1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội lạm dụng tín nhiệm và chiếm Đoạt tài sản dưới góc Độ pháp lý và thực tiễn tại viện kiểm sát nhân dân tỉnh kon tum'

48 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Lạm Dụng Tín Nhiệm Và Chiếm Đoạt Tài Sản Dưới Góc Độ Pháp Lý Và Thực Tiễn Tại Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Kon Tum
Tác giả Vongkhamlar Thipphada
Người hướng dẫn ThS. Trương Thị Hồng Nhung
Trường học Đại học Đà Nẵng
Thể loại báo cáo thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 803,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum .... Thực tiễn thực hiện quy địn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM VÀ CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM VÀ CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN DƯỚI GÓC ĐỘ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

5 Bố cục 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM 3 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KÈM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM 3

1.1.1 Khái quát về tỉnh Kon Tum 3

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum 4

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM 5

1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của VKS nhân dân tỉnh Kon Tum 5

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của VKS nhân dân tỉnh Kon Tum 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 9

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẺ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 10

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 10

2.1.1 Khái niệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 10

2.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 10

2.1.3 So sánh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội chiếm đoạt tải sản khác 13

2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 15

2.2.1 Chủ thể, các giai đoạn và trường hợp định danh tội 15

2.2.2 Trách nhiệm pháp lý đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 17

2.2.3 Một số điểm mới về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong quy định Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 22

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VẺ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM - MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 23

3.1 TÌNH HÌNH TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM 23

Trang 4

3.1.1 Tình hình phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Kon

Tum 23

3.1.2 Đánh giá 25

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KON TUM 27 3.2.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 27

3.2.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 33

KẾT LUẬN 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 BÁO CÁO CÔNG VIỆC HÀNG THÁNG

BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN

GIẤY XÁC NHẬN HOÀN THÀNH BÁO CÁO THỰC TẬP

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Diễn biến tình hình tội phạm tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản

23

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thành tựu quan trọng mà nước ta đã đạt được trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội thì mặt trái của nền kinh tế thị trường mang lại đó là hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện với tính chất và mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm hon Trong số này thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến Như tình trạng hiện nay ta thường thấy xuất hiện nhiều, phổ biến và có quy mô đó là cho vay vốn với lãi xuất cao do người dân tự huy động, không có

sự đảm bảo của pháp luật nên diễn ra phức tạp, đã xảy ra nhiều vụ vỡ nợ và mất khả năng thanh toán và có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Bên cạnh đó, những sơ hở thiếu sót trong quản lý Nhà nước về hụi, phường, dịch vụ cầm đồ, dịch vụ cho thuê xe otô, xe máy và thói quen chỉ dựa vào tình cảm, niềm tin để vay mượn, cho thuê tài sản đã làm cho tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ngày càng tăng cao và khó kiểm soát

Qua thực tiễn cho thấy trên địa tỉnh Kon Tum loại tội phạm này đang diễn biến phức tạp Bên cạnh đó việc xét xử loại tội phạm này trong thực tiễn còn nhiều vướng mắc, các cơ quan áp dụng pháp luật đôi lúc còn tỏ ra lúng túng trong quá trình xác định tội danh, quyết định hình phạt Do đó, phần nào đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả,

chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử Vì vậy em lựa chọn đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm và chiếm đoạt tài sản dưới góc độ pháp lý và thực tiễn tại Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum” làm đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản, những quy định của Bộ Luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Nghiên cứu các bản án của Viện kiểm sát để từ đó định tội danh Qua đó sẽ đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện những quy định về tội danh này trong Bộ Luật hình sự

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các quy định của pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật hình sự 2015 Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Bộ luật hình sự 2015 Thực tiễn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum từ năm 2019 đến năm 2022

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh, phân tích các quy định của pháp luật liên quan và việc thực thi pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

- Sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra những hạn chế, bất cập và những giải pháp mang tính cấp thiết

Trang 7

5 Bố cục

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo gồm

3 chương:

Chương 1: Tổng quan về Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum

Chương 2: Tổng quan về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và trách nhiệm pháp lý đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại địa bàn tỉnh Kon Tum - Một số kiến nghị hoàn thiệ

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆN KÈM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

1.1.1 Khái quát về tỉnh Kon Tum

Theo truyền thuyết của dân tộc Bana, Kon Tum ban đầu chỉ là một làng của người Bana Thuở ấy, vùng đồng bào dân tộc Bana (nay thuộc thành phố Kon Tum) có làng người địa phương ở gần bên dòng sông Đăkbla với tên gọi Kon Trang - OR Lúc ấy, làng Kon Trang - OR rất thịnh vượng với dân số khá đông Bấy giờ, giữa các làng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ Hai con trai của Ja Xi - một trong số những người đứng đầu làng Kon Trang - OR tên là Jơ Rông và Uông không thích cảnh chiến tranh đã làm nhà ở riêng gần chỗ có hồ nước, cạnh dòng Đăkbla Vùng đất này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư, nên dần dần có nhiều người đến ở, mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập của người Bana, cạnh dòng Đăkbla, nơi có nhiều hồ nước trũng Theo tiếng Kinh, Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước, )

Do vị trí đặc biệt, Kon Tum là vùng đất bằng, được dòng Đãkbla uốn quanh bồi đắp phù sa màu mỡ Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, vùng đất này có nhiều biến đổi, đồng bào các dân tộc tụ hội về đây ngày một đông Người Kinh khi đến Tây Nguyên cũng chọn vùng đất Kon Tum làm nơi định cư Từ đó, Kon Tum trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc

Phát huy những thuận lợi về điều kiện tự nhiên với sự cần cù lao động của con người, vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng, không chỉ một làng mà nhiều làng, bao quát cả vùng đất đai rộng lớn Vùng đất này khi thành lập thị xã cũng mang tên gọi chính thức là Kon Tum Khi đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập, Kon Tum vẫn chính thức được dùng làm tên gọi của tỉnh Đây là vùng địa lý hành chính được hình thành sớm nhất ở Tây Nguyên

Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao Nam Trung Bộ, phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, với chiều dài biên giới khoảng 260

km, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Nam giáp tỉnh Gia Lai; có đường 14 nối với các tỉnh Tây Nguyên và Quảng Nam, đường 40 đi Atôpư (Lào) Nằm ở ngã ba Đông Dương, Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu, mở rộng họp tác quốc tế về phía Tây Ngoài ra, Kon Tum có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái Kon Tum là đầu mối giao luư kinh tế của cả vùng duyên hải miền Trung và cả nước

Địa hình Kon Tum chủ yếu là đồi núi, chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 ưở lên Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía Bắc - Tây Bắc chạy sang phía Đông tỉnh Kon Tum, đa dạng với gò đồi, núi,

Trang 9

cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau khá phức tạp, tạo ra những cảnh quan phong phú,

đa dạng

Khí hậu Kon Tum có nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa của phía Nam Việt Nam, lại mang tính chất của khí hậu cao nguyên Khí hậu Kon Tum chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 230C, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 90C

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số toàn tỉnh Kon Tum đạt 540.438 người, mật độ dân số đạt 55 người/km2 Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 172.712 người, chiếm 32% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt 367.726 người, chiếm 68% dân số Dân số nam đạt 271.619 người, trong khi đó nữ đạt 268.819 người Tỷ lệ

tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 2,28 %0 Đây cũng là tỉnh ít dân nhất

vùng Tây Nguyên với hơn 540.000 dân

Kon Tum phần lớn là rừng nguyên sinh có nhiều gỗ quý như cẩm lai, dáng hương,

pơ mu, thông Tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300 loài thực vật, thuộc hơn 180 chi và 75

họ thực vật có hoa Động vật nơi đây cũng rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim Thú có 88 loài,

26 họ, 10 bộ, chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn

Kon Tum có nhiều cảnh quan tự nhiên như hồ Ya ly, rừng thông Măng Đen, khu bãi

đá thiên nhiên Km 23, thác Đắk Nung, suối nước nóng Đắk Tô và các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên có khả năng hình thành các khu du lịch cảnh quan, an dưỡng Các cảnh quan sinh thái này có thể kết hợp với các di tích lịch sử cách mạng như: di tích cách mạng ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei, di tích chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh, chiến thắng Plei Kần, chiến thắng Măng Đen các làng văn hoá truyền thống bản địa tạo thành các cung, tuyến du lịch sinh thái - nhân văn

Kon Tum có tiềm năng về thuỷ điện vào loại lớn nhất cả nước (2.790 MW) Ngoài các công trình thuỷ điện đã và đang xây dựng Kon Tum còn có thể xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ Hiện nay, có rất nhiều nhà đầu tư đang điều tra, khảo sát các công trình thuỷ điện trên địa bàn Với việc đầu tư các công trình thuỷ điện hiện nay, trong tương lai, Kon Tum có thể sẽ là một trung tâm điều phối nguồn điện quan ữọng của cả nước thông qua đường dây 500 KV

Bên cạnh đó, Kon Tum có diện tích nông nghiệp và có khả năng nông - lâm nghiệp bình quân vào loại cao so với cả nước, đất đai địa hình sinh thái đa dạng, có khả năng hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp rộng lớn, nhất là cây nguyên liệu giấy

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum

VKS nhân dân tỉnh Kon Tum được thành lập vào ngày 21 tháng 8 năm 1991 Bước đầu với lực lượng cán bộ, kiểm sát viên, cơ sở vật chất, trụ sở làm việc mới chỉ là nhà tạm Với những khó khăn về cơ sở vật chất, phát huy truyền thống Cách mạng của Đảng

Trang 10

bộ và nhân dân tỉnh Kon Tum, đội ngũ cán bộ và kiểm sát viền VKS nhân dân tỉnh Kon Tum đã từng bước nêu cao tinh thần , khắc phục khó khăn ra sức thi đua phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và nghành kiểm sát giao.Trải qua 29 năm xây dựng và trưởng thành đến nay lực lượng cán bộ Kiểm sát viên Viện kiểm sát đã từng bước chuyển mình, một lòng in tưởng theo Đảng, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ chính trị, đảm bảo an toàn trật tự địa phương

Trong những năm qua, Ngành đã triển khái đồng bộ, tích cực nhiều giải pháp nhằm thực hiện tốt những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác Kiểm sát Ngành đã tiếp tục nâng cao hiệu quả trong công tác thực hành quyền công tố trong lĩnh vực hình sự cả về số lượng và chất lượng Tỷ lệ truy tố đạt tỷ lệ rất cao, giảm đáng kể các trường hợp Viện kiểm sát truy tố nhưng Tòa án tuyên không phạm tội, cũng như giảm các trường hợp oan sai thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát Nhiều kiểm sát viên đã chủ động tham gia xét hỏi, tranh tụng để làm rõ nội dung vụ án, đặc biệt là tại một số phiên tòa xét xử các vụ án lớn được ghi nhận và đánh giá cao

Về công tác kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự: Kiểm sát viên khi được phân công giải quyết vụ án hình sự có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án Lãnh đạo Viện thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra các vụ án hình sự của Kiểm sát viên được phân công thụ lý, qua đó phát hiện và khắc phục những sai sót nếu có trong việc kiểm sát các

vụ án hình sự Kiểm sát viên chủ động với điều tra viên rà soát các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, để khi kết thúc điều tra đề nghị truy tố vụ án hình sự có đủ căn cứ và đúng pháp luật

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH KON TUM

1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của VKS nhân dân tỉnh Kon Tum

Theo quy định tại Điều 107, Hiến pháp 2013, thì Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum có chức năng:

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm

vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế

độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích họp pháp của tổ chức,

cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Theo quy định tại Điều 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 2014, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều ưa vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

Yêu cầu Cơ quan điều ưa, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can

Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố

vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can ưái pháp luật

Trang 11

Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định

Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật

Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Đề ra yều cầu điều ưa và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can

Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường họp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quan điều fra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện

có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục

Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều ưa khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều ưa có dấu hiệu tội phạm

Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Điều 18 Luật

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy đinh Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa

Xét hỏi, luận tội, ưanh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa

+ Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội

Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của Bộ luật

Trang 12

Đồng chí Trần Thanh Quang- Phó Viện Trưởng

Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập ưong cơ cấu tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước

Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo ngành dọc ở 4 cấp, gồm:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (Hiện có 03 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nằng và Thành phố Hồ Chí Minh);

Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Thành phố thuộc Trung ương (Hiện có 63 VKSND cấp tỉnh);

Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (Hiện có 710 Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện)

Trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có các Viện kiểm sát quân sự, gồm:

Viện kiểm sát quân sự Trung ương;

Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương;

Viện kiểm sát quân sự khu vực Toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp đặt dưới sự quản lý, chỉ đạo và điều hành của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cáp tỉnh do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm Nhiệm kỳ của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm

VKSND tỉnh Kon Tum là cơ quan có dự toán kinh phí độc lập, có quyết định thành lập, có con dấu và tài khoản riêng, có biên chế riêng Ban lãnh đạo viện gồm có 01 Viện trưởng, 02 Phó Viện trưởng

Do yêu cầu và điều kiện công tác cụ thể hiện nay của tỉnh, bộ máy giúp việc của VKS nhân dân tỉnh Kon Tum được xây dựng thành 10 phòng nghiệp vụ Phòng l: Phòng thực hành quyền công tố và Kiểm sát xét xử án an ninh ma túy (Pl), Phòng 2: Phòng thực hành quyền công tốvà kiểm sát điều tra các vụ án hình sự (P2), Phong7: Phòng thực hành quyền công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự (P7), Phòng 8: Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù (P8), Phòng 9:Phòng thực hành quyền công tố Kiểm sát các việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình (P9), Phòng 11: Phòng thực hành quyền công tố kiểm sát việc thi hành án dân sự (P11), Phòng 12: Phòng kiểm sát giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp (P12), Phòng 15: Phòng tổ chức cán bộ có nhiệm vụ tham mưu giúp việc cho lãnh đạo viện trong công tác quản lý cán bộ công chức, đào tạo, bổ nhiệm, tuyển dụng (P15), Phòng thống kê tội phạm và công nghệ thông tin làm công tác thống kê, quản trị mạng của toàn đơn vị, Văn phòng tổng hợp có nhiệm vụ tham mưu, tổng hợp và công tác hậu cần, Phòng thanh tra giám sát các hoạt động của các phòng nghiệp vụ trong Cơ quan, mồi phòng được thành lập có chức năng và nhiệm vụ khác nhau Nghành kiểm sát nhân dân bắt đầu được củng cố xây dựng kiện

Trang 13

toàn và đi vào họat động Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum từ ngày thành lập cho tới nay đã trưởng thành và phát ưiển Viện kiểm sát tỉnh có môi trường làm việc nghiêm túc

từ lãnh đạo đến nhân viên đều nhiệt tình trong công tác, nguyên tắc và không ngừng cập nhật thông tin trao dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ như hình sự, dân sự và những lĩnh vực khác nhằm thực hiện tốt chức năng Kiểm sát các hoạt động tư pháp của ngành phục vụ nhiệm vụ chính tại địa phương

Trước yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động điều ưa của Cơ quan điều tra VKSNDTC, theo lộ trình cải cách tư pháp đến năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum luôn đổi mới đáp ứng phù hợp với nhiệm vụ, môi trường làm việc, đảm bảo trang thiết bị, phương tiện đầy đủ, hiện đại, phù hợp cho hoạt động điều tra, đáp ứng với yếu cầu đổi mới và yêu cầu hội nhập quốc tế như: Đảm bảo về trụ sở làm việc riêng, có phòng tiếp dân, phòng nghiệp vụ , kho lưu trữ, nhầ ở tập thể cho cán bộ, nhà khách, thiết

bị kỹ thuật, công cụ hỗ trợ (máy ghi âm, ghi hình, điện thoại, vi tính, máy in, máy fax ); phương tiện đi lại để phục vụ cho hoạt động điều xác minh, sẵn sàng đáp ứng trong trường họp cùng lúc phải tiến hành điều tra nhiều vụ án, kiểm tra xác minh tố giác, tin báo về tội phạm trên nhiều địa bàn khác nhau, có kế hoạch kinh phí dài hạn để xây dựng

cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động điều tra

Bộ máy làm việc tại VKSND tỉnh gồm 08 phòng nghiệp vụ, 09 VKSND huyện, 01 VKSND thành phố Biên chế của VKSND tỉnh hiện tại là 146

Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh (Phòng 1)

Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án trật tự xã hội (Phòng 2)

Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự (Phòng 7)

Vụ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự (Phòng 8)

Vụ Kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân và gia đình (Phòng 9)

Vụ Tổ chức cán bộ (Phòng 15)

Văn phòng tổng hợp

Phòng Thanh tra khiếu tố

Trang 14

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 tập trung giới thiệu sơ lược về VKSND tỉnh Kon Tum qua đó tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức quản lý của cơ quan Sự thành lập của ngành kiểm sát đã đánh dấu bước phát triển của việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp tai địa phương VKSND tỉnh Kon Tum

có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẺ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ ĐỐI VỚI TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM

ĐOẠT TÀI SẢN

2.1.1 Khái niệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Ngày 27/11/2015, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII tại kỳ họp thứ 9, đã thông qua Bộ luật hình sự (gọi tắt là BLHS 2015), BLHS ra đời thay thế cho BLHS 1999 BLHS 2015 ra đời đã thể chế hóa được quan điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định lần đầu tiền tại Điều 140 Bộ luật Hĩnh sự năm 1999, đây là tội được nhập từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân quy định tại Điều 158, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1985, nhưng chỉ đến khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành thì Tội này mới được quy định khá chặt chẽ và cụ thể Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng của nhóm Việt Ngữ thì “lạm dụng” là sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định, “tín nhiệm” là tin cậy trong một nhiệm vụ

cụ thể nào đó Như vậy lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể hiểu là việc đối tượng nào đó sử dụng quá mức sự được người tin cậy mình để chiếm đoạt tài sản

Theo giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là trường hợp chiếm đoạt một phần hoặc toàn

bộ tài sản đã được giao ngay thẳng do có sự tín nhiệm của chủ tài sản giao cho để thực hiện một việc nào đó

Tóm lại: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn, thuê tài sản của

người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

2.1.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

a Chủ thể của tội phạm

Là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xác định có hành vi phạm tội, vì chỉ khi nào xác định được chủ thể của tội phạm mới tiến hành định tội danh và truy cứu trách nhiệm hình sự Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng trong các BLHS trước

đây và ngay cả BLHS năm 1999 là “một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu

tranh phòng ngừa và chống tội phạm” cũng quy định chỉ có con người mới là chủ thể của

Trang 16

Chủ thể của tội LDTNCĐTS phải có năng lực trách nhiệm hình sự Năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là khả năng nhận thức của cá nhân về tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi và khả năng điều khiển hành vi đó, tức họ có sự lựa chọn thực hiện hay không thực hành vi nguy hiểm cho xã hội đó Người có năng lực TNHS trước hết phải đạt tới một độ tuổi nhất định đế đảm bảo rằng cá nhân đó có khả năng nhận thức đầy

đủ về tính chất pháp lý của hành vi mà mình gây ra và có đủ khả năng điều khiển được hành vi đó

Chủ thể của tội LDTNCĐTS phải đủ tuổi chịu TNHS, tại Điều 12 BLHS năm 2015 quy định về độ tuổi chịu TNHS Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác Đối với tội LDTNCĐTS phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu TNHS đối với loại tội phạm này Bởi vì, họ là người chưa có năng lực TNHS đầy đủ nên chỉ chịu TNHS về một số tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nghiêm do cố ý được quy định tại Khoản 2 Điều 12 BLHS năm

Như vậy, để định tội danh tội LDTNCĐTS phải là cá nhân có năng lực chịu TNHS

và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên Đây là một trong các điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 BLHS năm 2015 đã quy định sự tách bạch rõ ràng horn về độ tuổi chịu TNHS đối với người bị kết án tội LDTNCĐTS

b Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội LDTNCĐTS cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội LDTNCĐTS không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản

Đối tượng tác động của tội phạm là tài sản bao gồm: vật, tiền Mỗi hành vi phạm tội

sẽ xâm phạm đến những quan hệ xã hội khác nhau được luật hình sự bảo vệ và tội phạm nào cũng xâm phạm đến ít nhất một khách thể, nếu như hành vi không xâm phạm bất cứ khách thể nào không được xem là tội phạm và không thực hiện việc truy cứu TNHS Tội LDTNCĐTS xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo

vệ Đối tượng của tội phạm này được xác định là tài sản, bao gồm vật, tiền, quyền, giấy

tờ có giá và quyền tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 Tuy nhiên, để trở thành đối tượng của tội phạm này thì tài sản phải thỏa mãn những đặc điểm nhất định sau: Tài sản phải là vật chất và có giá trị sử dụng phải đang có chủ sở hữu và có thể chuyển dịch trong giao lưu dân sự Quyền sở hữu tài sản phải là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ, đó cũng phải là tài sản mà có thể đem ra giao dịch, mua bán, trao đổi trên thị trường thỏa mãn được các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người mới được xem là đối tượng tác động của tội LDTNCĐTS, ngược lại những tài sản không

có hoặc không còn giá trị sử dụng không thể trở thành đối tượng tác động của tội phạm này Đe xác định một người phạm vào tội này, hành vi của người đó phải đã thỏa mãn các dấu hiệu cơ bản nêu trên

c Mặt chủ quan của tội phạm

Trang 17

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm bao gồm“Lỗi, động cơ, mục đích” Trong đó yếu tố lỗi là bắt buộc với tất cả các loại tội phạm, không có lỗi thì hành vi không bị xem là tội phạm và không truy cứu TNHS

Tội LDTNCĐTS được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là người phạm tội nhận thức

rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra Việc xác định lồi trong tội này là hành vi làm thiệt hại về tài sản, làm mất quyền sở hữu của chủ tài sản nhưng vẫn thực hiện Ban đầu khi giao kết hợp đồng, người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện hợp đồng, chỉ sau khi nhận được tài sản,

ý thức chiếm đoạt mới hình thành, vì thế họ bị truy cứu TNHS về tội phạm này

Động cơ, mục đích phạm tội: Là những dấu hiệu bắt buộc của một hành vi có ý chí,

là những yếu tố nằm trong nội dung của mặt chủ quan Theo từ điển tiếng việt, thì “Động

cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người thực hiện hành vi phạm tội; hay một cách hiểu khác “Động cơ phạm tội được hiểu là động lực từ bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội” Trong tội LDTNCĐTS, thì động cơ phạm tội là “vì

vụ lợi” Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức mà người phạm tội mong muốn đạt được khi thực hiện tội phạm Mục đích phạm tội trong tội này phải gắn liền với các hành

vi dùng thủ đoạn gian dối, hành vi bỏ trốn, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không ữả Neu không có mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc mục đích chiếm đoạt tài sản có trước thời điểm nhận tài sản thông qua hợp đồng, thì người thực hiện hành vi phạm tội không phạm tội này hoặc sẽ phạm vào tội khác

Động cơ và mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội LDTNCĐTS Ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thế có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội LDTNCĐTS

d Mặt khách quan của tội phạm

Người phạm tội chiếm hữu tài sản của người bị hại một cách hợp pháp thông qua các hình thức vay mượn, thuê tài sản của người bị hại hoặc nhận tài sản của người bị hại dưới các hình thức hợp đồng

Sau khi chiếm hữu tài sản của người bị hại thông qua một trong các hình thức trên, nhưng người phạm tội không thực hiện những gì đã cam kết với người bị hại mà dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc

dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho người bị hại

Về mặt hậu quả: Người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản của người bị hại có giá

trị từ 4.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 4.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc

đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Hành vi LDTNCĐTS cấu thành tội khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau: Tại Điều 175 BLHS năm 2015 quy định mức định lượng tài sản tối thiểu đối với tài sản bị chiếm đoạt phải trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000

Trang 18

đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì mới có thể bị xử lý về tội phạm này Đã

bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt Theo quy định của Thông tư 02/2001, bị coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt nếu trước đó họ

đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền về một trong các hành vi chiếm đoạt như: cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; LDTNCĐTS; tham ô tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

Đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích Tương tự trường hợp “đã bị

xừ phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt”, người phạm tội có thể bị truy cứu TNHS về tội LDTNCĐTS với giá trị tài sản dưới bốn triệu đồng nếu trước khi thực hiện hành vi LDTNCĐTS họ đã bị kết án về một trong các hành vi chiếm đoạt, chưa được xóa

án tích mà còn vi phạm

Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt

Như vậy, bốn yếu tố CTTP của tội LDTNCĐTS có quan hệ chặt chẽ với nhau, tồn

tại khách quan, không thể tách rời nhau Là cơ sở pháp lý để truy cứu TNHS và để định tội danh chính xác đối với tội nêu trên

2.1.3 So sánh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội chiếm đoạt tải sản khác

Trong BLHS Việt Nam, các tội trong Chương các tội phạm xâm phạm sở hừu, có nhiều tội danh có một hoặc một số dấu hiệu pháp lý giống nhau, đặc biệt có những dấu hiệu về hành vi khách quan giống hoặc gần giống nhau Điều này dễ dẫn đến sai lầm trong nhận thức về các tội phạm tương tự Từ đó, dẫn đến sự sai lầm trong việc định tội danh cũng như quyết định hình phạt và mức hình phạt áp dụng với người phạm tội Trong

số đó, thường có sự nhầm lẫn giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội LDTNCĐTS vì cùng có dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Để có thể định tội danh chính xác tội LDTNCĐTS, cần phân biệt tội này với một

số tội khác, trong đó có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân

* So sánh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175, BLHS 2015) vói tội

lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174, BLHS 2015)

- Giống nhau:

Về khách thể: Tội lừa đáo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản là hai tội thuộc nhóm tội xâm phạm quan hệ sở hữu về tài sản Đối tượng của hai tội phạm này là tài sản Ngoài ra, hai tội phạm này còn tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội

Trang 19

Về chủ thể: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường Bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội lừa đảm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Mặt chủ quan: Được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ

hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi là gây ra sự mất mát về tài sản của người khác và mong muốn hậu quả xảy

ra Mục đích là chiếm đoạt tài sản của người khác

- Khác nhau:

Mặt khách quan: Đối với lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn, thuê

tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất họp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

là chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản

đó bằng cách dùng các thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật và tự nguyện đưa tài sản cho người thực hiện hành vi gian dối

Giá trị tài sản bị chiếm đoạt: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì tài sản

bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên, nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm ưọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã

bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này

Về ý thức chiếm đoạt tài sản: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì ý thức chiếm đoạt xuất hiện sau khi có giao dịch hợp pháp, tức là sau khi có được tài sản người phạm tội mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản, thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội

* So sánh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175, BLHS 2015) với tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355, BLHS 2015)

- Giống nhau: Khách thể của hai tội phạm này đều xâm phạm quyền sở hữu tài sản;

Mặt chủ quan đều là người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Mặt khách quan người phạm tội với hai tội nêu trên đều có hành vi lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản Ngoài ra, hai tội phạm này đều là tội phạm cấu thành vật chất

- Khác nhau:

Trang 20

Về chủ thể, tội LDTNCĐTS là người được chủ tài sản tín nhiệm giao quản lý tài

sản, chủ thể thường Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội lạm dụng chức vụ quyền hạn là chủ thể đặc biệt là người có chức vụ

Về mặt khách quan: Tội LDTNCĐTS người phạm tội đã thực hiện hành vi lạm

dụng sự tín nhiệm của chủ tài sản chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản trong hợp đồng Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn người phạm tội đã lạm dụng chức vụ uy hiếp tinh thần chủ tài sản và gian dối để chiếm đoạt tài sản của công dân

2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM

CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

2.2.1 Chủ thể, các giai đoạn và trường hợp định danh tội

a Chủ thể của định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Từ việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn thấy rằng, định tội danh tội LDTNCĐTS do bởi các chủ thể là cơ quan tiến hành

tố tụng tiến hành Theo qui định tại Khoản 1 Điều 34 BLTTHS năm 2015, thì chủ thể tiến hành định tội danh gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ như: Bộ đội biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; Các cơ quan của Kiểm ngư; Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Các cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Khoản 1 Điều 35BLTTHS năm 2015 Bên cạnh đó, còn có các cán bộ khoa học, tác giả các bài viết, bài báo, giảng viên, sinh viên luật hay bất kỳ một người nào quan tâm, có kiến thức pháp luật cũng có thể tiến hành định tội danh Các chủ thể trên có đặc điểm chung là khi tiến hành định tội danh cũng thực hiện việc lựa chọn và so sánh các dấu hiệu của quy phạm pháp luật với thực tế khách quan để làm cơ sở cho sự xác định sự phù họp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với CTTP cụ thể

Người tiến hành tố tụng khi tiến hành định tội danh sẽ có ưu thế hơn với các chủ thể khác vì họ có điều kiện tiếp cận và nắm chính xác, cụ thể các tình tiết khách quan của vụ

án nên định tội danh sẽ chính xác và phản ánh được bản chất của vụ án hình sự, còn định tội danh do các chủ thể khác chỉ là sự thể hiện ý kiến cá nhân, quan điểm pháp lý nhưng

nó có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật

b Các giai đoạn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Để bảo đảm định tội danh đúng cần tiến hành theo trình tự nhất định, gồm các giai đoạn:

Thứ nhất, xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội là một trong những bước rất quan

trọng của định tội danh, bởi vì hành vi xảy ra như thế nào nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của định tội danh cho nên các chủ thể có thẩm quyền cần phải vận dụng kiến thức lý luận, thực tiễn và kết hợp những kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp đế đưa ra kết luận hành vi có dấu hiệu tội phạm hay là những vi phạm pháp luật dân sự, kinh tể Chính vì

Trang 21

thế, các chủ thể cần phải xác định tầm quan trọng của thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án

Các chủ thể khi xác định sự thật khách quan của vụ án, khi tiến hành điều ưa, truy

tố và xét xử phải đảm bảo sự vô tư, khách quan, không suy diễn hay định kiến, mà phải dựa vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập hợp pháp, đúng trình tự pháp luật và được kiểm ưa, phân tích, đánh giá theo quy định của pháp luật

Thứ hai, nhận thức nội dung của các quy định trong BLHS một cách đúng đắn

Một hành vi phạm tội được xác định do chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và

độ tuổi mà BLHS đã quy định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì cần tiến hành đối chiếu, so sánh các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, nhận định mức độ liên quan và sự phù hợp giữa hành vi diễn ra ưên thực tế với các yếu tố cấu thành tội phạm xem có thỏa mãn cấu thành tội LDTNCĐTS hay không? Nếu có thì thuộc Điểm, Khoản, Điều 175 của BLHS năm 2015

Khi ban hành BLHS, nhà làm luật đã đánh giá một cách toàn diện tính chất và mức

độ nguy hiếm cho xã hội của các hành vi tương ứng, quy định chế tài áp dụng đối với từng loại hành vi cũng như hiệu quả đạt được khi áp dụng các chế tài

Từ thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cho thấy còn nhiều khó khăn, vướng mắc về định tội danh tội LDTNCĐTS và quyết định hình phạt đối với các loại tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và các tội xâm phạm sở hữu không mang tính chiếm đoạt dễ dẫn đến sự nhằm lẫn định tội danh giữa tội này với tội khác

Thứ ba, xác định mối quan hệ giữa các dấu hiệu thực tế và các dấu hiệu được quy

định trong luật, trên cơ sở đó rút ra kết luận

Đây là bước quan trọng nhất của quá trình định tội danh Các dấu hiệu của tội phạm được quy định trong luật và các tình tiết thực tế của vụ án là hai nhóm hiện tượng được hợp nhất, thống nhất trong quá trinh định tội danh Do đó, để định tội danh đúng, sau khi xác định sự thật khách quan của vụ án và tìm hiểu, phân tích các quy phạm PLHS để nhận thức đúng đắn, sâu sắc nội dung của nó nhằm lựa chọn đúng quy phạm PLHS tương ứng đã thoả mãn quy định tại Điều, Khoản nào của BLHS năm 2015

Thứ tư, đưa ra kết luận

Trong từng giai đoạn tố tụng của từng cơ quan tiến hành tố tụng đối với vụ án hình

sự thì sẽ kết luận về hành vi phạm tội gì, phải ban hành các văn bản tố tụng khác nhau và phải tương ứng với từng giai đoạn tố tụng như Cơ quan điều tra ban hành Quyết định khởi tố, Quyết định không khởi tố Viện kiểm sát ban hành Quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định, lệnh của CQĐT , Tòa án, thì ban hành Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng

Như vậy, định tội danh tội LDTNCĐTS phải được thực hiện bởi các giai đoạn nêu trên Do đó, đòi hỏi người áp dụng pháp luật mà đặc biệt là Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa phải cân nhắc, am hiểu pháp luật mới thực hiện tốt mới đảm bảo cho việc định tội danh đúng và ban hành quyết định, bản án đúng người, đúng tội, nghiêm minh và có hiệu quả cao trong đẩu tranh phòng, chống tội phạm

Trang 22

2.2.2 Trách nhiệm pháp lý đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

a Khung cơ bản (Khoản 1, Điều 175 BLHS 2015)

Đối với khung cơ bản này thì hình phạt với người phạm tội là bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm với hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174

và 290 của BLHS 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại

b Khung tăng nặng thứ nhất (Khoản 2, Điều 175 BLHS 2015)

Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: Phạm tội có tổ chức: Phạm tội có tổ chức là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức Tuy nhiên, không phải tội LDTNCĐTS có tổ chức nào cũng đủ những người giữ vai trò nêu trên Trong tội phạm này, thì người thực hành là người trực tiếp thực hiện hành vi, những thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản

Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: cố ý phạm tội từ 05 lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích; Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng: Trường hợp này xác định giá trị tài sản, là căn cứ giá thị trường vào thời điểm phạm tội Trong trường hợp không xác định được giá ưị tài sản chiếm đoạt thì phải trưng cầu giám định,

là định giá tài sản Do đặc điểm của tội này, người phạm tội chỉ chiếm đoạt tài sản khi tài sản đó đang do mình quản lý, nên chỉ một số trường hợp có giai đoạn phạm tội chưa đạt nên khi xác định tài sản bị chiếm đoạt có giá trị bao nhiêu còn phải căn cứ vào hành vi, thủ đoạn gian dối phạm tội cụ thể, không chỉ căn cứ vào giá trị tài sản mà người đang quản lý để xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: Trong trường hợp này cần phải xác đinh:

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức nào khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao nhiệm vụ thực viện một công việc nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ

Người có quyền hạn là người được giao thực hiện một công vụ và do thực hiện công vụ đó nên họ có một quyền hạn nhất định

Trang 23

Dùng thủ đoạn xảo quyệt: Là trường hợp, người phạm tội dùng những thủ đoạn, cách thức thâm hiểm làm cho người bị hại khó lường trước để mà đề phòng Thông thường, những thủ đoạn xảo quyệt người phạm tội dùng trong trường hợp này là sau khi

đã nhận được tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản một cách hợp pháp rồi mới dùng thủ đoạn xảo quyệt để chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên cũng có trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt ngay trước khi nhận được tài sản của chủ sở hữu, nhưng thủ đoạn đó không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản chỉ nhằm ký kết được hợp đồng một cách hợp pháp, lúc dùng thủ đoạn xảo quyệt, người phạm tội chưa có ý định chiếm đoạt

Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Là hành vi làm ảnh hưởng,

đe dọa, gây hoang mang, lo sợ trong một số gia đình trong một khu dân cư; làm ảnh hưởng đến tình hình quản lý trật tự, trị an hay làm xáo trộn trật tự tại nơi công cộng phá

vỡ trạng thái bình yên của xã hội

Tái phạm nguy hiểm: Trường hợp tái phạm trong vụ án lạm dụng tín nhiệm cũng giống như tất cả các trường hợp hợp tái phạm khác, chỉ cần xác định người phạm tội có

đủ các dấu hiệu quy định tại Khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015

c Khung tăng nặng thứ hai (Khoản 3, Điều 175 BLHS 2015)

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng: Trường hợp này xác định giá trị tài sản, là căn cứ giá thị trường vào thời điểm phạm tội Trong trường hợp không xác định được giá trị tài sản chiếm đoạt thì phải trung cầu giám định,

là định giá tài sản Do đặc điểm của tội này, người phạm tội chỉ chiếm đoạt tài sản khi tài sản đó đang do mình quản lý, nên chỉ một số trường hợp có giai đoạn phạm tội chưa đạt nên khi xác định tài sản bị chiếm đoạt có giá trị bao nhiêu còn phải căn cứ vào hành vi, thủ đoạn gian dối phạm tội cụ thể, không chỉ căn cứ vào giá trị tài sản mà người đang quản lý để xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt

Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Là hành vi làm ảnh hưởng,

đe dọa, gây hoang mang, lo sợ trong một số gia đình trong một khu dân cư; làm ảnh hưởng đến tình hình quản lý trật tự, trị an hay làm xáo trộn trật tự tại nơi công cộng phá

vỡ trạng thái bình yên của xã hội

d Khung tăng nặng thứ ba ( Khoản 4, Điều 175 BLHS 2015)

Phạm tội chiếm đoạt tài sản tri giá 500.000.000 đồng trỏ lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm

Như đã phân tích tình tiết LDTNCĐTS trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới

500.000.000 đồng Khi xác định tài sản bị chiếm đoạt có giá trị bao nhiêu còn phải căn cứ vào hành vi, thủ đoạn gian dối phạm tội cụ thể, không chỉ căn cứ vào giá trị tài sản mà người đang quản lý để xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt, là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định được các tình tiết nào là định khung tăng nặng và theo khoản nào của điều luật đã được quy định trong BLHS

Trang 24

e Hình phạt bổ sung ( Khoản 5, Điều 175 BLHS 2015)

Ngoài các hình phạt chính nêu trên, người phạm tội còn có thể bị áp dụng một trong các hình phạt bổ sung như: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Dần chiểu theo Điều 41 BLHS 2015 quy định: “Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đám nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án ưeo

Mặc dù điều luật không chỉ rõ những chức vụ cụ thể bị cấm, nhưng theo Điều 352 BLHS năm 2015, người có chức vụ được hiểu là "người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ" Do phạm vi áp dụng hình phạt bổ sung này tương đối rộng nên trước khi áp dụng, tòa án phải căn cứ vào các tình tiết cụ thể của vụ án, cân nhắc một cách toàn diện các tình tiết khách quan và chủ quan và phải xác định rõ trong bản án là chức vụ nào người kết án bị cấm Tòa án quyết định cấm người bị kết án đảm nhiệm chức vụ nhất định là nhằm loại bỏ khả năng những người này đang chấp hành hoặc sau khi chấp hành xong hình phạt chính lại tiếp tục lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ khi thi hành công vụ gây thiệt hại cho các quan

hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ

Nghề nghiệp và công việc là hai khái niệm khác nhau nhưng lại có liên quan đến nhau Nghề nghiệp là công việc hàng ngày làm để mưu sống như nghề thợ mộc, thợ tiện, lái xe, bác sĩ, giáo viên, V.V Khi nói đến nghề, tức là công việc của một người gắn liền với cuộc sống của họ, công việc đó phải được đào tạo hoặc có kinh nghiệm lâu dài, cha truyền con nối Còn khi nói đến công việc nhất định là việc làm không ổn định, có tính chất thời vụ như: ngoài việc sản xuất nông nghiệp, vào thời gian công việc đồng áng nhàn rỗi, người nông dân ra thành phố, thị xã làm thuê một số việc khuân vác, sửa chữa nhà cửa, phụ giúp' bán hàng, giúp việc trong gia đình, trông giữ trẻ Việc phân biệt rạch ròi thế nào là nghề và thế nào là công việc nhất định, là việc phức tạp Khi áp dụng hình phạt này đối với người bị kết án, Tòa án cũng phải tuyên rõ trong bản án là cấm hành nghề gì hoặc cấm làm công việc gì, không nên tuyên "cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc có thể gây nguy hại cho xã hội, tuyên như vậy là trái với nguyên tắc cá thể hóa hình phạt và mặc nhiên Tòa án đã tước bỏ quyền lao động kiếm sống của người bị kết án sau khi họ chấp hành xong hình phạt tù Tuy nhiên, khi Tòa án cấm người bị kết án hành nghề gì hoặc cấm làm công việc gì phải căn cứ vào hành vi phạm tội của người bị kết án, nếu hành vi phạm tội có liên quan đến nghề nghiệp của họ thì mới cấm họ hành nghề đó

Ngày đăng: 25/11/2024, 14:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG ĐÁNH GIÁ   QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN - Tội lạm dụng tín nhiệm và chiếm Đoạt tài sản dưới góc Độ pháp lý và thực tiễn tại viện kiểm sát nhân dân tỉnh kon tum'
BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN (Trang 47)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm