1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)

150 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Các Công Ty Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Trong Điều Kiện Khi Việt Nam Gia Nhập WTO (Trường Hợp Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Petrolimex - PJICO)
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 36,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty Cổ phần Bảo hiểm PetrolimexPJICO là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ lớn thứ 4 trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, được thành lập ngày 15/06/1995, là một trong những công ty bảo

Trang 1

ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NỘI

ĐẠI HỌC KINH TE

Nguyễn Thị Ngọc Bích

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bao hiễm phi nhân thọ trong

điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO(trường hợp Công ty Cỗ phan Bao hiém Petrolimex - PJICO)

LUAN VAN THAC Si

Mã số: 6031 07

HÀ NOI - 2008

Trang 2

Mé đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tô chức Thương mại Thế

giới (WTO) vào ngày 7/11/2006 Gia nhập WTO, Việt Nam đã tham gia vào

thị trường quốc tế với sự điều tiết của các luật chơi rất rõ rang, khắt khe, sựcạnh tranh sòng phẳng đem lại cả những thách thức và cơ hội lớn cho tất cả

các ngành kinh tế nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng và cụ thể là Công ty

Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex(PJICO)

Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex(PJICO) là doanh nghiệp bảo hiểm

phi nhân thọ lớn thứ 4 trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, được thành lập

ngày 15/06/1995, là một trong những công ty bảo hiểm đầu tiên sau Nghị định

số 100/CP ngày 18/12/1993 nhằm day mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm

và tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm để

thúc day sự nghiệp phát triển kinh tế — xã hội

Cơ hội mà quá trình hội nhập đem lại là đây mạnh cải cách, phát huy lợi

thế cạnh tranh dé tăng trưởng và phát triển có chất lượng cao và tốc độ nhanh.Quá trình hội nhập sẽ làm giảm chi phí dịch vu, chất lượng dịch vụ được nâng

cao, năng lực thị trường được mở rộng, công nghệ quản lý mới được chuyển

giao, trình độ cán bộ được nâng cao, mở rộng thị trường bảo hiểm đối với cáccông ty bảo hiểm trong nước và người dân được thụ hưởng những sản phẩmbảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế

Bên cạnh những cơ hội đó, những thách thức đối với lĩnh vực bảo hiểm

là không nhỏ Khi Việt Nam thực hiện những cam kết cũng dẫn đến các khảnăng gây bất ồn định nói chung của thị trường tài chính, mất vai trò chủ đạo

của thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống quản lý chưa theo kịp được với

mức độ mở của thị trường Đặc biệt, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nướcgặp phải không ít những khó khăn khi phải cạnh tranh với những đối thủ mạnhhơn ngay trên thị trường trong nước, trong khi các doanh nghiệp bảo hiểm này

Trang 3

có trình độ quản lý chưa cao, trình độ cán bộ công nhân chưa đồng đều, chế độđãi ngộ tuyên dụng nhân viên chưa thỏa đáng (có nguy cơ lớn là bị chảy máuchất xám), các sản phẩm bảo hiểm chưa đạt chuẩn quốc tế, dịch vụ sau bánhàng còn chưa thật sự tốt Các công ty bảo hiểm trong nước chưa biết kết hợpvới nhau, đã thực hiện cạnh tranh bằng cách hạ phí không dựa trên việc tính

toán tồn thất gây nguy cơ bat ôn định của thị trường bảo hiểm.

Trong bối cảnh chung của toàn nền kinh tế, Công ty Cổ phần Bảo hiểmPetrolimex (PJICO) hoạt động trong một lĩnh vực mà sẽ trực tiếp chịu tác

động của việc gia nhập WTO, cụ thể là khi gia nhập WTO Việt Nam phải cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm như trong 04 lĩnh vực sau: Cam kết cung cấp

dịch vụ qua biên giới; Các cam kết về hiện điện thương mại; Cam kết liênquan đến kinh doanh các dich vụ bảo hiểm bắt buộc; Cam kết xoá bỏ tỷ lệ táibảo hiểm bắt buộc sau 1 năm Chính vi vậy việc gia nhập ngành của các công

ty bảo hiểm nước ngoài là tất yếu, các công ty bảo hiểm nước ngoài sẽ được

cạnh tranh bình đẳng tại thị trường bảo hiểm Việt Nam Ngoài ra, PJICO còn

là một doanh nghiệp có tuổi đời “trẻ” đồng thời còn hoạt động trong lĩnh vựcmới tại Việt nam, những áp lực của việc mở của thị trường dịch vụ tài chính

không chỉ tạo nên những cơ hội và thách thức về mặt cung cấp dịch vụ mà

nguồn cầu cũng thay đổi Khách hàng của PJICO không chi là các doanh

nghiệp trong nước mà cả các công ty và tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, điều này buộc Công ty phải cung cấp dịch vụ có chất lượng quốc

tế Vấn đề năng lực cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh đặt ra một cách bức xúctại thời điểm hiện nay Công ty cần xác định được tầm nhìn dài hạn trong quá

trình hội nhập, từ đó có những bước đi thích hợp Đó chính là lý do thúc đây tôi, với tư cách là cán bộ của Công ty, lựa chọn vân đề này cho luận văn thạc

sĩ Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhânthọ Việt Nam, lấy trường hợp PJICO làm điển hình, là một đề tài xuất phát từđòi hỏi của công tác và phù hợp với chuyên ngành đào tạo của bản thân tôi.

2.Tình hình nghiên cứu

Trang 4

Ngoài các bản Báo cáo tình hình kinh doanh và phương hướng nhiệm vụtrong các năm tiếp theo của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex(PJICO)đưa ra các phương hướng phát triển kinh doanh của công ty, còn có 01 luậnvăn thạc sỹ của ông Bùi Hoài Giang bảo vệ năm 2006 tại trường Đại HọcBách Khoa Hà Nội với đề tài “ Công tác xây dựng và phát triển thương hiệu

tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex” Tính đến thời điểm hiện nay, chưa

có một dé tài nghiên cứu khoa học nào về nâng cao năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, cụ thể là trường hợp Công

ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO).

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở những lý luận về lợi thế cạnh tranh, lý thuyết nghiệp vụ về bảo

hiểm phi nhân thọ, luận văn đi sâu nghiên cứu tình hình kinh doanh, đánh giá lợi thế cạnh tranh các công ty bảo hiểm phi nhân thọ thông qua trường hợp

Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex(PJICO) trong quá trình hội nhập đặcbiệt là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), từ đóđưa ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các công ty bảo

hiểm phi nhân thọ nói chung và Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex

(PJICO) nói riêng Cụ thé như sau:

- Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ của

Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO

- Nghiên cứu năng lực cạnh tranh cụ thể của Công ty Cổ phần Bảo hiểm

Petrolimex(PJICO).

- Tìm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Bảo hiểm

Petrolimex.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn hướng vào nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

bảo hiểm phi nhân thọ khi Việt Nam gia nhập WTO, cụ thể là Công ty Cổ

Trang 5

phần Bảo hiểm Petrolimex Tìm ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranhcủa Công ty Cé phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO).

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Luận văn nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh trong phạm vi các công ty bảo hiêm phi nhân thọ và tập trung vào trường hợp PJICO giai đoạn

1995-2007.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm : Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và

tổng hợp dữ liệu khảo sát thực tế ở các công ty bảo hiểm phi nhân thọ ViệtNam và Công ty Cổ phan Bảo hiểm Petrolimex (PJICO)

6 Dự kiến những đóng góp mới của luận văn

Luận văn dự kiến có những đóng góp mới như sau:

1 Nhận diện cơ hội, thách thức của ngành bảo hiểm phi nhân thọ trước

việc Việt Nam gia nhập WTO

2 Đánh giá năng lực cạnh tranh bảo hiểm phi nhân thọ Việt nam (minh

họa bằng trường hợp PJICO) trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO.

3 Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các công ty bảohiểm phi nhân thọ nói chung và Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex

(PJICO).

7 Bố cục của luận văn

Trang 6

Chương 1: Một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

1.1 Những vấn đề chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo

hiểm phi nhân thọ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

1.1.1 Khái niệm

Trong Đại từ điên Tiếng Việt, Bảo hiểm được định nghĩa là “ Bảo hiểm

là giữ, phòng để khỏi xảy ra tai nạn nguy hiểm” và “ Bảo hiểm là sự trợ giúp

hay đền bù vật chất khi ốm dau tai nạn, trong trường hợp đương sự tham giahoạt động bảo hiểm” và “ Bảo hiểm tài sản là loại bảo hiểm mà đối tượng là

tài sản vật chất như nhà cửa, thiết bị máy móc, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu, hàng hoá cây trồng ” [22]

Trong trình phát triển của bảo hiểm thương mại, ban đầu bảo hiểm chỉmang tính chất sơ khai, tự phát với phạm vi nhỏ hẹp Tuy nhiên do yêu cầu

thực tiến, dần dần các khái niệm về bảo hiểm cũng đã được hình thành và

phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Có rất nhiều khái niện về bảohiểm, nó tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực như bảo hiểm bao gồm, luật, kinh tế học,lịch sử, khoa học thực tế, lý thuyết về rủi ro và khoa học xã hội Khái niệm

bảo hiểm bao gồm cả bảo hiểm thương mại và bảo hiểm xã hội, bởi hai hình

thức bảo hiểm này được phân biệt bới tính chất thương mại ( hay còn gọi làkinh doanh rủi ro) và tính chất xã hội (tính cân bằng trong chỉ tiêu của nguồn

quỹ bảo hiểm, họ không kinh doanh trên mục đích là tìm kiếm lợi nhuận) Trong phạm vi đề tài của Luận văn, tác giả chỉ mong muốn đưa ra một số khái

niệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới và tập trung chủ yếu vào bảo hiểmthương mại.

Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa

Trang 7

những rủi ro gây ra chúng cho những người bảo hiểm khi họ cam kết bồithường những tổn thất này, cung cấp các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thấtxảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro”.

Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì “ Bảo hiểm là sự thoả thuận

qua đó một bên (người bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự có xảy ra gây tổn

thất tài chính cho người được bảo hiểm Đề chấp nhận trách nhiệm thanh toánnày, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo

hiểm”

Theo Iring Preffer “ Bảo hiểm là một sách lược để giảm tính không

chắc chắn của một bên gọi là người được bảo hiểm, thông qua sự chuyển giaonhững rủi ro cá biệt tới một bên khác - gọi là người nhận bảo hiểm ít nhất làmột phần nào đó những thiệt hại kinh tế mà người được bảo hiểm bị tổn

thất”.[10, tr 7]

Hoặc theo Dennis Kessler “ Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào

sự bat hạnh của số it”.[10, tr.7]

Bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tồn that của một người hay một số ít

người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổ chức ra một quỹtài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm dướidạng phí bảo hiểm, dé bồi thường hoặc bù đắp những tồn thất do những rủi ro

Trang 8

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trêncác cấp độ quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm Và hiện nay chưa có một lýthuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lýthuyết “chuẩn” về năng lực cnah tranh Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết vớihai phương thức đánh giá được sử dụng nhiều nhất ở các quốc gia : Phương

pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo

cạnh tranh toàn cầu; Phương pháp thứ hai do Viện quốc tế về quản lý và pháttriển dé xuất trong niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp này trên

do các giáo sư đại học Harvard như Micheal Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia tiếp hành nghiên cứu Trong đó xác định rõ yéu tố cầu thành năng

lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng bù đấp chỉ phí, duy trì lợi nhuận

và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường Năng lựccạnh tranh của một doanh nghiệp có thé được xác định trên 4 nhóm yếu tố cấuthành sau:

- Chất lượng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá các dauvào

- Các ngành sản xuất và dich vụ trợ giúp cho doanh nghiệp

- Yêu cầu của khách hàng về chất lượng hàng hoá, dịch vụ

- Vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh [30]

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế

của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất cácđòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh

nghiệp Đây chính là yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị

doanh nghiệp một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối táccạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Trên

cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi các doanhnghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh, đòi hỏidoanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình

Trang 9

Cạnh tranh được coi là nền tảng của chủ nghĩa tư bản vì cạnh tranh có

khả năng kích thích sự đổi mới, nâng cao hiệu năng cũng như làm giá cả cạnh

tranh còn được xem như hình mẫu đề chủ nghĩa tư bản điều chỉnh lại chínhmình Theo lý thuyết vĩ mô, không có một hệ thống phân phối nguồn lực nàohiệu quả hơn cạnh tranh lành mạnh Chính cạnh tranh khiến những doanh

nghiệp thương mại phải phát triển sản phẩm, dịch vụ và công nghệ mới Và

điều này mang lại cho khách hàng những sản phẩm tốt hơn Tuy nhiên, trongmột số trường hợp cạnh tranh có thẻ dẫn đến sự lãng phí những nguồn lực và

những chỉ phí có thé bị đội lên Tương tự, những ảnh hưởng về mặt tâm lý của cạnh tranh có thé dẫn đến những tác hại không lường trước được.

Cạnh tranh kinh tế được phân ra làm 3 loại, cạnh tranh hẹp nhất đó làcạnh tranh trực tiếp (còn được gọi là cạnh tranh hạng mục hay cạnh tranhthương hiệu) — ở loại hình cạnh tranh này, các sản phẩm có chức năng giống

nhau sẽ thay thế cạnh tranh với nhau Hình thức tiếp theo là cạnh tranh thay

thế, các sản phẩm có thể thay thế nhau cạnh tranh với nhau Hình thức cạnhtranh phổ biến nhất là cạnh tranh về giá, ở hình thức này, điều quan trọng là

bạn phải làm thé nào dé người tiêu dùng muốn dùng số tiền nhàn rỗi của mình

dé mua sản phẩm của bạn Cạnh tranh không nhát thiết là phải giữa các công

ty với nhau mà có thể trong chính công ty, giữa các bộ phận hay giữa các nhânviên trong công ty.

Một điều cần chú ý đó là cạnh tranh kinh doanh ở hầu hết các quốc gia

luôn tổn tại những giới hạn và hạn chế Cạnh tranh thường phụ thuộc vào cácràng buộc pháp lý Các ràng buộc pháp lý thường tạo ra sự công bằng và bình

đẳng trong cạnh tranh Những quy định này bao gồm việc chống độc quyền và lừa đảo giá Dựa trên chính sách kinh tế tương ứng, sự cạnh tranh lành mạnh

là nhằm tới một phạm vi cạnh tranh lớn hơn hoặc nhỏ hơn nhưng phải đượcđiều tiết bởi chính sách cạnh tranh và luật cạnh tranh

Người ta có thể sử dụng mô hình Diamond của Micheal Porter để phân

tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ dựa trên 04nhân tố sau:

Trang 10

-_ Chiến lược, cơ cấu, cạnh tranh của các doanh nghiệp: các điều kiệncủa quốc gia ảnh hưởng tới việc các công ty được thành lập, tổ chức

và quản lý như thế nào cũng như mức độ cạnh tranh giữa các nhàcung cấp

- _ Điều kiện cầu về bảo hiểm: tiềm năng phát triển của ngành bảo hiểm

từ góc độ người tiêu dùng, mà trong đó hiểu biết về bảo hiểm.

- Nhân tế điều kiện: các nhân tố sản xuất như lao động lành nghề, cơ

sở hạ tầng là hết sức cần thiết để tạo sự cạnh tranh của một ngành

- Các ngành liên quan và phụ trợ: để hỗ trợ sự phát triển của ngành bảo hiểm như thị trường chứng khoán, ngành công nghệ thông tin,

hệ thông ngân hàng

Từ các khác niệm được xác định ở trên, và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của WEF và mô hình phân tích Diamond của Micheal Porter,

tác giả luận văn đưa ra các công cụ là các tiêu chí đánh giá về năng lực cạnh

tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam đề nghiêncứu đề tài của mình

1.1.2 Các công cụ

Trong môi trường kinh doanh của mình, các doanh nghiệp dù muốn hay

không, đề tổn tại và phát triển được đều phải cạnh tranh với các doanh nghiệp

khác không chỉ là các doanh nghiệp trong ngành còn cả các doanh nghiệpngoài ngành Sau khi xác định được chiến lược cạnh tranh của mình, cácdoanh nghiệp cần phải xác định được công cụ mà mình sẽ dùng để cạnh tranh

Trong ngành bảo hiểm nói riêng và các ngành kinh tế nói chung, các công cụ

sau đây thường được các doanh nghiệp sử dụng như là các công cụ dé cạnhtranh:

Chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là giá trị mong đợi mà

người tiêu dùng mong muốn có được khi bỏ tiền ra mua một sản phẩm dich

vụ (cho đủ nó là sam phẩm hữu hình hay vô hình như sản phẩm dich vụ), chấtlượng dịch vụ tốt đáp ứng được sự kỳ vọng của khách hàng sẽ kích thích

Trang 11

lượng mua sản phẩm đó nhiều hơn so với các sản phẩm của các doanh nghiệpkhác, đây là công cụ có thể gọi là truyền thống nhưng rất có hiệu quả trongcạnh tranh.

Loại hình sản phẩm: Nhu cầu của con người là vô tận và luôn luôn biếnđổi không ngừng, chính vì vậy nếu một doanh nghiệp có thể cung cấp các sản

phẩm đa dạng, nhiều chủng loại và đồng bộ thì doanh nghiệp đó sẽ chiếm

được lòng tin và sự tín nhiệm của khách hàng, đây cũng là một công cụ ratquan trong trong canh tranh.

Giá cả: Người tiêu dùng khi có nhu cầu về một sản phẩm dịch vụ nào

đó thì điều đầu tiên họ quan tâm chính là khả năng tài chính của họ có đủ đáp

ứng nhu cầu đó không, và liệu rằng số tiền họ bỏ ra có thoả mãn nhu cầu của

họ không Tuy nhiên tâm lý của khách hàng luôn nghĩ “của rẻ là của ôi”, hay

“tiền nào của ấy” thì giá rẻ chưa hắn là một công cụ cạnh tranh lợi thế Giá cả

cũng là một công cụ mang tính truyền thống, tuy nhiên để sử dụng được tốt công cụ này không phải là chuyện dễ, vì không phải cứ giả rẻ là sẽ có lợi, vì

vậy phải có một sự tìm hiểu nhu cầu và sở thích tiêu dùng, tập quán tiêu dùng

kỹ càng của từng thị trường dé đưa ra một chiến lược giá hợp lý thì mới có khả năng chiến thắng trong môi trường cạnh tranh ngày càng cao hiện nay.

Hậu mãi: Giá trị của một sản phẩm không chỉ dừng ở lúc mua một sản

phẩm, dịch vụ Nó thực sự thể hiện giá trị, chất lượng, và công dụng khi người

mua tiêu dùng sản phẩm đó Quá trình sử dụng sản phẩm nếu người cung cấpquan tâm đến nhu cầu của khách hàng, có những dịch vụ đi kèm nhằm nângcao giá trị sử dụng của sản phẩm thì người tiêu dùng sẽ rất thoả mãn khi mua

sản phẩm dịch vụ đó.Khi đó sản phẩm dịch vụ mới có sức cạnh tranh hơn han các sản phẩm dịch vụ cùng loại trên thị trường.

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh

Chất lượng sản phẩm dịch vụ là yêu tố quan trọng nhất để đánh giánăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đơn giản vì một doanh nghiệp muốntồn tại được phải có đầu ra, tức là phải bán được sản phẩm để có doanh thu

Trang 12

Muốn đạt được điều đó, doanh nghiệp phải đưa ra những sản phẩm đáp ứngđược các nhu cầu của người tiêu dùng, càng đáp ứng được càng nhiều yêu cầu

và sản phẩm càng có nhiều giá trị mong đợi của khách hàng thì chính là sảnphẩm có chất lượng cao, thêm vào đó nếu có mức giá cạnh tranh thì doanhnghiệp sẽ thu được nhiều lợi nhuận đồng thời duy trì được thị phan, gia tăng

năng lực cạnh tranh và có điều kiện dé thực hiện tái sản xuất mở rộng Đối với

doanh nghiệp bảo hiểm, thì qui trình sản xuất là qui trình ngược, vì vậy ngườitiêu dùng không thể biết được chất lượng dịch vụ khi mua sản phẩm mà họ chỉ

dựa trên niềm tin về danh tiếng, uy tin của doanh nghiệp dé tiêu dùng sản phẩm Bên cạnh đó, họ chỉ được nhìn thấy các biểu trưng của dịch vụ, tức là

các hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm Chất lượng sản phẩm được thể

hiện khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, tức là dịch vụ sau bán hàng Chất lượng

của quá trình bồi thường bảo hiểm chính là chất lượng sản phẩm bảo hiểm,

mức độ hài lòng của khách hàng đối với doanh nghiệp /a tiéu chí cạnh tranh

quan trọng nhất đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Giá cả cạnh tranh cũng được coi là một yếu tố cơ bản đề phản ánh nang

lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường Tâm lý người tiêu dùng luôn muốn bỏ ra ít tiền nhưng lại muốn có một sản phẩm, dich vụ có chất

lượng tốt Tuy nhiên, nếu sản phẩm có giá cả thấp hơn mức bình thường, thì sẽgây cho khách hàng tâm lý thiếu an tâm về sản phẩm dịch vụ này, một chấtlượng không được đảm bảo với mức giá thành thấp như vậy Vì vậy, mộtdoanh nghiệp nên đưa ra một mức giá cạnh tranh, không cao quá nhưng cũngđừng thấp qúa mà phải vừa tạo được đẳng cấp của sản phẩm, nhưng cũng

không vượt quá khả năng chỉ tiêu của khách hàng Đối với sản phẩm bảo hiểm, khi đưa ra mức phí quá cao, người tiêu dùng sẽ không chấp nhận lựa

chọn sản phẩm địch vụ này cho du uy tín của doanh nghiệp đã có trên thịtrường vì chất lượng của sản phẩm được minh chứng về sau, cũng có trườnghợp không được minh chứng vì sự kiện bảo hiêm chưa xảy ra Tuy nhiên, đêmức phí quá thấp, nếu người tiêu dùng là những người hiểu biết về sản phẩmbảo hiểm, họ sẽ đặt ra nghi ngờ về mức độ an toàn tài chính của công ty, liệu

Trang 13

mức phí đó có đủ cho các chỉ phí khai thác, chỉ phí quản lý và để đóng gópvào quỹ dự phòng bồi thường hay không Vì vậy, bài toán đặt ra đối với cácdoanh nghiệp bảo hiểm hiện nay là đưa ra mức phí cạnh tranh chứ không cạnhtranh nhau bằng mức phí, đây là một hiện tượng rất nguy hiểm cho mức độ antoàn tài chính ngành bảo hiểm , đây là vẫn còn là vấn đề tồn tại hiện nay ởViệt Nam.

Kênh phân phối sản phẩm thé hiện khả năng cung ứng hàng hoá, dich

vụ là cách mà người cung ứng đưa hàng hoá, dịch vụ đến người sử dụng hiệu

quả nhất Kênh phân phối hiệu quả sẽ đem lại khả năng cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp Có nhiều kênh bán sản phẩm bảo hiểm như qua đại lý, trên

internet, thông qua hệ thống ngân hàng để hình thành sản phẩmbancassurance Nếu doanh nghiệp bảo hiểm có một kênh phân phối hiệu quảthì sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường hội nhập hiện nay.

Thi phan của doanh nghiệp trên thị trường là một tiêu chí tổng hợpđánh giá khả năng cạnh tranh mạnh hay yếu của doanh nghiệp Nếu doanh

nghiệp có sản phẩm dịch vụ tốt, có chất lượng, giá cả cạnh tranh, kênh tiêu thụ

đa dang, hiện đại và tiết kiệm chi phí thì chắc chắn sản phẩm, dich vụ đó sẽ

chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường Tiêu chí này luôn bị tác động bởinhiều yếu tố, ngoài khả năng cạnh tranh của chính doanh nghiệp mình còn phụthuộc vào mức độ bứt phá của các đói thủ cạnh tranh về mức độ chiếm lĩnh thịphần, vòng đời sản phẩm, dịch vụ Do đó, nếu không có phương án quản lý tốtthì doanh nghiệp sẽ bị mất lợi thế cạnh tranh Để nâng cao năng lực cạnh

tranh, doanh nghiệp luôn phải nghiên cứu thị trường, thực hiện các biện pháp

quản trị doanh nghiệp hiệu quả, quản trị tốt các nguồn lực, duy trì lợi thế cạnh

tranh trong điều kiện môi trường thay đồi

1.2 Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam trong điều kiện

gia nhập WTO

Trang 14

1.2.1 Những đặc trưng chung của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân

thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ là một phân ngành của bảo hiểm thương mại,chính vì vậy trước tiên ta nên phân biệt giữa bảo hiểm xã hội và bảo hiểmthương mại là gì? Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo hay thay thế hoặc bù dap

một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do

ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp,tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một qui tài chính do sự đóng góp của các bên

tham gia bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp

phần bảo đảm an toàn xã hội

Điểm giống nhau giữa bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại là đốitượng được bảo hiểm đều phải đóng phí bảo hiểm cho cơ quan bảo hiểm Cả

hai loại bảo hiểm này đều lấy số đông bù sé ít, chia sẻ rủi ro cho những người

không may gặp rủi ro Mục đích của cả hai loại hình bảo hiểm này là góp phầnđảm bảo ồn định đời sống cho người tham gia và an toàn xã hội

Điểm khác nhau giữa hai loại hình bảo hiểm này chủ yếu nhất là ở tính

chất và phương thức hoạt động Bảo hiểm thương mại có tính chất kinh doanh

và phương thức hoạt động của nó thé hiện rat rõ, lãi suất được tính trên cơ cầuchỉ phí toàn phần của mỗi nghiệp vụ cụ thể, được lượng hoá qua phí bảo hiểm.Quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm chỉ phát sinh và tồn tạitrong một khoảng thời gian xác định (gọi là thời gian hiệu lực của đơn bảohiểm) thông thường là thời gian ngắn, thường là một năm hoặc vài năm là dài(chủ yếu được áp dụng với các dự án) Bảo hiểm thương mại có tầm quốc tế,

các công ty bảo hiểm có thé tham gia hoạt động thị trường tái quốc tế để giảm

thiểu tối đa rủi ro lớn và duy trì hiệu quả hoạt động kinh doanh Đối với bảohiểm phi nhân thọ, khi hết hạn bảo hiểm nếu không có tổn thất xảy ra, sau khitrừ đi các chỉ phí kinh doanh thì phần còn lại được xem là lợi nhuận của công

ty bảo hiểm Tuy nhiên bảo hiểm nhân thọ khi đáo hạn hợp đồng (khi kết thúchợp đồng) thì số tiền bảo hiểm sẽ được thanh toán cho người tham gia bảo

Trang 15

hiểm Trong khi đó, bảo hiểm xã hội không được tính lãi trong cơ cấu chỉ phítoàn phần và chỉ được phép sử dụng phần tiền nhàn rỗi tương đối của quỹ đểđầu tư nhằm tăng thêm khả năng tài chính của quỹ trong việc chỉ trả các chế

độ bảo hiểm xã hội Quan hệ bảo hiểm xã hội là quan hệ lâu dài theo nguyêntắc đóng trước hưởng sau, tương đối ồn định và chủ yếu là bắt buộc dựa trên

quan hệ lao động và quan hệ phân phối Quỹ tài chính của bảo hiểm xã hội

được tồn tích và sử dụng liên tục qua các thế hệ đưới sự bảo trợ chặt chẽ củaNhà nước.

Đối tượng của bảo hiểm thương mại là con người, trách nhiệm dân sự

và tài sản, còn đối tượng của bảo hiểm xã hội chính là bảo hiểm cho các sự

kiện liên quan đến sức khoẻ, tuổi già, sự mất thu nhập, giảm thu nhập do bịđau ốm, thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệpcủa người lao động.

Bảo hiểm xã hội thì dựa trên nguyên tắc cân bằng thu chỉ, đóng trước

hưởng quyền lợi bảo hiểm sau, không mang tính chất kinh doanh mà nhà nước

đứng ra thực hiện và hỗ trợ Còn đặc điểm của bảo hiểm thương mại là kinh doanh kiếm lời, tìm kiếm lợi nhuận bằng cách kinh doanh rủi ro.

Đặc trưng của bảo hiểm phi nhân thọ như sau:

- Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ với tư cách là người bảohiểm tìm kiếm lợi ích kinh tế trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm mà theo đó, bênmua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí

bảo hiểm để được người bảo hiểm cam kết thực hiện bồi thường hoặc trả tiền

bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

- Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đứng ra huy động nguôn vốn

nhằm đâu tư sinh lợi, trên nguyên tắc số đông bù số ít dé chỉ trả cho những sự

kiện bảo hiểm xảy ra, hoạt động nhằm mục đích kiếm lời để tồn tại và pháttriển

- Trên phương diện xử lý rủi ro, bảo hiểm là loại biện pháp rất có hiệu

quả, hoạt động theo cơ chế chuyển giao, phân tán rủi ro Việc chuyển giao đó

Trang 16

bảo hiểm Cơ chế đó tạo thuận lợi cho việc gánh chịu rủi ro, đặc biệt là nhữngrủi ro lớn và mang tính thảm họa vượt quá khả năng chống đỡ của mỗi cánhân, gia đình, tổ chức Hơn nữa, tổ chức kinh doanh bảo hiểm — người trựctiếp quản lý quỹ, có trách nhiệm bảo toàn, tăng trưởng quỹ và sử dụng chúng

có lợi nhất đối với cả hai mặt của vấn đề xử lý rủi ro là đề phòng hạn chế và

khắc phục hậu quả.

- Rủi ro được bảo hiểm phải có các đặc trưng sau:

+ Phải là rủi ro trong tương lai, tức là nó chưa xảy ra;

+ Rui ro có tính chat bap bênh, rủi ro không phụ thuộc vào ý muốn chủ

quan của người được bảo hiểm, các rủi ro có thể tập hợp được thành nhómtương hỗ (ví dụ trong bảo hiểm nông nghiệp, có rất nhiều loại rủi ro như thiêntai, sâu bệnh người nông dân, hay các hội cây trồng, chăn nuôi có thể kếthợp thành lập một nhóm hỗ trợ nhau, các thành viên góp vốn và một vài người

được cử ra để quản lý vốn đó, khi có rủi ro xảy ra đối với các thành viên thì số

quỹ đó được mang đi trợ giúp, hoặc có thể họ sẽ đóng thêm trong trường hợpcần thiết; các rủi ro không thuộc phạm vi cắm của pháp luật (Người ta không

thể bảo hiểm cho những hàng động vi phạm pháp luật của người khác, như

bảo hiểm cho người đánh nhau, buôn bán ma tuý, buôn lậu, hay đốt cháy nhàcủa người khác rồi yêu cầu bảo hiểm);

+ Các rủi ro được nhà bảo hiểm muốn bảo đảm (các rủi ro có thé sẽ xảy

ra, nhưng các nhà bảo hiểm phải kiểm soát được các loại rủi ro đó, tính toánkhả năng xảy ra của tồn thất và phí hợp lý dé có thể chấp nhận bảo hiểm chocác rủi ro đó) Kinh doanh bảo hiểm thường gắn liền với hoạt động kinh doanh

tái bảo hiểm Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo

hiểm khác dé cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm Nhưvậy, hai loại hình kinh doanh này đều tồn tại ngay trong một doanh nghiệp bảo

hiểm.

- Hoạt động kinh doanh bảo hiển có những quy tắc riêng không giốngnhự những ngành sản xuất kinh doanh khác Vốn pháp định áp dụng cho

Trang 17

doanh nghiệp bảo hiểm khá lớn vì vậy không phải cá nhân hay tổ chức nàocũng có khả năng tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm; Vấn đề an toàn tàichính cho hàng triệu người luôn luôn phải được đặt lên hàng đầu, cho nên việckiểm soát của Nhà nước được tiến hành vì lợi ích của những người được bảohiểm, những người ký kết hợp đồng góp phần ồn định và phát triển thị trường

bảo hiểm; Tính đại chúng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm thể hiện rất rõ

ở nhiều nghiệp vụ (điển hình như các sản bảo hiểm xe cơ giới, mọi nguời mọinhà đều tham gia giao thông, vì vậy sản phẩm này gắn liền với đời sống sinh

hoạt của mọi người dân, hay như bảo hiểm học sinh sinh viên là các sản phẩm

có số lượng người tham gia nhiều, ảnh hưởng đến đại bộ phận các hộ giađình); sản phẩm bảo hiểm là những sản phẩm vô hình, dễ bắt chước, chấtlượng và mẫu mã sản phẩm chưa thể biết được khi lựa chọn Việc xác định giá

cả sản phẩm thường phải tiến hành theo chu trình ngược, vì khoản chỉ lớn nhất

cho một sản phẩm bảo hiểm thường là chỉ bồi thường, những khoản chỉ này lại

chưa thể xác định chính xác khi định phí bảo hiểm

- Giá bảo hiểm hay thực chất chính là phí bảo hiểm phụ thuộc vào rất

nhiều yếu tố Phí được thoả thuận giữa người mua và người bán cũng có thể

xem đó là giá chấp nhận của thị trường về dịch vụ bảo hiểm Phí bảo hiểm baogồm phí thuần và phụ phi, phi bảo hiểm được tính toán trên cơ sở số tiền bảo

hiểm Phí bảo hiểm luôn thay đổi theo thời gian Bởi vì, mỗi thời gian có xác

suất rủi ro khác nhau, mức độ thiệt hại khác nhau, các điều kiện bảo hiểmcũng thay đổi theo nhận thức của con người, cũng ảnh hưởng đến chỉ phí quản

lý, đến chính sách đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm Ngoài những yếu tố

trên, phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào quy luật cung — cầu thị trường và quy

luật cạnh tranh.

- Thị trường bảo hiểm không còn độc quyền khi đề cập đến khái niệmthị phần (Thị phần bảo hiểm là tỷ lệ phần trăm (%) của mỗi doanh nghiệp bảohiểm chiếm trong thị trường bảo hiểm Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế củadoanh nghiệp càng cao, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp càng phát triển)

Ở đây, các doanh nghiệp bảo hiểm có cơ hội như nhau, song doanh nghiệp nào

Trang 18

giành được thị phần nhiều hơn là do doanh nghiệp đó làm tốt công tác quảngcáo, tiếp thị, do chất lượng dịch vụ tốt, phí bảo hiểm có thé thấp hơn Thị phầncủa doanh nghiệp bảo hiểm luôn thay đổi do số lượng doanh nghiệp tham giavào thị trường thay đổi, do chiến lược Marketing, chiến lược sản phẩm, chiếnlược giá cả của các doanh nghiệp thay đổi không những giữ vững được thị

phần của mình mà còn giành được thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm

khác Ngoài ra, các doanh nghiệp bảo hiểm phải có chiến lược kinh doanh hợp

lý đề thu hút bộ phận khách hàng không tiêu dùng tương đối Đây là bộ phận

dân cư có nhu cầu bảo hiểm, nhưng chưa có thông tin chính xác về dịch vụ bảo hiểm trên thị trường Doanh nghiệp nào có chiến lược tuyên truyền, quảng

cáo, phục vụ tốt sẽ thu hút thêm khách hàng ở bộ phận góp phan tăng thị phầncủa doanh nghiệp Mặt khác các doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải tung ra thịtrường những sản phâm mới đê thu hút dân cư trong bộ phận không tiêu dùng

tuyệt đối — bộ phận không có nhu cầu đối với dịch vụ bảo hiểm có trên thị

Trang 19

bất ngờ đó có thể gây ra những thiệt hại về tài sản hoặc gây ra bệnh tật,thương tích, thậm chí làm chết người, những rủi ro bat ngờ đó cũng có thé gây

ra trách nhiệm dân sự trước pháp luật.

- Ngoài những đặc trưng của sản phẩm, bảo hiểm còn có các đặc điểmriêng đó là: Sản phẩm “không mong đợi", sản phẩm của “chu trình kinh doanh

đảo ngược“ và sản phẩm có hiệu quả “xê dịch“ Chính vì vậy có thể xếp sản

phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt vì: Đó là sản phẩm vô hình,mặc dù nhận được yếu tố hữu hình đó là giấy chứng nhận bảo hiểm mà người

mua không thể cảm nhận được sản phẩm bảo hiểm thông qua các giác quan của mình Chính tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm làm cho việc giới thiệu,

chào bán sản phẩm hữu hình có thể được trưng bày vì vậy khi mua sản phẩm,người mua chỉ nhận được những lời hứa, lời cam kết về những đảm bảo vậtchất trước các rủi ro Việc “kiểm nghiệm” chất lượng thực sự của một sản

phẩm bảo hiểm chỉ xảy ra khi có các sự kiện bảo hiểm làm phát sinh trách

nhiệm bồi thường hay chỉ trả của công ty bảo hiểm Sản phẩm bảo hiểm không

thể tách rời tức là việc tạo ra sản phẩm trùng với việc tiêu dùng sản phẩm, các sản phẩm bảo hiểm không thé cất trữ trong kho bán dần Dịch vụ bảo hiểm

được thực hiện bởi con người, vì vậy chất lượng phục vụ phụ thuộc này phụthuộc rất lớn vào quá trình tác nghiệp của cán bộ nhân viên bảo hiểm, các cá

nhân khác nhau có chất lượng phục vụ khác nhau Do vậy, để nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm sự không ổn định về chất lượng, các doanh nghiệp bảo

hiểm cần chú trọng đến công tác tuyển chọn, đào tạo và khuyến khích nhữngngười trực tiếp bán hàng

- Sản phẩm bảo hiểm cũng có một đặc trưng là sản phẩm không đượcbảo hộ bản quyên Mặc du trước khi tung một sản phẩm nào đó ra thị trường,các doanh nghiệp bảo hiểm đều phải đăng ký sản phẩm đề nhận được sự phêchuẩn của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm Tuy nhiên, sựphê chuẩn này chỉ mang tính chất nghiệp vụ kỹ thuật chứ không mang tínhbảo hộ bản quyền Do đó, các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh có thể bánmột cách hợp pháp các sản phẩm bảo hiểm là bản sao của các hợp đồng bảo

Trang 20

hiểm của doanh nghiệp khác Vì vậy, muốn nâng cao tính cạnh tranh của sảnphẩm trên thị trường, các doanh nghiệp phải làm chủ việc định phí bảo hiểm

dé có thé đưa ra sản phẩm tương tự nhưng với giá cạnh tranh hon Quan trọnghơn là các doanh nghiệp bảo hiểm cần phải gia tăng các lợi ích bổ sung củasản phẩm như nâng cao chất lượng các dịch vụ đi kèm, thường xuyên phải

nghiên cứu thị trường dé đa dạng hoá sản phẩm.

1.2.2 Các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

bảo hiểm phi nhân thọ

*Các yếu tố vĩ mô:Trước tiên, một doanh nghiệp được hình thành trên

lãnh thổ một quốc gia nhất định, hoạt động theo luật pháp của quốc gia đó,

đồng thời nó cũng có mối quan hệ tương quan giữa năng lực cạnh tranh quốc

gia và doanh nghiệp Vì vậy, các yếu tố ở mức độ vĩ mô cũng tác động tới năng

lực cạnh tranh của doanh nghiệp như:

- Sự phát triển của hệ thống tài chính — tiên tệ: Hệ thống tài chính - tiền tệcàng hiện đại, trình độ quản lý rủi ro tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tài

chính — tiên tệ của doanh nghiệp và người dân thuận lợi sẽ thúc đây sản xuất,

kinh doanh phát triển Sự đa dang của các loại hình dich vụ tài chính, tiền tệ,

tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế, chất lượng, trình độ phát triển của

hệ thống tài chính tác động rất lớn tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Muốn đưa một sản phẩm bảo hiểm có chất lượng tốt

phải có một hệ thống tài chính hiện đại, thuận lợi cho việc chỉ trả tiền bảohiểm, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đồng thời khi hệ thống tài chính pháttriển, các sản phẩm đi kèm như Bancassuranc cũng được phát triển, hạn chế

các chỉ phí không cần thiết trong các khâu thanh toán sẽ làm hạ giá thành của

sản phẩm bảo hiểm, nhờ có hệ thống tài chính mà các dịch vụ sau bán hàngcũng sẽ thuận lợi hơn.

- Công nghệ: Trong điều kiện phát triển rất nhanh của khoa học và công nghệ, tiêu chí về trình độ khoa học và công nghệ được xem là một trong những tiêu

chí quan trọng nhất dé đánh giá về năng lực cạnh tranh ở tất cả cấp độ từ quốc

Trang 21

gia, doanh nghiệp và các sản phẩm dịch vụ Trình độ khoa học công nghệ củađất nước ở một mức độ cao, buộc các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọphải tự đổi mới và tìm tòi để không lạc hậu so với các ngành khác, điều đó sẽlàm cho chất lượng sản phẩm bảo hiểm tăng lên, do áp dụng khoa học côngnghệ, việc tính phí sẽ trở lên chính xác hơn, giảm thiểu sức người trong công

việc tính toán phức tạp, cũng nhờ vào công nghệ mà sản phẩm bảo hiểm ngày

đang đa dạng hơn.

- Lao động: Tiêu chí về lao động, số lượng lao động và chất lượng lao động

được đào tạo, sức khoẻ, kỷ luật lao động, tần sé đình công trên các ngành của nền kinh tế Ngoài tác động to lớn của yếu tố lao động đối với chính lực

lượng lao động trong ngành bảo hiểm, trình độ lao động được nâng cao ở cácngành thì mức thu nhập chung của người lao động tăng hơn, nhận thức của họ

về bảo hiểm cũng đúng đắn hơn, đây là cơ hội tốt dé phát triển dịch vụ bảo

hiểm của nền kinh tế quốc dân nói chung.

- Quản trị doanh nghiệp: Một yếu tô nữa, chính là khả năng quản trị củadoanh nghiệp về chiến lược sản phẩm, chiến lược chất lượng, nguồn nhân lực,

tài chính, chiến lược khoa học và công nghệ, chiến lược marketing quảng cáo,

tiếp thị các sản phẩm mới Một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quảntrị doanh nghiệp là phân tích đối thủ cạnh tranh, vị thế đàm phán của doanhnghiệp cung ứng sản phẩm là ở đâu trong thị trường bảo hiểm, từ đó đề xuấtmột chiến lược cạnh tranh phù hợp cho doanh nghiệp

- Vai trò điều hành của chính phủ; thé chế chính trị: vai trò điều hành củachính phủ và thể chế chính trị cũng tác động tới năng lực cạnh tranh của các

doanh nghiệp Từ việc nhận thức đúng đắn vai trò và tầm quan trọng của ngành bảo hiểm trong đời sống và sự phát triển của nền kinh tế, chính phủ sẽ

có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp bao hiểmphi nhân thọ phát triển, điều đó sẽ nâng cao năng lực kinh doanh của toànngành bảo hiêm phi nhân thọ nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng.

- Mức độ hội nhập nên kinh tế: bao gồm tập hợp các chính sách về xuất nhậpkhẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các dịch vụ trợ giúp xuất khẩu như: tín

Trang 22

dụng, bảo hiểm, khả năng chuyển đổi của đồng tiền với các giao dịch vãnglai chính sách tỷ giá linh hoạt phản ánh giá trị thực của đồng tiền cũng đượccoi là nhân tố quan trọng của mức độ hội nhập nền kinh tế Trong đó, giá trịgia tăng của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp ty lệ thuận với mức độ hội nhập của nền kinh tế Sự phát

triển của hệ thống tài chính- tiền tệ được đánh giá bằng quy mô của hệ thống

tài chính so với GDP.

*Các yếu tố nội tại của doanh nghiệp: Là yếu tố quan trọng tác động tớinăng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp Yếu tố nội tại của doanh nghiệpbao gồm:

- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: Theo Micheal Porter thì chiếnlược cạnh tranh là sự kết hợp của các mục đích cuối cùng mà công ty đang tìmkiếm, áp dụng các phương tiện hay chính sách mà công ty áp dụng nhờ đó

hãng cố gắng đạt được mục đích ban đầu đưa ra Vì vậy, để có một chiến lược

cạnh tranh phù hợp để đạt được mục đích ban đầu của công ty thì đòi hỏingười lập chiến lược phải am hiểu sâu sắc các yếu tố nội tại mà công ty đang

có: điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức Để hiểu được môi trường

trong ngành, các cơ hội và mối de doa trong ngành định hình một môi trườngcạnh tranh với những lợi tích tiềm tàng và những rủi ro gắn liền với nó Nhữngmong muốn xã hội phản ánh ảnh hưởng của những vấn đề như chính sách của

chính phủ, mối quan tâm của xã hội, những tập tục thay đổi Có thể nói, chiến

lược kinh doanh, hay cụ thể là chiến lược cạnh tranh của công ty là yếu tố nộitại quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp, nhưng nó chính là

sự nhìn nhận tình hình kinh doanh của ngành, yếu tố nội tại của công ty và ảnh hưởng của xã hội, chính sách của chính phủ đến hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp Vì vậy, có thể nói chiến lược cạnh tranh là yếu tố quan trọngnhất tác động tới năng lực cạnh tranh của một công ty Theo Micheal Porterthì chiến lược cạnh tranh cụ thể được phân tích như sau: Chiến lược cạnhtranh là sự kết hợp của các mục đích cuối cùng mà công ty đang tìm kiếm, cácphương tiện hay nói cách khác là các chính sách mà công ty áp dụng nhờ đó

Trang 23

hãng cố gắng đạt được mục đích ban đầu đưa ra Các mục tiêu của công ty phụthuộc vào thị trường mục tiêu của công ty, chiến lược marketing, tiêu thụ,

phân phối, sản xuất, lao động, đầu tư, nghiên cứu và triển khai, tài chính và

kiểm soát, danh mục sản phẩm Tất cả các yếu tố này như những chiếc nanhoa của bánh xe toả ra từ trục và hướng về trục, trục ở đây chính là mục tiêu

của công ty Những điểm mạnh và điểm yếu của công ty là toàn bộ tài sản và

các kỹ năng xét trong mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh bao gồmnguồn tài chính, hiện trạng công nghệ, danh tiếng, những giá trị cá nhân của

một tổ chức là động lực và nhu cầu của các nhà điều hành chính và những người khác, những yếu tố này kết hợp với nhau tạo lên giới hạn nội tại của

một chiến lược

Môi trường trong ngành và môi trường rộng hơn, các cơ hội và mối đedoa trong ngành định hình một môi trường cạnh tranh với những lợi ích tiềm

tàng và những rủi ro gắn liền với nó Những mong muốn xã hội phản ánh ảnh

hưởng của những vấn đề như chính sách của chính phủ, mối quan tâm của xãhội, những tập tục thay đôi, và những vấn đề khác nữa Nói tóm lại dé đạt

được mục đích của mình, hay xây dựng được một chiến lược cạnh tranh phù hợp và thành công thì công ty cần phải xác định rõ mục đích hay chính là câu

hỏi: Công ty đang làm gì? và phải xác định được những giả thiết ngầm địnhcủa mình Bước thứ hai là cần nhận định được những gì đang diễn ra trongmôi trường hoạt động của mình Cần phân tích ngành, những nhân tố thenchốt cho sự thành công trong cạnh tranh cũng như những cơ hội và các mối đedoa là gì Phân tích đối thủ cạnh tranh, những điểm mạnh và điểm hạn chế

của các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm tang cũng như sự chuyển biến có thể có trong tương lai của họ Phân tích xã hội, những nhân tố quan trọng nào

về chính phủ, xã hội, chính trị sẽ thể hiện cơ hội và các mối đe doa Từ nhữngphân tích trên thừa nhận những điểm mạnh và điểm yếu của công ty so với đốithủ cạnh tranh hiện tại và trong tương lai là gì? Sau hai bước cuối cùng đếnbước thứ ba là xác định công ty nên làm gì? Việc kiểm tra các giả thiết vàchiến lược, những giả thiết được thể hiện trong chiến lược hiện tại với sự phân

Trang 24

tích ở phần trên có phù hợp không đề từ đó có các phương án chiến lược, sau

đó lựa chọ chiến lược, phương án nào kết hợp tốt nhất giữa tình trạng hiện tạicủa công ty với các cơ hội và thách thức như đã phân tích ở trên.

Từ góc nhìn của Philip Kotler, doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lượckinh doanh như sau:

- Chiến lược người dẫn đầu (Market — Leader Strategy): Day là chiến

chiến lược của doanh nghiệp dẫn đầu trong ngành kinh doanh qua việc chiếmgiữ phần lớn thị phần, dẫn đầu thị trường trong việc thay đổi giá sản phẩm,đưa ra các sản phẩm mới, tầm kiểm soát hệ thống phân phối

- Chiến lược người thách thức ( Market — Challenger Strategy): Đây làchiến lược của doanh doanh nghiệp thách thức vị trí đứng đầu Mục tiêu quantrọng nhất là đánh đồ hay ít nhất tiến sát đến vị trí của doanh nghiệp đang dẫnđầu trên thị trường

- Chiến lược kẻ theo đuôi ( Market — Follower Strategy): Đây là chiến

lược mà doanh nghiệp hoàn toàn không phải phát minh hay sáng tạo gì nhiều.Điều mà các doanh nghiệp này thực hiện là tạo ra những chính sách kinh

doanh, sản phẩm, giá cả, phân phối giống như doanh nghiệp dẫn đầu.

- Trinh độ khoa hoc công nghệ: Đây là một một chiếc nan hoa của bánh xe toả

ra từ trục và hướng về trục, trục ở đây chính là mục tiêu của công ty Khi công

ty áp dụng được khoa học công nghệ hiện đại, đồng nghĩa với việc giảm sức

người trong các công việc thủ công, đồng thời nâng cao hiệu quả trong cáckhâu của quá trình cung cấp dịch vụ, đặc biệt trong quá trình định phí, thu phí

và chỉ trả tiền bảo hiểm, nâng cao hiệu quả quản lý của công ty

- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: đây là vân đề cực kỳ quan trọng đối

với ngành tài chính nói chung và bảo hiểm nói riêng, vấn đề này được luật

pháp tất cả các nước quy vốn pháp định, vốn điều lệ, biện pháp ký quỹ vàquản lý tài sản Tuy nhiên, quy mô và khả năng bổ sung tài chính của các công

ty bảo hiểm trong nước còn hết sức hạn chế, đặc biệt là các công ty cổ phần.Các doanh nghiệp nhà nước mặc dù có quy mô tài chính lớn hơn nhưng chỉ tương đương với mức trung bình trong khu vực.

Trang 25

- Lao động, năng suất lao động của doanh nghiệp: Một trong các tiêu chí đánhgiá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là chất lượngsản phẩm, mà bảo hiểm là dịch vụ vô hình, chất lượng của dịch vụ phụ thuộcrất lớn vào quá trình tác nghiệp của cán bộ nhân viên của công ty bảo hiểm Vìvậy, chất lượng lao động cũng như năng suất lao động là rất quan trọng đốivới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Chi phí sản xuất: Bảo hiểm là sản phẩm có quá trình sản xuất ngược, vì vậyngười ta không thể định giá giá thành của sản phẩm khi sản xuất ra, chỉ phísản xuất chỉ có thé được xác định khi quá trình cung cấp sản phẩm kết thúc,

tức là khi hết thời hạn bảo hiểm người ta mới tính toán được chỉ phí, vì vậy

ước tính chi phí dựa trên khoa học tính xác suất xay ra của rủi ro để định phí

bảo hiểm phù hợp với thị trường và mức độ an toàn tài chính của công ty làmột trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

bảo hiểm phi nhân thọ.

- Quản lý của doanh nghiệp: Trình độ quản lý doanh nghiệp cũng là tiền đề đểdoanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp bảo

hiểm phi nhân thọ thì vấn dé quản lý lại rất nhạy cảm, bởi chỉ một sự lơ là

trong quản lý doanh nghiệp có thể nhận những rủi ro lớn không phù hợp vớimức phí, đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và nănglực cạnh tranh của công ty.

- Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp: Văn hoá doanh nghiệp là một kháiniệm rat rộng, có thé hiểu đơn giản thì văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ giá trịvăn hoá được xây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanhnghiệp, nó trở thành các giá trị, quan niệm, tập quán, truyền thống ăn sâu vào doanh nghiệp ay, va chi phối suy nghĩ và hành động từ cấp lãnh đến đến toànthể cán bộ nhân viên Điều đó chứng tỏ, nếu doanh nghiệp xây dựng được vănhoá kinh doanh cho riêng mình thì chính là động lực tốt trong quá trình pháttriển và là yếu té tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở phân tích thị trường và lợi thế so sánhcủa mình để đưa ra một chiến lược định hướng vào một mảng thị trường nhất

Trang 26

định và tập trung vào những sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có khả năngcạnh tranh Dé xây dựng một chiến lược kinh doanh có hiệu quả, đòi hỏidoanh nghiệp phải phân tích đúng đắn nhu cầu thị trường, phân tích chính xáclợi thế của đối thủ cạnh tranh, để phân đoạn thị trường và từ đó xác định thịphần cho mình Nếu chiến lược kinh doanh không đúng đắn, doanh nghiệp sẽ

dễ thất bại trong cạnh tranh Tiếp cận và nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật

cũng là điều cần thiết và quyết định chất lượng sản phẩm và năng suất laođộng của doanh nghiệp Chỉ phí sản xuất và quản lý của doanh nghiệp là yếu

tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vì hạ chỉ phí sản xuất, giảm chỉ phí quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chỉ phí

quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, điều này lại đòi hỏidoanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, tiết kiệm cácnguồn nhiên liệu đầu vào cho sản xuất Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp

là nền tảng yếu té tinh thần, nhằm xây dựng tính kỷ luật, đoàn kết trong đội

ngũ lao động của doanh nghiệp, phát huy yếu tố sáng tao, tinh thần tráchnhiệm với doanh nghiệp của người lao động Đây là yếu tố rất quan trọng giúpcho doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong môi trường cạnh tranh năng động.

Van hoá kinh doanh của doanh nghiệp còn bao gồm các yếu tố tính cách, thái

độ ứng xử, biện pháp cạnh tranh lành mạnh, đúng pháp luật của doanh nghiệp.

1.2.3 Gia nhập WTO và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp bao hiém phi nhân thọ

Trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, bình quân hàng năm trong 5 năm trở lại đây đều tăng trưởng trên 7% GDP, dé đáp ứng được

nhu cầu tăng trưởng nhanh của các ngành kinh tế khác, bảo hiểm cũng pháttriển theo dé đáp ứng nhu cầu phát triển nói chung Khi vào một sân chơi mới,

rộng hơn và sâu hơn thì buộc các doanh nghiệp phải tự đổi mới đề thích nghỉ

với môi trường mới Quá trình hội nhập này vừa mang lại những cơ hộinhưng đồng thời đi kèm với nó là những thách thức mà các doanh nghiệp Việt

Trang 27

Nam nói chung và các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam nóiriêng phải vượt qua dé tổn tại và phát triển.

Mở cửa thị trường tài chính, cụ thể là ngành bảo hiểm bảo hiểm là mộtquá trình tat yếu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Hộinhập bắt đầu từ khi Việt Nam cam kết gia nhập AFTA, ký hiệp định thương

mại với Hoa Kỳ và đặc biệt sẽ có những thay đổi mạnh mẽ khi cam kết gia

nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) Từ việc độc quyền trong hoạtđộng bảo hiểm đến việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trongnước, sự xuất hiện dần của các công ty bảo hiểm có yếu tố nước ngoài và các

công ty bảo hiểm nước ngoài Cụ thể là thị trường bảo hiểm đã bắt đầu được

mở cửa cho các công ty bảo hiểm quốc tế 100% vốn đầu tư nước ngoài từ năm

1999 Tuy nhiên dé tao ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các công

ty bảo hiểm trong nước và nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, các cam kết trong lĩnh vực bảo hiểm khi Việt Nam gia nhập WTO ảnh hưởng trực

tiếp đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm ViệtNam Thị trường lúc này là một chiếc bánh bị chia nhỏ hơn nữa cho những

người mới gia nhập, đó là các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước muốn giữ được thị phần của mình

buộc phải tự thay đổi, trong quá trình cạnh tranh này phải nâng cao năng lựccạnh tranh của mình để tự tồn tại, phát triển phù hợp với quy luật cạnh tranh

chung của thị trường.

Ngay từ khi thành lập do tính đặc thù của bảo hiểm, các doanh nghiệpbảo hiểm Việt Nam đã buộc phải tiếp cận và hội nhập với thị trường bảo hiểm

quốc tế thông qua nghiệp vụ tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm nước ngoài, qua đó có sự thống nhất giữa các đơn bảo hiểm, quy tắc điều khoản bảo

hiểm và biểu phí bảo hiểm với các Công ty tái bảo hiểm Chính vì vậy, cácdoanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đã làm quen với luồng gió bên ngoài vào

khi Việt Nam từng bước mở cửa thị trường bảo hiểm.

Bảo hiểm là một trong những cam kết dịch vụ tài chính mà các thànhviên của WTO quan tâm và yêu cầu cao về mức độ mở cửa thị trường cho các

Trang 28

công ty bảo hiểm nước ngoài Nhìn chung mức cam kết tương đương với Hiệpđịnh thương mại với Hoa Ky vì trước thời diém đàm phan gia nhập WTO, cáccông ty bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động ở Việt Nam dưới dạng liêndoanh với một công ty Việt Nam hoặc hoạt động của các công ty này cũng bịgiới hạn trong một số lĩnh vực Việc thành lập chỉ nhánh trực tiếp không được

chấp nhận, vậy thì điểm khác biệt duy nhất là các công ty được phép mở chỉ

nhánh bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam

Giải thích lý do tại sao các công ty bảo hiểm quốc tế quan tâm đến thị

trường bảo hiểm Việt Nam, ông Raymond J.Sander, Phó chủ tịch cao cấp tập đoàn bảo hiểm New York Life cho rằng mức tiết kiệm của người dân Việt

Nam rất cao (hơn 25% trên thu nhập), mức chỉ phí bảo hiểm của người ViệtNam đóng góp trên đầu người cũng đạt con số 6 USD/người/năm, bên cạnh đótốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm trong giai đoạn 1993-2005 là 26.5%, cơ cấu

tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm cũng tăng nhanh từ 0.37% GDP năm 1993 lên

2,03% GDP năm 2005 Đây là tốc độ cực kỳ ấn tượng đối với bất kỳ một lĩnhvực kinh doanh nào, chính vì vậy bảo hiêm là một ngành được sự chú ý rất

đặc biệt của các công ty nước ngoài muốn kinh doanh tại Việt Nam Điều này cũng thể hiện rất rõ trong quá trình đàm phán, cam kết gia nhập WTO của

Việt Nam.[23]

Trước hết cần khẳng định rằng bảo hiểm là một ngành dịch vụ, chính vìvậy ngành bảo hiểm sẽ bị tác động bởi những cam kết cụ thể về thương mạidich vụ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việcđàm phán mở cửa thị trường dịch vụ trong khuôn khổ đàm phán gia nhập Tổ

chức Thương mại Thế Giới (WTO) được tiến hành theo các nguyên tắc của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS ) Dựa trên những nguyên tắc

này, các quốc gia hay vùng lãnh thổ chưa là thành viên WTO tiến hành đàmphán mở cửa thị trường với các thành viên WTO căn cứ theo yêu cầu đàmphán mà các thành viên này đưa ra Kết quả đàm phán cuối cùng được thểhiện trong Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ Nội dung của Biểu cam

kết dịch vụ gồm 3 phần: Cam kết chung, cam kết cụ thể và danh mục các biện

Trang 29

pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc(MEN) Bảo hiểm thuộc ngành 7 Dịch vụtài chính, Mục A Bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm Bảo hiểm

phi nhân thọ thuộc tiểu mục a Bảo hiểm gốc Cụ thể về cam kết của Việt Nam

như sau:

(1) Cung cấp qua biên giới

Ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức WTO, các doanhnghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ được phép cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhưbảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, dịch vụ đánh giá

rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư van bảo hiểm và đặc biệt là được phép cung.

cấp dich vụ bảo hiểm cho các dự án, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước tại ViệtNam mà không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam Trong thời gian đầu,các cam kết này có thể ảnh hưởng mạnh tới một số loại hình bảo hiểm phinhân thọ và giới hạn trong nhóm đối tượng người nước ngoài và các sự án có

vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Tuy nhiên, trong thời gian trung hạn thì với sự lớn mạnh của các doanhnghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước (xét về mặt uy tín và năng lực tài

chính) thì các cam kết này không ảnh hưởng nhiều, một phần do tâm lý khách

hàng thường có thiên hướng lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm có trụ sở tại ViệtNam, là những doanh nghiệp nắm thông tin về rủi ro tốt nhất do đó có khảnăng bảo hiểm tốt nhất, mặt khách các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài

thông thường cũng muốn lập pháp nhân ở Việt Nam để cung cấp dịch vụ tốt

hơn.

Hơn nữa, theo xu thế chung và triển vọng phát triển của ngành bảo hiểm

Việt Nam Việt nam, tỷ trọng phí bảo hiểm phi nhân thọ trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của cả thị trường sẽ giảm dần so với nhân thọ, do đó những tác

động của cam kết này đối với ngành bảo hiểm sẽ giảm dần theo thời gian

*Không hạn chế tiếp cận thị trường đối với:

- Dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

- Dịch vụ tái bảo hiểm

Trang 30

- Dich vụ bảo hiểm vận tải quốc tế, bao gồm bảo hiểm cho các rủi ro liên quantoi:

+ Vận tải biển quốc tế và vận tải hàng không thương mai quốc tế, với phạm vibảo hiểm bao gồm bất kỳ hoặc toàn bộ các khoản mục sau: hàng hoá vậnchuyền, phương tiện vận chuyển hàng hoá và bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh

từ đó; và

+ Hàng hoá đang vận chuyền quá cảnh quốc tế.

- Dịch vụ môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm

- Dich vụ tư van, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường.

* Không hạn chế đối xử quốc gia

(2) Tiêu dùng nước ngoài

* Không hạn chế tiếp cận thị trường

* Không hạn chế đối xử quốc qia

(3) Hiện điện thương mai

* Không hạn chế tiếp cận thị trường, ngoại trừ:

- Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài không được kinh

doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc, bao gồm trách nhiệm dân sự của chủ xe

cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm các côngtrình đầu khí và các công trình dé gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng vàmôi trường Hạn chế này sẽ được bãi bỏ vào ngày 1/1/2008

- Sau 5 năm ké từ khi gia nhập, cho phép doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoàithành lập chỉ nhánh bảo hiểm phi nhân thọ, căn cứ vào các quy định quản lýthận trọng

Khi thực hiện cam kết này, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ có đầy đủ cơ hội kinh doanh và các điều kiện như doanh nghiệp bảo hiểm trong nước Đây

là biện pháp nhằm xoá bỏ các rào cản khi doanh nghiệp nước ngoài gia nhậpthị trường bảo hiểm trong nước

* Không hạn chế đối xử quốc gia

(4) Hiện diện của thể nhân

Trang 31

Có thể nói, các cam kết cho phép thành lập pháp nhân thực hiện kinhdoanh dịch vụ bảo hiêm là những cam kết mang tính chất tự do hoá thị trườngbảo hiểm và có ảnh hưởng lớn nhất đối với các doanh nghiệp bảo hiểm hiện đã

và đang hoạt động trên thị trường bảo hiểm cũng như tới tình hình chung củatoàn thị trường.

Việc cho phép thêm các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước

ngoài tham gia cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại thị trường Việt Nam sẽ tăngthêm năng lực khai thác bảo hiểm của thị trường bảo hiểm Bên cạnh đó, các

doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với kinh nghiệm hoạt động lâu năm trên phạm vi quốc tế sẽ giúp chuyền giao công nghệ khai thác bảo hiểm và đào tạo

đội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm tại Việt Nam

Với năng lực tài chính mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm mới tham giathị trường này cũng sẽ cho ra đời các sản phâm bảo hiểm mới, đáp ứng tốt hơn

nhu cầu của khách hàng Trong điều kiện cung cấp dịch vụ tốt hơn, khách

hàng sẽ là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất Đặc biệt, chỉ phí bảo hiểm là mộtcấu phần ngày càng quan trọng trong chỉ phí sản xuất và kinh doanh của các

đơn vị kinh tế khi nền kinh tế ngày càng phát triển, vì vậy giảm giá thành đầu

vào đối với chi phí bảo hiểm sẽ giúp giảm một cách tương đối giá thành sảnxuất sản phẩm và dịch vụ đầu ra của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam và

là cơ sở để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nói chung trong điềukiện toàn cầu hoá ngày càng được day mạnh

Ngoài khía cạnh tích cực của cam kết hiện điện thương mại, điều kiệnthị trường bao rhiểm với sự có mặt của

* Hạn chế tiếp cận thị trường: chưa cam kết, trừ các cam kết chung

* Hạn chế đối xử quốc gia: chưa cam kết, trừ các cam kết chung

* Cơ hội đối với các doanh nghiệp bao hiểm phi nhân thọ Việt Nam:

- Khi hội nhập, nền kinh tế sẽ phát triển với tốc độ trên 8%/năm, tăng thêmtiềm năng cho ngành bảo hiểm phát triển Theo chiến lược phát triển kinh tế

xã hội Việt Nam đến năm 2010 GDP dat 1.000 — 1.100 USD/ngườ, đầu tưtoàn xã hội đạt 39% - 40% GDP, ODA 11 tỷ USD, FDI 25 ty USD, xuất khẩu

Trang 32

đạt 69 tỷ USD, nhập khẩu đạt 70 tỷ USD, du lịch quốc tế đạt 6 triệu lượtngười, du lịch nội địa đạt 23 triệu lượt người, dầu thô là 20 triệu USD đây làtiềm năng rất lớn cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển.

- Thị trường bảo hiểm phát triển góp phần đáng kẻ cho việc phát triển thịtrường vốn trong nước Các doanh nghiệp bảo hiểm có thể trở thành các định

chế tài chính trung gian hiện hữu, nó có chức năng chuyển các nguồn vốn

nhàn rỗi ngắn hạn trong xã hội thành các nguồn đầu tư đài hạn Chính vì vậycác cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về cơ bản sẽ có tác động tích cực

đối với cạnh tranh, thúc day sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói

chung và của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng

- Ngoài việc tạo ra một thị trường bảo hiểm đa dang, sôi động và cạnhtranh thì việc gia nhập của các công ty bảo hiểm nước ngoài cũng có nhữngtác động bắt lợi đối với công ty bảo hiểm trong nước và khả năng quản lý của

nhà nước Lúc này người hưởng lợi từ những thay đổi đó là người dân, người

tham gia bảo hiểm và các doanh nghiệp biết tự đổi mới mình, tự hoàn thiện vàphát triển dé tồn tại được trong môi trường cạnh tranh mới

- Lộ trình cỗ phần hoá các doanh nghiệp nha nước sẽ kết thúc vào năm

2009, số lượng các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài tăng trong đó tập quánmua bảo hiểm đề an toàn trong sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài

sẽ lan rộng trong khối các tổ chức kinh tế xã hội Đây là cơ hội lớn cho các

doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phát triển kinh doanh.

- Trình độ dân trí ngày càng nâng lên, thu nhập ngày càng cao kèm theonhu cầu về bảo hiểm con người, chăm sóc sức khoẻ y tế xã hội ngày càngtăng Lúc đó các khoản chỉ để mua bảo hiểm sẽ tăng lên khi thu nhập và trình

độ nhận thức về vai trò của bảo hiểm càng duoc nâng cao.

- Chế độ quản lý nhà nước về bảo hiểm ngày càng hoàn thiện hơn làm cơ

cở pháp lý vững chắc cho doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động lành mạnh vàngười dân tin tưởng hơn doanh nghiệp bảo hiém.

* Thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam:

Trang 33

- Các công ty bảo hiểm trong nước sẽ bị chia sẻ thi trường, sự xuất hiện cácdoanh nghiệp bảo hiểm quốc tế lớn, có tiềm lực tài chính mạnh và trình độquản lý tốt đã góp phần làm tăng tính cạnh tranh, mang lại nhiều sự lựa chọncho khách hàng và tạo động lực phát triển cho ngành bảo hiểm Việt Nam.Nhưng riêng đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước, kinhdoanh trong một môi trường sôi động và cạnh tranh như hiện nay không hoàntoàn đễ dàng Chỉ có các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nào có sự chuẩn

bị tốt để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với có thể tổn tại và

giữ được thị phần của mình khi hội nhập Trong cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam, điều đáng lo ngại nhất là các doanh nghiệp bảo hiểm tại

nước ngoài không cần thành lập doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt nam cũng cóthể vươn cánh tay của mình vào khai thác thị trường bảo hiểm Việt Nam

- Sự biến động về nhân sự giữa các công ty bảo hiểm Một thực tế đã diễn

ra khi sự gia tăng của số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm nhanh hơn gia tăng

nguồn nhân lực trong ngành đã dẫn đến sự di chuyền nhân sự giữa các công tybảo hiểm sẽ có sự “cháy máu chất xám” nếu công ty bảo hiểm trong nước

không có những chính sách nhân sự trong thời gian tới và sẽ bị mat lợi thế thu

hút nhân tài trước các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh

- Sự cạnh tranh diễn ra trên quy mô rộng và mức độ ngày càng gay gắt hơn.Trước hết là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam

cả về sản phẩm bảo hiểm, chất lượng phục vụ, nguồn lực và phát triển kênhphân phối sản phẩm Thứ hai là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểmđang hoạt động tại Việt Nam với các doanh nghiệp bảo hiểm tại nước ngoài về

cung cấp sản phẩm bảo hiểm trong khuôn khổ cam kết tại WTO Thứ ba là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với các dịch vụ tài chính khác nhu

thu hút tiền gửi tiết kiệm, chứng khoán, kinh doanh bất động sản

- Trình độ dân trí ngày càng tăng làm cho sự lựa chọn về doanh nghiệp bảohiểm ngày càng khắt khe hơn: doanh nghiệp bảo hiểm có thương hiệu mạnh,

có uy tín, thực hiện đúng cam kết về phương thức, cách thức, thời hạn bồi

Trang 34

thường, đem lại nhiều giá trị dịch vụ gia tăng cho khách hàng sẽ được lựachọn thay cho cách hạ phí bảo hiểm và khuyến mại trước đây.

- Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được phép thành lập ởViệt Nam ngày càng gia tăng, số lượng các doanh nghiệp mới trong nướcđược thành lập ngày càng nhiều, họ có chiến lược chiếm lĩnh thị trường, tăng

thị phần bảo hiểm bằng nhiều hình thức như quảng cáo tiếp thị, chấp nhận lỗ

kỹ thuật (thậm chí đến 5 năm) tạo ra sự cạnh tranh không cân sức nhưng đượcphép với các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại

- Chế độ quản lý nhà nước về bảo hiểm ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ

hơn vừa phát huy tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm vừa

đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia bảo hiểm ngày một

rõ ràng và tốt hơn Điều này tạo áp lực cho các công ty bảo hiểm phi nhân thọbuộc phải cải tiến, tự hoàn thiện mình cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật

và nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, nếu doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân

thọ nào không đáp ứng được yêu cầu đó thì tự bị đào thải trong thị trường

Trang 35

Chương 2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ Việt Nam (trường hợp Công ty Cổ phần Báo hiểm

Petrolimex - PJICO)

2.1 Khái quát về các doanh nghiệp bao hiểm phi nhân thọ Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Sau khi giải phòng Miền Bắc, sau hơn 10 năm tiếp quản các cơ sở kinh

tế của thực dân Pháp Hoạt động kinh tế và yêu cầu quản lý mới đòi hỏi cấpthiết phải có cơ chế tài chính và cơ chế đảm bảo an toàn tài sản cho nền kinh

tế.

Ngày 17/12/1964 bằng Quyết định số 179/CP của Hội đồng Chính phủ,Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài Chính, Công ty bảo hiểm Việt Nam, têngiao dịch là Bảo Việt, được thành lập và chính thức khai trương hoạt động

ngày 15/01/1964 với số vốn điều lệ là 10 tỷ đồng Việt Nam (tương đương

khoảng 2 triệu USD thời điểm đó), dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài

Chính Trong thời kỳ chiến tranh, nên hoạt động kinh doanh của Bảo Việt còn rất hạn ché, chỉ thực hiện hai nghiệp vụ là bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khâu

đường bién va bảo hiểm tàu biển thông qua cơ chế bao cấp Việc tái bảo hiểmchủ yếu dựa vào các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm của Liên Xô và Trung

Quốc.

Đến ngày 27/12/1975, Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền

Nam Việt Nam tuyên bố đình chỉ hoạt động của các công ty bảo hiểm Miền

Trang 36

Nam Việt Nam và tuyên bố thanh lý, giải thể các tổ chức bảo hiểm tư nhânbằng quyết định giải tán 52 CTBH

Ngày 17/01/1976, Bộ trưởng Bộ Kinh tế tài chính Chính Phủ cách mạnglâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam ra quyết định số 21/QD-BKT thànhlập công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm Việt Nam (viết tắt là BA VINA), thuộc

Tổng nha tài chính Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt

Nam.

Ngày 01/03/1977, Bộ trưởng Bộ Tài chính ra quyết định số

61/TCQĐ/TCCB về việc sát nhập BA VINA thành chỉ nhánh của Bảo Việt tại thành phố Hồ Chí Minh, Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các

tỉnh miền Nam

Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ bẩy khoá VI, Quốc hội đã thông quaHiến pháp mới, trong đó ghi nhận tầm quan trọng của bảo hiểm Bảo Việt

được phép mở rộng thêm các chỉ nhánh trên toàn quốc.

Năm 1981, được sự đồng ý của Bộ Tài Chính, Bảo Việt tiến hành thíđiểm bảo hiểm cây lúa tại Hà Nam Ninh Đến năm 1986 thí điểm bảo hiểm

nông nghiệp lần 2 và 11 năm sau là triển khai lần 3, tuy nhiên đến tận thời điểm hiện nay vẫn chưa được mở rộng loại hình bảo hiểm này Cũng trong

năm 1986 thí điểm đầu tiên về bảo hiểm tai nạn thân thé học sinh và nhữngquy tắc đầu tiên về bảo hiểm tai nạn lao động được khởi thảo

Ngày 10/03/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số30/HĐBT về chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới dưới hìnhthức bắt buộc Bảo Việt đã cộng tác với các cấp, các ngành đặc biệt là ngành

giao thông nên chỉ trong thời gian ngắn đã giành được kết quả ở nghiệp vụ

này.

Ngày 17/12/1989 Bộ Tài chính ban hành quyết định số 27/TCQDchuyền Công ty bảo hiểm Việt Nam thành Tổng công ty bảo hiểm Việt Namnâng cấp các chỉ nhánh ở các tỉnh, thành phố thành các công ty thành viên

Ngày 18/12/1993 dé đáp ứng đòi hởi mới của nền kinh tế khi chuyểnsang kinh tế thị trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/CP cho phép

Trang 37

thành lập các công ty bảo hiểm thuộc các thành phần kinh tế khác, cham dứt

sự độc quyền của Bảo Việt trên thị trường, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong

sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam Nghị định đã tạo một tiền đề pháp

lý quan trọng cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung

và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam nói riêng

Mục tiêu quan trọng của Nhà nước khi ban hành Nghị định 100/CP làtạo ra một thị trường bảo hiểm thực sự ở Việt Nam, xoá bỏ sự độc quyền củaBảo Việt, tách chức năng quản lý Nhà nước với chức năng kinh doanh, phù

hợp với chủ trương chung là phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng thị trường, đáp ứng các nhu cầu về bảo hiểm phát sinh, đặc biệt khi xoá bỏ cơ chế

bao cấp của Nhà nước Nghị định nhấn mạnh hai nội dung quan trọng là chophép thành lập các doanh nghiệp bảo hiểm khác được kinh doanh trên thịtrường bên cạch Bảo Việt Thứ hai là Bộ Tài chính là cơ quan Chính phủ thực

hiện chức năng quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, trên cơ sở đó, Bộ

Tài Chính đã thành lập Phòng Quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm trực

thuộc Vụ Tài chính các Ngân hang và tổ chức tài chính với các chức nang

- Quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm

- Quản lý tài chính các doanh nghiệp bao hiểm

- _ Chủ quản các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước

Môi trường pháp lý ngày một hoàn thiện hơn, thị trường thị trường bảo

hiểm phi nhân thọ Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng, đạt

được những kết quả lớn Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ gia tăng liên tục về

số lượng công ty bảo hiểm hoạt động trên thị trường, hoàn thiện cơ cấu từngbước hoà nhập vào thi trường bảo hiểm khu vực và thé giới

Sau Nghị định 100/CP một loạt các công ty bảo hiểm mới đã được

thành lập: Công ty bảo hiểm Thành phó Hồ Chí Minh (Bảo Minh) được thànhlập năm 1994, Công ty cổ phan bảo hiểm Petrolimex(PJICO) và Công ty cổphần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) thành lập năm 1995, Ba công ty bảohiểm trong nước tiếp cho đến năm 2004 là PVI, PTI, Viễn Đông

Trang 38

Trên cơ sở Điều 2, Mục 1 và 3 của Nghị định 100/CP về việc cho phépthành lập công ty bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, năm 1996Công ty liên doanh bảo hiểm đầu tiên, Công ty bảo hiểm quốc tế Việt Nam —VIA (liên doanh giữa Bảo Việt và Tokyo, Nhật Bản) được cấp giấy phépthành lập và đi vào hoạt động Đến năm 1997, Công ty bảo hiểm Liên hiệp

UIC (liên doanh giữa Bảo Minh, Mitsui và Yasuda, Nhật Bản) được cấp giấy

phép Từ năm 1999 đến năm 2002 có thêm 5 công ty có vốn đầu tư nướcngoài được thành lập: Công ty TNHH giảm hiểm Allianz/AGF, Công ty liên

doanh bảo hiểm Việt úc Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp GROUPAMA Việt Nam, Công ty liên doanh TNHH bảo hiểm Samsung — Vina, Công ty liên

doanh TNHH bảo hiểm Châu á - Ngân hàng Công Thương

Sau khi ban hành Nghị định 100/CP, tạo cơ sở pháp lý ban đầu cho sựhình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm, nhận thức rõ tim quan trọng

của việc duy trì thị trường phát triển lành mạnh, ồn định và bền vững, Bộ Tài

chính đã có nhiều nỗ lực để tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý về kinhdoanh bảo hiêm tại Việt Nam.

Ngày 09/12/2000 Luật Kinh doanh Bảo hiểm đã được Quốc Hội nước

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Trên cơ sở Luật kinh doanh

bảo hiểm ngày 01/08/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/2001/NĐ-CP.quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và môi giới bảo

hiểm Ngày 28/08/2001 Bộ Tài chính ban hành Thông tư 72/2001/TT-BTC về

hướng dẫn Nghị định 43/2001/NĐ- CP Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã đượcthành lập vào năm 2001 bước đầu đã có vai trò quan trọng giúp cho cơ quan

quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của các doanh nghiệp bảo

hiểm, kết nối quan hệ giữa các doanh nghiệp với cơ quan quản lý, giữa các

doanh nghiệp với nhau, giữa doanh nghiệp và người tham gia bảo hiểm, nhằmđại diện cho các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia vào việc xây dựng chế độchính sách, thực hiện quy chế tự quản, tạo lập liên kết trong các khâu nghiêncứu, đề phòng và hạn chế tồn that, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh và

Trang 39

thức day hợp tác trong kinh doanh Việc thành lập hiệp hội đã góp phần hỗ trợcho công tác quản lý nhà nước được hiệu quả hơn.

Ngày 29/08/2003 Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số175/2003/QĐ-TTG về phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểmViệt Nam từ năm 2003 đến năm 2010”, trong đó mục tiêu cơ bản là: Phát triển

thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu

bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư; bảo đảm cho các tổ chức cá nhânđược thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế, từ cácnguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế — xã hội;

nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh

doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập quốc tế Có một sốchỉ tiêu cụ thể như sau: Tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng bình quân khoảng

24%/năm, trong đó bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm phi nhân thọ tăng khoảng 28%/năm Tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm

của toàn ngành bảo hiểm so với GDP là 2,5% năm 2005 và 4,2% năm 2010.Đến năm 2010, tổng dự phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng

khoảng 12 lần; tổng vốn dau tư trở lại nền kinh tế tăng khoảng 14 lần so với

năm 2002 Tạo công ăn việc làm cho khoảng 15.000 người vào năm 2010 Nộp ngân sách nhà nước giai đoạn 2003-2010 tăng bình quân 20%/năm.

Năm đầu thực hiện chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam,ông Lê Song Lai, Vụ phó Vụ Bảo hiểm, Bộ tài chính khẳng định “ Với những

gì đã đạt được, những bước đi và cách làm đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất

là việc triển khai thực hiện các giải pháp của Chiến lược, hoàn toàn có đủ cơ

sở dé khang định rằng, trong thời gian tới, thị trường bảo hiểm Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển lành mạnh và vững chắc trong xu thế phát triển

chung của nền kinh tế đất nước, phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quốc

tế và hoà nhập với thị trường bảo hiểm thế giới.” [24]

Đặc biệt là việc ban hành Nghị định số 118/2003/ND - CP ngày

13/10/2003 về qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanhbảo hiểm

Trang 40

Khi đoán về sự sôi động của thị trường bảo hiểm trong những năm tới,các chuyên gia bảo hiểm cho biết: Không thể không kể đến một cột mốc quantrọng đánh dau bước phát triển mới của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đó làviệc Hiệp định Việt - Mỹ được ký kết và có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2001.Việc ký kết Hiệp định này là bước khởi đầu quan trọng của Việt Nam trong

quá trình chuẩn bị gia nhập Tổ chức thương mại Thế gới Hiệp định này được

dàn chải trên nhiều lĩnh vực Đồng thời cũng có nghĩa, theo nguyên tắc đối xửbình đẳng trên thị trường bảo hiểm, sẽ không có lý do gì để Việt Nam hạn chế

việc gia nhập nhập thị trường của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài khác nằm ngoài lãnh thé Hoa Kỳ Cũng sau 5 năm ké từ khi bản Hiệp định có hiệu

lực, Việt Nam sẽ xoá bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc cho Công ty Tái bảo hiểmViệt Nam Cuối cùng, sau 6 năm, thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ gần như

“ mở cửa hoàn toàn” với việc xoá bỏ hạn chế đối với phạm vi kinh doanh các

loại sản phẩm bảo hiểm bắt buộc, đồng thời, các biện pháp hạn chế khác đều

sẽ cơ bản được bãi bỏ.

Theo ông Lê Quang Bình, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm, Bộ Tài chính trong cuộc phóng van của tạp chí Asia Insurance Review có nói: Hướng tới năm

2005, trong nỗ lực gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của ViệtNam, ngành bảo hiểm cũng đóng góp một vai trò quan trọng Điều này cónghĩa là thị trường bảo hiểm sẽ tiếp tục được mở cửa hơn nữa cho các công tybảo hiểm nước ngoài Không chỉ có vậy các doanh nghiệp bảo hiểm trongnước cũng được khuyến khích mở rộng các hoạt động kinh doanh ở nướcngoài Chính phủ nói rằng sẽ có những hỗ trợ về tài chính cho các công ty bảo

hiểm, công ty môi giới bảo hiểm, và công ty tái bảo hiểm trong nước thực hiện kinh doanh hay thiết lập chi nhánh bao hiểm ở nước ngoài [25 ]

Theo chiến lược đã phê duyệt, các nhà quản lý sẽ ưu tiên hơn chonhững công ty bảo hiểm “có mối quan hệ truyền thống về thương mại và đầu

tư với Việt Nam, có tiềm lực tài chính mạnh, có công nghệ, có kinh nghiệmcũng như có những đóng góp cho thị trường bảo hiểm Việt Nam”

Ngày đăng: 01/12/2024, 02:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Thị phần các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Năm 2005 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Hình 2.2 Thị phần các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Năm 2005 (Trang 48)
Bảng vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm: - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Bảng v ốn của các doanh nghiệp bảo hiểm: (Trang 51)
Bảng 2.2: Kết qủa kinh doanh của PJICO năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Bảng 2.2 Kết qủa kinh doanh của PJICO năm 2007 (Trang 75)
Bảng 2.4: Thị phần doanh thu nghiệp vụ xe cơ giới năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Bảng 2.4 Thị phần doanh thu nghiệp vụ xe cơ giới năm 2007 (Trang 79)
Hình 2.6: Thị phần bảo hiểm xe cơ giới của PJICO năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Hình 2.6 Thị phần bảo hiểm xe cơ giới của PJICO năm 2007 (Trang 80)
Hình 2.7: Thị phần bảo hiểm con người của PJICO năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Hình 2.7 Thị phần bảo hiểm con người của PJICO năm 2007 (Trang 81)
Hình 2.8: Thị phần bảo hiểm tài sản kỹ thuật của PJICO năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Hình 2.8 Thị phần bảo hiểm tài sản kỹ thuật của PJICO năm 2007 (Trang 82)
Hình 2.9: Thị phần bảo hiểm hàng hoá của PJICO năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Hình 2.9 Thị phần bảo hiểm hàng hoá của PJICO năm 2007 (Trang 83)
Hình 2.10: Thi phần bảo hiểm tàu thuỷ, P&I của PJICO năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Hình 2.10 Thi phần bảo hiểm tàu thuỷ, P&I của PJICO năm 2007 (Trang 84)
Bảng 2.8: Doanh thu bảo hiểm xe cơ giới năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Bảng 2.8 Doanh thu bảo hiểm xe cơ giới năm 2007 (Trang 90)
Hình 2.10: Doanh thu bảo hiểm con người PJICO = năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Hình 2.10 Doanh thu bảo hiểm con người PJICO = năm 2007 (Trang 94)
Bảng 2.11: Thị phần bảo hiểm hàng hoá năm 2007 - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Bảng 2.11 Thị phần bảo hiểm hàng hoá năm 2007 (Trang 96)
Bảng 2.13: Doanh thu và Thị phần nghiệp vụ tài sản kỹ thuật - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Bảng 2.13 Doanh thu và Thị phần nghiệp vụ tài sản kỹ thuật (Trang 100)
Bảng 2.16 : Một số dự án đã góp vốn đầu tư tính đến thời điểm - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Bảng 2.16 Một số dự án đã góp vốn đầu tư tính đến thời điểm (Trang 106)
Bảng 2.17: Doanh thu mảng đầu tư PJICO - Luận văn thạc sĩ Kinh tế đối ngoại: Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện khi Việt Nam gia nhập WTO (trường hợp Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex - PJICO)
Bảng 2.17 Doanh thu mảng đầu tư PJICO (Trang 107)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w