấp vô sản có chiến lược, sách lược đúngđắn, có những “hình thức”, “bước đi” phù hợp
III THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1 Những đặc điểm chủ yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Năm 1954, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng khỏi ách thống trị,
nô dịch, của thực dân Pháp Trong xu thế của thời đại quá độ lên chủ nghĩa
xã hội trên phạm vi toàn thế giới, Miền Bắc bắt đầu thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội Năm 1975, Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nướchoà bình thống nhất, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta mang đầy đủ những đặc trưngcủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung Đồng thời, trong điềukiện cụ thể của Việt Nam, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn có những
đặc điểm riêng Những đặc điểm đó là:
a) Điểm xuất phát rất thấp, bỏ qua chế dộ tư bản chủ nghĩa
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước ta bị thực dânPháp thống trị, đô hộ Xã hội Việt Nam thời kỳ đó là xã hội thực dân nửaphong kiến Nền kinh tế ở thời kỳ này hết sức lạc hậu Ngoài một số cơ sởcông nghiệp phục vụ đời sống của bọn thống trị, một số đồn điền, hầm mỏnhằm vơ vét tài nguyên của đất nước ta, kinh tế tiểu nônglà phổ biến Năngsuất lao động xã hội rất thấp, đặc biệt trong nông nghiệp Tình trạng mấtmùa liên tiếp xảy ra, thiếu đói là hiện tượng thường xuyên Mùa xuân năm
1945, hai triệu đồng bào ta bị chết đói Sau khi giành được chính quyền
tháng 8 năm 1945, ngân khố nhà nước trống rỗng và đói rét là kẻ thù số
Trang 13một mà chúng ta phải đối phó Năm 1954 Miền Bắc được giải phóng vàbắt tay vào xây dựng xã hội mới Vào thời điểm này, nền kinh tế về nhiềuphương diện còn thua kém so với thời điểm năm 1939 Với trình độ xuấtphát thấp kém như vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắcgặp muôn vàn khó khăn.
Từ năm 1954, Miền Nam chịu sự thống trị của đế quốc Mỹ và chínhquyền tay sai Trong thời kỳ này, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đượchình thành và phát triển ở Miền Nam Tuy nhiên, xã hội Miền Nam về thựcchất là xã hội thực dân kiểu mới Nền kinh tế có nhiều biến dạng: cơ cấungành bất hợp lý; phụ thuộc nặng nề vào bên ngoài về nguyên liệu, nănglượng và đặc biệt là sản xuất nhỏ, manh mún, phân tán vẫn là chủ yếu
Có thể nói rằng, mặc dù có một thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản nhưngnền kinh tế Miền Nam ngay sau giải phóng, về căn bản vẫn là sản xuất nhỏ
Sản xuất nhỏ cùng với những lề lối, tập tục đi liền với nó là khó
khăn, cản trở cơ bản nhất đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên
đất nước ta Từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bảnchủ nghĩa là đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta
Năm 1975, đất nước ta được hoà bình, thống nhất Chuyên chính vôsản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam - đảng của giai cấp vô
sản, với vai trò quản lý của nhà nước không ngừng trưởng thành, lớn mạnh
về mọi phương diện, gánh vác sứ mệnh lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chủnghĩa xã hội Đây là nhân tố bên trong có ý nghĩa quyết định thắng lợi củacông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta Trong thời kỳ này,đất nước ta nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Liên Xô, các nước xãhội chủ nghĩa, của các lực lượng tiến bộ và hoà bình trên thế giới Đó lànhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài cho phép đất nước ta có thể quá độlên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Ngày nay, mặc dù Liên
Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã bị tan rã, nhưng các lực lượngtiến bộ và hoà bình trên thế giới đã lớn mạnh hơn bao giờ hết, xu thế chungcủa thời đại vẫn là hoà bình và chủ nghĩa xã hội. “Chủ nghĩa tư bản hiện đạiđang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thểkhắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất
xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tưnhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, mâu thuẫn giữa các nước tư bảnphát triển và các nước đang phát triển Các quốc gia độc lập ngày càng tăngcường cuộc đấu tranh để tự lựa chọn và quyết định con đường phát triển củamình Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất
Trang 14bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện vàkhả năng tạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loàingười nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” 1
Điều kiện quốc tế đó cùng với sự lớn mạnh không ngừng của chuyênchính vô sản cho phép đất nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không có nghĩa là “đốt cháy giaiđoạn”, là xác lập ngay lập tức các hình thức kinh tế của chủ nghĩa xã hội,đặc biệt là chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa nhưng vẫn cần kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa tưbản, đặc biệt trong sự phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Con đường đi lên củanước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bảnchủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất vàkiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa nhữngthành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt
về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xâydựng nền kinh tế hiện đại”2
Như vậy, ở Việt Nam, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa chỉ là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
tư bản chủ nghĩa.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sựbiến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn,phức tạp, tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng
đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ
b) Trải qua chiến tranh lâu dài, ác liệt
Từ cao trào kháng Nhật đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX,Đảng cộng sản Việt Nam và Hồ Chủ Tịch đã lãnh đạo nhân dân ta giànhchính quyền vào tháng tám năm 1945 Sau khi giành chính quyền, đất nước
ta ngay lập tức lại phải đối phó với thù trong, giặc ngoài Sau chín nămkháng chiến, với thắng lợi lịch sử Điện Biên Phủ, Miền Bắc được giảiphóng Tuy nhiên, Miền Nam lại bị đế quốc Mỹ xâm lược và một cuộc chiến
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia H,
2001, tr.65
2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia
H, 2001, tr.84
Trang 15tranh giải phóng mới lại bắt đầu Đây là cuộc chiến tranh lâu dài và hết sức
ác liệt Mặc dù nhân dân ta đã giành được thắng lợi hết sức vĩ đại nhưngcuộc chiến tranh đó đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề Đó là sự tànphá hết sức nặng nề của chiến tranh về nhân tài, vật lực, môi trường những
di chứng trên nhiều phương diện của cuộc chiến tranh chưa biết đến bao giờmới khắc phục được
Năm 1975 đất nước được hoà bình, thống nhất Nhưng chẳng bao lâusau đất nước ta lại phải đương đương đầu với những cuộc chiến tranh mới
Đó là cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới Phía Bắc.Một bộ phận đáng kể các nguồn lực lại bị hao tổn trong các cuộc chiến tranhnày; nền kinh tế bị xáo trộn
Ngày nay, thế giới đã bước sang thời kỳ mới, thời kỳ hoà dịu, chuyển
từ đối đầu sang đối thoại Điều đó đã tạo ra thời cơ và vận hội mới cho sựphát triển của đất nước ta Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ
âm mưu chống phá đất nước ta Những sự chống phá đang diễn ra dướinhững hình thức và phương pháp mới tinh vi và xảo quyệt hơn
Chiến tranh lâu dài, ác liệt trong quá khứ và những cuộc đấu tranhmới đang tiếp diễn đã để lại những dấu ấn rất đậm nét trong công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
“Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từ một xãhội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp Đất nướctrải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề Những tàn
dư thực dân, phong kiến còn nhiều Các thế lực thù địch thường xuyên tìmcách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc của nhân dânta”.1 Những đặc điểm trên đây chi phối toàn bộ sự vận động của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2 Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những nhiệm vụ cơ bản cần được thực hiệnlà:
a) Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
1 Đảng cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội NXB Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 8
Trang 16Theo Lênin, suy cho đến cùng, năng suất lao động là nhân tố quyếtđịnh thắng lợi của trật tự xã hội mới đối với trật tự xã hội cũ Chủ nghĩa xãhội chỉ chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản khi tạo ra được năng suất laođộng cao hơn chủ nghĩa tư bản.
Năng suất lao động cao phải dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật đạt đếntrình độ phát triển nhất định Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tếsản xuất nhỏ là phổ biến, cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước ta rất nghèonàn, lạc hậu Bởi vậy, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất, “là nhiệm vụ trung tâm” trong suốt thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
b) Từng bước xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ sở hữu công cộng đối với những tưliệu sản xuất chủ yếu Bởi vậy, việc xây dựng chế độ sở hữu công cộng dướihai hình thức: sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể trở thành nhiệm vụ cơ bảncủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên, việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa khôngtuỳ thuộc vào nguyện vọng, ý chí của con người, mà phải tuỳ thuộc vàotrình độ phát triển của lực lượng sản xuất “Bất cứ một sự cải biến nào vềmặt quan hệ sở hữu cũng đều là kết qủa tất yếu của việc tạo nên những lựclượng sản xuất mới”1 Trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, do lực lượng sản xuất còn rất thấp kém, chế độ sở hữu tư nhân về tưliệu sản xuất chẳng những không cần phải xoá bỏ, mà còn phải được tạođiều kiện để phát triển, bởi vì chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫncòn phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển Tuy nhiên, để định hướng xã hội chủ nghĩa nềnkinh tế thì ngay khi lực lượng sản xuất còn thấp kém chế độ sở hữu côngcộng đối với những tư liệu sản xuất vẫn cần được xây dựng, tạo mọi điềukiện thuận lợi Chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất cần được xâydựng từ thấp đến cao, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
c) Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học - công nghệ,toàn cầu hoá trở thành xu thế tất yếu của thời đại Bởi vậy, mở cửa nền kinh
tế, phát triển kinh tế đối ngoại trở thành điều kiện phát triển lực lượng sảnxuất, nâng cao năng suất lao động
1 C.Mác và Ăng ghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 4, tr.467
Trang 17Từ một nền kinh tế mang nặng tính chất tự nhiên, mang tính khép kín
chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, việc mở rộng và
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại trở thành nhiệm vụ vừa mang tính cấpbách, vừa có ý nghĩa lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại sẽ cho phép khaithác những tiềm năng vốn có của đất nước về lao động, đất đai, tài nguyên khắc phục sớm những khó khăn vốn có trong nền kinh tế như thiếu vốn, lạchậu về khoa học - công nghệ
Tuy nhiên, mở cửa nền kinh tế, phát triển kinh tế đối ngoại không chỉ
có cơ hội mà còn có rất nhiều thách thức như: tính phụ thuộc vào bên ngoàităng lên, khả năng cạnh tranh của hàng hoá yếu kém, trật tự kinh tế thế giới
đã được thiết lập có lợi cho các nước tư bản phát triển Do đó, mở cửa nềnkinh tế, phát triển kinh tế đối ngoại đặt ra nhiều vấn đề bức xúc và đòi hỏiphải được giải quyết thành công
CHƯƠNG IX
SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT VÀ NỀN KINH TẾ
NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
Trang 18LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
I SỞ HỮU TƯ LIỆU SẢN XUẤT TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊNCHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1 Sở hữu tư liệu sản xuất và vai trò của nó
Trong quá trình sản xuất, con người phải quan hệ với tự nhiên, chiếmhữu những vật liệu có sẵn trong tự nhiên, biến đổi những vật liệu đó thànhnhững sản phẩm phù hợp với nhu cầu của con người Chiếm hữu là quan hệgiữa người với tự nhiên, là hành vi tồn tại cùng với sự phát triển của conngười, là phạm trù vĩnh viễn
Trong xã hội có giai cấp, các cá nhân lại không có quyền như nhauđối với của cải vật chất do con người tạo ra, với những gì thuộc về tự nhiên
mà con người chiếm hữu Quan hệ giữa người và người trong việc chiếmhữu của cải đó là quan hệ sở hữu Trong quan hệ sở hữu của cải vật chất,quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
Các phương thức sản xuất đều dựa trên một chế độ sở hữu tư liệu sảnxuất nhất định, chẳng hạn, chủ nghĩa phong kiến, chủ nghĩa tư bản dựa trên
sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Nhưng điều đó không có nghĩa là mỗiphương thức sản xuất chỉ có một chế độ sở hữu tư liệu sản xuất Trong lịch
sử phát triển của nền sản xuất xã hội, có hai chế độ sở hữu cơ bản về tư liệusản xuất: sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân Bên cạnh hai chế độ đó làhình thức sở hữu hỗn hợp Mỗi chế độ sở hữu tư liệu sản xuất có thể baogồm một số hình thức sở hữu Chẳng hạn, chế độ sở hữu công cộng về tưliệu sản xuất gồm có hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Trongmỗi khu vực của nền kinh tế gắn liền với một chế độ sở hữu tư liệu sản xuấtnhất định, bên cạnh các quy luật kinh tế chung còn có những quy luật riêng
Do đó, sự vận động, phát triển của các khu vực kinh tế có sự khác biệt về
chế độ sở hữu cũng sẽ không giống nhau.
Sự xuất hiện của các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất do tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy định Lực lượng sản xuấtkhông ngừng vận động, biến đổi làm cho quan hệ sản xuất cũng khôngngừng vận động biến đổi Trong lịch sử phát triển của sản xuất xã hội, sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất, từ chỗ phù hợp, thúc đẩy sự phát triển củalực lượng sản xuất dần dần trở nên lỗi thời, lạc hậu, cản trở sự phát triển củalực lượng sản xuất Sự thay thế sở hữu tư nhân bằng sở hữu công cộng về tưliệu sản xuất, mở đường cho sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất làtất yếu khách quan
Trang 19Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ chuyển biến từ sở hữu
tư nhân thành sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Nhưng sự chuyển biến
đó mang tính khách quan, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượngsản xuất Do đó, sự nóng vội, chủ quan, duy ý chí trong việc xoá bỏ sở hữu
tư nhân, xác lập sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất đều trái với yêu cầucủa quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất và phải trả giá
Đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam là điểm xuất phát rất thấp, sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ tưbản chủ nghĩa Điều đó có nghĩa là trình độ của lực lượng sản xuất còn rấtthấp kém và do đó, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn phù hợp vớitrình độ của lực lượng sản xuất, là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lựclượng sản xuất Bởi vậy, trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chẳng nhữngkhông cần phải xoá bỏ, mà còn cần được tạo mọi điều kiện để phát triển
Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất vừa là phương tiện, vừa là mụctiêu cần thực hiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Do đó, xâydựng sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất là tất yếu trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội Hơn nữa, sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất còn là công
cụ quan trọng định hướng nền kinh tế lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, việcxây dựng sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất phải trải qua một thời kỳ lâudài, từ thấp đến cao và luôn phải đặt trong mối liên hệ với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất Sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất phải thể hiện
ưu thế, sức sống của mình so với sở hữu tư nhân bằng năng suất, chất lượng
và hiệu quả Bởi vậy, xây dựng sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất khôngđơn giản là thiết lập chế độ công hữu tư liệu sản xuất dưới hai hình thứctoàn dân và tập thể, mà điều quan trọng hơn và khó khăn hơn là phải làmcho sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất có năng suất, chất lượng, hiệu quảcao hơn so với sở hữu tư nhân
2 Cơ cấu các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, lực lượng sảnxuất phát triển chưa cao và tồn tại ở nhiều trình độ khác nhau Do đó, trongnền kinh tế tồn tại nhiều chế độ sở hữu tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân, sởhữu công cộng về tư liệu sản xuất và sở hữu hỗn hợp Trong mỗi chế độ sởhữu tư liệu sản xuất tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau và vì thếtrong nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước, sở hữu tập
Trang 20thể, sở hữu cá thể, sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước và
tư nhân
Các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất không tồn tại biệt lập mà đan
xen nhau và tác động lẫn nhau Sở hữu nhà nước được xác lập trước hết đối
với các công trình thuộc kết cấu hạ tầng, các nguồn tài nguyên, các tài sản
quốc gia Sở hữu nhà nước còn được thiết lập trong các lĩnh vực then chốt
của nền kinh tế như: ngân hàng, bảo hiểm, bưu điện, đường sắt, hàng không,sản xuất điện, khai thác mỏ Đồng thời, do hoàn cảnh lịch sử, sở hữu nhà
nước còn được thiết lập ở các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ thông thường Với sự thiết lập sở hữu nhà nước, nhà nước trở thành chủ thể
kinh tế thực sự, thiết lập quan hệ kinh tế và tác động đến các chủ thể kinh tếkhác
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sở hữu tư bản tư nhânkhông còn là hình thức sở hữu thống trị nhưng vẫn tồn tại đan xen với sởhữu nhà nước, kể cả trong các ngành kinh tế then chốt như: ngân hàng, bảohiểm Trong các khu vực kinh tế mà trình độ của lực lượng sản xuất thấpkém hơn tồn tại các hình thức sở hữu cá thể, sở hữu tập thể
Các hình thức sở hữu là cơ sở thực hiện lợi ích của các chủ thể và tácđộng với nhau trên tất cả các phương diện: tổ chức quản lý, phân phối thunhập, năng suất, chất lượng, hiệu quả lợi ích của các chủ thể còn đòi hỏicác hình thức sở hữu liên kết với nhau và từ đó, hình thức sở hữu hỗn hợpxuất hiện
II NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘLÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1 Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu tư liệu sản xuất là một thànhphần kinh tế
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên
một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất
Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập, mà có liên hệ chặt chẽvới nhau, tác động lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồmnhiều thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là cơ cấu kinh tế trong đó các thành phần kinh tế cùng tồn tại như mộttổng thể, giữa chúng có quan hệ hợp tác và cạnh tranh
Trong mỗi thành phần kinh tế, tồn tại các hình thức tổ chức kinh tếvới quy mô và trình độ công nghệ nhất định, chịu sự chi phối của các quy
Trang 21luật kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế nhất định Các thành phần kinh tế được
thể hiện ở các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp
Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất là quy luật chung cho mọi phương thức sảnxuất Trong nền kinh tế chưa thật sự phát triển cao, lực lượng sản xuất luôntồn tại ở nhiều trình độ khác nhau; tương ứng với mỗi trình độ của lực lượngsản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sản xuất Do đó, cơ cấu của nền kinh tế, xét
về phương diện kinh tế - xã hội, phải là cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng sản xuất tồn tại
ở nhiều thang bậc khác nhau, do đó chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ cónhiều hình thức, tức là nền kinh tế sẽ có nhiều thành phần Các thành phầnkinh tế không tồn tại biệt lập với nhau mà có quan hệ hữu cơ với nhau, tạothành cơ cấu kinh tế
Sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta là tất yếu khách quan, ngoài lý do cơ bản trênđây còn có các lý do khác:
- Xã hội cũ để lại không ít các thành phần kinh tế và chưa thể cải biếnnhanh được Hơn nữa, sau nhiều năm cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuấtmới đã xuất hiện thêm một số thành phần kinh tế mới: thành phần kinh tếnhà nước, thành phần kinh tế tập thể, thành phần kinh tế tư bản nhà nước Các thành phần kinh tế cũ và các thành phần kinh tế mới tồn tại khách quan
có quan hệ với nhau cấu thành cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở nước ta
- Xây dựng và phát triển kinh tế hàng hoá có sự quản lý vĩ mô của nhànước, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ
sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội vốn là những nhiệm vụ trọng yếu của thời
kỳ quá độ ở nước ta Song trong điều kiện ngân sách nhà nước rất hạn hẹp,thu nhập quốc dân còn thấp, nếu chỉ trông chờ vào nhà nước, việc thực hiệncác nhiệm vụ nói trên sẽ gặp rất nhiều khó khăn Giải phóng mọi năng lực bịkìm hãm từ trước tới nay; khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng
về vốn, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý tức là sử dụng sức mạnhtổng hợp của các thành phần kinh tế là đòi hỏi khách quan của công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Nước ta có lực lượng lao động dồi dào, cần cù, thông minh Song sốngười chưa có việc làm còn nhiều, vừa lãng phí sức lao động, vừa gây ranhững khó khăn lớn về kinh tế - xã hội Trong khi đó, khả năng thu hút laođộng của khu vực kinh tế nhà nước không nhiều Khai thác, tận dụng tiềm
Trang 22năng của các thành phần kinh tế khác là một trong những giải pháp quan
trọng để tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động
2 Vai trò của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là một tất yếu kháchquan, do đó nó có vai trò to lớn, đó là:
- Nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, có nghĩa là tồn tại nhiều hìnhthức quan hệ sản xuất, là tiền đề khách quan cho sự phù hợp của quan hệ sảnxuất với các trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất Sự phù hợp này, đếnlượt nó, lại có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh
tế, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần kinh tế vàtrong toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở nước ta
- Nền kinh tế nhiều thành phần làm phong phú và đa dạng các chủ thểkinh tế, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá, góp phần thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng nhanh, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, phát
triển các mặt của đời sống kinh tế - xã hội
- Mỗi thành phần kinh tế có ưu thế riêng trong việc khai thác và sửdụng các nguồn lực như: vốn, lao động, tài nguyên, khoa học - công nghệ Nền kinh tế nhiều thành phần cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực trên
- Tạo điều kiện thực hiện và mở rộng các hình thức kinh tế quá độ,trong đó có hình thức kinh tế tư bản nhà nước Đó là những “cầu nối”, trạm
“trung gian” cần thiết để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội,
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
- Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là tiền đề khắc phục tình trạng độcquyền, tạo ra quan hệ cạnh tranh, động lực quan trọng thúc đẩy cải tiến kỹthuật, phát triển lực lượng sản xuất
Sự phân tích trên cho thấy, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có vai trò
to lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cơ cấu đó vừa phù hợp vớitrình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất ở nước ta, vừa phù hợp với lýluận của Lê-nin về đặc điểm kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định rằng:
“chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tínhquy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dânchủ về kinh tế bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật”.1
3 Các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay
1 Nghị quyết Hội nhghị Ban chấp hành TƯ Đảng CSVN lần thứ 6 khoá VI
Trang 23Căn cứ vào nguyên lý chung và điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảngcộng sản Việt Nam xác định: nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam có 6 thành phần2
a) Kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu nhà nước về
tư liệu sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước; các tài sản thuộc sởhữu nhà nước như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển, tài nguyên, ngân sách, cácquỹ dự trữ, ngân hàng nhà nước, hệ thống bảo hiểm, kết cấu hạ tầng kinh tế
- xã hội; phần vốn nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc những thànhphần kinh tế khác trong và ngoài nước
Kinh tế nhà nước do nhiều bộ phận hợp thành trong đó doanh nghiệpnhà nước là một bộ phận nòng cốt
Kinh tế nhà nước ở nước ta được hình thành bằng nhiều con đườngkhác nhau Sau khi Miền Bắc được giải phóng (năm 1954), những cơ sởkinh tế của Thực dân Pháp được quốc hữu hoá và trở thành kinh tế nhànước Sau khi được giải phóng hoàn toàn, đất nước thống nhất (năm 1975),
ở Miền Nam, tất cả những cơ sở kinh tế của chính quyền cũ, của tư bảnnước ngoài và tư sản mại bản được quốc hữu hoá và trở thành kinh tế nhànước Ngoài quốc hữu hoá, kinh tế nhà nước còn được hình thành do quátrình cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân Một phần những cơ sởkinh tế của tư bản tư nhân được cải tạo và trở thành kinh tế nhà nước Conđường quan trọng nhất hình thành kinh tế nhà nước ở nước ta là xây dựngmới Trong suốt thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, hàng loạt những cơ sở
kinh tế nhà nước đã được đầu tư xây dựng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, từ năm 1986 đấtnước ta tiến hành đổi mới kinh tế, nền kinh tế nước ta từng bước chuyểnsang kinh tế thị trường Khi chuyển sang cơ chế mới, phần lớn các doanh
nghiệp nhà nước bị thua lỗ Cải cách các doanh nghiệp nhà nước trở thành nội dung quan trọng của đổi mới kinh tế ở nước ta Theo quan điểm của
Đảng cộng sản Việt Nam, kinh tế nhà nước phải được xây dựng để trở thànhthành phần kinh tế chủ đạo, định hướng nền kinh tế lên chủ nghĩa xã hội
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân đượcthể hiện chủ yếu trên các mặt:
- Nắm giữ các vị trí, các lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế Nhờ đó, kinh tế nhà nước có thể chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác
và của toàn bộ nền kinh tế Các vị trí, lĩnh vực then chốt đó là: ngân hàng,
2 Xem “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam”.Nxb Chính trị Quốc gia.H 2001.
Trang 24bảo hiểm, bưu điện, hàng không, đường sắt, sản xuất năng lượng, khai thác
mỏ Kinh tế nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp hàng hoá công cộng cho nền kinh tế: đường sá, sân bay, bến cảng, điện,
nước Đây là những nhân tố không thể thiếu được cho một nền kinh tế tăng
trưởng nhanh và bền vững, nhưng các thành phần kinh tế khác ít có khả
Nhà nước có thể tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước nắm
giữ những vị trí, những lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế thông qua các
chính sách kinh tế, các văn bản pháp luật
- Có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao Nhờ đó, kinh tế nhà nước
không chỉ trực tiếp đóng góp vào quá trình tăng trưởng nhanh và bền vữngcủa nền kinh tế quốc dân, mà còn tạo sức mạnh trong cạnh tranh, buộc cácthành phần kinh tế khác cũng phải không ngừng nâng cao năng suất, chấtlượng và hiệu quả, đóng góp ngày càng nhiều hơn cho quá trình tăngtrưởng, phát triển của nền kinh tế
Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong các doanh nghiệp
nhà nước là công việc hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài Đây là nội dung chủ yếu của cải cách các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, giải
pháp đầu tiên được áp dụng là giải tán hoặc sát nhập những doanh nghiệp
nhà nước làm ăn thực sự kém hiệu quả Do thực hiện giải pháp này, số doanh nghiệp nhà nước đã giảm đáng kể Theo số liệu của tổng cục thống kê
năm 1989 cả nước ta có 12084 doanh nghiệp nhà nước đến năm 1997: 5790doanh nghiệp nhà nước và năm 1999 còn khoảng hơn 5000 doanh nghiệpnhà nước
Giải pháp thứ hai là đầu tư hiện đại hoá các doanh nghiệp nhà nước Nhờ được đầu tư, các doanh nghiệp nhà nước có thể đổi mới công nghệ, nhờ
đó, nâng cao được hiệu quả Tuy nhiên, giải pháp này gặp trở ngại là khảnăng tài chính có hạn của nhà nước
Giải pháp thứ ba là liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tếkhác ở trong nước và với nước ngoài Đây là giải pháp đã giúp không ít các
doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả kinh doanh Từ năm 1996 đến
nay, số lượng các liên doanh mới được thành lập rất nhỏ, trong khi đó nhiều
Trang 25liên doanh được thành lập trước đây bị tan rã Điều đó có nghĩa là giải phápnày hầu như không còn tác dụng
Giải pháp thứ tư là cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Đây là
giải pháp rất có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay Nhờ cổ phần hoá, các
doanh nghiệp huy động được vốn để đổi mới thiết bị công nghệ và do đó nâng cao được tính hiệu quả Nhờ cổ phần hoá, các doanh nghiệp có người
sở hữu đích thực, quan tâm đến hoạt động của doanh nghiệp và nhờ đó hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng lên Tuy nhiên, quá trình cổ phần hoá
đang gặp không ít khó khăn, trở ngại Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nước là yêu cầu cấp bách của cải cách các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay
Xây dựng kinh tế nhà nước trở thành thành phần kinh tế chủ đạo, làmchỗ dựa vật chất cho nhà nước thực hiện chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô,
định hướng nền kinh tế theo chủ nghĩa xã hội là nội dung quan trọng của
đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay “ Tập trung nguồn lực phát triển kinh tếnhà nước trong những ngành những lĩnh vực trọng yếu: kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội, hệ thống tài chính ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuấtdịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan
hệ đến quốc phòng, an ninh Tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệpnhà nước, phát huy cao độ quyền tự chủ của doanh nghiệp trong sản xuất -kinh doanh Thực hiện cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước đểhuy dộng thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước làm
ăn có hiệu quả, làm cho tài sản thuộc sở hữu nhà nước ngày càng tăng Tổchức hợp lý các tổng công ty, bảo đảm vừa tránh phân tán, cục bộ, vừachống độc quyền hoặc trở thành cấp hành chính trung gian”.1
b) Kinh tế tập thể
Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm những cơ sở kinh tế dongười lao động tự nguyện góp vốn, cùng kinh doanh, tự quản lý theo nguyêntắc tập trung, dân chủ, bình đẳng, cùng có lợi
Kinh tế tập thể là hình thức kinh tế mà giai cấp vô sản sử dụng để
từng bước dẫn dắt giai cấp nông dân đi lên chủ nghĩa xã hội
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin, kinh tế tập thểphải được xây dựng trên những nguyên tắc sau:
Thứ nhất, tự nguyện Đây là nguyên tắc cao nhất của việc xây dựng
kinh tế tập thể Sở dĩ như vậy là vì, nông dân là những người lao động; giai
1 Văn kiện Đại hội Đảng CSVN lần thứ VIII, NXB chính trị quốc gia, Hà nội, tr 94-95
Trang 26cấp nông dân là bạn đồng minh của giai cấp công nhân trong cách mạng dântộc, dân chủ; lợi ích của giai cấp nông dân và giai cấp công nhân về căn bản
là phù hợp với nhau Nguyên tắc này đòi hỏi giai cấp công nhân phải độngviên, giáo dục, thuyết phục nông dân xây dựng kinh tế tập thể
Thứ hai, bình đẳng, cùng có lợi Muốn thu hút được nông dân, kinh tế
tập thể phải đáp ứng được lợi ích của nông dân; người nông dân tham giakinh tế tập thể phải thật sự bình đẳng
Thứ ba, quản lý dân chủ Trong kinh tế tập thể, nông dân phải là
người chủ thực sự Do đó họ phải là người trực tiếp tham gia và quyết địnhcác vấn đề quản lý
Hình thức cao và phổ biến của kinh tế tập thể là các hợp tác xã Ởnước ta, trước thời kỳ đổi mới, kinh tế tập thể được xây dựng không tuân thủcác nguyên tắc nêu trên Do đó, kinh tế tập thể gặp rất nhiều khó khăn Hiệnnay, kinh tế tập thể đang được tiếp tục phát triển Ở nhiều địa phương, cáchợp tác xã kiểu mới đang được xây dựng Các hợp tác xã được tổ chức trên
cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phânphối theo kết quả lao động và theo cổ phần, mỗi xã viên có quyền như nhaukhi quyết dịnh những công việc chung Hợp tác xã được tổ chức theonguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ
Ở nước ta, kinh tế tập thể sẽ tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức
đa dạng, từ thấp đến cao, từ tổ đổi công, tổ đoàn kết sản xuất đến hợp tác xã.Đến nay đã xuất hiện các hình thức kinh tế tập thể kiểu mới Chẳng hạn, có
những hợp tác xã tồn tại, hoạt động với tư cách là doanh nghiệp độc lập; có
những hợp tác xã chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu về một hay một số dịch vụtrong quá trình sản xuất họăc chuyên sản xuất kinh doanh một loại sản phẩmnhất định, thành viên tham gia chỉ đóng góp một phần vốn và lao động, hộgia đình vẫn là đơn vị kinh tế tự chủ Hợp tác xã có thể là kết quả liên kếttheo chiều dọc, chiều ngang, hoặc hỗn hợp, không bị giới hạn bởi địa giới vàlĩnh vực kinh doanh Mỗi người lao động, mỗi hộ gia đình có thể tham giađồng thời vào nhiều hình thức kinh tế tập thể Ngoài ra, hợp tác xã còn cóthể huy động cả vốn và lao động bên ngoài bằng nhiều hình thức Kinh tếtập thể cùng với kinh tế nhà nước hợp thành nền tảng của nền kinh tế quốcdân
Vậy kinh tế tập thể cũng như kinh tế nhà nước là những thành phầnkinh tế trong đó người lao động làm chủ (mặc dù ở mức độ khác nhau) vàsản xuất được tiến hành vì lợi ích của người lao động và toàn thể xã hội
Sự phát triển kinh tế tập thể trong điều kiện nước ta rất cần có sựlãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và sự hỗ trợ của nhà nước Bởi vậy,
Trang 27phải “ tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và có chính sách khuyến khích, ưu đãi,
giúp đỡ phát triển có hiệu quả Thực hiện tốt luật hợp tác xã”.1
c) Kinh tế cá thể, tiểu chủ
Kinh tế cá thể, tiểu chủ là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về
tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động và giađình
Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tưliệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếudựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình
Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vị trí rất quan trọng trong nhiềungành, nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh và hiệuquả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng ngườilao động Do đó, việc mở rộng sản xuất, kinh doanh của kinh tế cá thể, tiểuchủ và tiểu chủ cần được khuyến khích
Hiện nay ở nước ta, thành phần kinh tế này phần lớn hoạt động dướihình thức hộ gia đình, đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn,
có vị trí quan trọng, lâu dài Đối với nước ta, cần phát triển mạnh mẽ thànhphần kinh tế này để vừa góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội,vừa giải quyết nhiều việc làm cho người lao động - một vấn đề bức báchhiện nay của đời sống kinh tế - xã hội Trong những năm qua, thành phầnkinh tế này phát triển nhanh trong nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp và thương mại, dịch vụ, đã góp phần quan trọng vào các thành tựukinh tế - xã hội Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, kinh tế cá thể, tiểu chủ dù cốgắng đến bao nhiêu cũng không thể loại bỏ được những hạn chế vốn có như:tính tự phát, manh mún, hạn chế về kỹ thuật Do đó, “cần giúp đỡ, giải quyếtcác khó khăn về vốn, khoa học, công nghệ và thị trường tiêu thụ sản phẩm.Hướng dẫn kinh tế cá thể, tiểu chủ, vì lợi ích thiết thân và nhu cầu phát triểncủa sản xuất, từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc làm
vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã”.2
Ở nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, kinh tế cá thể, tiểu chủđang có một hình thức phát triển mới: kinh tế trang trại Đến nay kinh tếtrang trại không còn là hiện tượng cá biệt trong phát triển kinh tế hộ mà trởthành phổ biến ở các vùng địa phương của nước ta “Tính đến tháng 10/
1999, cả nước có 115.000 trang trại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, chủ yếu
ở vùng trung du, miền núi, cao nguyên Quy mô, bình quân diện tích 3-10
1 Văn kiện đại hội ĐCSVN lần thứ VIII NXB chính trị quốc gia, Hà nội,tr 95
2 Văn kiện đại hội ĐCSVN lần thứ VIII, NXB chính trị quốc gia, Hà nội, tr.96
Trang 28ha/ trang trại, chủ trang trại phần lớn là hộ nông dân” 1 Tuy nhiên, sự pháttriển của kinh tế trang trại đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết: đấtđai, thị trường, phân hoá giàu nghèo ở nông thôn
d) Kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanhdựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất vàbóc lột lao động làm thuê Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta hiện nay, thành phần kinh tế này còn có vai trò đáng kể xét về phươngdiện phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất cũng như về phươngdiện giải quyết các vấn đề xã hội Đây cũng là thành phần kinh tế rất năngđộng, nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không
nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước Hiện nay, kinh tế tư bản
tư nhân bước đầu có sự phát triển, nhưng phần lớn tập trung vào lĩnh vựcthương mại, dịch vụ và kinh doanh bất động sản; đầu tư vào sản xuất còn ít
và chủ yếu quy mô vừa, nhỏ
Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích tư bản tư nhân
bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, đáp ứng các nhu cầu của dân cư Nhànước bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của họ; xoá bỏ định kiến vàtạo điều kiện thuận lợi về tín dụng, về khoa học - công nghệ, về đào tạo cánbộ cho thành phần kinh tế này Tuy nhiên, đây là thành phần kinh tế cótính tự phát rất cao Đầu cơ, buôn lậu, trốn thuế làm hàng giả là nhữnghiện tượng thường xuất hiện ở thành phần kinh tế này Điều đó đòi hỏi phảităng cường quản lý đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân Trong Vănkiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII có đoạn viết: “ khuyếnkhích thành phần kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ănlâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi điđôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi choquốc kế dân sinh.”2
e) Kinh tế tư bản nhà nước
Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức
hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước vàvới tư bản nước ngoài
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta, kinh tế tư bản nhà nước có vai tròquan trọng Đây là thành phần kinh tế có tiềm năng to lớn về vốn, côngnghệ, khả năng tổ chức quản lý do đó, sẽ có những đóng góp không nhỏcho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Hơn nữa, phát triển kinh tế
1 Báo nhân dân 5/10/ 1999
2 Văn kiên Đại hội ĐCSVN lần thứ VIII, NXB chính trị quốc gia, Hà nội, tr.96
Trang 29tư bản nhà nước còn là giải pháp nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước Bởi vậy, phát triển thành phần kinh tế này là một đòi hỏi khách quan.
Ở Miền Bắc nước ta thời kỳ sau năm 1954, các hình thức kinh tế tư bản nhànước cũng đã được sử dụng Song, với quan điểm tiến nhanh, tiến mạnh lênchủ nghĩa xã hội và do hoàn cảnh chiến tranh, quá trình cải tạo xã hội chủnghĩa đã nhanh chóng xoá bỏ thành phần kinh tế tư bản tư nhân; việc sửdụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước chỉ được thực hiện trong mộtthời gian ngắn Ngày nay, Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiện mộtcách rộng rãi, lâu dài các hình thức kinh tế tư bản nhà nước nhằm tạo thế vàlực cho nền kinh tế; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam sớm tiếpcận được công nghệ hiện đại và phương pháp quản lý hiện đại tăng khảnăng hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài; thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng,
phát triển Kinh tế tư bản nhà nước là “chiếc cầu” ngắn nhất để đi lên chủ nghĩa xã hội
f) Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Đây là thành phần kinh tế có quy mô lớn, có trình độ quản lý và trình
độ công nghệ cao Do đó, sử dụng thành phần kinh tế này sẽ góp phần giảiquyết khó khăn về vốn, nâng cao trình độ quản lý và trình độ công nghệ chonền kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất hàng hoá xuất khẩu, xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội Tuy nhiên, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàicũng có những tác động tiêu cực như: lấn át các doanh nghiệp trong nước;ngăn cản sự phát triển các quan hệ ngược và quan hệ xuôi trong nền kinh tế;
tạo ra lối sống, lối tiêu dùng không thích hợp với truyền thống dân tộc; làm
phân hoá xã hội thêm sâu sắc Do vậy, một mặt phải tạo điều kiện thuận lợicho các hoạt động đầu tư nước ngoài; mặt khác, phải tăng cường quản lý
nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của thành phần kinh tế này
3 Tính thống nhất và mâu thuẫn của các thành phần kinh tế
a) Tính thống nhất
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cơ chế thị trường tồn tạikhách quan và trong cơ chế đó, các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập.Mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dânthống nhất Sự phát triển của mỗi thành phần đều góp phần vào sự phát triểncủa nền kinh tế quốc dân Mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sởhữu nhất định về tư liệu sản xuất Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuấttuy có sự độc lập tương đối và có bản chất riêng, nhưng hoạt động sản xuấtkinh doanh trong môi trường chung, cùng chịu tác động của các nhân tố, cácquy luật thị trường Đồng thời, các thành phần kinh tế tác động lẫn nhau, cảtích cực và tiêu cực Sự biến đổi của thành phần kinh tế này sẽ ảnh hưởng
Trang 30đến các thành phần kinh tế khác Hơn thế nữa, các thành phần kinh tế có thểliên kết với nhau trong sản xuất, kinh doanh Trong nền kinh tế quốc dânthống nhất do nhà nước hướng dẫn, điều tiết, các chủ thể sản xuất kinhdoanh thuộc các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau, bổ sung cho nhau
và cùng bình đẳng trước pháp luật
b) Sự mâu thuẫn
Các thành phần kinh tế mâu thuẫn với nhau vì mỗi thành phần kinh tế
có đặc điểm riêng về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất Do quy luật kinh tếhình thành, hoạt động trên cơ sở quan hệ sản xuất, cho nên ở mỗi thành phầnkinh tế vừa có các quy luật kinh tế chung, vừa có các quy luật kinh tế đặcthù hoạt động, chi phối mỗi thành phần Như vậy, mỗi thành phần kinh tếmang bản chất kinh tế khác nhau, có các lợi ích kinh tế khác nhau, thậm chíđối lập với nhau
Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế làm cho cạnh tranh trở thànhtất yếu Cạnh tranh là động lực quan trọng để cải tiến kỹ thuật, phát triển lực
lượng sản xuất Do đó, nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi cho cạnh
tranh Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là mâuthuẫn giữa một bên là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư bản nhànước với một bên là tính tự phát tư sản và tiểu tư sản của kinh tế tư bản tưnhân và kinh tế cá thể, tiểu chủ ngày càng trở nên gay gắt cùng với sự pháttriển của lực lượng sản xuất Giải quyết mâu thuẫn theo hướng tăng cường
vị thế của các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sảnxuất là nhiệm vụ căn bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên, giải quyết các mâu thuẫn đó như thế nào là việc khôngđơn giản Những mâu thuẫn này không thể được giải quyết bằng biện pháphành chính đơn thuần, bằng ý chí chủ quan, bằng bạo lực , mà phải bằngcách tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế ấy phát triển mạnh mẽ, có lợicho quốc kế dân sinh, hướng các thành phần kinh tế tư nhân đi vaò conđường chủ nghĩa tư bản nhà nước, thông qua nhiều hình thức và mức độkhác nhau: hiệp tác, liên kết, liên doanh; bằng việc nâng cao hiệu quả của
kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể
Tóm lại, trong nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, sự thống nhất vàmâu thuẫn giữa chúng là khách quan Sự thống nhất và mâu thuẫn làm chocác thành phần kinh tế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh Trong quá trình cạnhtranh và hợp tác, từng thành phần kinh tế tồn tại với tư cách là đơn vị sảnxuất hàng hoá đều đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế và cần
có sự quản lý của nhà nước nhằm đảm bảo nền kinh tế phát triển nhanh, đemlại thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội Các thành phần kinh tế cần được thừa
Trang 31nhận và tạo điều kiện để chúng tồn tại phát triển Đồng thời, các thành phầnkinh tế cần được bình đẳng trên mọi phương diện.
Nền kinh tế nhiều thành phần là cơ sở tồn tại các giai cấp hoặc tầnglớp xã hội khác nhau mà tổng hợp toàn bộ các giai cấp hoặc tầng lớp xã hội
đó tạo thành cơ cấu xã hội - giai cấp Trong cơ cấu xã hội - giai cấp ấy, mỗigiai cấp, mỗi tầng lớp xã hội, các chủ thể sản xuất kinh doanh thuộc cácthành phần kinh tế đều có những lợi ích kinh tế riêng, vừa thống nhất, vừamâu thuẫn với nhau
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các giai cấp cónhững thay đổi to lớn về cơ cấu, tính chất, vị trí cùng với những biến đổi
to lớn về kinh tế - xã hội Đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục nhưng với nhữngnội dung, hình thức, phương pháp và thủ đoạn mới Đảng cộng sản ViệtNam chỉ rõ: “Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiệnnay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển;thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn vàkhắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thấtbại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệđộc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồnvinh, nhân dân hạnh phúc
Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên
cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức, kết hợp hài hòa cáclợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực củacác thành phần kinh tế, của toàn xã hội.”1
4 Nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế nhiều thành phần Nếu
để tự phát, nền kinh tế nhiều thành phần sẽ đi lên chủ nghĩa tư bản Nhưngnền kinh tế nước ta đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do đó,
sự vận động và phát triển của nó phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Đấu tranh để giữ vững định hướng đó là một quá trình khó khăn, phức tạp,nhất là khi sản xuất nhỏ còn chiếm ưu thế Bên cạnh đó, các lực lượng thùđịch với chủ nghĩa xã hội còn nhiều thế mạnh, ra sức thúc đẩy nền kinh tếnước ta chệch khỏi định hướng xã hội chủ nghĩa
Do vậy, nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo định hướng xãhội chủ nghĩa cần phải có những điều kiện nhất định Những điều kiện chủ
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia H,
2001, tr.86
Trang 32yếu là: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế; nhà nước
chuyên chính vô sản điều tiết kinh tế vĩ mô
Để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, trong quá trình sử dụng cácthành phần kinh tế cần quán triệt những quan điểm cơ bản sau:
- Lấy việc giải phóng lực lượng sản xuất, động viên tối đa mọi nguồnlực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệuquả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu hàng đầutrong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổchức sản xuất kinh doanh
- Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước,kinh tế tập thể, làm cho kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo Tạo điềukiện để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư kinh doanh lâu dài, ápdụng linh hoạt và sáng tạo các hình thức kinh tế tư bản nhà nước
- Xác lập, cũng cố và nâng cao địa vị làm chủ của người lao độngtrong nền sản xuất xã hội, thực hiện công bằng xã hội ngày một tốt hơn
- Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả laođộng và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồng thời phân phối dựa trên mức đónggóp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất kinh doanh và phân phối thôngqua phúc lợi xã hội Thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức thuêmướn lao động nhưng không thể biến quan hệ mua bán sức lao động thànhquan hệ thống trị Phân phối và phân phối lại hợp lý nhằm khuyến khích làmgiàu hợp pháp, đi đôi với xoá đói giảm nghèo, không để diễn ra sự chênhlệch quá lớn về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớpdân cư, tránh sự phân hoá xã hội thành hai cực đối lập.Tăng cường hiệu lựcquản lý vĩ mô của nhà nước, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phụcngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường Bảođảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật của mọi doanhnghiệp và cá nhân, không phân biệt thành phần kinh tế
- Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tácquốc tế, tăng cường hội nhập với khu vực và quốc tế Đây là điều kiện quantrọng cho sự phát triển của mỗi thành phần cũng như của toàn bộ nền kinhtế
CHƯƠNG X
KINH TẾ HÀNG HOÁ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Trang 33Sản xuất và trao đổi hàng hoá xuất hiện từ cuối công xã nguyên thuỷ,tiếp tục duy trì trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến và đặc biệtphát triển trong chủ nghĩa tư bản Điều đó có nghĩa là kinh tế hàng hoákhông phải là phạm trù kinh tế riêng của chủ nghĩa tư bản, mà tồn tại trongnhiều phương thức sản xuất.
I SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HOÁ
Ở NƯỚC TA
Những hình thức đầu tiên của sản xuất hàng hoá xuất hiện ngay từthời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và chúng tiếp tục tồn tại vàphát triển ở các phương thức sản xuất tiếp theo Trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở nước ta, kinh tế hàng hoá tồn tại và phát triển là một tấtyếu khách quan Điều đó xuất phát từ các lý do chủ yếu sau đây:
- Phân công lao động xã hội là cơ sở tồn tại và phát triển của sản xuất
và trao đổi hàng hoá Nền kinh tế nước ta hiện nay bao gồm nhiều ngànhkinh tế khác nhau và đang xuất hiện thêm nhiều ngành nghề mới với trình
độ chuyên môn hoá cao hơn Hơn thế nữa, chuyên môn hoá và hợp tác hoásản xuất trong một số lĩnh vực đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia và mangtính quốc tế Như vậy, mặc dù còn ở trình độ thấp hơn các nước tư bản pháttriển nhưng phân công lao động trong nền kinh tế nước ta hiện nay đã cho
phép sản xuất và trao đổi hàng hoá có thể hình thành và phát triển
- Trong thơì kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế đang tồn tạinhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động
Hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh phổ biến là doanh nghiệp Các doanh nghiệp tồn tại, hoạt động với tư cách là các chủ thể kinh tế độc lập.
Trong điều kiện đó, sự trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể kinh tế với nhautrên thị trường là một tất yếu
- Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chỉ có đẩy mạnh sản xuất
hàng hoá mới làm cho nền kinh tế nước ta tăng trưởng, phát triển nhanh,
không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống dân cư Nền kinh tế hàng hoáchịu sự chi phối của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quy luật cạnhtranh, quy luật cung cầu Dưới sự tác động của các quy luật đó, nền kinh tếtrở nên năng động; người sản xuất hàng hoá phải hết sức quan tâm đến nhucầu, thị hiếu của người tiêu dùng, phải không ngừng cải tiến kỹ thuật nhằmnâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm,thay đổi mẫu mã
Trang 34- Phát triển kinh tế hàng hóa không chỉ thúc đẩy kỹ thuật, công nghệphát triển, mà còn tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực.Nền kinh tế hàng hoá đòi hỏi phải có đội ngũ công nhân lành nghề, các cán
bộ khoa học - công nghệ có trình độ chuyên môn cao, những nhà quản lý vànhững nhà doanh nghiệp giỏi Và chính nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội là cơ sở kinh tế, là tiền đề vật chất để đào tạođội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học - công nghệ, đào tạo những ngườithợ giỏi cho nền kinh tế đất nước
Sự phân tích trên cho thấy sự phát triển sản xuất hàng hoá đối vớinước ta là một tất yếu khách quan, một nhiệm vụ kinh tế quan trọng để đưanền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp hiện đại vàtừng bước hội nhập nền kinh tế thế giới Phát triển sản xuất hàng hoá mạnh
mẽ là con đường khai thác có hiệu quả nhất mọi nguồn lực của đất nước đểthực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
II ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH TẾ HÀNG HOÁ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘLÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Nền kinh tế hàng hoá ở nước ta mang đầy đủ những đặc tính của nềnkinh tế hàng hoá nói chung Tuy nhiên, do những điều kiện kinh tế - xã hộiđặc thù, cho nên nền kinh tế hàng hoá của nước ta hiện nay còn có nhữngđặc điểm riêng
1 Nền kinh tế hàng hoá nước ta đang ở trong quá trình hình thành và phát triển
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, từ năm 1986 đến nay
đất nước ta tiến hành sự nghiệp đổi mới Một nội dung rất quan trọng của
đổi mới kinh tế ở nước ta là chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoátập trung - hành chính - bao cấp sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có
sự điều tiết của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù đã hơn
15 năm phát triển kinh tế hàng hoá, nhưng cho đến nay, tính chất của kinh tế
tự nhiên vẫn còn thể hiện rất đậm nét Những biểu hiện chủ yếu là:
- Mặc dù trong nền kinh tế đã xuất hiện những doanh nghiệp có quy
mô tương đối lớn, trình độ công nghệ hiện đại nhưng nhìn chung, sản xuấtnhỏ vẫn là phổ biến, trình độ phân công lao động xã hội chưa cao, lao độngthủ công là chính, công nghệ lạc hậu
- Kết cấu hạ tầng của nền kinh tế ở trình độ thấp kém, gây ra không ítkhó khăn cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và làm giảm tính hiệu quảcủa toàn bộ nền kinh tế
Trang 35` - Sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ rất yếu do chi phí sản xuất
cao, chất lượng thấp, mẫu mã chậm thay đổi
- Đội ngũ các nhà doanh nghiệp còn rất non trẻ: vốn liếng có hạn, kinhnghiệm làm ăn còn mỏng, quan hệ với các bạn hàng còn hạn hẹp Vì vậy,
các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc hợp tác
và cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.
- Do nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, năng suất thấp nên mức thunhập, mức sống của dân cư còn rất thấp; tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế cònthấp; sức tiêu thụ hàng hoá còn thấp và dung lượng thị trường nội địa cònhạn hẹp
Như vậy, cho đến thời điểm này, nền kinh tế hàng hoá ở nước ta vẫnđang ở tình trạng kém phát triển Do đó, các quy luật kinh tế của sản xuấthàng hoá hoạt động và phát huy tác dụng còn rất hạn chế
Bên cạnh đó, dấu ấn của cơ chế quản lý kinh tế hành chính - bao cấp
vẫn còn đậm nét Một bộ phận các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn được bao
cấp; phương thức điều hành các hoạt động kinh tế trên một số lĩnh vực, tạimột số thời điểm vẫn còn mang tính chất hành chính, mệnh lệnh; một số lĩnhvực hoạt động kinh tế vẫn được tổ chức theo mô hình hành chính - baocấp
Những biểu hiện của kinh tế tự nhiên và những dấu ấn của cơ chếquản lý kinh tế hành chính - bao cấp trên đây là những cản trở to lớn đối vớiviệc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng, phát triển kinh tế, cải thiện đời sốngnhân dân Thực tế đó đặt ra yêu cầu bức thiết đối với nước ta là phảinhanh chóng khắc phục dấu ấn của cơ chế quản lý kinh tế cũ, phát triểnmạnh kinh tế hàng hoá
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, trong hơn 15 năm đổimới vừa qua, sản xuất hàng hoá ở nước ta đã có bước phát triển đáng kể: sốlượng, chủng loại hàng hoá sản xuất ra ngày càng đa dạng phong phú, chấtlượng ngày càng tốt hơn; giá cả phản ánh ngày càng đầy đủ hơn giá trị hànghoá và quan hệ cung cầu trên thị trường Một số chủng loại hàng hoá đứngvững được trên thị trường và có khả năng cạnh tranh Trước mắt, nền kinh
tế nước ta phải phát huy được các nhân tố tích cực, đồng thời ra sức khắcphục các yếu tố tự phát, tiêu cực của nền kinh tế hàng hoá để xây dựng vàphát triển lực lượng sản xuất, từng bước nâng cao đời sống của dân cư
2 Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Nền kinh tế hàng hoá hiện đại gắn liền với việc đa dạng hoá các hìnhthức sở hữu Nói cách khác, nền kinh tế hàng hoá hiện đại đều bao gồmnhiều thành phần kinh tế Do đó, nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần kinh
Trang 36tế không phải là đặc điểm riêng của nền kinh tế hàng hoá nước ta hiện nay.Xét về phương diện các thành phần kinh tế, đặc điểm của nền kinh tế hànghoá xuất phát từ vai trò, vị trí khác nhau của từng thành phần ở mỗi nước Ởnhiều nước, kinh tế tư nhân được coi là động lực của nền kinh tế hàng hoá.
Nhưng ở Việt Nam, kinh tế nhà nước phải được xây dựng để trở thành thành
phần kinh tế kinh tế chủ đạo, định hướng sự phát triển của nền kinh tế Đóchính là đặc điểm quan trọng của nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Như chương trước đã trình bày, sự tồn tại thành phần kinh tế tư bản tưnhân, thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàibên cạnh thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhànước là một tất yếu khách quan Một mặt, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cáthể, tiểu chủ và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có thể đem lại những lợiích quan trọng như thu hút được nhiều lao động, tạo thêm việc làm, gópphần giải quyết vấn đề thất nghiệp, góp phần giải quyết khó khăn về vốncho nền kinh tế, làm phong phú hơn chủng loại và nâng cao chất lượng hàng
hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội, góp phần phát triển khoa học - công
nghệ, mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế đối ngoại Mặt khác,các thành phần kinh tế đó đều dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất, hoạt động mang tính tự phát, có thể tác động tiêu cực đến sự phát triểnchung của nền kinh tế
Chính vì vậy, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước có ý nghĩa vô cùngquan trọng Nhà nước vừa phải có những chính sách kinh tế thích hợp đểđịnh hướng sự phát triển thành phần kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể,tiểu chủ và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển lành mạnh đúnghướng; vừa phát triển mạnh thành phần kinh tế nhà nước, làm cho thànhphần kinh tế này giữ vai trò chủ đạo, định hướng nền kinh tế hàng hoá nước
ta lên chủ nghĩa xã hội
Sáu thành phần kinh tế với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước làmcho các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế hàng hoá ở nước ta và ở cácnước khác không hoàn toàn giống nhau Ở nước ta, mặc dù mọi doanhnghiệp, mọi người sản xuất hàng hoá dù ở thành phần kinh tế nhà nước, tậpthể , cá thể, tư bản tư nhân, hay tư bản nhà nước đêù được tự do hoạt độngtheo luật pháp, được luật pháp thừa nhận, bảo vệ quyền sở hữu và các hìnhthức thu nhập chính đáng; các thành phần kinh tế đều được hoạt động sảnxuất, kinh doanh theo cơ chế tự chủ, vừa hợp tác vừa cạnh tranh thúc đẩynền kinh tế phát triển nhưng kinh tế nhà nước, bằng việc nắm giữ, chi phốinhững ngành, những vị trí then chốt trong nền kinh tế và hiệu quả cao của
Trang 37các hoạt động kinh tế, từ đó chi phối hoạt động của các thành phần kinh tếkhác, định hướng nền kinh tế phát triển theo phương hướng nhất định.
3 Nền kinh tế hàng hoá phát triển theo hướng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại bằng nhiều hình thức
Sở dĩ có một thời kỳ rất dài, nền kinh tế ở nước ta mang tính khépkín, ít có quan hệ kinh tế với nước ngoài vì cơ chế kinh tế tự nhiên và cơ chếquản lý kinh tế hành chính - bao cấp Đó là một trong những nguyên nhânlàm cho nền kinh tế mang tính trì trệ, khó thoát ra khỏi tình trạng lạc hậukém phát triển
Kinh tế hàng hoá, về bản chất là nền kinh tế mở vì nền kinh tế này tồntại và phát triển dựa trên cơ sở phân công lao động và hợp tác sản xuất Nềnkinh tế hàng hoá phát triển với chiến lược kinh tế mở còn xuất phát từ lợithế tuyệt đối và lợi thế so sánh của các quốc gia Ngay cả những quốc giahoàn toàn không có lợi thế tuyệt đối nhưng khi tham gia vào thương mạiquốc tế vẫn có lợi thế so sánh và nếu biết phát huy lợi thế này sẽ làm cho
nền kinh tế tăng trưởng, phát triển nhanh hơn Phát triển nền kinh tế hàng
hoá với chiến lược kinh tế mở cho phép phát huy cao độ thế mạnh nội sinh,đồng thời là cơ hội để khắc phục những khó khăn vốn có của mỗi quốc gia
Ngày nay, khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế phát triển tất yếu,mang tính thời đại Phân công lao động gắn liền với hợp tác lao động quốc
tế là cơ sở kinh tế để các quốc gia và các dân tộc từng bước hội nhập vào thịtrường khu vực và thị trường thế giới
Trong những năm qua, nhờ chiến lược mở cửa, nền kinh tế hàng hoá ởnước ta có những bước phát triển đáng kể Chúng ta đã thu hút được nguồnvốn từ nước ngoài, khắc phục được một phần khó khăn về vốn; nâng caođược trình độ quản lý và trình độ công nghệ cho nền kinh tế; mở rộng đượcthị trường, tạo thêm việc làm cho người lao động; bước đầu khai thác đượccác tiềm năng về đất đai, tài nguyên
Tóm lại, nền kinh tế hàng hoá phát triển với chiến lược kinh tế mởthích ứng với xu thế vận động chung của nền kinh tế thế giới trong thời đạingày nay, khai thác được các tiềm năng, thế mạnh của đất nước, khắc phụcđược những khó khăn vốn có, tăng trưởng, phát triển nhanh
4 Nền kinh tế hàng hoá vận động theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đặc điểm cơ bản này có ý nghĩa quan trọng, nói lên bản chất của nềnkinh tế ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: “Chủ trươngxây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩathể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất
Trang 38với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Đó là mô hình kinh tế tổngquát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”1.
Kinh tế hàng hoá là chế độ kinh tế được tổ chức sản xuất ra sản phẩm
để bán, để trao đổi Nền kinh tế hàng hoá phát triển tự phát sẽ đi lên chủnghĩa tư bản Nền kinh tế hàng hoá ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội sẽ phải được định hướng
Hoạt động của cơ chế thị trường không chỉ chịu sự tác động của cácquy luật kinh tế thị trường nói chung, mà còn chịu sự chi phối của các quyluật kinh tế riêng của phương thức sản xuất chủ đạo Đồng thời, hoạt độngcủa cơ chế thị trường còn chịu sự tác động mạnh mẽ của “bàn tay hữu hình”
là nhà nước Chính vì vậy, vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế
hàng hoá ở Việt Nam là nhân tố cực kỳ quan trọng đảm bảo cho nền kinh tếvận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Nhà nước định hướng nền kinh tế hàng hoá ở nước ta lên chủ nghĩa xãhội bằng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, các chính sách và đònbảy kinh tế, hệ thống luật pháp
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam baogồm các đặc trưng chủ yếu sau:
“Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất
-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lựclượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợptrên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sởhữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảngvững chắc
Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất chủ yếu là
sản phẩm của nền kinh tế phát triển với trình độ xã hội hóa cao các lựclượng sản xuất hiện đại, từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệtđối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản Xây dựng chế độ
đó là một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài qua nhiều bước, nhiềuhình thức từ thấp đến cao Phải từ thực tiễn tìm tòi, thử nghiệm để xây dựngchế độ sở hữu công cộng nói riêng và quan hệ sản xuất mới nói chung vớibước đi vững chắc Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan
hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lựclượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia, H.
2001, tr 88.
Trang 39Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhànước Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế bằngpháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thịtrường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tếthị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tíchcực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi íchcủa nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phốichủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theomức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thôngqua phúc lợi xã hội
Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hộingay trong từng bước phát triển
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đờisống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo conngười, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước”1
III NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ CHÍNH SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾHÀNG HOÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Để phát triển nền kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa,cần phải xác lập được những tiền đề nhất định và thực hiện đồng bộ nhiềuchính sách kinh tế - xã hội
1 Những tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
a) Giữ vững ổn định về chính trị, xã hội; hoàn thiện hệ thống luật
pháp
Nhân tố hàng đầu để phát triển nền kinh tế xã hội của đất nước là đảmbảo sự ổn định về chính trị, xã hội Nhân tố này cũng là điều kiện để các nhàkinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư vaò sản xuất kinh doanh
Giữ vững ổn định về chính trị, trước hết là giữ vững vai trò lãnh đạocủa Đảng cộng sản Việt nam, là tăng cường hiệu lực về quản lý của nhànước nhằm tạo lập một niềm tin vững chắc của nhân dân đối với Đảng vàNhà nước, với chế độ xã hội chủ nghĩa Chính trị ổn định khi vai trò làm chủ
1 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia, H.
2001, tr 86-88.
Trang 40của nhân dân được phát huy đầy đủ Dân tin vào Đảng và Nhà nước Đảng
và Nhà nước hết lòng phục vụ nhân dân
Giữ vững ổn định về xã hội phải dựa trên cơ sở phát triển mạnh mẽnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tạo ra nhiều việc làm và thu nhậpcho nhân dân lao động, giải quyết được thất nghiệp và cải thiện đời sống;đồng thời đấu tranh, giáo dục xoá bỏ mọi tệ nạn xã hội để làm cho chế độ xãhội chủ nghĩa ngày càng tốt đẹp hơn, lành mạnh hơn
Song song với giữ vững ổn định chính trị, xã hội phải xây dựng hoànthiện hệ thống luật pháp Đây là công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần có hiệu lực, để tạo ra một hành lang pháp lý antoàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong vàngoài nước Hoàn thiện hệ thống luật pháp có tác dụng thiết lập kỷ cương,trật tự trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong mọi thành phần kinh tế và
ở các tầng lớp dân cư Hệ thống luật pháp đồng bộ, pháp chế nghiêm minh
là cơ sở quan trọng đảm bảo sự thống nhất về lợi ích kinh tế của các tổ chứckinh tế, của công dân và lợi ích xã hội
b) Mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, taọ lập đồng bộ các yếu tố thị trường
Muốn phát triển kinh tế hàng hoá phải mở rộng phân công lao động xãhội, phải phân bố lại lao động và dân cư hợp lý trong từng địa phương, từngvùng theo hướng chuyên môn hoá Chỉ có như vậy thì mới khai thác tối đacác nguồn lực, phát triển được nhiều ngành nghề, tạo được nhiều việc làm
và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có
Trong điều kiện toàn cầu hoá, phân công lao động trong nước phảigắn với phân công lao động quốc tế Trên cơ sở đó, thị trường trong nước vàquan hệ kinh tế với nước ngoài từng bước được mở rộng, các nguồn lực củanền kinh tế khai thác có hiệu quả
Trong điều kiện nước ta hiện nay, để phát triển nền kinh tế thị trườngcần phải phát triển nhanh và mạnh các loại thị trường: thị trường hàng hoá
và dịch vụ; thị trường khoa học và công nghệ; thị trường sức lao động; thịtrường vốn; thị trường tiền tệ; hình thành và phát triển thị trường bất độngsản
Để thực hiện mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng,lãnh thổ và tạo lập đồng bộ các yếu tố kinh tế thị trường nhằm khai thác cóhiệu quả tiềm năng về tài nguyên, vốn, công nghệ cần phải xây dựng kếhoạch hoá định hướng phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với thực tiễn vàyêu cầu của nền kinh tế, phải xác lập một hệ thống công cụ quản lý kinh tế