1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIAO TRINH HANH CHINH CONG potx

70 280 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Chính Công
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Quản lý
Thể loại Học thuật
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 279,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũngchính là một trong những điểm khác biệt cơ bản giữa mục tiêu hoạt động của cơquan hành chính nhà nước và doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh.Nếu như mục tiêu của các tổ ch

Trang 1

HÀNH CHÍNH CÔNGCHƯƠNG I : ĐẠI CƯƠNG VỀ QUẢN LÝ.

1.Sự cầøn thiết khách quan của quản lý

1.1.Nguồn gốc của quản lý

Tập quán sinh sống của con người là quần tụ theo cộng đồng Trong cộngđồng sinh tồn này, có nhiều việc mà một người không thể làm được hoặc làmđược nhưng kém hiệu quả, do đó cần sự liên kết để cùng thực hiện Từ nhữngyêu cầu khách quan về sự phối hợp cộng đồng, dần dần hình thành một tổ chức

Từ những ngày đầu tồn tại, con người đã biết tìm kiếm các nguồn vật chấtcó sẵn trong tự nhiên, Hay tự tạo ra để đảm bảo sự sinh tồn Nhu cầu đảm bảocho sự sống hàng ngày không ngừng được tăng lên cả về lượng lẫn chất, trongkhi của cải trong thiên nhiên chỉ là một số hữu hạn mang tính thời vụ Thực tếkhách quan này buộc con người phải tự tạo ra những sản phẩm tiêu dùng cho xãhội thay thế những sản phẩm tự nhiên Dù nhiều hay ít, sản phẩm làm ra vẫnchứa đựng những tài nguyên thiên nhiên, vì vậy con người phải tập trung khaithác sử dụng các nguồn tài nguyên tổng hợp; phải sử dụng thành quả của nềnvăn minh để khai thác và chế tác tài nguyên, không những thế con người cònphải đấu tranh với các lực lượng đối lập trong xã hội và tự nhiên để tồn tại vàphát triển Để đạt được mục tiêu mưu sinh đó con người không thể sống riêng lẻmà phải tham gia vào quá trình hiệp tác, phân công lao động để vừa tạo ra sứcmạnh cộng đồng, vừa phát huy ưu thế của mỗi người mỗi bộ phận Hiệp tác vàphân công lao động tiến dần từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiệntheo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Dù ở trình độ phối hợpnào thì hiệp tác phân công lao động cũng không phải là hoạt động của mỗi ngườimà là của cả tổ chức; vì thế cần đến yếu tố điều hành, phối hợp các bộ phận cótrong tổ chức Yếu tố đó là quản lý

Quản lý ra đời gắn với hoạt động chung của nhiều người trong xã hội nhưCác-Mác đã đề cập đến trong thời đại công nghiệp cơ khí: “ mọi người lao độngtrực tiếp trong xã hội hoặc lao động chung thực hiện trên quy mô tương đối lớn,

ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” Theo nghiên cứu của các nhà kinhđiển chủ nghĩa Mác – Lênin, thì ngay trong cộng đồng xã hội Thị tộc, xã hộiNguyên thuỷ đã hình thành các tổ chức tự quản, đó là hội đồng thị tộc và ngườiđứng đầu là tù trưởng có vai trò thực hiện chức năng quản lý trong cộng đồng thịtộc Khi chế độ tư hữu ra đời, cũng là lúc xuất hiện các tầng lớp, các giai cấp vàmâu thuẫn giai cấp Để duy trì địa vị của giai cấp thống trị và giải quyết các

Trang 2

mâu thuẫn không thể điều hoà được thì nhà nước xuất hiện để thực hiện chứcnăng cai quản toàn xã hội.

Cùng với sự phát triển của hiệp tác và phân công lao động từ thấp đếncao, xã hội loài người đã trải qua ba cuộc cách mạng gắn liến với các tổ chứckinh tế chính trị xã hội Trong tổ chức đó, quản lý có vai trò kết hợp sự nỗ lựcchung của mỗi người trong tổ chức và sử dụng tốt các nguồn lực vật chất có đượcđể đạt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng của từng thành viên trong tổ chức

Như vậy, nguồn gốc quản lý là sự cần thiết kết hợp và phối hợp hoạt độnggiữa các cá nhân trong xã hội, giữa con người với tự nhiên để mang lại lợi íchmong muốn cho toàn xã hội

1.2.Mục tiêu quản lý

Quản lý là hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể đểthực hiện một mục tiêu chung Quản lý diễn ra với mọi quy mô, mọi cấp độ củatổ chức từ nhỏ đến lớn, tử đơn giản đến phức tạp, trong tất cả các lĩnh vực củađời sống kinh tế xã hội, đặc biệt là phối hợp trong lĩnh vực phòng chống thiêntai Để duy trì và bảo vệ đời sống dân cư, con người phải dựa vào sức mạnh cộngđồng trên các phạm vi Trong thực tế để tái lập và bảo vệ môi trường sống thìmỗi quốc gia hay khu vực không thễ tự giải quyết được mà phải có sự nỗ lực củatất cả các quốc gia trên thế giới Hoặc để bảo vệ lợi ích của một quốc gia củamột chủ đầu tư thì cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều thành viên ở cácquốc gia khác trên toàn cầu, như các công ty đa quốc gia, các tổ chức kinh tế khuvực Còn để tạo ra những bộ phận hay sản phẩm giản đơn thì chỉ cần sự đồngtâm, nhất trí của một nhóm cá nhân với những thiết bị nhất định Song dù tổchức ở quy mô lớn hay nhỏ thì mọi hoạt động của thực thể cũng bao gồm hai bộphân quản lý có đặc tính khác nhau rõ rệt là người điều hành và người thực hiện.Hai bộ phận này tồn tại độc lập trong một thể thống nhất cùng hướng tới mụctiêu chung của tổ chức

Quản lý nhằm các mục tiêu sau đây :

- Tổ chức, điều hoà phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhântrong tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu chung

- Kết hợp hài hoà lợi ích của từng cá nhân và của tập thể trên cơ sở pháthuy nỗ lực cá nhân, tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển của mỗi cánhân, tôn trọng mục tiêu cá nhân, gắn mục tiêu cá nhân với mục tiêu chung củatổ chức

- Tạo nên sự ổn định và thích ứng cao của tổ chức trong môi trường luônbiến động

1.3 Vai trò của quản lý

Trang 3

- Tạo nên sự thống nhất ý chí giữa các cá nhân, giữa các bộ phận khácnhau trong hệ thống tổ chức.

- Xây dựng định hướng ngắn hạn và dài hạn phát triển tổ chức Nhằmhướng sự nỗ lực của các cá nhân trong tổ chức vào mục tiêu chung Định hướngvừa đề ra mục tiêu và giải pháp chủ yếu để đạt được mục tiêu, vừa tạo nên sựthống nhất ý chí hành động của hệ thống trong việc xác định và thực hiện mụctiêu

- Tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và tổ chức theo mụctiêu định hướng

- Phối hợp, điều hoà các hoạt động của mỗi cá nhân, của các bộ phậntrong tổ chức để vừa phát huy được thế mạnh của chúng, vừa ngăn ngừa, loại bỏđược những bất định sinh ra trong quá trình hoạt động để đạt được mục tiêu đề racủa tổ chức một cách có hiệu qủa nhất

-Tạo môi trường thích hợp cho sự phát triển của tổ chức và của cá nhântrong từng thời kỳ

Vai trò của quản lý đối với một tổ chức cũng không kém phần quan trọng,bởi không chỉ mọi quá trình diễn ra trên phạm vi xã hội cần đến sự hợp tác vàphân công lao động để đạt những mục tiêu nhất định, mà ngay trong cả khi cáchoạt động phối hợp lẫn nhau thành một tổ chức cụ thể cũng cần phải có quản lýđể :

-Xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể cho mỗi bộ phận cá nhân trong tổchức, làm cho mỗi cá nhân trong tổ chức nhận thức một cách đầy đủ về số lượngvà chất lượng công việc được phân công

- Bố trí nhân sự và công cụ lao động phù hợp nhất với trình độ chuyênmôn và năng lực của mỗi người, để họ có thể phát huy đựơc tài năng trên cơ sởchuyên môn hoá nhằm hoàn thành công việc được giao một cách tốt nhất Đồngthời cũng giúp cho nhân sự của tổ chức có điều kiện phát triển cả về thể lực vàtrí lực

- Phối hợp nhịp nhàng các bộ phận trong tổ chức để đạt được mục tiêuchung là tạo ra những sản phẩm tiêu dùng xã hội

- Củng cố địa vị của tổ chức trong môi trường bằng cách duy trì tốt nhất sựtồn tại của tổ chức thông qua kết quả hoạt động của tổ chức đóng góp cho xãhội

2 Quan niệm về quản lý

2.1 Các dạng quan niệm về quản lý

Con người thực hiện hoạt động quản lý từ xa xưa, nhưng khoa quản lý với

tư cách là một khoa học độc lập thì còn mới mẻ Quản lý là một nghiệp xưa

Trang 4

nhất nhưng cũng là một nghề mới nhất Quản lý là một khái niệm rộng, bao gồmnhiều hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau, tuy vật nó cũng có những nétchung nhất phản ánh được bản chất của từ này Quản lý gồm hai quá trình đankết vào nhau một cách chặt chẽ là duy trì và phát triển Hai quá trình này vừagiữ cho một thực thể tồn tại độc lập vừa tạo cho nó vận động phát triển.

Do quản lý gắn liền với các quá trình kinh tế xã hội, nên trên thực tế đãnảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về quản lý Những quan niệm này có lịchsử ra đời khác nhau và gắn với mỗi tổ chức hoạt động trong một lĩnh vực, thậmchí với mỗi quá trình trong tổ chức

- Theo F.W Taylor, quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người kháclàm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhấtvà rẻ nhất

- Theo Henry Fayol định nghĩa quản lý là một tiến trình bao gồm tất cảcác khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực khác của tổchức nhằm đạt được mục tiêu đã định trước

- Mary Parket Follett cho rằng, quản lý là nghệ thuật đạt đượic mục tiêuthông qua con người

Có tác giả cho rằng quản lý là hoạt động phối hợp hoạt động chung củamột đoàn thể hợp tác Cũng có tác giả cho rằng quản lý lả điều khiển con ngườivà sự vật nhằm đạt được mục tiêu định trước

Từ những điểm chung của các định nghĩa trên ta có thể đi đến một kháiniệm tổng hợp về quản lý Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển các quátrình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng hợp với quy luật, đạttới mục đích đề ra và đúng với ý chí người quản lý

Hay một cách chính xác hơn thì quản lý là điều khiển chỉ đạo một hệthống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắctương ứng để cho hệ thống hay quá trình ấy vận theo ý muốn của người quản lýnhằm đạt được những mục đích định trước

Định nghĩa trên thích hợp với tất cả mọi trường hợp từ sự vận động củamột cơ thể sống, một vật thể cơ giới, một thiết bị tự động hoá đến hoạt động củamột tổ chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhả nước

2.2 Các yếu tố cấu thành quản lý

- Chủ thể quản lý : là yếu tố tạo ra tác động quản lý trong mọi quá trìnhhoạt động

- Đối tượng quản lý, là yếu tố tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý

- Khách thể quản lý có thể là những hành vi thực thể nhưng cũng có thể làmối quan hệ giữa các thực thể trong quá trình vận động của chúng

Trang 5

- Mục tiêu là căn cứ để chủ thể quản lý phát ra các tác động quản lý cũngnhư sự lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Chủ thể quản lý và kháchthể quản lý đểu hướng tới mục tiêu quản lý vì đó là cái đích cần đạt tới tại mộtthời điểm trong tương lai do chủ thể quản lý và khách htể quản lý thống nhấtđịnh trước.

- Môi trường quản lý bao gồm cả môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, xãhội ảnh hưởng đến quá trình quản lý cũng như mục tiêu quản lý Trong các môitrường khác nhau, chủ thể quản lý phải tìm kiếm, sử dụng các công cụ, phươngpháp quản lý cho phù hợp Môi trường quản lý vừa đặt ra mục tiêu vừa tạo nênđịa bàn và động lực cho mỗi tổ chức hoạt động, vì vậy nó cũng là một yếu tốquan trọng trong quản lý

2.3.Các dạng của quản lý

Quản lý giới vô sinh

Quản lý giới sinh vật

Quản lý xã hội

3 Các yếu tố của quản lý

3.1.Yếu tố tổ chức

Ơû đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó cần có quản lý, bởi vì hoạtđộng chung của nhiều người đòi hỏi phải liên lại dưới nhiều hình thức Một trongnhững hình thức liên kết quan trọng là tổ chức Xét về nội dung, tổ chức là phốihợp liên kết hoạt động của nhiều người để thực hiện những mục tiêu đã đề ra, làyếu tố quyết định đem lại hiệu quả cho quản lý Không có tổ chức thì không cóquản lý Tổ chức được coi là nền tảng của các hoạt động quản lý

Khẳng định vấn đề này, Lênin đã viết “ Muốn quản lý tốt mà chỉ biếtthuyết phục không thôi thì chưa đủ, mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn.”

Để có quản lý, trước tiên chủ thể quản lý phải thiết lập nên một hệ thốngtổ chức với đội ngũ nhân sự tương ứng Trên góc độ này, tổ chức là sự tập hợpcác yếu tố nhân sự và vật chất cần thiết theo một cơ cấu phù hợp với nhiệm vụxác định trong từng thời kỳ, nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức Nội dung cụthể của hoạt động này là huy động các nguồn lực thiết lập các bộ phận theo trậttự; quy định các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; của từng bộ phận và cá nhântrong tổ chức; quy định mối quan hệ dọc, quan hệ ngang giữa các bộ phận nhằmphối hợp hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức

3.2.Yếu tố quyền uy

Để điều khiển phối hợp hoạt động của tâp thể những con người, chúng tacần có những phương tiện buộc con người phải hành động theo những nguyêntắc nhất định, phải phục tùng những khuôn mẫu, những mênh lệnh nhất định Cơ

Trang 6

sở của sự phục tùng hoặc là uy tín hoặc là quyền uy Trong những hoàn cảnh lịchsử nhất định uy tín đóng vai trò là cơ sở quan trọng của sự phục tùng nhưng nhìnchung thì quyền uy vẫn là cơ sở chủ yếu Quyền uy là sự áp đặt ý chí của ngườinày đối với người khác buộc người đó phải phục tùng Như vậy, quyền uy lấyphục tùng làm tiền đề.

Quyền uy là phương tiện rất quan trọng để chủ thể quản lý buộc đối tượngquản lý phải phục tùng là yếu tố không thể thiếu của quản lý Không có quyền

uy thì hoạt động quản lý sẽ không đạt được hiệu quả

Quyền uy- ý chí thống trị của người điều khiển- có thể đại diện cho lợi íchchung và nhằm phục vụ cho lợi ích chung của các thành viên trong tổ chức.Ngược lại nó chỉ có thể đại diện cho lợi ích của một nhóm người hoặc một cánhân

Trong trường hợp thứ nhất, sự phục tùng quyền uy, tức là sự thống nhất ýchí, được thực hiện chủ yếu thông qua phương pháp thuyết phục, bằng kỷ luật tựgiác của các đối tượng bị quản lý

Trong trường hợp thứ hai, sự thống nhất ý chí và sự phục tùng được đảmbảo chủ yếu bằng bạo lực, cưỡng chế và theo Lênin thì “ Sự điều khiển có thểmang những hình thức độc tài, nghiêm khắc.”

3.3.Yếu tố con người

Mọi tổ chức đều có các nguồn lực vật chất do con người chủ động vậnhành nhằm thực hiện nhiệm vụ theo mục tiêu chung của tổ chức Con người làchủ thể huy động và tạo dựng các nguồn lực khác trong tổ chức và là yếu tốquyết định mọi thành công hay thất bại của tổ chức Quản lý ra đời là để điềuhoà hoạt động của các nhân khi thực hiện những công việc có mục tiêu chunggần gũi với nhau để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn so với làm việc củacác cá nhân riêng lẻ Như vậy bản chất của quản lý là quản lý con người trong tổchức, để thông qua đó sử dụng tốt nhất những tiềm năng của mỗi cá nhân và lợithế mang lại từ uy tín của tổ chức Theo đó, nhà quản lý chính là người đánhthức những năng lực tiềm ẩn trong mỗi con người, huy động tin thần đồng tâmhiệp lực trong công việc và khai thác tối đa khả năng của họ vào hoạt động vìmục tiêu chung

Muốn làm được điều đó, các nhà quản lý phải luôn tự hoàn thiện mình đểlàm gương cho cấp dưới về cả đạo đức, tác phong và trình độ, năng lực hoànthành nhiệm vụ, xứng đáng với địa vị quản lý của mình

Tóm lại, khi xét đến yếu tố con người trong quản lý là bao gồm cả chủ thểvà đối tượng quản lý

3.4 Yếu tố thông tin

Trang 7

Thông tin là sự phản ánh, là tri thức được sử dụng trong thực tiễn và trongquản lý Thông tin là nhu cầu trước tiên của quản lý, bởi vì một trong những yêucầu cơ bản của quản lý là phải nắm được tình một cách cụ thể, chính xác Trongquản lý, khi thực hiện chức năng quản lý chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đềrất khác nhau, nhưng trên góc độ thông tin thì tất cả các vấn đề đó đều có thểdiễn đạt như một quá trình thu thập, xử lý, vận hành và bảo quản thông tin Tínhchất của quá trình quản lý chính là quá trình thông tin hai chiều, liên tục giữachủ thể quản lý và khách thể quản lý.

Sự tuần hoàn liên tục của thông tin giữa các phần tử trong hệ thống, giữahệ thống nói chung và mội trường xung quanh là một thuộc tính không thể thiếucủa quản lý Nó đảm bảo cho việc phối hợp và chi phối các mối quan he, sự tácđộng qua lại hợp lý với hoàn cảnh môi trường xung quanh hướng sự vận độngchung vào mục tiêu đã định

Bất kỳ một chu kỳ quản lý nào cũng bắt đầu từ việc thu thập xử lý thôngtin và kết thúc bằng việc thu nhận thông tin và cũng là điểm xuất phát đối vớimột chu kỳ quản lý mới

Quản lý không thể tách rời với quá trình liên tục sản xuất và tái sản xuấtthông tin xã hội

Quản lý gắn bó chặt chẽ với thông tin, sự diễn biến với các qúa trìnhthông tin Thiếu thông tin thì không thể quản lý hệ thống một cách có hiệu quả,

ở đây thông tin giải quyết ba nhiệm vụ của quản lý :

+ Là hình thức liên hệ qua lại, tác động tương hỗ đặc thù giữa các phần tửcủa hệ thống, cũng như giữa hệ thống vơí hoàn cảnh môi trường xung quanh

+ Phục vụ mọi cấp, mọi chức năng quản lý- từ việc chuẩn bị và ra quyếtđịnh đến việc tổng kết, đánh giá thực hiện quyết định

+ Là nguyên nhân trực tiếp, quyết định việc hệ thống lựa chọn mộtphương án hành động nhất định, chuyển hệ thống sang trạng thái mới bảo đảmcho hệ thống vận động tới mục tiêu đề ra

Như vậy, thông tin là một điều kiện không thể thiếu được trong quản lý, làcăn cứ để chủ thể quản lý ra quyết định quản lý và tổ chức thực hiện các quyếtđịnh quản lý có hiệu quả

3.5.Yếu tố chính trị

Bất kỳ một tổ chức nào đều tồn tại và phát triển trong một môi trường cụthể, trong đó môi trường chính trị có vị trí hết sức quan trọng Trong một xã hội,yếu tố chính trị chi phối mục tiêu và định hướng hành động của mỗi cá nhân, tổchức, cho dù tổ chức đó hoạt động trên lĩnh vực nào của nền kinh tế xã hội Chếđộ chính trị quy định mục tiêu của mỗi quốc gia, trong đó có các tổ chức và cá

Trang 8

nhân tồn tại, và chi phối đường lối chính sách và pháp luật của nhà nước – vớitính cách là chủ thể quản lý toàn diện toàn dân mọi quá trình hoạt động của tổchức trong khuôn khổ môi trường chính trị và pháp lý đó Nói tóm laị, yếu tốchính trị là yếu tố lãnh đạo, định hướng cho toàn xã hội Thực hiện định hướngđó, nhà nước cần tạo lập môi trường thích hợp về chính trị hành chính cho các cánhân và tổ chức phát triển trong từng thời kỳ.

3.6 Yếu tố văn hoá

Trong quá trình tồn tại và phát triển của tổ chức sẽ dần dần hình thành cácyếu tố mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng, đó là văn hoá tổ chức Vai tròcủa văn hoá tổ chức đối với quản lý được thể hiện ngay trong chính khái niệmvăn hoá tổ chức

Văn hoá tổ chức là toàn bộ các giá trị, niềm tin, truyền thống và thóiquyen có khả năng điều phối hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức; nó ngàycàng được làm giàu thêm và có thể thay đổi theo thời gian và mang lại cho tổchức một bản sắc riêng Vì thế nhiệm vụ của nhà quản lý đối với phương diệnvăn hoá tổ chức là phải duy trì và phát triển văn hoá của tổ chức mình, điều nàycũng có nghĩa là đã chứng minh được sự tồn tại và phát triển của tổ chức

- Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy Có tổ chức thì mớiphân định được rõ ràng chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và mối quan hệ củanhững người tham gia hoạt động chung Có quyền uy thì mới đảm bảo sự phụctùng của cá nhân đối với tổ chức Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thểquản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiệncác yêu cầu mệnh lệnh của mình

Trang 9

CHƯƠNG II: QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1 Quản lý nhà nước

Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn và là phần quan trọng các công việccủa xã hội do nhà nước quản lý

Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại củanhà nước

Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mangquyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản lý nhằmthực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước Như vậy tất cả các

cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước

Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước Bằng pháp luật,nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xã hội hoặc các cá nhân để họ thaymặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước

Như vậy, quản lý nhà nước là một dạng của quản lý Tuy nhiên quản lýnhà nước lại là một quản lý xã hội đặc biệt, nó xuất hiện cùng với sự xuất hịêncủa nhà nước Quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lậppháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính ( chấp hành và điều hành) củaChính Phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp Nó mang tính quyền lựcnhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con ngườitrên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nướcthực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu của con người, duy trì sự ổn định và pháttriển của xã hội Quyền lực nhà nước thể hiện ở tính đơn phương của bên cósử dụng quyền lực nhà nước, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên hữuquan, mang tính pháp lý và được đảm bảo thi hành bằng cưỡng chế nhà nước

Chủ thể của quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước.Khách thể quản lý nhà nước là trật tư quản lý nhà nước Trật tự quản lý nhànước này do pháp luật quy định Đối tượng quản lý nhà nước là toàn thể nhândân, tức là toàn bộ dân cư sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

Hoạt động quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sốngxã hội và mang tính quyền lực nhà nước

Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhà nước được thể hiện thông quaviệc thực thi các loại quyền lực nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quanhệ xã hội, làm cho quốc gia phát triển ổn định và bền vững theo đúng địnhhướng Việc tổ chức thực thi quyền lực nhà nước được chia thành ba nhóm; thựcthi quyền lập pháp, thực thi quyền hành pháp và thực thi quyền tư pháp Như vậynội dung hoạt động quản lý nhà nước gồm :

Trang 10

- Hoạt động quản lý nhà nước thông qua hoạt động của cơ quan thực thiquyền lập pháp Đó là hoạt động ban hành các loại văn bản pháp luật Hoạtđộng này nhằm tạo khuôn khổ pháp luật cho xã hội vận động và phát triển.

- Đưa pháp luật vào đời sống, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh theokhuôn khổ pháp luật đã quy định Đây chính là nội dung hoạt động thực thiquyền hành pháp được thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà nước

- Xử lý các vi phạm pháp luật Đây là hoạt của hệ thống các cơ quan thựcthi quyền tư pháp nhằm đảm bảo cho hệ thống pháp luật được thực hiện nghiêmchỉnh

2 Hành chính công

2.1 Khái niệm

Hành chính theo tiếng Latinh vừa có nghĩa là quản lý, điều hành, vừa cónghĩa là phục vụ hỗ trợ Theo nghĩa Hán việt thì hành chính là “ thi hành chínhsự”, nghĩa là thực hiện công việc cai trị, điều hành theo chính sách Như vạyhành chính nói một cách khác ngắn gọn là quản lý, điều hành và phục vụ Toànbộ các hoạt động quản lý, điều hành và phục vụ được tiến hành trên cơ sở phápluật nhằm thực hiện các chính sách nhiệm vụ mục tiêu đề ra và đảm bảo các lợiích Theo đó hành chính là một khái niệm rộng bao gồm toàn bộ các hoạt độngquản lý, điều hành và phục vụ trên tất cả các lĩnh vực của đơiø sống xã hội, trongđó hành chính công giữ vị trí đặc biệt quan trọng

Hành chính công có liên quan mật thiết với việc làm cho pháp luật có hiệu lực,

ra các văn bản pháp quy, bảo đảm thực hiện chúng và thực các chính sách công.Hành chính công là quản lý hành chính nhà nước và bản chất của hành chínhcông cũng là bản chất của quản lý hành chính nhà nước

2.2 Bản chất của hành chính công

- Tính độc quyền

- Tính phi lợi nhuận

- Tính bình đẳng với mọi công dân

Quyền cuả công dân không tách rời nghĩa vu của công dân Mỗi công dâncó quyền đòi hoỉ được đối xử như những công dân khác trong hoàn cảnh điềukiện như nhau Bất cứ công dân nào không phân biệt người đó là ai, thành phầnxã hội như thế nào đều có quyền và nghĩa vụ như nhau Pháp luật nước ta khôngthừa nhận bất kỳ một sự đặc quyền nào đặc lợi nào của bất kỳ đối tượng nào,tầng lớp nào

Bình đẳng với mọi công dân còn có nghĩa là mọi công dân phải tôn trọngvà tuân thủ hiến pháp và pháp luật Bất ký ai vi phạm pháp luật đều bị xử lýtheo quy định của pháp luật

Trang 11

- Tính vô nhân xưng.

- Tính thông tin công khai cho công dân

Không một cơ che,á tiếng nói hoặc lối thoát nào có thể phát huy tác dụngnếu người dân không biết ai là người đưa ra các quyết định hành chính và đưa ranhư thế nào, tiếng nói duy nhất của họ chỉ có thể là các cuộc biểu tình chống đốicông khai vô tổ chức Và nếu không tiếp cận được thông tin về việc cung cấpdịch vụ công, người dân sẽ hoàn toàn rút khỏi hoạt động cung cấp dịch vụ này.Tính minh bạch là một trong bốn trụ cột- nguyên tắc chủ đạo để có hoạt độngquản lý nhà nước tốt, và thông tin là yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt độngkinh tế cũng như của mối quan hệ tốt của người dân và chính phủ

Tính công khai, minh bạch trong hành chính công có nghĩa là những thôngtin phù hợp được cung cấp kịp thời cho người dân dưới hình thức dễ sử dụng vàđồng thời các quy định của chính phủ phải rõ ràng và phổ biến đầy đủ Tínhcông khai minh bạch là điều kiện tiên quyết có trách nhiệm thật sự và giúp nângcao khả năng dự báo Sự không hiệu quả và tham nhũng phát triển mạnh nhấttrong bóng tối, và để có được áp lực dẫn đến thay đổi từ bên ngoài chính phủ đòihỏi người dân phải có thông tin đầy đủ về các hoạt động cũng như tiêu chuẩn đểđánh giá việc thực hiện các dịch vụ công

Hoạt động hành chính công truyền thống thường được thực hiện một cách

bí mật Các tổ chức lớn, dù là các tổ chức công cộng hay tư nhân, đều có xuhướng giấu giếm thông tin, và các nguyên tắc hành chính thường khuyến khích

xu hướng này Các dòng thông tin thường mang tính chất đóng, ngay cả trongnội bộ cũng như giữa các cơ quan chính phủ Thông tin được giấu giếm trở thànhmột công cụ cho các biểu hiện quan liêu, và vì vậy gần như được coi là tài sảncủa một cá nhân- hay một nhóm làm ra hoặc xử lý những thông tin đó Điều nàyđặc biệt đúng trong trường hợp hệ thống cấp quản lý theo ngành dọc với rất íttrách nhiệm đối với bên ngoài Cho dù là xuất phát từ đâu hay được biện minhthế nào, thói quen giấu giếm thông tin cuối cùng sẽ dẫn đến sự tuỳ tiện hoặc sailầm trong việc thực thi quyền hạn, những giao dịch không trung thực,và cácquyết định mua bán sai lầm Người ta thường nói, theo châm ngôn của ngàiActon, rằng có quyền lực là có tham nhũng, quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến thamnhũng tuyệt đối Quyền lực đối với thông tin cũng dẫn đến tham nhũng giốngnhư quyền lực đối với con người Ngược lại, sự minh bạch sẽ giúp xây dựng mộtchính phủ cởi mở và có trách nhiệm và ngăn chặn hiện tượng tham nhũng trongcác quan chức khu vực hành chính công Sự minh bạch trong khu vực hành chínhcông bao gồm hai khía cạnh : truyền thông công cộng và quyền của công dântrong việc tiếp cận thông tin của chính phủ

Trang 12

Các loại thông tin khác nhau cần đượïc cung cấp cho ngươiø dân bao gồm :+ Thông tin về chính phủ với tư cách là người nắm giữ thông tin – các loạibáo cáo nào cần được lưu trữ và tính chính xác của chúng được đảm bảo như thếnào.

+ Thông tin về chính phủ với tư cách là một doanh nghiệp _ tiêu bao nhiêutiền, tiêu vào việc gì, tại sao và kết quả như thế nào

+ Thông tin về chính phủ với tư cách là người cung cấp dịch vụ _ có sẵncác dịch vụ gì, với giá cả và chất lượng như thế nào và chúng được đảm bảo nhưthế nào

- Tính quy mô tổ chức lớn

- Tính hiệu quả

2.3 Đặc trưng cơ bản của hành chính công

- Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị

Nhà nước nói chung, hệ thống hành chính nhà nước nói riêng có hai chứcnăng : thứ nhất là duy trì trật tự chung, lợi ích chung của xã hội và thứ hai là bảovệ lợi ích của giai cấp cầm quyền Theo quan điểm cảu Mác thì chính trị là lĩnhvực thể hiện ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị Như vậy hành chính không thểthoát ly chính trị Hành chính nhà nước trước hết phục vụ chính trị, thực hiệnnhững nhiệm vụ chính trị do cơ quan quyền lực nhà nước quyết định Hành chinhnhà nước là trung tâm thực thi các quyết định của hệ thống quyền lực chính trị,hoạt động của nó ảnh hưởng lớn đến hiệu lực và hiệu quả của hệ thống chính trị

Hành chính nhà nước lệ thuộc vào hệ thống chính trị, mặc dù có tính độclập tương đối về nghiệp vụ và kỹ thuật hành chính hay đó chính là những nétđặc trưng riêng của khoa học hành chính hay khoa học quản lý áp dụng vào các

cơ quan hành chính` nhà nước mà bản thân khoa học chính trị không đề cập đến

Ở nước ta, nền hành chính nhà nước mang bản chất của một nhà nước " của dân,

do dân và vì dân" dựa trên nền tảng của liên minh giai cấp công nông và tầnglớp tri thức do Đảng Cộng Sản Việt nam lãnh đạo Hành chính nhà nước ở nước

ta là yếu tố cấu thành nên hệ thống chính trị trong đó Đảng Cộng sản Việt namlà hạt nhân lãnh đạo, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội có vaitrò tham gia giám sát các hoạt độngcủa nhà nước Trong hoạt động thực thiquyền lực nhà nước, hành chính nhà nước là yếu tố quan trong quyết định hiệuquả của hoạt động quản lý nhà nước cả hệ thống chính trị

- Tính pháp quyền

Pháp quyền là quyền lực pháp luật, tức là sức mạnh của pháp luật, là sựbắt buộc thực hiện của pháp luật với toàn xã hội Từ xa xưa cũng có những quanđiểm hoặc học thuyết đề cập vai trò của pháp luật trong xã hội, chẳng hạn như

Trang 13

thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử và có một số quốc gia ở những gia đoạn nhấtđịnh cũng đề cao sức mạnh vai trò của pháp luật Nhưng nếu chỉ dừng lại ở nộidung này thì pháp quyền chưa phản ánh được sự phát triển mạnh mẽ của xã hộihiện nay Do vậy pháp quyền còn có ý nghĩa thứ hai quan trong hơn là pháp luậtvề quyền Đây là vấn đề cốt lõi của pháp quyền Ơû đây, vấn đề trước nhất vàtrung tâm nhất là quyền con người và quyền công dân Tất nhiên cũng không thểthiếu quyền của nhà nước nói chung, quyền của cơ quan lập pháp, hành pháp, tưpháp nói riêng Song, khi thực hiện những quyền này cũng cần phải vì quyềncủa con người, quyền của công dân.

Tại sao quyền của con người, quyền của công dân lại được coi là vấn đềtrước nhất và trung tâm nhất khi nói đến pháp luật về quyền Trên bình diệnquốc tế cũng như bình diện quốc gia, khi xã hội càng phát triển thì quyền củacon người, quyền của công dân càng được đề cao và tôn trọng Trong bản Tuyênngôn độc lập ngày 2/9/1945, chủ tịch Hồ chí Minh đã khẳng định những quyềnthiết thân của con người mà trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nướcMỹ đã khẳng định “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoácho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy cóquyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” Trong bản Tuyênngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng đã khẳngđịnh nội dung này

Như vậïy, tính pháp quyền là :

Thứ nhất, đề cao vai trò pháp luật Nhà nước quản lý xã hội bằng phápluật, các cơ quan tổ chức và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh thực hiện cácquy định của pháp luật, nếu vi phạm pháp luật thì đều bị xử lý Đặc điểm nàythể hiện quyền lực của pháp luật và cũng từ quyền lực của pháp luật mà quyềncon người, quyền công dân đựơc đảm bảo thực hiện tốt hơn Trong trường hợpnày pháp luật là chuẩn mực cho hoạt động các cơ quan tổ chức và mọi công dân,đồng thời là chuẩn mực pháp lý cho việc phán xử hành động của các đối tượngnày Để xứng đáng với vị trí trên thì hệ thống pháp luật phải được hoàn chỉnh cảvề nội dung lẫn hình thức Trog hệ thống phpá luật đó, Hiếp pháp và các đạoluật của Quốc hội giữ vị trí cao nhất, là công cụ chủ yếu để điều chỉnh các quan

he xã hội và quản lý xã hôị Vì vậy cần phải hạn chế việc ban hành văn bảndưới luật khi các đạo luật của Quốc hội thực hiện được vai trò này

Thứ hai, quyền con người, quyền công dân được đề cao và tôn trọng

Ghi nhận và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân là nội dungquan trọng nhất của pháp luật trong xã hội hiện nay và cũng là một nội dungkhông thể thiếu của thuật ngữ pháp quyền Quyền công dân, quyền con người

Trang 14

được đề cao và tôn trọng làm cho nhà nước pháp quyền trong thời đại ngày naymang đậm tính nhân văn và nhân đạo, hướng tới vì con người và phục vụ conngười.

Thứ ba, bảo đảm và thực hiện mối quan hệ trách nhiệm qua lại giữa nhànước và công dân Nhà nứoc phải có trách nhiệm với công dân, nhà nước làmluật và đảm bảo pháp luật được thực thi thực tế Công dân phải có trách nhiệmđối với nhà nước bên cạnh quyền của công dân Trách nhiệm của công dân đốivới nhà nước là để đảm bảo quyền của nhà nước Hơn nữa, khi từng công dânthực hiện trách nhiệm với nhà nước cũng là tạo điều kiện thuận lợi để nhà nướcđảm bảo cho quyền của những công dân khác thực hiện

Thứ tư, toà án phải được độc lậâp và chỉ tuân theo pháp luật

Nói đến pháp quyền là nói đến tính tối cao của hiến pháp và pháp luật.Pháp luật là cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai Mọi đường lốichính sách và quyết định của nhà nước đều phải dựa vào luật, phục tùng luật vàtất cả các mối quan hệ qua lại giữa nhà nứơc và cá nhân cũng phải dựa trên cơsở pháp luật Khác với tính pháp trị, pháp quyền phải đòi hỏi pháp luật phảivươn tới sự đầy đủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, với phương châm : Đối với

"cá nhân thì cho phép làm tất cả những gì pháp luật không cấm", còn đối với "

cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định" Tính phápquyền đỏi hỏi pháp luật phải có mục tiêu vì con người, vì quyền con người Đólà một trong những biện pháp hạn chế quyền lực hữu hiệu nhất

Khi một quốc gia không tôn trọng nguyên tắc pháp quyền, thì người bị trịkhông thể nào được che chở hữu hiệu trước những hành động bột phát của nhữngngười cầm quyền Bạo tàn và độc đoán hay độc tài sẽ phát sinh một khi chínhquyền làm luật và xoá bỏ luật mà không để cho dân chúng phê bình và chỉ tríchđạo luật; khi chính quyền bỏ tù một cá nhân mà không tiến hành xử án một cáchcông khai, hay không có cơ hội cho người bị xử án biện hộ, khi các thẩm phánxử án dưới sự đe doạ của các cơ quan công quyền Nhưng sẽ không có một hệthống pháp luật nào có thể hoạt động một cách tự động, vô nhân tính và chínhxác như một cái máy Luật pháp không tự nó mà có, không tự nó thi hành, đềuphải thông qua con người Chính con người làm ra pháp luật và cũng chính conngười thi hành luật, giải thích luật Trong mọi trường hợp con người phải biếtkìm hãm và chế ngự

Tính pháp quyền còn thể hiện ở chỗ với tư cách là công cụ của côngquyền, hành chính nhà nước ở nước ta có tính cưỡng bức nhà nước Nhưng hoạtđộng của các cơ quan hành chính nhà nước phải tuân thủ pháp luật Hệ thốngpháp luật đòi hỏi không một cơ quan nhà nước, mọi tổ chức trong xã hội, mọi

Trang 15

công dân, công chức phải tuân thủ mà chính bản thân các cơ quan hành chínhnhà nước cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật Khôngmột cơ quan hành chính nhà nứoc nào có thể hoạt động ngoài quy định của phápluật Đảm bảo tính pháp quyền của nền hành chính tức là bảo đảm được tínhchính quy hiện đại của một bộ máy hành chính có kỷ luật kỷ cương

Tính pháp quyền đòi hỏi các cơ quan hành chính, mọi công chức phải nắmvững quyền lực, sử dụng đúng đắn quyền lực, đảm bảo đúng chức năng và thẩmquyền của mình khi thực hiện công vụ Bên cạnh đó luôn quan tâm chú trọngđến việc nâng cao uy tín về chính trị, về phẩm chất đạo đức, về năng lực trí tuệ.Phải kết hợp chặt chẽ yếu tố quyền lực và uy tín mới có thể nâng cao được hiệulực hiệu quả của một nền hành chính công phục vụ nhân dân

- Tính liên tục, tương đối ổn định và thích ứng

Nhiệm vụ của hành chính công là phục vụ dưới hình thức công vụ đối vớicông dân Đây là công việc hằng ngày thường xuyên và liên tục vì các mối quanhệ xã hội và hành vi của công dân được pháp luật hành chính diễn ra thườngxuyên liên tục Chính vì vậy, nền hành chính nhà nước phải đảm bảo tính liêntục ổn định để đảm bảo hoạt động không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huốngnào Hoạt động hành chính nhà nước không được làm theo phong trào chiến dịchsau đó là đánh trống bỏ dùi Tính liên tục trong tổ chức và hoạt động quản lýnhà nước liên quan chặt chẽ đến công tác giữ gìn, lưu trữ các văn bản, giấy tờ cơquan, tổ chức và của nhân dân

Tính liên tục ổn định không loại trừ tính thích ứng Chính vì vậy ổn định ởđây mang tính tương đối, không phải là cố định, không thay đổi Nhà nước làmột sản phẩm của xã hội Đời sống kinh tế xã hội luôn chuyển biến khôngngừng, do đó hoạt động hành chính nhà nước luôn phải thích ứng với hoàn cảnhthực tế xã hội Trong từng thời kỳ nhất định, thích nghi với xu thế thời đại đápứng được những nhiệm vụ kinh tế xã hội chính trị trong giai đoạn mới

- Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao

Hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước là mộthoạt động đặc biệt Điều đó thể hiện trên hai khía cạnh nghệ thuật và khoa họcquản lý nhà nước Tính chất đặc biệt đó vừa kết hợp tính khoa học của hoạtđộng quản lý nói chung, vừa phải biết kết hợp hoạt động quản lý trong tổ chứcđặc biệt – cơ quan hành chính nhà nước Những người làm việc trong cơ quannhà nước nói chung và cơ quan hành chính nhà nước nói riêng không chỉ lànhững người làm việc cho nhà nước; được sử dụng quyền lực nhà nước để quảnlý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước mà phải có trình độ chuyên môn vànghề nghiệp cao trên các lĩnh vực được phân công quản lý Tính chuyên môn

Trang 16

hoá và nghề nghiệp cao là một bắt buộc đối với hoạt động quản lý nhà nước củacác cơ quan hành chính nhà nước và là đòi hỏi của một nền hành chính pháttriển, khoa học văn minh và hiện đại.

Hoạt động quản lý nhà nước của hành chính nhà nước có nội dung phứctạp và đa dạng đòi hỏi các nhà hành chính phải có kiến thức xã hội và kiến thứcchuyên môn sâu rộng Những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhànước là những người thực thi công vụ, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của họcó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công vụ Vì lẽ đó trong hoạt động hànhchính nhà nước, năng lực chuyên môn và qủan lý của đội ngũ những người làmviệc trong các cơ quan hành chính nhà nước phải là những tiêu chuẩn hàng đầu

Xây dựng và tuyển chọn đội ngũ những người vào làm việc trong các cơquan hành chính nhà nước có năng lực, trình độâ chuyên môn đáp ứng tốt nhấtnhững đòi hỏi của hoạt động quản lý nhà nước là một trong những vấn đề khókhăn hiện nay của các nước nói chung và của Việt nam hiện nay

Những người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và hànhchính nhà nước nói riêng phải vừa hồng vừa chuyên là mục tiêu của công táccán bộ trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay

- Tính hệ thống thứ bật chặt chẽ

Hành chính nhà nước bao gồm hệ thống định chế theo thứ bậc chặt chẽ vàthông suốt từ trung ương đến địa phương mà trong đó cấp dưới phục tùng cấptrên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên.Mỗi cấp cơ quan, mỗi người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nướchoạt động trong phạm vi thẩm quyền được giao

Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước tạo nên bộ máy hành chínhnhà nước Thuật ngữ bộ máy chỉ cho thấy tính liên kết chặt chẽ của các yếu tốcấu thành bộ máy và khi một trong các yếu tố vận hành không trôi chảy, thôngsuốt, có thể làm cho cả bộ máy không thể vận hành được

Tổ chức bộ máy hành chính theo thứ bậc chính là cách thức cần thiết đểphân công trách nhiệm hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chínhnhà nước

Tuy nhiên, để tránh biến hệ thống hành chính thành hệ thống quan liêu,cứng nhắc, chính hệ thống thứ bậc cũng cần sự chủ động linh hoạt sáng tạo củamỗi cấp trên trong khuôn khổ phân công phân cấp, đúng thẩm quyền theonguyên tắc tập trung dân chủ

- Tính không vụ lợi

Hành chính nhà nước có nghĩa là phục vụ lợi ích công và lợi ích công dân.Phải xây dựng một nền hành chính nhà nước công tâm trong sạch không theo

Trang 17

đuổi mục tiêu doanh lợi, không đòi hỏi người phục vụ phải trả thù lao Đây cũngchính là một trong những điểm khác biệt cơ bản giữa mục tiêu hoạt động của cơquan hành chính nhà nước và doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nếu như mục tiêu của các tổ chức sản xuất kinh doanh là lợi nhuận vàphục vụ cho những mục tiêu riêng của những người thành lập tổ chức, thì hoạtđộng của cơ quan quản lý nhà nước nói chung và hành chính nhà nước nói riêngnhằm phục vụ nhân dân và do đó, tính riêng của cơ quan hành chính nhà nướckhông tồn tại

Hành chính nhà nước tồn tại vì xã hội, vì sự bình an của cả dân tộc vàkhông có những mục tiêu riêng của hành chính

Tính xã hội, tính nhân dân làm cho hành chính nhà nước không vụ lợikhông vì tổ chức riêng của mình

- Tính nhân đạo

Bản chất của nhân dân và do nhân dân, vì nhân của nhà nước ta đượcthấm nhuần trong luật pháp Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dânlà xuất phát điểm của hệ thống luật, thể chế, quy tắc, thủ tục hành chính Cơquan hành chính và đội ngũ những người được nhà nước trao cho việc thực thihoạt động quản lý nhà nước không được quan liêu, cửa quyền hách dịch gâyphiền hà cho dân khi thi hành công vụ Mặt khác hiện nay chúng ta đang xâydựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hơn lúc naò hết nềnhành chính càng phaỉ đảm bảo tính nhân đạo để hạn chế tối đa mặt trái của nềnkinh tế thị trường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội bền vững

Tính nhân đạo của hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hànhchính nhà nước là tôn trọng con người, phục vụ con người và lấy mục tiêu pháttriển làn động lực Sự cưỡng bức của hành chính nhà nước là biện pháp cầnthiếtnhằm đảm bảo để mọi vi phạm phải được xử lý chứ không phải chỉ nhằm đểtrừng phạt

Tư tưởng nhân đạo được áp dụng trong hoạt động quản lý nhà nước củacác cơ quan hành chính nhà nước mang tính thuyết phục hơn là cưỡng bức, mặcdù hành chính là đơn phương

Tính nhân đạo của hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan quản lý hànhchính nhà nước là đảm bảo cho mọi thành viên xã hội kể cả những người chịuthua thiệt trong nền kinh tế thị trường cũng được đối xử bình đẳng như nhữngngười khác

- Tính dân chủ xã hội chủ nghĩa

Đây là tính chất mang tính đặc thù của quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa.Nếu các nhà nước của các chế đô bóc lột làm cho quần chúng nhân dân ngày

Trang 18

càng xa rời việc quản lý hành chính nhà nước thì ngược lại nhà nước ta đã tạođiều kiện để thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào việc quản lýcác quá trình xã hội.

Từ thực tiễn cách mạng ở nước ta trong những năm qua, Đảng ta đã rút ranhững bài học kinh nghiệm, trong đó bài học số một là “ Đảng phải quán triệt tưtưởng lấy dân làm gốc xây dựng và phát triển quyền làm chủ của nhân dân laođộng”

Phương châm để thực hiện quá trình dân chủ hoá “ dân biết, dân bàn, dânlàm, dân kiểm tra” là phải thực hiện tính công khai, phải tôn trọng và lắng nghe

ý kiến của nhân dân một cách đúng đắn, phải do dân và vì dân

-Tính linh hoạt, chủ độâng sáng tạo

Linh hoạt trong việc điều hành, phôí hợp, huy động mọi lực lượng , pháthuy sức mạnh tổng hợp để tổ chức lại nền sản xuất xã hội và cuộc sống của conngười trên địa bàn mình theo sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền theonguyên tắc tập trung dân chủ

Đặc trưng này gắn liền với tính tổ chức, và cả hai điều xuất phát trực tiếptừ bản chất của mặt điều hành Tính chủ động sáng tạo thể hiên ở hoạt độngsáng tạo pháp luật- xây dựng ban hành văn bản quy phạm hành chính điều chỉnhhoạt động quản lý, hơn nữa trong các văn bản đó có thể chứa những quy phạmtiên phát điều chỉnh những quan hệ xã hội mới phát sinh, chưa ổn định và chưađược luật điều chỉnh

Tính chủ động sáng tạo đựơc quy định bởi chính bản thân sự phức tạp, đadạng, phong phú của đối tượng quản lý và khách thể quản lý Đó là mọi mặt đờisống xã hội luôn biến động và phát triển, đòi hỏi phải ứng phó nhanh nhạy, kịpthời vận dụng pháp luật, tìm kiếm biện pháp giải quyết mọi tình huống phát sinhmột cách có hiệu quả nhất Nhưng trong mọi trường hợp, không thể chủ độngsáng tạo ra ngoài phạm vi, khuôn khổ thẩm quyền mà luật pháp đã quy định

3 Quản lý hành chính nhà nước

Trang 19

Tính chấp hành thể hiện ở mục đích của quản lý hành chính nhà nước làđảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lựcnhà nước Mọi hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên

cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật

Tính chất điều hành của quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở chỗ đểđảm bảo cho các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước đượcthực hiện trên thực tế, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải tiến hànhhoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các hoạt động quản lý thuộcquyền

Trong quá trình điều hành, cơ quan hành chính nhà nước có quyền nhândanh hành chính nhà nước ban hành ra các văn bản pháp luật để đặt ra các vănbản quy phạm pháp luật hay các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quảnlý có liên quan phải thực hiện

Như vậy các chủ thể quản lý hành chính nhà nước sử dụng quyền lực nhànước để tổ chức và điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lý, qua đó thểhiện một cách rõ nét mối quan hệ “ quyền lực – phục tùng” giữa chủ thể quảnlý và các đối tượng quản lý

Hoạt động điều hành là nội dung cơ bản của hoạt động chấp hành quyềnlực nhà nước, nó gắn với hoạt động chấp hành và cùng với hoạt động chấp hànhtạo thành hai mặt thống nhất của quản lý hành chính nhà nước

Với cách tiếp cận trên, ta có thể hiểu, quản lý hành chính nhà nước là hoạtđộng thực thi quyền hành pháp của nhà nước, là sự tác động có tổ chức và điềuchỉnh bằng quyền lực pháp luật đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạtđộng của con người do các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước từ trungương đến địa phương tiến hành để thực hiện chức năng và nhiệm vụ củanhànước nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoãmãn các nhu cầu hợp pháp của con người

Khái niệm trên có ba nội dung quan trong :

+ Sự hoạt động thực thi quyềân hành pháp : hành pháp là một trong baquyền của quyền lực nhà nước thống nhất mang tính quyền lực chính trị

Chính phủ với tư cách là cơ quan hành pháp cao nhất ( cơ quan chấp hànhcủa Quốc hội ) thực hiện quyền hành pháp cao nhất đối với toàn dân, toàn xãhội Nhưng chính phủ thực hiện chức năng của mình phải thông qua hệ thống thểchế hành chính của nền hành chính nhà nước

Hành pháp là quyền lực chính trị Quản lý hành chính nhà nước là thực thiquyền hành pháp, nó phục tùng và phục vụ hành pháp nhưng bản thân nó khôngphải là quyền lực chính trị

Trang 20

+ Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh Tổ chức nói ở đây là tổ chức hànhchính nhà nước, là sự thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa con người, giữa cáctập thể để thực hiện quản lý hành chính nhà nước một quá trình xã hội Trongquản lý hành chính nhà nước, chức năng tổ chức là quan trọng nhất vì không cótổ chức thì không thể quản lý được Nhà nước phải tổ chức như thế nào để hàngtriệu con người của đất nước, mỗi người đều có một vị trí tích cực đối với xã hội,đóng góp phần mình tạo ra lợi ích chung cho xã hội Điều chỉnh là sự quy địnhvề mặt pháp lý thể hiện bằng các quyết định quản lý về quy tắc, tiêu chuẩn,biện pháp nhằm tạo ra sự phù hợp giữa chủ thể và khách thể quản lý, tạo sự cânbằng, cân đối các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt độngcủa con người.

+ Sự tác động bằng quyền lực nhà nước Đó là sự tác động bằng pháp luậtvà theo nguyên tắc pháp chế Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơnphương và tính tổ chức rất cao Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh,mọi người đều bình đẳng trước pháp luật

3.2 Nội dung hoạt động quản lý hành chính nhà nước

- Lập quy

-Tổ chức thực thi các văn bản pháp luật

- Kiểm tra, thanh tra, xử lý các vi phạm pháp luật; gồm có kiểm tra cơquan thẩm quyền chung, kiểm tra của cơ quan thẩm quyền riêng, kiểm tra nộibộ, thanh tra

4 Các yếu tố quản lý hành chính nhà nước

4.1 các yếu tố cấu thành quản lý hành chính nhà nước

- Chủ thể quản lý hành chính nhà nước

Chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan hành chính nhà nước,các nhà chức trách( viên chức lãnh đạo), các cá nhân tổ chức được uỷ quyền

Chủ thể quản lý hành chính nhà có những đặc điểm ;

+ Có tiùnh quyền lực nhà nước và phải luôn gắn với thẩm quyền pháp lý,nếu tách rời thẩm quyền pháp lý thì không còn là chủ thể

+ Lĩnh vực hoạt động rộng, bao gồm các mặt của đời sống xã hội

+ Quản lý thông qua các quyết định quản lý hành chính, hành vi hànhchính

* Cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

Cơ quan quản lý hành chính nhà nước là cơ quan quản lý chung hay từngmặt công tác, có nhiệm vụ chấp hành pháp luật và chỉ đạo thực hiện chủ trương,kế hoạch của nhà nước

Cơ quan quản lý hành chính nhà nước có đặc điểm :

Trang 21

+ Có chức năng quản lý hành chính nhà nước, thực hiện hoạt động chấphành, điều hành trên lãnh thổ và trên các lĩnh vực.

+ Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có một thẩm quyền nhất định và chỉgiới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành, điều hành

+ Chỉ có cơ quan hành chính nhà nước mới có hệ thống các đơn vị cơ sởtrực thuộc, các đơn vị cơ sở này góp phần tích cực vào việc thực hiện chức năng

cơ bản của các cơ quan hành chính nhà nước

+ Cơ quan hành chính nhà nước là một hệ thống rất phức tạp, có số lượngđông nhân viên đảo nhất, tạo thành một hệ thống thống nhất từ trung ương đến

cơ sở

+ Cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp trực thuộc cơquan quyền lực nhà nước; chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quanquyền lực nhà nước ở cấp tương ứng; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước

cơ quan quyền lực đó

Có rất nhiều cách để phân loại các cơ quan hành chính nhà nước, song căncứ quan trong nhất để phân loại là tính chất thẩm quyền Theo cách phân loạinày ta có cơ quan quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền chung và cơ quanquản lý hành chính nhà nước thẩm quyền riêng

Cơ quan quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền chung: là cơ quan

quản lý mọi ngành mọi lĩnh vực mọi đối tượng tương ứng trong phạm vi các đơn

vị hành chính lãnh thổ, có dấu hiệu đặc thù :

+ Được thành lập theo hiến phapù và luật có chức năng quản lý hành chínhnhà nước theo lãnh thổ

+ Được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hộivà hành vi hoạt động của con người trong chức năng hành pháp

+ Cán bộ lãnh đạo được hình thành qua các cơ chế bầu cử hoặc kết hợpgiữa bầu và bổ nhiệm

+ Phương thức lãnh đạo và quản lý hành chính theo chế độ tập thể Kếthợp nâng cao trách nhiệm của các bộ phận phụ trách

+ Ký thay mặt tập thể hoặc theo thẩm quyền thủ trưởng trên các văn bảnhành chính nhà nước

Cơ quan quản lý hành chính nhà nước thẩm quyền riêng, có dấu hiêu:

+ Trên cơ sở nguyên tắc chung của luật để ban hành văn bản dưới luật quyđịnh chức năng nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy trong quản lý đối vớingành, lĩnh vực

+ Được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh và điều hành công việcnhà nước và xã hội

Trang 22

+ Cán bộ lãnh đạo theo cơ chế bổ nhiệm, trừ Bộ trưởng phải được QuốcHội phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ.

+ Lãnh đạo và quản lý theo chế độ thủ trưởng

+ Ký văn bản quản lý theo chế độ thủ trưởng hoặc liên tịch

* Viên chức lãnh đạo và quản lý hành chính nhà nước.

Hiện nay có ba phương thức hình thành nhà lãnh đạo : bầu, bổ nhiệm, bầukết hợp với bổ nhiệm

Theo quy định của luật, chỉ có cán bộ lãnh đạo mới có quyền quản lý hànhchính nhưng trên thực tế công chức có thể trở thành chủ thể quản lý khi có sự uỷquyền Nhiều công chức được đại diện quyền lực nhà nước trong công vụ nhưthuế vụ, kiểm lâm, hải quan, cảnh sát giao thông

- Khách thể quản lý hành chính nhà nước

Khách thể được hiểu là đối tượng chịu sự chi phối của hành động trongquan hệ đối lập với đối tượng gây ra hành động với tư cách là chủ thể

Khách thể của quản lý hành chính nhà nước là những gí mà hoạt động quản lýhướng tới, tác động tới, bao gồm :

+ Trật tự quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội.+ Hành vi cá nhân, công dân; cán bộ, công chức; tập thể liên đới chịutrách nhiệm hành vi nhằm thiết lập trật tự quản lý hành chính nhà nước

Khách thể quản lý hành chính nhà nước có đặc điểm :

+ Khách thể quản lý hành chính bao gồm nhiều loại khác nhau và mỗi loạikhách thể có đặc điểm riêng Căn cứ vào đặc điểm của từng loại khách thể đểxác định nội dung và phương pháp quản lý phù hợp

+ Khách thể quản lý hành chính luôn vận động, biến đổi theo cả chiềuhướng tích cực và tiêu cực Chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải bám sátcác diễn biến khách thể quản lý để có thể có phương hướùng và giải phapù khắcphục kịp thời

+ Khách thể quản lý hành chính nhà nước đặt ra yêu cầu xây dựng, củngcố hoàn thiện các chủ thể quản lý hành chính nhà nước Nói cách khác, chủ thểquản lý tồn tại phát triển theo nhu cầu khách quan xã hội, vì yêu cầu của kháchthể quản lý hành chính nhà nước Chính vì vậy các chủ thể quản lý hành chínhnhà nước phải luôn đặt mình trong mối quan hệ với khách thể quản lý, bám sátdiển biến của khách thể quản lý, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực, chủ độngquản lý, điều hành, đáp ứng các yêu cầu khách thể quản lý

+ Giữa khách thể và chủ thể quản lý hành chính nhà nước có mối quan hệchặt chẽ, thể hiện ở chỗ có khi sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể quản lý là

Trang 23

sự tương đối, là chủ thể trong quan hệ này nhưng lại là khách thể trong quan hệkhác.

4.2 Các yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước

+ Quan niệm về nền hành chính nhà nước:

Tổ chức và hoạt động quản lý hành chính nhà nước phải xuất phát từhệ thống thể chế là khuôn khổ pháp lý để thực hiện quyền hành pháp trong việcquản lý xã hội, đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống, là môi trườngcho mọi tổ chức và cá nhân sống và làm việc theo pháp luật Hơn nữa, tổ chứcvà hoạt động được thực hiện bởi bộ máy nhà nước, không phải bộ máy nhà nước

vì mục đích tự thân mà chính là nhằm đảm bảo hiệu lực của thể chế Mọi hoạtđộng của bộ máy hành chính đều được thực hiện thông qua đội ngũ cán bộ, côngchức hành chính Nền hành chính phải có nguồn tài chính cần thiết cho hoạtđộng của nó và sự phát triển lợi ích công cộng

Như vậy nền hành chính nhà nước gồm các yếu tố cấu thành:

Một là, hệ thống thể chế quản lý xã hội theo pháp luật.

Hai là, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các

cấp, các ngành từ Chính phủ Trung ương đến chính quyền cơ sở

Ba là, đội ngũ cán bộ,công chức hành chính bao gồm những người

thực thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền

Bốn là, nguồn tài chính cần thiết để cho các cơ quan hành chính nhà

nước hoạt động và thực thi các mục tiêu quốc gia

4.2.1 Thể chế hành chính nhà nước.

Là một phạm trù luôn luôn gắn liền và là một yếu tố cơ bản của hệ thốngchính trị cơ sở và hệ thống tổ chức hoạt động quản lý nhà nước

Với quan niệm về thể chế nhà nước như trên, thể chế hành chính nhà nước cấuthành từ các yếu tố:

Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở

Hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước điều chỉnh sự phát triểnkinh tế-xã hội trên mọi phương diện, đảm bảo xã hội phát triển ổn định, an toàn,bền vững Đó là thể chế quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực

Hệ thống các văn bản pháp luật quy định nhiệm vụ, quyền hạn thẩmquyền của các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơsở

Hệ thống các văn bản quy định chế độ công vụ và các quy chế công chức.Hệ thống các chế định về tài phán hành chính

Hệ thống các thủ tục hành chính

Trang 24

Vai trò của thể chế hành chính nhà nước trong hoạt động quản lý nhà

nước: cơ sở pháp lý của quản lý hành chính nhà nước.

Thể chế hành chính nhà nước là cơ sở để xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máyhành chính nhà nước thực hiện các chức năng quản lý nhà nước đã được phâncông Vấn đề phân công, phân chia chức năng, quyền hạn trong tổ chức bộ máyhành chính là cơ sở cho việc xác định:

Thứ nhất, cơ quan nhà nước Trung ương cần bao nhiêu bộ, bao nhiêu đầumối thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước thống nhất trên tất cả cáclĩnh vực

Thứ hai, có bao nhiêu đơn vị chính quyền cấp tỉnh-thành phố trực thuộcTrung ương, huyện,xã; căn cứ chính trị, kinh tế, xã hội và những tiêu chí gì đểxác định số lượng và quy mô của các đơn vị hành chính-lãnh thổ

Thể chế hành chính là cơ sở để xác lập nhân sự trong các cơ quan hànhchính nhà nước

_ Thể chế hành chính nhà nước là cơ sở để xây dựng quan hệ cụ thể giữanhà nước và công dân, giữa nhà nước và các tổ chức xã hội Sự quyết định mốiquan hệ giữa nhà nước với công dân và các tổ chức xã hội xét trên hai mặt:

Thứ nhất, nhà nước với tư cách quyền lực công, có chức năng tạo ra mộtkhung pháp lý cần thiết để quản lý nhà nước, quản lý xã hội Như vậy xét trênphương diện này, mối quan hệ giữa nhà nước với công dân và các tổ chức xã hộimang ý nghĩa không bình đẳng, có tính bắt buộc, cưỡng chế

Thứ hai, nhà nước, quyền lực nhân dân và thực hiện dịch vụ công, cótrách nhiệm đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu chính đáng của công dân và các tổchức xã hội được pháp luật ghi nhận Mối quan hệ này theo quan niệm nhà nướchiện đại, thể hiện công dân và các tổ chức xã hội là “khách hàng” Yêu cầu, đòihỏi của công dân và các tổ chức trong khuôn khổ pháp luật quy định nhà nướcbắt buộc đáp ứng Điều này phản ánh bản chất nhà nước “của dân, do dân, vìdân”

Một nhà nước không giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai mặt đối lập trêncủa thể chế hành chính sẽ không phải là một nhà nước mạnh

Tính chất cơ bản của thể chế hành chính nhà nước:

-Tính quyền lực của quản lý nhà nước cho phép và trao quyền cho các cơquan hành chính nhà nước được can thiệp vào đời sống xã hội theo quy định củapháp luật tạo nên tính hợp pháp của thể chế hành chính nhà nước

- Các cơ quan hành chính nhà nước phải tuân thủ pháp luật do chính nhànước ban hành

Các yếu tố quyết định thể chế hành chính nhà nước:

Trang 25

-Chế độ chính trị : Nhà nước và Đảng cầm quyền.

-Nền hành chính và vai trò của hành chính nhà nước trong quản lý kinh tế.-Truyền thống văn hoá, phong tục, tập quán

-Aûnh hưởng của văn hoá bên ngoài

Nội dung chủ yếu của thể chế hành chính nhà nước ta:

-Thể chế nhà nước bao gồm quyền lập quy và quyền hành chính nhà nước

- Thể chế nhà nước xác định sự quản lý của các cơ quan hành chính nhànước trên các lĩnh vực

-Thể chế nhà nước về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; thiết lậptài phán hành chính giải quyết khiếu kiện

-Luật hành chính

Ý nghĩa của việc cải cách thể chế hành chính nhà nước:

-Tạo ra sự phân công, phân nhiệm một cách rõ rệt giữa quyền lập pháp và

tư pháp

- Từ triết lý về nhà nước pháp quyền, sức mạnh của cơ quan hành chínhnhà nước cao nhất sẽ được nâng lên rõ rệt thông qua thẩm quyền là người “láithuyền”, là chủ thể chính đưa pháp luật vào đời sống xã hội

- Tạo ra sự phân công, phân cấp một cách hợp lý, khoa học giữa trungương và địa phương

- Điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức trên cơ sở một hệ thống pháp luật đồng bộ,khoa học phản ánh được tình hình kinh tế-xã hội trong giai đoạn mới

- Tạo ra sự hoà nhập mới trong tiến trình Việt Nam muốn làm bạn với tấtcả các nước trên thế giới, tạo ra niềm tin nơi các nhà đầu tư, khai thác thị trườngViệt Nam

Một số nội dung cần tập trung trong cải cách thể chế:

-Hợp pháp sự phân công quyền lực của hệ thống hành chính nhà nước cócăn cứ khoa học

- Thực hiện pháp chế hoá trong việc sắp xếp bộ máy hành chính, biên chếcông chức và trong hoạt động

- Hiện đại hoá các phương pháp và phương thức quản lý hành chính nhànước

- Hiệu quả hoá các hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước theonhững phương pháp mang tính cạnh tranh của nền hành chính hiện đại thích ứngvới kinh tế thị trường

Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đề ra nộidung cải cách thể chế hành chính nhà nước như sau:

Trang 26

-Cải cách một bước cơ bản hệ thống thủ tục hành chính nhằm góp phầngiải quyết tốt các mối quan hệ giữa công dân, các tổ chức xã hội đối với nhànước.

- Cải cách việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo, khiếu tố của côngdâ với các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhànước và các tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước

- Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế mới, đặc biệt là các thể chế về tàichính

- Đổi mới quy trình lập pháp và lập quy, ban hành các văn bản pháp luậtcủa nhà nước

- Nâng cao kỷ luật và hiệu lực thi hành pháp luật

4.2.2 Bộ máy hành chính nhà nước:

- Tổ chức hành chính nhà nước được tổ chức rất chặt chẽ và có mối quanhệ với nhau trên cơ sở những nguyên tắc luật định Cơ cấu tổ chức bộ máy thựchiện quyền hành pháp rất đa dạng, phong phú tùy thuộc vào thể chế chính trị vàmối quan hệ giữa hai ngành lập pháp và hành pháp

- Là hệ thống tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước-quyền hành pháp: tínhchấp hành, điều hành cao; tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ; thông điệp giấy tờ vànhiều thủ tục hành chính

- Các cơ quan hành chính nhà nước bên cạnh hoạt động quản lý hànhchính nhà nước còn chịu trách nhiệm cung cấp các hàng hoá dịch vụ công cho xãhội, công dân

- Các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước thường mang tính cưỡngchế, độc quyền, có ảnh hưởng xã hội rộng lớn, đa dạng về chuyên môn, phạm vihoạt động bằng ngân sách nhà nước và có tính chuyên môn hoá cao Hoạt độngcủa công chức bị điều tiết chặt chẽ bằng pháp luật

Đặc trưng:

- Mục tiêu của cơ quan hành chính nhà nước là rất rộng lớn và ảnh hưởngđến nhiều nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội và thường rất khó lượng hoá cụthể; không vì mục tiêu lợi nhuận

Trang 27

-Việc thành lập các cơ quan hành chính nhà nước trong tổng thể hệ thốngcác cơ quan nhà nước nói chung, các cơ quan hành chính Nhà nước được thànhlập thường mang ý chí của quyền lực Nhà nước Không có cơ quan Hành chính

ra đời do ý muốn của cá nhân mà do nhu cầu của hoạt động quản lý Hành chínhNhà nước Nguyên tắc cơ bản để thành lập cơ quan Hành chính là “Việc cần tổchức chứ không phải vì người mà ra đời tổ chức”

- Vấn đề quyền lực – thẩm quyền: các cơ quan hành chính nhà nước đượcNhà nước trao quyền lực pháp lý làm phương tiện thực hiện các chức năng quảnlý nhà nước Quyền lực pháp lý được thể hiện thông qua các hoạt động:

Ra các văn bản pháp quy có ý nghĩa bắt buộc thực hiện đối với các cơquan cấp dưới trong hệ thống các cơ quan Hành chính Nhà nước, cán bộ, tổ chứcvà công dân

Kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hoặc thành lậpcác đoàn kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quyết định quản lý

Tiến hành các biện pháp giáo dục, thuyết phục, giải thích, khen thưởng,kỷ luật trong việc thực hiện các quyết định quản lý và có thể áp dụng các biệnpháp cưỡng chế

Mỗi một cơ quan hành chính nhà nước có những chức năng cụ thể và dođó có những quyền hạn cụ thể Thẩm quyền trao cho mỗi cơ quan hành chínhnhà nước là tổng thể của các chức năng và quyền hạn tương ứng Đó cũng chínhlà khả năng pháp lý của cơ quan Hành chính Tuỳ thuộc vào từng loại hình cụthể có thể chia thẩm quyền thành hai loại: Thẩm quyền chung và thẩm quyềnriêng

-Quy mô hoạt động của cơ quan Hành chính Nhà nước

Tổ chức Bộ máy hành chính ở Trung ương.

_ Chính phủ.

Chính phủ là cơ quan hành pháp, cơ quan thực thi quyền hành pháp Nótồn tại ở mọi quốc gia, mặc dù có thể có những mô hình tổ chức khác nhau Ơûmỗi quốc gia khác nhau về cơ bản có hai loại: Một là, theo chế độ tổng thống,tổng thống được phép lựa chọn bộ trưởng Hai là, theo chế độ đại nghị, tổngthống giới thiệu Quốc hội bầu thủ tướng và thủ tướng lập các nội các

Chính phủ là cơ quan quản lý công việc công, vừa mang tính chính trị, thựchiện ý chí chính trị của Quốc hội, của Đảng cầm quyền Nhưng mặt khác, nó là

cơ quan quản lý, điều hành công việc hằng ngày của đất nước theo hiến pháp vàpháp luật quy định Có thể nói, Chính phủ là một thiết chế thống nhất hai mặt:Chính trị và Hành chính

_ Bộ, cơ quan ngang bộ.

Trang 28

Trong xu thế của sự phát triển thông tin , khoa học công nghệ, sự hợp tácvà phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành sản xuất bộ quản lý ngành càng bao quátvà quản lý nhiều ngành, nhiều lĩnh vực một cách tổng hợp Số lượng bộ quản lýtrong Bộ máy chính phủ ngày càng giảm, nhưng chức năng và nhiệm vụ ngàycàng nhiều và mang tính tổng hợp Đó cũng là xu hướng chung của các cơ cấu tổchức Bộ máy hành chính hiện nay.

Có thể chia ra hai nhóm bộ: Bộ quản lý đối với lĩnh vực và bộ quản lý nhànước đối với ngành Đối với một số quốc gia, tổ chức Bộ máy của bộ có các cơquan quyền của bộ đặt tại địa phương Nhưng đối với mô hình phân quyền mạnh,các bộ không có cơ quan tại địa phương mà chỉ thực hiện giám sát sự hoạt độngcủa các cấp chính quyền địa phương trong việc chấp hành các văn bản pháp luậtcủa Nhà nước

Tổ chức nội bộ của bộ gồm hai bộ phận, các cơ quan giúp bộ trưởng thựchiện chức năng quản lý nhà nước như các Vụ, bộ phận thanh tra, văn phòng vàcác tổ chức sự nghiệp thuộc bộ như cục, và tổ chức kinh doanh

Bộ trưởng, về chính trị là nhà chính khách, chịu trách nhiệm về đướng lốichính trị và chính sách mà ông ta phụ trách Về hành chính là nhà điều hành,điều hành bộ máy hành chính Nhà nước đối với các ngành hay lĩnh vực ma mìnhchịu trách nhiệm

Theo Hiến pháp 1992, Bộ trưởng là thành viên của Chính phủ của là mộtthiết chế chính trị và hành chính nhà nước trong phạm vi ngành lĩnh vực đượcphân công

_ Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức Hành chính trung ương.

Bảo đảm cạnh tranh công bằng, bình đẳng

Bảo vệ lợi ích chung

Ổn định nền kinh tế

Bình đẳng trong việc phân phối của cải

_ Một số nguyên tắc phân công việc cho Bộ.

Tầm quan trọng của từng loại chức năng

Các chức năng sẽ được phân thành nhóm

Những chức năng nào đòi hỏi phải tập trung

Tránh phân tán

Tránh trùng lắp, chồng chéo

Tránh quá cồng kềnh về cơ cấu

Tính đồng nhất, thống nhất trong việc cung cấp dịch vụ công

Tổ chức chính quyền địa phương.

Trang 29

_ Từ khi Nhà nước ra đời có sự phân chia lãnh thổ thì vấn đề hành chính –lãnh thổ rất được chú ý Sự ra đời của Nhà nước tập quyền dẫn đến vấn đề tậptrung quyền lực vào tay Nhà nước trung ương đã thành tất yếu Tuy nhiên sự caitrị như thế đem lại hiệu quả ít Người ta phải nghĩ đến việc phân quyền cai trịcho các cộng đồng lãnh thổ hoặc tạo ra những đơn vị tổ chức chính quyền địaphương với những quyền nhất định.

_ Tổ chức chính quyền địa phương luôn luôn có những vấn đề đặt ra cầngiải quyết Khi quá tập trung sinh ra quan liêu thì người ta nghĩ đến việc phânchia nó ra; nhưng khi phân chia mà dẫn đến phân tán thì không đem lại hiệu quảthì tập trung nó lại

_Trong việc phân chia quốc gia thành các đơn vị hành – lãnh thổ khácnhau, có thể có hai xu hướng:

Phân chia theo quan điểm tập quyền và tản quyền: các đơn vị hành lãnh thổ này không có quyền quyết định các vấn đề ở địa phương mà làm chứcnăng thực thi công vụ, dịch vụ công

chính-Phân chia lãnh thổ theo quan điểm phân quyền: thực hiện chức năng cai trịvà cung cấp dịch vụ công

Đặc trưng của chính quyền địa phương:

Có một vùng lãnh thổ xác định bằng những văn bản pháp luật cụ thể.Có số dân xác định trên địa bàn một vùng lãnh thổ xác định

Có một tổ chức chính quyền liên tục, mang tính kế thừa

Là một pháp nhân hoàn chỉnh hay hạn chế

Có tính tự quản nhất định trong mối quan hệ với các cấp chính quyền địaphương khác

Có chức năng và quyền quản lý nền hành chính nhà nước trên đơn vị lãnhthổ

Có quyền quản lý ngân sách riêng, tạo ra thu nhập cho chính quyền địaphương và chi tiêu cho địa phương

Các loại mô hình chính quyền địa phương.

Chính quyền địa phương dân cư theo phương thức phân quyền

Chính quyền địa phương kết hơp theo phương thức phân quyền và tảnquyền

Chính quyền địa phương do Trung ương đặt ra, bổ nhiệm nhân sự

_ Cơ cấu tổ chức hành chính địa phương.

Cơ cấu hành chính địa phương theo thứ bậc: trong mô hình này, số lượngcác bậc của hệ thống và mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới là hai vấn đềcần quan tâm

Trang 30

Cơ cấu tổ chức hành chính địa phương nằm ngang : Đây là loại mô hìnhchính quyền đơn nhất, một cấp Việc phân loại chính quyền địa phương dựa trênhai tiêu chí là theo khu vực và theo quy mô dân số Mỗi một loại chính quyềnđịa phương có những chức năng nhiệm vụ cụ thể Để được chuyển từ loại hìnhchính quyền địa phương này sang loại khác cần đạt những tiêu chí cụ thể Môhình này có tính cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và tránh được sự trùng lắp chồngchéo và trên cùng một địa phương công dân chịu sự quản lý của nhiều chủ thể.

Cơ cấu tổ chức hành chính địa phương hỗn hợp

Tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước Việt nam.

Đặc trưng:

- Là tổ chức mang tính quyền lực Nhà nước

- Hoạt động thường xuyên liên tục, ngày càng tương đối ổn định, là cơquan Hành chính toàn tâm, toàn ý phục vụ nhiệm vụ chính trị Tuy nhiên về mặt

cơ cấu tổ chức có tính độc lập tương đối

- Là một hệ thống thống nhất từ trung ương đến cơ sở, chịu sự chỉ đạo điềuhành của cơ quan Hành chính Nhà nước cao nhất Các cơ quan hành chính có tưcách pháp nhân, con dấu riêng, có nguồn kinh phí hoạt động và cơ sở vật chất từnguồn ngân sách nhà nước cấp, hoạt động không vụ lợi, công tâm, trong sạch,liêm khiết

- Thẩm quyền các cơ quan hành chính được giới hạn trong phạm vi hoạtđộng chấp hành và điều hành, được quy định trong các văn bản quy phạm phápluật

- Số lượng cơ quan hành chính Nhà nước ở trung ương và địa phương biếnđộng theo thời gian và không gian

Về chính phủ, bộ các văn bản đã quy định cụ thể:

_ Hiến pháp 1992_ Nghị định 86/2002/NĐ-CP_ Nghị định 15/1993/NĐ-CP (2/3/1993)_ Nghị định 30/2003/NĐ-CP (1/4/2003)_ Luật tổ chức Chính phủ năm 1993, 2001

Về Hội đồng nhân dân, UBND có các văn bản quy định: Luật tổ chức

HĐND và UBND 1991, 1994, 2003

Về cơ quan chuyên môn thuộc UBND có các văn bản quy định

_ Nghị định 171/2004/NĐ-CP_ Nghị định 172/2004/NĐ-CP_ Nghị định 114/2003/NĐ-CP

Thẩm quyền của hệ thống cơ quan Hành chính Nhà nước địa phương:

Trang 31

_ Thẩm quyền chính sách_ Thẩm quyền lập quy_ Thẩm quyền tổ chức điều hành

Chú ý về tổ chức hành chính Nhà nước ở khu vực đô thị.

-Đang là một vấn đề cần quan tâm

- Nhiều nước có pháp luật riêng cho việc xây dựng cơ cấu tổ chức củachính quyền đô thị

- Chính quyền thành phố phải tiến hành hoạt động cung cấp nhiều loạidịch vụ công

-Các bộ phận cấu thành cơ cấu tổ chức chính quyền đô thị trong nhiềutrường hợp khác với chính quyền nông thôn

-Nhiều hoạt động cung cấp dịch vụ công trên địa bàn khu đô thị khó cókhả năng chia tách

-Tính tập trung chỉ đạo hoạt động cung cấp dịch vụ đô thị lớn hơn nôngthôn

 Cơ cấu tổ chức chính quyền đô thị có thể không nhất thiết phải nhiều tầng, nhiều nấc như chính quyền nông thôn

Hệ thống chính quyền đô thị thường chỉ có một hay hai giai cấp để tiếnhành cung cấp dịch vụ trực tiếp cho cộng đồng đô thị

Một số vấn đề về cải cách Bộ máy hành chính nhà nước.

-Hiệu quả của các cơ quan Hành chính Nhà nước:

Khái niệm: Hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước làmối tương quan giữa kết quả thu được sao cho tối đa so với chi phí thực hiện kếtquả đó (đầu vào) sao cho tối thiểu

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan hành chính Nhànước: (1) Xác định đúng đắn mục đích, mục tiêu của tổ chức, các mục tiêu phảilập thành một hệ thống hỗ trợ lẫn nhau, mang tính chính xác định lượng địnhtính, khả thi; (2) lựa chọn cơ cấu tổ chức; (3) định biên hợp lý

-Các quan điểm về cải cách, kiện toàn Bộ máy hành chính nhà nước.

Một là, xác định rõ vai trò, chức năng của chính phủ và các cơ quan hànhchính các cấp trong nền kinh tế thị trường nước ta

Hai là, cơ cấu lại tổ chức Bộ máy chính phủ và các cơ quan hành chính cáccấp theo đúng vị trí pháp lý và vai trò, chức năng mới trong nền kinh tế thịtrường

Tổ chức Bộ máy hành chính quản lý đa ngành, đa lĩnh vực thay cho môhình tổ chức theo đơn ngành, đơn lĩnh vực,

Trang 32

Thực hiện phân cấp, phân quyền giữa trung ương với địa phương và giữacác cấp trong hệ thống Hành chính Nhà nước.

Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động sự nghiệp và dịch vụ công trên cơ sở táchbiệt giữa chức năng và tổ chức bộ máy sự nghiệp, dịch vụ công

Nâng cao hiệu quả trong cải cách tổ chức Bộ máy hành chính

Căn cứ tiêu chí công việc để quản lý tổ chức bộ máy , quy định chế độtrách nhiệm

Giao ngân sách hay kinh phí “trọn gói” cho mỗi cơ quan theo các tiêu chívề chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc biên chế và định mức đã đượcxác định

Phân cấp giữa trung ương và địa phương

4.2.3 Công vụ – Công chức

Công vụ- công chức là những vấn đề có tính cốt lõi, vì mọi hoạt động củaNhà nước nói chung và quá trình cải cách hành chính nói riêng chủ yếu đều dongười công chức đảm trách hoặc liên quan đến họ Chức năng tổ chức, hoạt độngcủa quản lý nhà nước nhằm phát triển kinh tế xã hội và đời sống công dân đượcthông qua công vụ và công chức

Nói về công vụ – công chức, Đảng ta đã xác định mục tiêu “Xây dựng vàban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ và công chức Định rõ nghĩa vụ,trách nhiệm, thẩm quyền, quyền lợi và kỷ luật công chức Xây dựng đội ngũ cánbộ, công chức nhà nước vừa có chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao , vừagiác ngộ về chính trị, có tinh thần trách nhiệm, tận tuỵ, công tâm, vừa có đạođức liêm khiết khi thừa hành công vụ”

4.2.4 Tài chính công

Khái niệm:

Tài chính là một phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối dưới hình thứcgiá trị; tài chính là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hìnhthành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của nền kinh tế quốc dân

Hệ thống tài chính của một quốc gia là tổng thể những khâu tài chínhtrong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, có mối quan hệ hữu cơ với nhau trongquá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính Hệ thống tài

Trang 33

chính ở nước ta hiện nay bao gồm các khâu tài chính như sau: tài chính nhà nước,tài chính doanh nghiệp, bảo hiểm, tín dụng, tài chính các tổ chức xã hội và tàichính hộ gia đình.

Tài chính công là các hoạt động thu và chi bằng tiền của Nhà nước phảnánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành vàsử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năngvốn có của Nhà nước đối với xã hội

Vai trò của Tài chính công:

Mặc dù, tài chính Nhà nước phụ thuộc vào kết quả sản xuất nhưng nó cótác dụng mạnh mẽ vào quá trình sản xuất xã hội, có vai trò chủ động thúc đẩysản xuất phát triển

Với nguồn lực của kinh tế nhà nước và tài chính nhà nước có đủ thực lựcvà thẩm quyền tập trung nguồn vốn để đầu tư thích đáng vào những lĩnh vựcthen chốt, vùng trọng điểm làm nổi bật lợi thế và tiềm năng của quốc gia, phụcvụ nhu cầu chung của mọi thành phần kinh tế của mọi thành viên xã hội, bảođảm những cân đối chủ yếu nền kinh tế, kích thích phát triển nguồn thu

Tài chính công cũng là một công cụ sắc bén để kiểm tra, kiểm soát, kiểmkê bằng tiền đối với sản xuất và phân phối, bảo đảm các quan hệ tỷ lệ, hướngdẫn điều tiết, can thiệp vào thị trường, phòng ngừa và chặn đứng những nguy cơđột biến, những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường

Tài chính công là một nhân tố quyết định để tiếp tục đổi mới cơ chế quảnlý kinh tế và góp phần đạt mục tiêu cơ bản trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ:

Có luật lệ tài chính – tiền tệ đồng bộ

Có chiến lược và chính sách tài chính quốc gia hoàn chỉnh

Có đội ngũ cán bộ công chức tài chính ngân hàng giỏi

Cân đối tích luỹ – tiêu dùng, thu – chi,

Cân đối ngân sách nhà nước

Cân đối cán cân thanh toán quốc tế

Cân đối vốn đầu tư

Cân đối thu chi bằng tiền của nhân dân,

Cân đối thu chi tiền mặt

Chức năng của tài chính công:

Phân bổ nguồn lực tài chính trong nền kinh tế,

Phân phối thu nhập,

Ổn định nền kinh tế vĩ mô

Chính sách tài chính quốc gia:

Mục tiêu:

Trang 34

Chính sách tài chính quốc gia là một bộ phận quan trọng của chính sáchkinh tế, là tổng thể chính sách kinh tế và giải pháp tài chính tiền tệ nhằm khaithác, động viên, phân phối, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính trong vàngoài nước để đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, bền vững, nâng caotiềm lực của nền tài chính quốc gia, thưc hiện thành công công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước và cải thiện đời sống nhân dân.

Chính sách tài chính quốc gia bảo đảm phát huy vai trò kiểm tra, giám đốcbằng đồng tiền, làm cho tài chính trở thành công cụ đắc lực của nhà nước, trongviệc quản lý vĩ mô nền kinh tế thông qua luật pháp tài chính, các chính sách vàcông cụ tài chính – kế toán

Chính sách tài chính quốc gia làm lành mạnh hóa môi trường kinh tế, thúcđẩy sự chuyển đổi đồng bộ, hoàn chỉnh sang cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước phù hợp với điều kiện Việt Nam

Quan điểm chính sách tài chính quốc gia:

Chính sách tài chính quốc gia phải bảo đảm khai thác tối đa các nguồn lựctrong nước, kết hợp huy động nguồn lực nước ngoài , xây dựng một nền tài chínhquốc gia độc lập

Chính sách tài chính quốc gia phải gắn liền với quá trình tiếp tục đổi mới

cơ chế tài chính, cơ chế quản lý kinh tế toàn diện, sâu sắc, cơ bản

Chính sách tài chính quốc gia phải được hoạch định trên cơ sở các bảođảm các mối quan hệ kinh tế và các cân đối lớn của nền kinh tế

Chính sách tài chính quốc gia phải được hoạch định trên cơ sở hướng vàoyêu cầu của nền kinh tế mở, hội nhập thị trường khu vực và quốc tế

Chính sách tài chính quốc gia dựa trên cơ sở quản lý bằng luật pháp, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc hiệu quả và tiết kiệm

Những bộ phận cấu thành của chính sách tài chính quốc gia:

Chính sách huy động vốn và phát triển thị trường tài chính,

Chính sách thu chi và cân đối ngân sách nhà nước,

Chính sách thuế,

Chính sách tài chính doanh nghiệp,

Chính sách tài chính đối ngoại và chính sách ngoạïi hối,

Chính sách tiết kiệm,

Chính sách kiểm tra, kiểm soát tài chính

Ngân sách nhà nước:

Vai trò:

Trang 35

Ngân sách nhà nước là công cụ chủ yếu phân phối trực tiếp hoặc gián tiếpnguồn tài chính quốc gia , định hướng phát triển sản xuất hình thành cơ cấu kinhtế mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững.

Ngân sách nhà nước là công cụ để bình ổn giá cả, điều tiết thị trường vàkiềm chế lạm phát

Ngân sách nhà nước là công cụ có hiệu lực của nhà nước để điều chỉnhtrong lĩnh vực thu nhập, góp phầøn giải quyết các vấn đề xã hội

Ngân sách nhà nước cung cấp tài chính cho hoạt động của bộ máy nhànước, bảo vệ đất nước , giữ gìn quốc phòng an ninh

Ngân sách nhà nước là công cụ để kiểm tra nguồn ngân sách và việc sửdụng các nguồn vốn, kinh phí, tài sản nhà nước

Kết quả hoạt động ngân sách nhà nước:

Ngân sách nhà nước từ chỗ dựa chủ yếu vào ngân sách nước ngoài,chuyển sang dựa vào nội lực kinh tế trong nước, chiếm khoảng 20% GDP

Cơ cấu Ngân sách nhà nước thay đổi theo hướng tích cực, chi thườngxuyên dựa vào nguồn thu trong nước, các khoản thu ngoài nước chủ yếu dùng đểchi đầu tư phát triển

Giảm bội chi ngân sách Từ 1992 không phát hành tiền cho bội chi ngânsách, được bù đắp bằng vay của dân và vay nước ngoài Tuy nhiên ngân sáchnhà nước chưa thật sự ổn định và chưa lành mạnh

Ngân sách nhà nước thường xuyên căng thẳng, nguồn thu chưa vững

Phân cấp ngân sách còn nhiều mặt chưa hợp lý, còn tập trung quá mức,nẩy sinh nhiều tiêu cực

Tài sản công, tài chính công, tài sản doanh nghiệp chưa được quản lý chặtchẽ, còn sơ hở để xảy ra nhiều thất thoát, lãng phí, tham nhũng

Phân phối nguồn tài chính còn tràn lan, lãng phí, kém hiệu quả, nhất làvốn xây dựng cơ bản

Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước:

Chi ngân sách nhà nước gắn với bộ máy nhà nước và các nhiệm vụ kinhtế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ

Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước

Chi ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triểnkinh tế – xã hội quốc gia

Nguyên tắc chi ngân sách nhà nước:

Gắn chặt khả năng thu để bố trí các khoản chi

Baỏ đảm yêu cầu tiết kiệm, hiệu quả trong việc bố trí các khoản chi củangân sách nhà nước

Ngày đăng: 08/08/2014, 09:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w