LỜI NÓI ĐẦU Tâm lý học nhân cách được biên soạn nhằm hệ thống hóa và chi tiết hóa các vấn đề về nhân cách người, vốn được giới thiệu một phần trong Giáo trình Tâm lý học, với những trọng
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÂN CÁCH
Một số khái niệm
1.1.1 Con người, cá nhân, cá tính, chủ thể
Từ xưa đến nay, khi xem xét con người với tư cách là thành viên của xã hội nhất định, là chủ thế của các mối quan hệ, của hoạt động có ý thức và giao tiếp, điều không thể không nhắc đến đó là nhân cách của họ Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã và vẫn đang tiếp tục những cuộc thảo luận về nhân cách và những vấn đề xoay quanh nó như tại sao có những người thích giao tiếp, hướng ngoại trong có những người thích thu mình, nội tâm, dễ tức giận, dễ trầm cảm Nhân cách của mỗi người là khác nhau dù các yếu tố hình thành nhân cách có tương đồng nhau nhưng khi nội hàm của chúng khác nhau thì cũng dẫn đến sự khác nhau về nhân cách giữa tất cả con người trên thế giới Để hiểu rõ về nhân cách, cần lưu ý phân biệt với các khái niệm như con người, cá nhân, chủ thể, cá tính,… a Con người
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học Với tư cách là một đơn vị sinh lý, con người được nghiên cứu bởi sinh học, y học Với tư cách là một đơn vị tâm
- sinh lý cùng với các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm -sinh lý phức tạp, con người được nghiên cứu bởi đạo đức học, xã hội học, giáo dục học, tâm lý học, Thuyết sinh học - xã hội cho rằng hành vi, tính cách con người được hình thành dựa trên các yếu tố sinh học, đặc biệt dưới sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền Các nhà xã hội học thì xem xét con người trong mối tương tác giữa con người với xã hội nói chung Quan niệm Macxit về con người dựa trên quá trình hình thành con người và xã hội loài người với tư cách một quá trình đôi Một mặt, con người tự vươn lên, tự hoàn thiện để vượt khỏi tình trạng động vật, trở thành thực thể có tư duy Mặt khác, con người ngày càng tìm ra nhiều hình thức liên kết mới để tạo sức mạnh tổng hợp nhằm cải tạo và chinh phục thế giới bên ngoài Trong khoa học xã hội, khái niệm về con người được thừa nhận rộng rãi nhất là “Con người là một thực thể tự nhiên - xã hội”, trong đó, mặt tự nhiên và mặt xã hội thống nhất với nhau tạo thành một cấu trúc con người chỉnh thể, tạo sự khác biệt với các loài động vật khác Bằng thân thể sinh học với bộ não phát triển ở mức độ cao của mình, con người thuộc về tự nhiên tuân theo các quy luật tự nhiên, sinh học Bên cạnh đó về mặt xã hội, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể trong các mối quan hệ xã hội nên sự phát triển của con người chịu sự chi phối của các quy luật xã hội Một trong số đó là quá trình chuyển biến từ con người tự nhiên thành con người xã hội, là quá trình mà con người học hỏi, lĩnh hội những kinh nghiệm, văn hóa, lối sống, chuẩn mực, giá trị, để hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách,
Tóm lại, con người là một khái niệm chung chỉ một giống loài động vật thuộc bậc cao nhất trong thang tiến hóa, có lao động, có ngôn ngữ và sống thành xã hội, mang dấu ấn của nền văn hóa xã hội mà con người đó thuộc về và chịu sự chi phối của của các quy luật sinh học - xã hội Vì thế cũng có thể định nghĩa con người là một thực thể sinh vật - xã hội - văn hóa b Cá nhân
Thuật ngữ cá nhân dùng để chỉ một con người cụ thể, một cá thể người (đơn vị người nhỏ nhất) bắt đầu từ lúc sinh ra đến khi chết đi Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất định và được phân biệt với các cá thể khác thông qua tính đơn nhất và tính phổ biến Khái niệm cá nhân cũng được phân biệt với khái niệm con người vì con người là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến trong bản chất người của tất cả các cá nhân
Cá nhân còn mang ý nghĩa là một thành viên của xã hội, nhóm, cộng đồng khác nhau với tính xã hội - lịch sử xác định Mỗi cá nhân có những đặc điểm sinh học riêng, đặc điểm tâm lý riêng và vai trò xã hội nhất định (đời sống riêng, quan hệ xã hội riêng) nhưng không loại trừ tính chung trong mỗi cá nhân, đó là thành viên của xã hội và mang bản chất xã hội - lịch sử
Như vậy, cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá biệt, vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của hoạt động và các quan hệ xã hội c Cá tính
Thuật ngữ cá tính đề cập đến những đặc điểm tâm - sinh lý riêng biệt của mỗi cá nhân, tạo nên bản sắc riêng và độc đáo ở họ so với những cá nhân khác Cá tính có thể được biểu hiện thông qua những thái độ, phản ứng có tính kiên định, chắc chắn trước tác động của thế giới khách quan Cá tính phản ánh nét riêng biệt của cá nhân, có tính ổn định và lâu bền nhưng cũng có thể thay đổi để thích ứng với thế giới khách quan d Chủ thể
Mỗi lĩnh vực có cách tiếp cận khác nhau về chủ thể với những thuật ngữ như: Chủ thể quan hệ pháp luật, chủ thể tiêu dùng, chủ thể nhà nước, chủ thể kinh doanh, Thuật ngữ chủ thể trong tâm lý học được dùng để chỉ một cá nhân đang thực hiện các hoạt động có mục đích, có ý thức nhằm nhận thức và cải tạo thế giới Khái niệm chủ thể nhấn mạnh vai trò làm chủ trong mối quan hệ với khách thể, tạo nên sự biến đổi khách thể và biến đổi chính bản thân
Nhân cách được hình thành và phát triển nhờ các mối quan hệ xã hội Trong quá trình thực hiện các mối quan hệ xã hội đó, cánh nhân phát triển và bắt đầu quá trình hoạt động sống của mình Do vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách, tuy nhiên, nhân cách thường được xác định như một hệ thống quan hệ của con người với thế giới xung quanh và với chính bản thân Có một số quan niệm chưa khoa học về nhân cách như quan niệm sinh vật hóa nhân cách, coi bản chất của nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể, góc mặt, thể trạng hoặc bản năng vô thức Hoặc quan niệm xã hội học hóa nhân cách, lấy các quan hệ xã hội như gia đình, họ hàng, làng xóm, để thay thế một cách đơn giản các thuộc tính của cá nhân con người Có những quan niệm chỉ chú ý đến cái chung, bỏ qua cái riêng trong nhân cách, đồng nhất nhân cách với con người Ngược lại, có quan niệm chỉ chú ý đến tính đơn nhất, tính độc đáo “có một không hai” của nhân cách
Các nhà tâm lý học cho rằng, khái niệm nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội được chuyển hóa vào trong mỗi con người Có thể kể đến một số định nghĩa về nhân cách như sau: Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định; Nhân cách là cá thể hóa ý thức xã hội; Nhân cách là con người với tư cách kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định hình thức hoạt động và hành vị có ý nghĩa xã hội Có thể thống nhất định nghĩa về nhân cách như sau: Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm lý ổn định của con người nó quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của cá nhân đó Nó vừa biểu thị cái riêng của mỗi cá nhân và vừa biểu thị những đặc trưng chung của xã hội mà người đó đang sinh sống
Như vậy, nhân cách không phải là tất cả đặc điểm cá thể của con người mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người như một thành viên của xã hội, thể hiện toàn bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân
Nhân cách có bản chất lịch sử - xã hội, phản ánh sự phát triển về mặt xã hội, văn hóa của con người, là là kết quả của quá trình chín muồi những đặc tính di truyền dưới tác động của môi trường xã hội Nhân cách con người được hình thành do các quan hệ xã hội mà cá nhân gia nhập trong hoạt động thực tiễn của mình và theo đó những thuộc tính di truyền cũng có thể biến đổi trong chừng mực nhất định, do cá nhân chi phối chúng một cách có ý thức để trở thành một nhân cách Nhân cách không mang tính thụ động mà là chủ thể tích cực của hoạt động và của các quan hệ xã hội Nói đến nhân cách là nói đến con người đã trưởng thành về mặt xã hội, là sự biểu hiện chức năng xã hội của con người, là chủ thể của sự nhận thức và cải tạo thế giới, là chủ thể của quyền hạn và nghĩa vụ, chủ thể của các mối quan hệ và những giá trị xã hội, chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hành vi của mình trước xã hội và bản thân
Nhân cách quy định bản sắc, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng mà cá nhân đó là đại diện Nhân cách được biểu hiện qua ba cấp độ và cũng đồng thời là sự thống nhất của ba cấp độ này, bao gồm cấp độ bên trong, cấp độ liên cá nhân và cấp độ siêu cá nhân Ở cấp độ bên trong, nhân cách được thể hiện dưới dạng cá nhân ở tính không đồng nhất, tính khác biệt với người xung quanh, với cái chung Giá trị của nhân cách ở cấp độ này thể hiện qua tính tích cực trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn cảnh bên ngoài và những hạn chế của bản thân Ở cấp độ liên cá nhân, nhân cách được thể hiện trong các mối quan hệ, liên hệ với nhân cách khác Nhân cách nằm trong mối quan hệ liên nhân cách, tạo nên đặc trưng của mỗi nhân cách và giá trị của nhân cách ở cấp độ này thể hiện qua các hành vị, ứng xử xã hội của chủ thể Ở cấp độ siêu cá nhân, là cấp độ cao nhất, cấp độ siêu nhân cách, nhân cách được xem xét như là chủ thể đang tích cực hoạt động và gây ra những biến đổi ở người khác Ở cấp độ này, giá trị nhân cách được xác định ở cách những hành động và hoạt động của nhân cách này có ảnh hưởng như thế nào đến những nhân cách khác
1.1.3 Đặc điểm của nhân cách
Nhân cách không phải là một phẩm chất tâm lý riêng lẻ mà là một hệ thống các đặc điểm tâm lý đặc trưng với một cơ cấu rõ ràng, ổn định Do đó, không phải con người nào sinh ra cũng ngay lập tức có nhân cách mà nhân cách được hình thành và phát triển dần dần trong quá trình con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội Nhân cách có
4 đặc điểm cơ bản là tính thống nhất, tính ổn đinh, tính tích cực và tính giao lưu a Tính thống nhất của nhân cách
Phương pháp nghiên cứu nhân cách
Phương pháp nghiên cứu nhân cách được hiểu là toàn bộ phương thức và cách thức nghiên cứu các biểu hiện tâm lý của nhân cách
Có nhiều phương pháp và kỹ thuật khác nhau để nghiên cứu nhân cách tùy vào lĩnh vực chuyên ngành, mục tiêu, mục đích nghiên cứu Theo hình thức tổ chức và các điều kiện nghiên cứu thì có phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và không thực nghiệm; phương pháp thí nghiệm và lâm sàng; phương pháp trực tiếp và gián tiếp; phương pháp nghiên cứu và chẩn đoán
Phương pháp nghiên cứu nhân cách theo nội dung dựa theo việc giải thích đối tượng của tâm lý học nhân cách gồm nhân cách với tư cách là cá tính, nhân cách với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội và các mối quan hệ liên nhân cách, nhân cách với tư cách là một hình ảnh lý tưởng Phương pháp này các các nhóm phương pháp như: Khi nghiên cứu nhân cách với tư cách là cá tính thì có các phương pháp chủ quan và phương pháp khách quan, phương pháp di truyền tâm lý nghiên cứu sự hình thành nhân cách; Khi nghiên cứu nhân cách với tư cách là chủ thể hoạt động xã hội và các mối quan hệ liên nhân cách thì có các phương pháp tâm lý xã hội nghiên cứu nhân cách trong nhóm (đo lường xã hội, nghiên cứu hành vi, vai trò, ); Khi nghiên cứu nhân cách với tư cách là một hình ảnh lý tưởng thì có các phương pháp nhằm phân tích nhân cách của cá nhân thông qua biểu tượng trong hoạt động sống, trong động cơ (phân tích giấc mơ, tiểu sử, ) Có thể tạm thời phân nhóm các phương pháp nghiên cứu nhân cách thành 4 nhóm phương pháp như sau: Nhóm phương pháp quan sát (bao gồm nghiên cứu tiểu sử, đàm thoại lâm sàng); Nhóm phương pháp thực nghiệm chuyên biệt; Nhóm phương pháp trưng cầu ý kiến cá nhân; Nhóm phương pháp phóng ngoại Sau đây là một số phương pháp cụ thể trong nghiên cứu nhân cách dưới góc độ tâm lý học
1.2.1 Phương pháp nghiên cứu trường hợp cá nhân (Case-study)
Case-study là nghiên cứu theo trường hợp cụ thể và chuyên sâu về một người, một nhóm đối tượng hoặc một sự kiện Trong một case-study, hầu hết khía cạnh lịch sử và cuộc sống của đối tượng được phân tích để tìm kiếm các mô hình và nguyên nhân của nhân cách Các case-study có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm tâm lý học, y học, giáo dục, nhân chủng học, khoa học chính trị và công tác xã hội Mục đích của một case-study là tìm hiểu càng nhiều càng tốt về một cá nhân hoặc một nhóm để thông tin có thể được khái quát hóa cho nhiều người khác Phương pháp này cho phép các nhà nghiên cứu đi sâu vào nhân cách mà sau đó có thể được dùng để biểu đạt cho một lý thuyết khái quát hơn, được kiểm tra trên một quần thể rộng hơn Kết quả của phương pháp nghiên cứu này có thể cung cấp những kiến thức kỹ lưỡng về một cá nhân đặc biệt xuất chúng, những trường hợp có nhân cách hiếm hoi (trí thông minh đặc biệt ở một lĩnh vực nào đó, trí nhớ đặc biệt với khả năng khi nhớ vượt xa người bình thường, ), người đa nhân cách, Một số phương pháp cụ thể thường được dùng trong nghiên cứu case-study như: Phương pháp nghiên cứu theo thời gian là những phương pháp trong đó một cá nhân được quan sát ở thời điểm hiện tại kéo dài đến một khoảng thời gian trong tương lai để xác định kết quả; Phương pháp hồi cứu là phương pháp liên quan đến việc xem xét thông tin trong quá khứ Ngoài ra, việc tìm kiếm dữ liệu khi tiến hành một case-study cũng vô cùng quan trọng thông qua một số nguồn mà các nhà nghiên cứu có thể sử dụng trong quá trình thu thập thông tin về một cá nhân hoặc một nhóm như: Hồ sơ lưu trữ (Hồ sơ điều tra dân số, hồ sơ khảo sát; Quan sát trực tiếp; Tài liệu (Thư từ, báo chí, hồ sơ hành chính v.v ); Phỏng vấn (Một cuộc phỏng vấn có thể bao gồm các câu hỏi khảo sát có cấu trúc hoặc các câu hỏi mở); Quan sát của người tham gia (Nhà nghiên cứu đóng vai trò người tham gia vào các sự kiện và quan sát các hành động và kết quả); Hiện vật (Các công cụ, đồ vật, dụng cụ và các hiện vật khác thường được quan sát trong quá trình quan sát trực tiếp đối tượng)
Tuy nhiên, các case-study thường mang tính chủ quan cao, và đôi khi rất khó để tổng quát hóa kết quả cho nhóm đối tượng lớn hơn
Với phương pháp này, những người tham gia sẽ được giới thiệu một tình huống trắc nghiệm chuẩn, được nhận những chỉ dẫn tương tự nhau và tình huống trắc nghiệm đòi hỏi việc suy nghĩ, lựa chọn làm người tham gia biểu lộ những phán đoán của riêng mình, những phản ứng, hành vi làm bộc lộ nhân cách Mục đích của phương pháp phóng ngoại này là thông qua con đường gián tiếp (tình huống trắc nghiệm) để chỉ ra những khuynh hướng, động cơ không được ý thức đầy đủ, ít được chú ý của nhân cách
Một số phương pháp cụ thể:
Phương pháp nghiên cứu sự biểu cảm còn gọi là phương pháp khúc xạ nghiên cứu nhân cách con người thông qua phân tích nét chữ, những đặc điểm giao tiếp bằng ngôn ngữ,
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm sáng tạo sử dụng các trắc nghiệm vẽ hình người, trắc nghiệm vẽ cây cối Koch, trắc nghiệm vẽ nhà,
Các phương pháp bổ sung sử dụng trắc nghiệm Jung hoặc phương pháp yêu cầu nghiệm thể bổ sung cho các câu còn dở dang, các câu chuyện bỏ lửng
Phương pháp thiết kế là phương pháp xây dựng và giải thích cục diện toàn bộ của nhân cách dựa trên những chi tiết có dàn dựng với các trắc nghiệm như MAP (một công cụ đánh giá toàn diện dựa trên Mô hình 5 thành tố của nhân cách nhằm đo lường các đặc điểm cá nhân và dự đoán các hành vi quan trọng trong môi trường làm việc), trắc nghiệm thế giới và các biến thể đa dạng của nó,
Phương pháp cấu trúc hóa cung cấp/đưa cho người tham gia nghiên cứu (nghiệm thể) những tình huống trắc nghiệm, dữ liệu gốc, không có sự dàn dựng và yêu cầu nghiệm thể cho nó một ý nghĩa chủ quan Phương pháp này có các trắc nghiệm như trắc nghiệm các đám mây, trắc nghiệm phóng ngoại ba chiều, trắc nghiệm Rorschach hay trắc nghiệm dấu mực Rorschach (bao gồm nhiều hình ảnh được tạo nên từ các vết mực khác nhau, nghiệm thể quan sát các hình ảnh, sau đó tự do liên tưởng, tưởng tượng và đưa ra lựa chọn về những gì mình đã hình dung ra, những gì mình đã nhìn thấy, kết quả sẽ được đưa ra dựa trên quá trình đưa ra lựa chọn và những chọn lựa của nghiệm thể)
Hình minh họa: Một vài hình ảnh sử dụng trong trắc nghiệm Rorschach
1.2.3 Mô hình 5 yếu tố của nhân cách (Big five personality)
Mô hình Big Five Personality là mô hình phản ánh 5 tính cách đặc trưng của con người được phát hiện bởi một số nhà nghiên cứu độc lập vào cuối những năm 50 của thế kỷ 20 Tuy nhiên, mô hình được áp dụng ngày nay được hình thành vào những năm
1990 và được áp dụng trên từ đầu những năm 2000 (năm 2004) cho đến nay Lewis Goldberg là người đã đặt tên cho mô hình The Big Five ngày nay Mô hình này được xem là một công cụ hữu hiệu trên lĩnh vực tuyển dụng và nghiên cứu nhân cách trong việc đo lường tính cách của con người
Big Five được phát triển dựa trên năm mặt tính cách đặc trưng của con người Do sự đa dạng và biến đổi không ngừng, tính cách thường khó để đo lường hơn so với những yếu tố khác như chiều cao hay cân nặng Chính vì thế, các nhà khoa học đã tổng kết các đặc điểm tính cách khác nhau của con người và phân loại chúng thành 5 mặt tính cách chính Chúng bao gồm: Openness - Cởi mở, Conscientiousness - Tự chủ, Extraversion
- Hướng ngoại, Agreeableness - Hòa đồng và Neuroticism - Bất ổn cảm xúc Ghép lại, có cụm từ viết tắt O.C.E.A.N
Bài trắc nghiệm được xây dựng theo dạng thang đo Likert, nghiệm thể sẽ chọn mức độ từ rất đồng ý đến hoàn toàn không đồng ý trên một danh sách các mệnh đề về bản thân Để đảm bảo chính xác, nghiệm thể phải đánh giá dựa trên hiện trạng thực tế, không phải là điều nghiệm thể muốn trở thành trong tương lai Trong bài kiểm tra Big Five, nghiệm thể sẽ không được phân loại theo kết quả nhị nguyên (một trong hai) mà là mức độ cao-thấp của từng yếu tố Ví dụ kết quả bài test Big Five sẽ cho nghiệm thể cho thấy mình là người có mức độ hướng ngoại cao hay thấp, thay vì là người hướng ngoại hay người hướng nội.
Hình minh họa: 5 mặt tính cách theo mô hình Big Five Personality
TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG
Con người là một khái niệm chung chỉ một giống loài động vật thuộc bậc cao nhất trong thang tiến hóa, có lao động, có ngôn ngữ và sống thành xã hội, mang dấu ấn của nền văn hóa xã hội mà con người đó thuộc về và chịu sự chi phối của của các quy luật sinh học – xã hội Cá nhân là một chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá biệt, vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của hoạt động và các quan hệ xã hội Cá tính đề cập đến những đặc điểm tâm – sinh lý riêng biệt của mỗi cá nhân, tạo nên bản sắc riêng và độc đáo ở họ so với những cá nhân khác Chủ thể là một cá nhân đang thực hiện các hoạt động có mục đích, có ý thức nhằm nhận thức và cải tạo thế giới
Nhân cách là tổ hợp các thuộc tính tâm lý ổn định của con người nó quy định hành vi xã hội và giá trị xã hội của cá nhân đó, vừa biểu thị cái riêng của mỗi cá nhân và vừa biểu thị những đặc trưng chung của xã hội mà người đó đang sinh sống Đặc điểm của nhân cách gồm có tính thống nhất, tính ổn định, tính tích cực và tính giao lưu
Có nhiều phương pháp và kỹ thuật khác nhau để nghiên cứu nhân cách tùy vào lĩnh vực chuyên ngành, mục tiêu, mục đích nghiên cứu, có thể tạm thời phân thành 4 nhóm phương pháp: Nhóm phương pháp quan sát; Nhóm phương pháp thực nghiệm chuyên biệt; Nhóm phương pháp trưng cầu ý kiến cá nhân; Nhóm phương pháp phóng ngoại.
MỘT SỐ HỌC THUYẾT VỀ NHÂN CÁCH
Quan niệm phương Đông về nhân cách
Các triết gia phương Đông cho rằng con người là tiểu vũ trụ, mang những đặc tính của vũ trụ và những đặc tính này chi phối sự phát triển nhân cách con người Con người có liên hệ với vũ trụ bao la nên con người cần nắm biết các thông tin của vũ trụ Với tư tưởng chủ đạo này, các quan niệm về nhân cách con người theo tư tưởng phương Đông xoay quanh các yếu tố thuộc về vụ trụ, thiên nhiên, các nguyên tố, đất – trời
Là một tư tưởng triết học phương Đông về con người được thể hiện trong thái cực đồ, một đồ hình mô tả cho thuyết Âm – Dương
Hình minh họa: Thái cực đồ Thái cực đồ nằm gọn trong một vòng tròn, gồm hai nửa đối xứng ôm trọn lấy nhau, tượng trưng cho âm và dương Trong mỗi phần đối xứng lại có một chấm tròn màu đối lập nằm trong đó, trong âm có dương trong dương có âm Hai mặt âm và dương tương hỗ với nhau, bù đắp nhau thành một thể hoàn thiện Không một tổng thể, cá thể nào có thể tách biệt hoàn toàn hai mặt đó Tất cả được bao quanh trong một đường tròn, gọi là Đạo Đạo là cái sinh ra van vật, là cái tự nhiên không có hình dáng, hình thể nhất định Đạo là nguồn gốc của vạn vật và đạo tự nhiên mà có, không do bất kỳ một đấng siêu nhiên tối cao nào sinh ra
Thái cực đồ miêu tả tính toàn thể không hề phân chia của trạng thái hoàn toàn sơ khai hoặc để nói về tiềm năng vô tận Thái cực tạo ra âm dương theo các nguyên lý: động tạo ra dương, khi dương lên đến cực đại, nó chuyển hóa thành tĩnh Trên nền tĩnh tại, thái cực tạo ra âm Khi âm cực đại, lại chuyển hóa thành động Động và tĩnh, trong vòng tuần hoàn đó, là nguồn gốc của nhau Sự phân hóa giữa âm và dương được xác định và hai trạng thái âm dương được bộc lộ Từ sự chuyển hóa của dương và sự kết hợp của âm, "ngũ hành"- kim, mộc, thủy, hỏa, thổ ra đời Khi ngũ hành phân hóa, chúng tạo ra sự hài hòa Khi đã có sự hài hòa, 4 mùa xuất hiện Âm và dương tạo ra vạn vật, và vạn vật lại tiếp tục tạo ra nhiều thứ khác, quá trình này không bao giờ dứt Âm thịnh, dương suy và ngược lại Cực thịnh thì suy, thể hiện ở mỗi phần khi đạt đến độ cực đại thì xuất hiện yếu tố đối lập ngay trong lòng, và phần đó sẽ phát triển dần Đây là nền tảng tư duy nhận thấy sự vật luôn luôn có mâu thuẫn, nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hóa để phát sinh, phát triển và tiêu vong
Do đó, theo quan điểm này con người là một "tiểu kiền khôn" Thực thể con người là sản phẩm của nguyên lý âm dương, vừa đối lập vừa thống nhất, chứa đựng và chuyển hóa lẫn nhau, khi phát triển hết mình, con người không chỉ biết được trời, hiểu được trời mà còn hợp nhất với trời làm một Đây là cơ sở cho những quan điểm của nhiều triết gia phương Đông về con người và nhân cách con người
2.1.2 Quan niệm của người Phương Đông về nhân cách
Trên quan điểm con người là một bộ phận không thể tách rời với tự nhiên, Khổng
Tử cho rằng mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều vận hành theo quy luật âm dương Con người tồn tại cũng không nằm ngoài quy luật ấy, cho nên lấy cơ thể mà nói, thì con người phải nhất luật tuân theo những nguyên lý âm dương biến hóa của đạo trời và cương nhu tương thôi, của đạo đất Thực thể con người là sản phẩm của nguyên lý âm dương, vừa đối lập vừa thống nhất, chứa đựng và chuyển hóa lẫn nhau, trời - đất - người hợp thành một (thiên - địa - nhân hợp nhất) Phối hợp âm dương thì có 3 loại người: Người tạng dương, người tạng âm, người trung tính Có thể dựa vào vẻ mặt, hình dáng, giọng nói, dáng điệu, cử chỉ và tính tình để chia ra các loại người đó Người dương tạng thân hình to khỏe, da nóng, sắc mặt tươi tắn, giọng nói to, trong nhân cách có các phẩm tính như dễ bị kích thích, nhiệt tình sôi nổi Người âm tạng da ướt, mát, sắc mặt xanh, giọng nói nhỏ, tròng đen mắt hướng lên cao, có khí chất lãnh đạm, trầm tĩnh Ngoài ra có loại người trung tính, có sự cân bằng về mặt tâm lý, là loại người tối ưu về thể tạng cũng như tâm lý Sở dĩ có người dương tạng hay âm tạng là do chịu ảnh hưởng của di truyền, hoàn cảnh sống, điều kiện địa lý và cách sống của từng người
Con người chịu ảnh hưởng của ngũ hành, phối hợp ngũ hành thì chia thành các loại người: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Người mệnh Kim có các phẩm tính nghĩa khí chủ đạo trong nhân cách, nếu Kim vượng thì tính cách cương trực Người mệnh Mộc có đặc trưng nhân cách hiền hòa, lương thiện, độ lượng, Mộc vượng dẫn đến hình thành tính cách bất khuất Người mệnh Thủy có phẩm tính thông tuệ, ham học hỏi, nếu Thủy vượng thì có xu hướng bạo lực trong nhân cách Người mệnh Hỏa có phẩm tính lễ nghĩa trong nhân cách nên cư xử nhã nhặn, lễ độ, thích nói lý luận, nếu Hỏa vượng thì dẫn đến tính cách nóng nảy, vội vã, các hành động dễ gặp thất bại Người mệnh Thổ có phẩm chất trọng chữ tín, lời nói đi đôi với hành động, nếu Thổ vượng thì có xu hướng trầm tĩnh, ít năng động, không biết nắm bắt/dễ bỏ qua thời cơ, cơ hội
Những triết lý về mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên đã ảnh hưởng đến lối sống hài hòa, tôn trọng tự nhiên của người phương Đông Khuynh hướng tìm cảm hứng tinh thần trong cảm giác hòa hợp với thế giới tự nhiên đã trang bị cho phương Đông một sự nhận thức bước đầu về tự nhiên, biết nắm lấy cái bản thể cốt lõi của thiên nhiên mà hành động cho phù hợp với cuộc sống mưu sinh của mình Người phương Đông đã vận dụng những tri thức về tự nhiên đó để vượt lên trên, làm chủ và tự do trước thiên nhiên, để biết phải xây nhà theo hướng nào có lợi cho sức khỏe, biết tự điều hòa khí âm khí dương trong con người sinh học của mình để giống với tự nhiên, hòa quyện với thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe Người phương Đông biết thích ứng với tự nhiên, can dự, cải tạo đến một mức độ nhất định đối với tự nhiên để phục vụ nhu cầu sống Đồng thời, người phương Đông đánh giá con người qua “chất” là chủ yếu, “lượng” là phụ, lấy “tâm thiện” làm lý tưởng, đề cao tính thiện lành, tính nhân, yêu thích sự tĩnh lặng, đề cao sự cân bằng, không thái quá, mọi đối nhân xử thế đều hướng đến “Thiện” Đây là những trình bày sơ lược về quan niệm của phương Đông về nhân cách con người chứ chưa phải là những học thuyết về nhân cách.
Một số quan niệm về nhân cách trong tâm lý học phương Tây
Có khá nhiều công trình nghiên cứu về nhân cách của các nhà khoa học phương Tây , trong phạm vi của tài liệu tham khảo này sẽ trình bày một số quan niệm về nhân các của một số trường phái tâm lý học chính yếu và một số quan điểm nổi bật về nhân cách
2.2.1 Học thuyết phân tâm học về nhân cách
Học thuyết phân tâm học là một lý thuyết về cấu trúc nhân cách và động lực phát triển nhân cách Trường phái này được phát minh bởi nhà tâm thần học người Áo Sigmund Freud Sigmund Freud tin rằng những thứ cất giấu sâu trong trạng thái vô thức của con người có thể được tiết lộ theo nhiều cách khác nhau, có thể là giấc mơ, liên tưởng tự do và sự lỡ lời Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của các sự kiện thời thơ ấu, tầm ảnh hưởng của vô thức và các bản năng sinh dục trong quá trình phát triển nói chung và sự hình thành của nhân cách nói riêng Sigmund Freud cho rằng nhân cách bao gồm ba yếu tố khác nhau: Bản năng/cái ấy (Id), bản ngã/cái tôi (Ego), và siêu ngã/cái siêu tôi (Superego)
Hình minh họa: Quan niệm nhân cách của Sigmund Freud
Bản năng/cái ấy-id nằm hoàn toàn trong vô thức, là thành phần sinh học của nhân cách, là bản năng tính dục, có ngay từ lúc mới sinh, chỉ năng lượng nguyên thủy của sự sống Các hành động của nó đều dựa trên nguyên tắc khoái lạc Id tượng trưng cho phần vô thức và thể hiện sự chống đối xã hội của cá nhân Theo Freud, phạm vi của Id trong vô thức là phần nhân cách tối tăm, không thể đi đến được, nó rất mù quáng và độc ác Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm trong con người mà không cần biết đến các hậu quả Bản ngã/cái tôi-Ego nằm ở trên Id, bao hàm cả ý thức, tiền ý thức và một phần vô thức, nó nằm ở phần nổi và một phần chìm của tảng băng trôi, Ego là thành phần tâm lý của nhân cách Ego thể hiện cá tính tâm lý của mỗi con người Ego còn thể hiện trong hoạt động ý thức như tri giác, ngôn ngữ và những hoạt động trí tuệ cho phép kiểm soát kiềm chế hành vi cá nhân trong quan hệ với ngoại cảnh Ego có thể kìm nén xung đột của Id và kiềm chế khoái lạc Ego nhận biết được thế giới xung quanh và nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng sai lệch của Id, để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ xã hội Như vậy, Ego vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ Ego tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân Siêu ngã/cái siêu tôi-superego nằm trong cả ba lát cắt vô thức, tiền ý thức và ý thức, nằm cả trong phần chìm và phần nổi của tảng băng trôi Superego là thành phần xã hội của nhân cách Superego được xem là sự học hỏi của cá nhân về các giá trị và quy tắc xã hội Nó được coi là mặt lương tâm, đạo đức của cá nhân và cái tôi lý tưởng (ego-ideal) Superego đấu tranh để cho các hành vi được hoàn thiện bằng cách xác định giá trị hành vi hoặc tỏ thái độ đối với hành vi là đúng hay sai Superego chứa tất cả các tiêu chuẩn đạo đức tiếp nhận được từ cha mẹ và xã hội Superego buộc Ego phù hợp không chỉ về thực tế mà còn về lý tưởng của mình về đạo đức Do đó, Superego khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi họ đi ngược lại quy tắc của xã hội Một nhân cách phát triển đúng đắn cần có sự hoạt động cân bằng của 3 hệ thống là bản năng/cái ấy (Id), bản ngã/cái tôi (Ego), và siêu ngã/cái siêu tôi (Superego) Một nhân cách thực hiện chức năng đầy đủ có nghĩa là đáp ứng đầy đủ các nhu cầu, thích nghi với hoàn cảnh Tuy nhiên, có những trở ngại đối với việc thực hiện đầy đủ chức năng của nhân cách Xã hội hoá nhân cách là yếu tố quyết định vì hầu hết những chức năng phát triển của bản ngã/cái tôi (Ego) phát triển thông qua tiến trình xã hội hoá tại gia đình Nếu ai có siêu ngã/cái siêu tôi (Superego) mạnh thì phát triển nhân cách tốt hơn Nội dung của siêu ngã thay đổi tùy thuộc vào cá nhân, tuỳ thuộc vào giá trị của xã hội và những tập tục nuôi dạy con của bố mẹ Một người có siêu ngã mạnh có nghĩa là người ấy được chỉ dẫn bởi từng nguyên tắc và tiêu chuẩn của hành vi Một siêu ngã mạnh tạo ra suy nghĩ có tội nơi cá nhân một khi hành vi không xảy ra đồng thời với mệnh lệnh của siêu ngã Nếu cha mẹ có được siêu ngã phát triển tốt là điều kiện thuận lợi để hoàn thành siêu ngã mạnh mẽ nơi con cái Ngược lại cha mẹ có khiếm khuyết thì con cái sẽ rất bất lợi
Các nhà phân tâm học thế hệ mới, như Erik Erikson, Carl Jung, Alfred Adler và Karen Horney, tin vào tầm quan trọng của trạng thái vô thức, nhưng lại không đồng ý với các quan điểm khác trong học thuyết của Freud Erik Erikson nhấn mạnh các yếu tố xã hội trong quá trình phát triển nhân cách, khủng hoảng bản sắc và sự biến động của nhân cách trong từng giai đoạn của cuộc đời Carl Jung tập trung vào các quan niệm về vô thức tập thể, nguyên mẫu và các dạng thức tâm lý Alfred Adler tin rằng các động cơ cốt lõi đằng sau nhân cách có liên quan đến việc con người ta luôn phấn đấu để vượt lên trên mọi người, hoặc mong muốn vượt qua các thử thách và tiến gần hơn đến quá trình tự nhận thức bản thân Adler tin rằng mong muốn được hơn người khác bắt nguồn từ những cảm xúc mặc cảm tự ti ẩn sâu bên trong mỗi người và tất cả chúng ta đều có chúng Karen Horney tập trung vào nhu cầu vượt qua các nỗi lo âu căn bản, cảm giác bị cô lập và một mình trong thế giới Bà nhấn mạnh các yếu tố về xã hội và văn hóa, các yếu tố này cũng góp phần định hình nhân cách, bao gồm cả tầm quan trọng của mối quan hệ cha mẹ - con cái
2.2.2 Học thuyết tâm lý học nhân văn về nhân cách
Tâm lý học nhân văn do hai nhà tâm lý học Carl Rogers và Abraham Maslow sáng lập Trường phái nhân văn tập trung vào sự phát triển tâm lý, tự do ý chí và nhận thức cá nhân Nó có một cái nhìn tích cực hơn vể bản chất con người và tập trung vào quá trình mà mỗi cá nhân khai hóa được những tiềm năng của bản thân
Carl Rogers cho rằng bản chất con người là lương thiện với những khuynh hướng tiến đến sự phát triển tiềm năng và xã hội hóa mà nếu đặt trong môi trường thuận lợi sẽ phát triển nhận thức và hiện thức hóa tiềm năng đầy đủ Ngoài ra, ông còn cho rằng sự tốt đẹp của mỗi người là được kế thừa và nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do ý chí và sự phát triển tâm lý Ông cho rằng khuynh hướng hiện thực hóa chính là động lực tiền ẩn chi phối hành vi con người Theo đó, việc con người đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở, biết lắng nghe, chờ đợi và không áp đặt các điều kiện về giá trị trên người khác đó chính là cách giúp họ nhìn nhận giá trị của sự tích cực một cách vô điều kiện Với sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện người ta được yêu mến và kính trọng vì bản chất thực sự của họ trong nhân cách, và chỉ những ai nhìn thấy được sự tích cực vô điều kiện thì mới có thể trở thành một con người có đời sống tinh thần sung mãn
Về nhân cách con người, nhà tâm lý học Abraham Maslow cho rằng hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, năng lực tạo nên động cơ thúc đẩy hành vi, trong đó nhu cầu chính là động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất Theo ông, nhu cầu của con người nói chung gồm có 5 loại được chia thành 5 cấp bậc được phát triển theo thứ dưới lên trên, tương ứng với những nhu cầu cơ bản đến phức tạp Maslow cho rằng, 4 nhu cầu đầu tiên xuất phát từ sự thiếu hụt nên sinh ra nhu cầu nhằm đáp ứng những mong muốn này Với nhu cầu thứ 5, nhu cầu cao nhất, điều này không xuất phát từ sự thiếu hụt mà bắt nguồn từ những mong muốn tự nhiên của con người là phát triển bản thân (Meta needs) 5 nhu cầu này bao gồm: Nhu cầu sinh lý (Physiological needs); Nhu cầu đảm bảo an toàn (Safety needs); Nhu cầu xã hội (Love/ Belonging needs); Nhu cầu được kính trọng (Esteem needs); Nhu cầu thể hiện bản thân (Self-actualization needs)
Hình minh họa: Tháp 5 bậc nhu cầu Maslow
Nhu cầu sinh lý là những nhu cầu cơ bản và thiết yếu nhất của con người, bao gồm các nhu cầu về thức ăn, nước uống, không khí, giấc ngủ, quần áo và chỗ ở Đây là những nhu cầu mà nếu không được đáp ứng đủ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và sinh tồn của con người Việc đáp ứng các nhu cầu sinh lý là điều kiện tiên quyết để con người có thể tồn tại và phát triển Nhu cầu sinh lý là cấp bậc dưới cùng Theo Maslow, chỉ khi đáp ứng được tầng nhu cầu sinh lý này, mỗi người mới có thể đạt được những bậc tiếp theo trong mô hình tháp
Nhu cầu đảm bảo an toàn là nhu cầu được cảm thấy an toàn và được bảo vệ khỏi những nguy hiểm có thể xảy ra Nhu cầu này bao gồm cả an toàn về thể chất, tinh thần và xã hội Nhu cầu đảm bảo an toàn là cấp bậc thứ 2 trong tháp nhu cầu Maslow, bao gồm các loại nhu cầu: An toàn về mặt thể chất (nơi ở an toàn, bảo vệ khỏi nguy cơ về thức ăn, nước uống, y tế và môi trường, ); An toàn tinh thần (cảm thấy không bị đe dọa bởi xung đột, bạo lực hoặc tình trạng tinh thần không ổn định); An toàn về xã hội (được bảo vệ khỏi những nguy hiểm về xã hội như bạo lực, bất công, ) Khi các nhu cầu sinh lý được đáp ứng, con người sẽ bắt đầu quan tâm đến các nhu cầu đảm bảo an toàn Việc đáp ứng các nhu cầu đảm bảo an toàn sẽ giúp con người cảm thấy an tâm và thoải mái, từ đó có thể tập trung vào việc phát triển các nhu cầu cao hơn
Nhu cầu xã hội xuất hiện sau khi đã thỏa mãn các nhu cầu về thể chất, mỗi người sẽ mong muốn được đáp ứng những nhu cầu về tinh thần Ở cấp bậc thứ 3 này, những nhu cầu thỏa mãn về tinh thần bắt đầu xuất hiện Nhu cầu này là những mong muốn về việc mở rộng mối quan hệ như gia đình, tình yêu, bạn bè, nhằm loại bỏ cảm giác cô đơn, buồn bã khi ở một mình, mang lại sự thân thuộc, gần gũi và sẻ chia Một người mới đi làm sẽ quan tâm về thu nhập, lương bổng để đáp ứng các nhu cầu về chỗ ở, ăn mặc, sau đó xem xét môi trường làm việc đó có văn minh, an toàn không Khi những điều này được thỏa mãn, cá nhân đó sẽ mở rộng những mối quan hệ xã hội, với đồng nghiệp, khách hàng nhằm hòa nhập và thực hiện công việc hiệu quả hơn
Nhu cầu được kính trọng thể hiện mong muốn nhận được sự tôn trọng từ người khác Khi ở cấp bậc này, mỗi người sẽ không ngừng nỗ lực, cố gắng để nhận được sự tôn trọng từ bên ngoài Biểu hiện rõ nhất của nhu cầu này bao gồm: Mong muốn về danh tiếng, sự tôn trọng từ bên ngoài (danh tiếng, địa vị, mức độ thành công, ); Lòng tự trọng với bản thân (coi trọng đạo đức bản thân, coi trọng phẩm giá, nếu thiếu đi lòng tự trọng, con người sẽ thấy mặc cảm và lo lắng khi gặp khó khăn trong cuộc sống) Thực tế cho thấy, khi có được sự tôn trọng và công nhận từ bên ngoài, mỗi cá nhân sẽ cảm thấy tự tin, tôn trọng bản thân hơn Với cấp độ này, mỗi cá nhân sẽ tự biết cố gắng phát triển bằng mọi cách để thăng tiến hơn trong công việc, cuộc sống
Nhu cầu thể hiện bản thân là cấp độ cao nhất trong tháp nhu cầu Maslow, biểu thị sự thăng tiến và phát triển cá nhân đạt đến đỉnh cao của tiềm năng của mỗi người Vị trí này xuất hiện khi 4 cấp bậc kia đã được thỏa mãn, tuy nhiên có một sự khác biệt so với
4 nhu cầu trước đó, đó là nó không xuất hiện từ sự thiếu hụt mà bắt nguồn từ chính những mong muốn phát triển của mỗi người Nhu cầu thể hiện bản thân thường ở những người đã có những thành tựu, thành công nhất định trong cuộc sống Khi muốn được người khác thấy được trí tuệ, tiềm năng và sự phát triển của mình, họ sẽ làm mọi việc để thỏa mãn đam mê cũng như tìm kiếm được những giá trị thực của bản thân
Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loại cũng như phát triển của cá nhân Các nhu cầu đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định Để hiểu được mức độ của nhu cầu này, cá nhân đó không chỉ đạt được mong muốn của các cấp dưới mà còn phải làm chủ được những điều này Có thể nói, mục đích con người khi muốn thỏa mãn nhu cầu ở đỉnh chóp này là để bảo đảm và duy trì 4 nhu cầu ở dưới và điều này tạo thành động cơ thúc đẩy hành vi trong nhân cách con người Bên cạnh 5 tầng biểu thị cho 5 nhu cầu cơ bản của con người, tháp Maslow còn có thêm 3 cấp bậc mở rộng bao gồm: Nhu cầu về nhận thức vì mỗi cá nhân khi muốn xác định được giá trị của mình sẽ cần học hỏi thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm và bài học thực tiễn; Nhu cầu thẩm mỹ biểu thị rõ nhu cầu tìm kiếm cái đẹp ở mỗi cá nhân, con người luôn đề cao tính thẩm mỹ ở mọi thứ xung quanh mình; Nhu cầu về tự tôn bản ngã đề cập đến nhu cầu khám phá về thế giới tâm linh để tìm ra những giá trị vô hình, xu hướng quan tâm và mong muốn được biết nhiều hơn về các điều thần bí không thể giải thích
2.2.3 Học thuyết tâm lý học phân tích về nhân cách
Tâm lý học phân tích được thành lập bởi nhà tâm lý học, bác sĩ tâm thần người Thụy Sĩ Carl Jung với ý định phân biệt với trường phái phân tâm học của Sigmund Freud Đề cập đến cấu trúc nhân cách, Carl Jung cho rằng nhân cách bao gồm yếu tố ý thức và yếu tố vô thức, trong đó ông hướng đến sự dung hòa khi cho rằng những yếu tố vô thức tác động ngang bằng như những yếu tố ý thức và bổ sung cho chúng Hai yếu tố này cùng tồn tại trong nhân cách với mối quan hệ mang tính bù trừ
Một số quan niệm về nhân cách trong tâm lý học Xô Viết
Các nhà tâm lý học Xô Viết có nhiều công trình nghiên cứu và quan niệm khác nhau về nhân cách, tại đây trình bày 3 tác giả đặc trưng đại diện cho nền tâm lý học
2.3.1 Quan điểm của Lev Semyonovich Vygotsky về nhân cách
Lev Semyonovich Vygotsky là đại biểu tâm lý học xuất sắc Xô Viết với quan niệm về sự phát triển nhân cách chính là sự phát triển của tâm lý người gắn liền với sư phát triển hành vi của người đó và sự phát triển này có biểu hiện rõ ràng, nhìn thấy được Theo ông, quá trình phát triển nhân cách diễn ra theo nhiều cách thức, nhiều con đường khác nhau và thường tuân theo một số quy luật nhất định
Thứ nhất, hạt nhân cơ bản của sự hình thành, phát triển nhân cách con người chính là sự phát triển, hình thành các chức năng tâm lý bậc cao, đây là quy luật của sự quá độ, thời kỳ chuyển đổi từ hình thái hành vi mang tính tự nhiên thành hành vi mang tính xã hội mà trong đó có sự can thiệp của các khâu trung gian và gắn liền với quá trình phát triển có tính lịch sử của hành vi người Quá trình này có sự kết hợp phức tạp của các quá trình bộ phận như hoàn thiện tư duy, chuyển từ tư duy đơn giản sang tư duy khoa học thông qua sự phát triển ngôn ngữ
Thứ hai, đặc trưng của phát triển nhân cách là phát triển tính văn minh, nét văn hóa của hành vi con người gắn liền với sự phát triển lịch sử xã hội của nhân loại với nhiệm vụ trung tâm là phát triển các kiểu hành vi mang tính xã hội, tập thể Quá trình phát triển nhân cách là quá trình xuất phát từ việc hình thành, phát triển các hành vi mang tính xã hội, trên cơ sở đó phát triển các chức năng tâm lý bậc cao Đây là cách thức đảm bảo cho con người có những phẩm chất nhân cách tích cực, mang bản chất người, có khả năng thích ứng xã hội và phát triển tư duy
Thứ ba, quá trình phát triển nhân cách còn là quá trình chuyển hóa chức năng từ bên ngoài vào bên trong bản thân con người, là sự chuyển các hình thái biểu hiện của hành vi mang nét đặc trưng xã hội với tư cách là thao tác bên ngoài vào hệ thống hành vi mang nét riêng biệt của cá nhân con người Sự chuyển hóa này được thực hiện nhờ sự phát triển và tham gia của trí nhớ, chú ý và nhờ sử dụng phương tiện cơ bản là giao tiếp trực tiếp, tác động vào người khác, nhờ phương tiện là người khác để chuyển hóa vào trong con người Quá trình này làm xuất hiện sự tự ý thức về bản thân, là một điểm quan trọng của hành vi bậc cao trong nhân cách con người
Theo Lev Semyonovich Vygotsky, nhân cách là một tổ hợp tâm lý có cấu trúc toàn vẹn mà sự hình thành, phát triển của nó không chỉ biểu hiện ở sự tăng thêm của những cấu tạo, chức năng tâm lý mới mà giữa các chức năng, các quá trình, các thuộc tính tâm lý trong nhân cách của một cá nhân còn có mối liên hệ qua lại, ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau, từ đó tạo thành một cấu trúc nhân cách toàn vẹn
2.3.2 Quan điểm của Aleksei Nikolaevich Leonchievvề nhân cách
Aleksei Nikolaevich Leonchiev đại diện cho xu hướng nghiên cứu nhân cách gắn liền với chủ thể của hoạt động với quan điểm, nhân cách chỉ được hình thành và phát triển trong điều kiện cụ thể của hoạt động cá nhân trong xã hội Nhân cách là cấu tạo trọn vẹn thuộc một loại đặc biệt, người ta sinh ra không phải là nhân cách mà người ta trở thành nhân cách
Sự hình thành nhân cách của đứa trẻ diễn ra theo quá trình phát triển của con người, trước hết ở sự hình thành mối quan hệ Ở giai đoạn đầu đời, các hoạt động của trẻ là dạng hoạt động thực hiện mối liên hệ của mình với người khác thông qua đồ vật, mối liên hệ giữa trẻ với sự vật thông qua con người (người chăm sóc giúp trẻ mặc đồ, đưa trẻ lại gần đồ chơi, ) Mối quan hệ giữa trẻ với người và đồ vật sẽ thay đổi, tách bạch rạch ròi hơn trong quá trình phát triển, tạo thành hai mối liên hệ rõ hơn, là mối liên hệ trong hoạt động giữa trẻ với người và mối liên hệ trong hoạt động giữa trẻ với đồ vật Quá trình phát triển nhân cách là quá trình mở rộng hoạt động và giao tiếp của cá nhân Nền tảng của nhân cách là sự phong phú của mối quan hệ giữa cá nhân với thế giới Sự hình thành nhân cách là một quá trình liên tục, gồm các giai đoạn tuần tự thay thế nhau (mà tính chất của chúng phụ thuộc vào các điều kiện hoàn cảnh cụ thể), làm thay đổi tiến trình sự phát triển tâm lý sau này Yếu tố đánh dấu bước chuyển này chính là sự thay đổi phạm vi quan hệ với những người khác, với xã hội kèm theo đó là sự thay đổi thứ bậc của động cơ Có ba thông số để đánh giá trình độ phát triển của nhân cách là:
Sự phong phú của mối quan hệ giữa cá nhân với thế giới bên ngoài; mức độ tính thứ bậc của hoạt động và động cơ; cơ cấu tổng quát của nhân cách
Quá trình phát triển nhân cách luôn là một quá trình mang tính cá nhân sâu sắc và không lặp lại Cấu trúc nhân cách là một chỉnh thể tương đối ổn định bao hàm trong mình một hệ thống thứ bậc các động cơ chủ yếu Nhân cách gồm các tiểu cấu trúc tính khí (khí chất), nhu cầu, lý tưởng, rung cảm và hứng thú, tâm thế, kỹ xảo, thói quen, phẩm chất đạo đức.
Quan niệm về nhân cách trong tâm lý học Việt Nam
Tâm lý học Việt Nam có những cách hiểu khác nhau về nhân cách
Xu hướng thứ nhất coi nhân cách là hệ thống giá trị với những nghiên cứu đến từ các nhà tâm lý học như GS.VS Phạm Minh Hạc, PGS Lê Đức Phúc cùng các nhà nghiên cứu khác GS.VS Phạm Minh Hạc định nghĩa nhân cách là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của người ấy với thang giá trị và thuớc đo giá trị của cộng đồng và xã hội, độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn PGS Lê Đức Phúc cho rằng, nhân cách là cấu tạo tâm lý phức hợp, bao gồm những thuộc tính tâm lý cá nhân, được hình thành và phát triển trong cuộc sống và hoạt động, tạo nên nhân diện và quy định giá trị xã hội của mỗi người Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Bích định nghĩa nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân thể hiện những phẩm chất bên trong của cá nhân, mối quan hệ qua lại của cá nhân với các cá nhân khác, với tập thể, xã hội, với thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện tại và tương lai Tác giả Trần Trọng Thuỷ cho rằng, nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý quy định giá trị xã hội và hành vi xã hội của cá nhân và phải được phân tích và được đánh giá ở 3 mức độ khác nhau: mức độ bên trong cá nhân, mức độ bên ngoài cá nhân, mức độ siêu cá nhân
Xu hướng nghiên cứu thứ hai coi nhân cách là bản tính xã hội, chủ thể ý thức GS Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của con người Tác giả Vũ Dũng quan niệm rằng, một măt nhân cách là sản phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội nhưng nhân cách cũng đồng thời sáng tạo ra hoàn cảnh, điều kiện, của cải xã hội Nhà nghiên cứu Phạm Tất Dong cho rằng nhân cách được xem xét với tư cách là con người mang ý thức, một con người cụ thể với cá tính, ưu khuyết điểm đang bộc lộ trong cuộc sống hàng ngày Trong khi đó tác giả Trần Hiệp định nghĩa nhân cách là kết quả của quá trình xã hội hóa nhân cách và nhân cách bao gồm một tập hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lí đã qui định hoạt động và hành vi của cá nhân, qua đó giá trị của cá nhân đó được xác định
Như vậy, tâm lý học Việt Nam cũng chưa có một khái niệm nhân cách thống nhất
Do đó khi xây dựng khái niệm nhân cách có nhiều sự kế thừa tư tưởng của các tác giả đi trước, đồng thời xuất phát từ tư tưởng chủ đạo của chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người, có thể thấy, nhân cách bao hàm các nét tâm lí tương đối ổn định, nhân cách được hình thành trong cuộc sống, trong hoạt động, giao tiếp, nhân cách là những nét (bản sắc) riêng biệt của mỗi cá nhân; nhân cách là thước đo giá trị của con người trong xã hội
Vậy, nhân cách là toàn bộ những phẩm chất tâm lý tương đối ổn định của cá nhân, biểu hiện ở các nét nhân cách của chính cá nhân đó
TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG
Các triết gia phương Đông cho rằng con người là tiểu vũ trụ, mang những đặc tính của vũ trụ và những đặc tính này chi phối sự phát triển nhân cách con người nên con người cần nắm biết các thông tin của vũ trụ Với tư tưởng chủ đạo này, các quan niệm về nhân cách con người theo tư tưởng phương Đông xoay quanh các yếu tố thuộc về vụ trụ, thiên nhiên, các nguyên tố, đất - trời Đây là những trình bày sơ lược về quan niệm của phương Đông về nhân cách con người chứ chưa phải là những học thuyết về nhân cách
Trường phái phân tâm học về nhân cách nhấn mạnh tầm quan trọng của các trải nghiệm thời thơ ấu và trạng thái tâm trí vô thức Trường phái nhân văn tập trung vào sự phát triển tâm lý, tự do ý chí và nhận thức cá nhân và có một cái nhìn tích cực hơn vể bản chất con người và tập trung vào quá trình mà mỗi cá nhân khai hóa được những tiềm năng của bản thân Tâm lý học phân tích cho rằng nhân cách bao gồm yếu tố ý thức và yếu tố vô thức, trong đó yếu tố vô thức tác động ngang bằng như những yếu tố ý thức và bổ sung cho chúng và các thành phần của nhân cách bao gồm cái tôi, cõi tiềm thức cá nhân, cõi vô thức tập thể Học thuyết tâm lý xã hội mô tả sự phát triển nhân cách gồm
8 giai đoạn mà trong từng giai đoạn, con người trải qua một xung đột mang tính bước ngoặt, đóng vai trò cột mốc chuyển đổi trong sự phát triển Quan điểm của Lev Semyonovich Vygotsky quan niệm về sự phát triển nhân cách chính là sự phát triển của tâm lý người gắn liền với sư phát triển hành vi của người đó và sự phát triển này có biểu hiện rõ ràng, nhìn thấy được Aleksei Nikolaevich Leonchiev đại diện cho xu hướng nghiên cứu nhân cách gắn liền với chủ thể của hoạt động với quan điểm, nhân cách chỉ được hình thành và phát triển trong điều kiện cụ thể của hoạt động cá nhân trong xã hội Tâm lý học Việt Nam chưa có một khái niệm nhân cách thống nhất màkế thừa tư tưởng của các tác giả đi trước, đồng thời xuất phát từ tư tưởng chỉ đạo của chủ nghĩa Mác và tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất con người, có thể thấy, nhân cách bao hàm các nét tâm lí tương đối ổn định, nhân cách được hình thành trong cuộc sống, trong hoạt động, giao tiếp, nhân cách là những nét (bản sắc) riêng biệt của mỗi cá nhân; nhân cách là thước đo giá trị của con người trong xã hội.
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Sự hình thành nhân cách
3.1.1 Nhân cách không phải bẩm sinh có sẵn mà được hình thành
Hình thành nhân cách là một quá trình khách quan mang tính quy luật Nhân cách không phải bẩm sinh có sẵn mà được hình thành
Trẻ em sinh ra là một con người có những đặc điểm mang sắc thái riêng (cá tính) nhưng chưa là một nhân cách Kể từ khi lọt lòng mẹ, trẻ tham gia vào môi trường xã hội đầu tiên trong gia đình, được người lớn nuôi dưỡng, chăm sóc đáp ứng các nhu cầu cơ thể Trong tháng đầu của cuộc đời, trẻ bắt đầu nảy sinh một loại nhu cầu mới, khác biệt với những nhu cầu đầu tiên, là nhu cầu về những ấn tượng bên ngoài Loại nhu cầu này có đặc điểm không bão hoà và càng có nhiều ấn tượng mới tác động đến trẻ thì nhu cầu tiếp nhận chúng càng tăng Những ấn tượng mới từ thế giới bên ngoài (màu sắc, âm thanh, mùi vị v.v…) là những kích thích làm cho các giác quan và hệ thần kinh, trước hết là vỏ não hoạt động nhờ đó các chức năng của chúng phát triển Nhu cầu về những ấn tượng bên ngoài là động lực chính của sự phát triển nhận thức bước đầu ở con người Khi được thỏa mãn những nhu cầu cơ thể cùng nhu cầu về những ấn tượng bên ngoài cũng như khi được người lớn vỗ về âu yếm khi chăm sóc làm nảy sinh những cảm xúc tích cực như sự dễ chịu, thoải mái, vui vẻ, Từ đó hình thành nhu cầu xã hội đầu tiên nơi con người, đó là nhu cầu giao tiếp cam xúc, nhu cầu này cũng chính là động lực phát triển đời sống tình cảm Trong những tháng đầu của tuổi sơ sinh (0-1 tuổi), con người không chỉ tăng trưởng về thể chất mà đời sống tâm lý cũng phát triển Trình độ phát triển tâm lý đạt đến một mức độ nhất định thì trở thành một nhân cách
3.1.2 Các yếu tố hình thành nhân cách
Có hai nhóm yếu tố là cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của sự hình thành nhân cách, được cụ thể hóa thành các yếu tố như: tự nhiên, xã hội, hoạt động, giao tiếp, giáo dục a Yếu tố tự nhiên đối với sự hình thành nhân cách
Tâm lý là chức năng của não, toàn bộ hoạt động của não là hoạt động phản xạ, mà các phản xạ đều gắn với các giác quan, với quá trình thần kinh và các bộ phận tương ứng của cơ thể Những đặc điểm giải phẫu sinh lý của cơ thể, các giác quan, não bộ và đặc biệt là của hệ thần kinh có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành nhân cách Thực tế cuộc sống cho thấy những khuyết tật của hệ thần kinh và các giác quan (thiểu năng trí tuệ, câm, mù, điếc…) có ảnh hưởng nhất định đến tốc độ và chất lượng phát triển nhân cách Đối với con người bình thường (không bị các khuyết tật hệ thần kinh và các giác quan), những yếu tố tự nhiên là những tiền đề, điều kiện cần thiết cho sự phát triển nhân cách Tuy nhiên những yếu tố này không quy định sẵn nội dung, mức độ, chiều hướng phát triển các phẩm chất của nhân cách như năng lực, năng khiếu, tài năng, hứng thú, sở thích, tính cách,
Trong yếu tố tự nhiên còn có yếu tố di truyền Mỗi con người sinh ra đã nhận được từ thế hệ trước những đặc điểm giải phẫu sinh lý của cơ thể, của hệ thần kinh theo con đường di truyền, tuy nhiên, những đặc điểm bẩm sinh và di truyền về thể chất giống
“hệt” nhau, nhưng trong điều kiện thực nghiệm khi nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp dạy học khác nhau đối với từng trẻ thì sự khác biệt đã thể hiện rõ trong kết quả của một số hoạt động sáng tạo mà trẻ cùng tham gia Trong thực tế cuộc sống không hiếm những trường hợp những trẻ sinh đôi, sinh ba cùng trứng khi lớn lên có hứng thú sở thích, năng lực, nguyện vọng,… khác nhau do hoạt động và giao tiếp xã hội trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau Yếu tố di truyền chịu sự chế ước của điều kiện sống, của yếu tố xã hội và biến đổi dưới tác động của môi trường và hoạt động của cá nhân Như vậy, các yếu tố bẩm sinh, di truyền nói riêng, yếu tố tự nhiên nói chung chỉ là tiền đề của sự phát triển nhân cách b Yếu tố xã hội đối với sự hình thành nhân cách
Yếu tố xã hội bao gồm những tác động từ phía môi trường xã hội và những hoạt động của chủ thể trong môi trường đó ở cấp độ vi mô
Môi trường vĩ mô được hiểu là toàn bộ những sự kiện và hiện tượng của đời sống xã hội diễn ra trong phạm vi rộng về không gian và kéo dài về thời gian Môi trường vĩ mô vượt quá giới hạn của địa phương nơi con người sinh sống (phường, xã, thành phố, tỉnh, quốc gia…) Về thời gian, môi trường vĩ mô bao gồm cả quá khứ (di sản văn hoá vật thể và phi vật thể), hiện tại (nền văn hoá vật chất, nền văn hoá tinh thần hiện hữu) và tương lai (viễn cảnh về mô hình phát triển của đất nước, xã hội) Môi trường vĩ mô là những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, nhiều hay ít tùy thuộc mối quan hệ của chủ thể với môi trường đó (quan tâm, thích thú, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng,…) Trong thời đại công nghệ số ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của Internet và mạng xã hội đa dạng thì môi trường vĩ mô càng vượt qua biên giới quốc gia và có những tác động mạnh mẽ đến sự hình thành nhân cách con người theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực
Môi trường vi mô được giới hạn trong phạm vi hẹp, gần gũi với cuộc sống thường nhật của con người như tại gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, các hội nhóm trong thực tế và trên thế giới ảo tại các mạng xã hội, Đối với trẻ nhỏ, môi trường gia đình có ảnh hưởng thường xuyên, liên tục và trực tiếp đến sự hình thành nhân cách ban đầu thông qua sự dạy bảo, chỉ dẫn, uốn nắn để giáo dục trẻ từ các thành viên lớn tuổi cũng như thông qua bầu không khí tâm lý - đạo đức cùng với tình cảm gắn bó ruột thịt của người thân Đây là những tác động có sức cảm hoá mạnh mẽ đối với quá trình hình thành những phẩm chất tốt đẹp của nhân cách, do đó, gia đình thuận hoà, êm ấm, hạnh phúc sẽ trở thành môi trường vi mô ưu thế, thuận lợi nhất đối với sự phát triển nhân cách của con người Ngược lại, sự hình thành những phẩm chất nhân cách tiêu cực mà kết quả là trẻ em hư, vị thành niên phạm pháp đều có tuổi thơ dữ dội vì đã lớn lên và được giáo dục trong môi trường gia đình bất hoà, xung đột Môi trường nhà trường có vai trò to lớn, định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh thông qua các hình thức và nội dung của các loại hình hoạt động dạy học và giáo dục Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của nhà trường, của thầy cô giáo học sinh tham gia các loại hình hoạt động (học tập văn hoá, lao động hướng nghiệp, văn nghệ, thể dục thể thao, ) với tư cách là chủ thể nhằm lĩnh hội nội dung đối tượng của hoạt động và nội dung của những quan hệ nhân cách diễn ra trong quá trình hoạt động và giao tiếp Trong môi trường của nhà trường, con người có điều kiện phát triển nhân cách toàn diện theo yêu cầu của mục tiêu giáo dục Ngoài ra, việc tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp giúp học sinh có cơ hội mở rộng phạm vi giao tiếp và hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, có điều kiện mở rộng tầm hiểu biết xã hội, rèn luyện tính năng động, tính tháo vát, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, ứng xử v.v…
Môi trường vĩ mô, môi trường vi mô là nguồn gốc, là điều kiện xã hội cần thiết, nhưng không trực tiếp quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách Trong những trường hợp vì nguyên nhân nào đó (gia đình ly tán, chán học vì học lực quá kém, vì bị lôi kéo rủ rê,…) trẻ em không gắn bó với gia đình, không tham gia vào môi trường nhà trường và chỉ tìm thấy niềm vui, sự thoả mãn trong giao tiếp với nhóm bạn ngoài đời thực hoặc những nhóm bạn trong các “nhóm kín” trên mạng xã hội hoặc say mê với các văn hóa phẩm không lành mạnh, nghiện trò chơi trực tuyến, thì ảnh hưởng tự phát của môi trường vi mô có thể làm suy thoái nhân cách, bởi con người đã tích cực tham gia vào các hoạt động thiếu tính định hướng tích cực cho sự hình thành nhân cách tốt đẹp Môi trường vi mô hay vĩ mô có thể ảnh hưởng xấu hay tốt đến cá nhân là do cá nhân đó bị cuốn hút bởi những tác động xấu hay tốt của môi trường, một khi chúng phù hợp với những giá trị mà cá nhân đó đang hướng tới Chính những tác động hấp dẫn từ môi trường bên ngoài đáp ứng nhu cầu của chủ thể (giao tiếp, giải trí, nhận thức.v.v…) đã trở thành động cơ thúc đẩy chủ thể hoạt động một cách tự giác, tích cực trong quá trình hình thành nhân cách của bản thân c Hoạt động đối với sự hình thành nhân cách Để tồn tại và phát triển con người phải chiếm lĩnh những đối tượng thỏa mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của bản thân, hay còn gọi là quá trình tạo ra sản phẩm Trong quá trình tạo này, sự tác động của con người vào hiện thực khách quan luôn diễn ra hai quá trình là quá trình đối tượng hóa (là quá trình chủ thể chuyển năng lực và các phẩm chất tâm lý của mình lên đối tượng nhằm tạo ra kết quả bằng cách thể huy động mọi kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phẩm chất tâm lý của mình để tác động, ví dụ như quá trình một nhân viên ngân hàng huy động các kiến thức, kỹ năng đã có để xử lý yêu cầu của khách hàng trong giao dịch) và quá trình chủ thể hóa (là quá trình cá nhân thu nhận kinh nghiệm, tích lũy thêm vốn hiểu cho bản thân như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và các phẩm chất khi thực hiện một hoạt động nào đó, ví dụ, sau mỗi lần giải quyết xong một khiếu nại, thắc mắc của khách hàng, người nhân viên sẽ có thêm kinh nghiệm về giải quyết vấn đề, kinh nghiệm về đọc vị nhu cầu của khách hàng, kinh nghiệm quản lý cảm xúc trong giải quyết xung đột, hoặc có thêm các kiến thức mới do tình huống đó mang lại, ) Đây cũng chính là quá trình hình thành những phẩm chất nhân cách mới của một cá nhân
Căn cứ vào phương diện phát triển cá thể, có các loại hình hoạt động vui chơi (với tính tập thể cao), hoạt động học tập (giúp phát triển trí tuệ và bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức xã hội), hoạt động lao động (giúp con người tạo ra của cải vật chất cho bản thân và cho xã hội, hình thành tính kỷ luật, óc tổ chức, tác phong nhanh nhẹn, tháo vát), hoạt động xã hội (là phương tiện quan trọng để hình thành tính cách cho con người) Mỗi giai đoạn độ tuổi có hoạt động đặc trưng cho lứa tuổi (hoạt động chủ đạo) và các hoạt động thường có đặc điểm là có mục đích, có đối tượng, có chủ thể và có các yếu tố gián tiếp hỗ trợ chủ thể hoàn thành mục đích của mình
Mục đích của hoạt động là cái chủ thể hướng tới, mục đích càng rõ ràng thúc đẩy con người tham gia và chiếm lĩnh đối tượng càng mãnh liệt, con người huy động trí lực và thể lực để đạt mục đích đó Ví dụ, mục đích học đại học của sinh viên là để lĩnh hội tri thức, kỹ năng chuyên môn phục vụ cho công việc sau này của bản thân Dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp thì mục đích của hoạt động thường liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu bản thân được coi trọng hàng đầu
Con người tham gia vào rất nhiều hoạt động, mỗi một hoạt động sẽ có đối tượng riêng, ví dụ đối tượng của người hoạt động lao động trí óc đối tượng là tri thức, người làm quản lý thì đối tượng là con người…Thông thường đối tượng của hoạt động luôn được xác định trước khi tiến hành hoạt động nhưng có những trường hợp đối tượng của hoạt động lại xuất hiện trong quá trình tham gia hoạt động Lúc này, chủ thể hoạt động không tham gia hoạt động như một nhiệm vụ, yêu cầu nào đó mà chủ thể đang tích cực, hứng thú với quá trình hoạt động với đối tượng nhưng vẫn đem lại hiệu quả cao, sáng tạo và đột phá
Chủ thể của hoạt động bao giờ cũng là con người, có thể cá nhân hoặc nhóm người tùy theo từng mục đích và đối tượng hoạt động Ví dụ, hoạt động xây dựng, chủ thể là người thợ xây, hoạt động nông nghiệp chủ thể là người nông dân,… tham gia để hoàn thành hoạt động đó Chủ thể tham gia hoạt động luôn là chủ thể có ý thức Chủ thể của hoạt động khác nhau sẽ tạo ra chất lượng sản phẩm khác nhau Để tạo sản phẩm hiệu quả, chất lượng rút ngắn thời gian và công sức, con người luôn cần sự hỗ trợ của các yếu tố gián tiếp như các công cụ lao động, các phương tiện hỗ trợ,… Nếu không có các yếu tố gián tiếp hoạt động của con người sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn Yếu tố gián tiếp có thể là yếu tố vật chất tác động lên đối tượng, có thể là yếu tố tinh thần giúp con người tăng thêm sức mạnh tâm lý khi tham gia vào hoạt động như xúc cảm tình cảm, ý chí, ngôn ngữ, kinh nghiệm,… Nếu chủ thể biết lựa chọn, sử dụng các phương tiện, công cụ hỗ trợ càng phù hợp, tiện lợi, hiện đại thì càng dễ dàng tạo ra sản phẩm hơn và sản phẩm đạt chất lượng cao hơn
Quá trình lĩnh hội khái niệm, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,… trong hoạt động học tập cũng như quá trình lĩnh hội cách sử dụng công cụ lao động và các đồ dùng khác trong hoạt động lao động làm cho cơ và hệ thần kinh có chức năng vận động tương ứng, phát triển và dần dần hình thành những năng lực mới, những chức năng tâm lý mới Khi đạt đến một trình độ nhất định của sự phát triển nhân cách, chủ thể của hoạt động đối tượng không chỉ chiếm lĩnh mà còn sáng tạo các sản phẩm của nền sản xuất xã hội - lịch sử, làm phong phú thêm thế giới Đó là nền văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, nơi chứa đựng những tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo lao động, quan điểm thẩm mỹ, năng lực, ý chí, ngôn ngữ, lối sống,… mà con người qua các thế hệ đã vật chất hoá trong sản phẩm lao động của mình Dưới sự hướng dẫn, tổ chức của người lớn, trẻ em thực hiện hoạt động và qua đó trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội - lịch sử từ nền văn hoá đó, tạo nên sự phát triển nhân cách của bản thân d Giao tiếp đối với sự hình thành nhân cách
Giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động, nó phản ánh mối quan hệ xã hội giữa người với người, đối tượng của giao tiếp là con người và sản phẩm của giao tiếp là sự thay đổi yếu tố tâm lý, nhân cách bên trong mỗi người
Sự phát triển nhân cách
Sự phát triển nhân cách là quá trình hình thành nhân cách như là một phẩm chất xã hội của cá nhân, là kết quả của xã hội hóa nhân cách và giáo dục
3.2.1 Động lực thúc đẩy sự phát triển nhân cách
Những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển nhân cách, tâm lý của con người có thể xem là động lực thúc đẩy sự phát triển nhân cách Trong suốt chiều dài phát triển này, có các loại mâu thuẫn thường gặp như sau Động lực thứ nhất của sự phát triển nhân cách là do mâu thuẫn giữa những yêu cầu mới của hoạt động với những kỹ năng, kỹ xảo chưa được hình thành Những mâu thuẫn này có thể dễ dàng quan sát ở giai đoạn đầu của sự phát triển nhân cách của một cá nhân Ở độ tuổi mẫu giáo, khi bắt đầu được làm quen với các hoạt động tại lớp học như nặn đồ vật, vẽ tranh theo chủ đề, tham gia các trò chơi đóng vai (giáo viên, bác sĩ, công an, ), trẻ sẽ gặp một số khó khăn vì mỗi loại hoạt động đòi hỏi trẻ có những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng trong việc sử dụng đồ vật, cũng như các thao tác để hoàn thành nhiệm vụ được giao Những khó khăn này chính là biểu hiện của mâu thuẫn giữa những yêu cầu mới của hoạt động với những kỹ năng, kỹ xảo chưa được hình thành, khiến trẻ lúng túng, thử sai, thất bại để có thể hoàn thành sản phẩm Dưới sự hướng dẫn của giáo viên và sự cố gắng luyện tập của trẻ, các thao tác xử lý tình huống, các kỹ năng kỹ xảo được hình thành để hoàn thành các hoạt động mà trẻ đảm nhiệm Quá trình phát triển nhân cách của con người đã có thêm những phẩm tính về kỹ năng kỹ xảo mới để có thể tiếp tục tiếp nhận những hoạt động học tập, vui chơi tiếp theo trên chặng đường phát triển Ở độ tuổi sinh viên, khi bước vào giai đoạn thực tập nghề nghiệp (hoạt động lao động) sẽ nảy sinh một số yêu cầu mới về kỹ năng kỹ xảo so với hoạt động học tập trước đó Điều này khiến sinh viên tích cực vận dụng lý thuyết đã tích lũy trong quá trình học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên với việc quan sát, tự học tại nơi làm việc để giải quyết công việc Kết quả là làm xuất hiện những phẩm chất mới trong nhân cách để đáp ứng các các yêu cầu trong hoạt động lao động (như kỹ năng làm việc độc lập, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giải quyết xung đột trong công việc, ) Những kỹ năng kỹ xảo mới này tiếp tục được trau dồi, bồi dưỡng và phát triển để sinh viên hoàn toàn thích ứng với những thách thức mới liên tục nảy sinh trong quá trình lao động nghề nghiệp Động lực thứ hai của sự phát triển nhân cách đến từ mâu thuẫn giữa khả năng, trình độ đạt được với những yêu cầu của hoạt động, đồng thời cũng là những nhu cầu mới của con người trong từng giai đoạn phát triển Những khả năng, trình độ đạt được về thể chất, tâm lý có thể xung đột với những nhu cầu mới nảy sinh trong quá trình hoạt động của con người và trở thành động lực để phát triển các phẩm chất mới của nhân cách Một ví dụ có thể đề cập để làm rõ loại động lực này, đó là trường hợp trẻ chưa có ngôn ngữ Trẻ dưới 1 tuổi với vốn từ ít ỏi do sự hạn chế về khả năng ngôn ngữ có thể mâu thuẫn với việc bày tỏ yêu cầu, ý thích của mình và mâu thuẫn này có thể được bộc lộ qua việc trẻ hờn dỗi, khóc, ăn vạ khi người chăm sóc trẻ (cha mẹ, anh chị, ông bà, ) không đáp ứng đúng những yếu cầu của trẻ do không hiểu được nhu cầu của trẻ Điều này tạo động lực thúc đẩy nhu cầu phát triển ngôn ngữ nơi trẻ, khiến trẻ tích cực bắt chước, ghi nhớ và tái hiện cách người xung quanh dạy trẻ cách bày tỏ mong muốn, nhu cầu, từ đó vốn từ được tích lũy nhiều hơn, khả năng ngôn ngữ phát triển, trẻ đạt được một phẩm chất mới trong quá trình phát triển nhân cách Khả năng làm việc trong một lĩnh vực nào đó của con người (vốn là kết quả của quá trình rèn luyện phát triển các tố chất cá nhân, tích lũy tri thức, kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến lĩnh vực đó) có thể gặp khó khăn khi tính chất công việc đó thay đổi, khi các yêu cầu về nghiệp vụ, chuyên môn đòi hỏi sự đổi mới phù hợp với xu thế phát triển của xã hội khiến con người phải tích cực học hỏi, cập nhật tri thức, rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo mới qua đó nâng cao hơn nữa khả năng làm việc để tương thích với yêu cầu mới trong công việc Đó chính là quá trình phát triển các phẩm chất nhân cách nghề nghiệp của người trưởng thành Động lực thứ ba của sự phát triển nhân cách đến từ mâu thuẫn giữa những tập quán, thói quen, nề nếp cũ với những yêu cầu mới của hoàn cảnh sống và hoạt động
Việc chuyển từ môi trường học tập phổ thông sang môi trường học tập đại học khiến sinh viên phải thích ứng với nhiều sự thay đổi về nội quy, quy định mới, phương pháp học tập, mối quan hệ giao tiếp với giáo viên, bạn bè Những sinh viên rời gia đình đến một địa phương mới để bắt đầu quá trình học tập đại học không chỉ đối diện với những thay đổi đó như đại đa số sinh viên khác mà còn đối diện với rất nhiều yêu cầu mới trong hoàn cảnh sống của bản thân Nếu trước đây họ chỉ tập trung chủ yếu vào hoạt động học tập thì nay phải đối diện với rất nhiều vấn đề khác mới nảy sinh khi không còn sống chung cùng cha mẹ Một số thách thức mới nảy sinh như vấn đề quản lý tài chính cá nhân, sự hòa hợp với người khác trong môi trường kí túc xá, nhà trọ, tự chăm sóc bản thân trong sinh hoạt ăn uống, nghỉ ngơi, gia nhập vào các câu lạc bộ đội nhóm mới, tham gia các hoạt động ngoài nhà trường như làm thêm, thiện nguyện, hoặc đối diện với vấn đề xung đột văn hóa do môi trường sinh sống, học tập, làm việc có những người đến từ nhiều vùng miền khác nhau, với những tập quán, thói quen, quan điểm sống khác nhau Mâu thuẫn được giải quyết sau một thời gian sinh viên cố gắng thích nghi với môi trường mới, con người mới, từ đó nhân cách người sinh viên có những bước phát triển mới
3.2.2 Các xu hướng phát triển nhân cách
Các xu hướng phát triển của nhân cách bao gồm: Phát triển theo một hướng xác định tùy thuộc vào hệ thống định hướng giá trị của cá nhân; Phát triển mặt nhận thức và mặt tình cảm ý chí; Phát triển xu hướng, tình cảm, năng lực, tính cách a Phát triển theo một hướng xác định tùy thuộc vào hệ thống định hướng giá trị của cá nhân
Nhân cách là một chỉnh thể thống nhất phát triển theo một hướng xác định, tùy thuộc vào hệ thống định hướng giá trị của cá nhân, do hệ thống giá trị tạo ra mặt nội dung của xu hướng nhân cách Hệ thống định hướng giá trị của cá nhân có thể được phân loại thành 3 nhóm Nhóm những định hướng giá trị đạo đức cho thấy cá nhân có xu hướng coi trọng những giá trị liên quan đến các mối quan hệ xã hội được thể hiện qua một số phẩm chất của nhân cách như lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính đoàn kết,
Tổ hợp những thuộc tính nhân cách này là cơ sở tạo nên kiểu loại nhân cách có xu hướng xã hội-vị tha hoặc ngược lại là xu hướng cá nhân - vị kỷ, tuy nhiên, nhân cách con người thông thường không tồn tại một cách cực đoan một kiểu loại mà thường pha trộn, hòa nhập và trong đó có sự nổi trội của xu hướng này so với xu hướng kia Nhóm những định hướng giá trị nghề nghiệp đề cập đến những cá nhân hướng đến những giá trị ngành nghề có liên quan đến lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội như: nghề có ích cho xã hội, nghề có thu nhập tốt, nghề có cơ hội phát triển bản thân, nghề có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần, nghề có cơ hội để ổn định cuộc sống, Nhóm những định hướng giá trị trong học tập thể hiện sự lựa chọn của cá nhân với các giá trị như: tự khẳng định năng lực bản thân, thỏa mãn tính ham hiểu biết, truyền thống học tập của gia đình, Ngoài ra còn có những định hướng giá trị trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống như: định hướng giá trị khoa học, định hướng giá trị nghệ thuật, từ đó có thể phân loại các kiểu nhân cách trí tuệ, kiểu nhân cách nghệ thuật, b Phát triển mặt nhận thức và mặt tình cảm ý chí
Mặt nhận thức của nhân cách phát triển thể hiện thông qua sự phát triển các chức năng tâm lý của quá trình nhận thức như tính chủ định của quá trình nhận thức cảm tính, tính trừu tượng, khái quát của quá trình nhận thức lý tính và những thuộc tính của tư duy như tính linh hoạt, tính logic, tính sáng tạo, Mặt tình cảm của nhân cách là một thuộc tính tâm lý thể hiện rõ nét bản chất xã hội của con người Sự phát triển mặt tình cảm của nhân cách dựa trên cơ sở tổng hợp hóa, khái quát hóa, động hình hóa những xúc cảm đồng loại, từ đó hình thành lên các loại tình cảm tương ứng như tình cảm gia đình, tình mẫu tử phụ tử, tình cảm bạn bè, vợ chồng, đồng nghiệp, Tình cảm là động lực mạnh mẽ giúp con người tìm tòi chân lý, bảo vệ lẽ phải, kích thích con người hoạt động Tuy nhiên quá trình hoạt động thường gặp khó khăn và tình cảm chưa đủ đảm bảo cho sự thành công của hoạt động mà còn cần có ý chí để có thể đạt được mục tiêu Ý chí giúp con người nỗ lực khắc phục khó khăn, thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra, tuy nhiên, ý chí không phải bẩm sinh đã có mà hình thành trong quá trình con người hoạt động và được rèn luyện trong những điều kiện không thuận lợi của cuộc sống c Phát triển năng lực, tính cách, xu hướng
Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, đáp ứng những yêu cầu của một loại hoạt động nhất định và đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả Năng lực gồm có năng lực chung (là những đặc điểm tâm lý có ở đại đa số con người, cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động như khả năng tư duy, trí nhớ, ngôn ngữ, ) và năng lực chuyên biệt (là những phẩm chất riêng có tính chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt nhằm đạt kết quả cao như năng lực toán học, năng lực âm nhạc, năng lực hội họa, Sự phát triển năng lực chuyên biệt có sự đóng góp quan trọng của tư chất tuy nhiên, nếu muốn đạt kết quả cao, bên cạnh tư chất sẵn có thì con người phải kiên trì rèn luyện dưới sự dẫn dắt của giáo dục và phải có nghị lực vượt qua các khó khăn khách quan, chủ quan) Tính cách là một thuộc tính tâm lý bao gồm hệ thống thái độ và các hành vi tương ứng của cá nhân đối với xã hội, với mọi người và với bản thân Tính cách có tính thống nhất và ổn định, thể hiện qua việc các nét tính cách có mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau cũng như thể hiện qua sự thống nhất hữu cơ giữa mặt nội dung (hệ thống thái độ) và mặt hình thức (hành vi ứng xử) Tính cách khó hình thành, khi hình thành rồi thì bền vững và khó thay đổi trong thời gian ngắn
Xu hướng của nhân cách là một thuộc tính tâm lý nói lên phương hướng, chiều hướng phát triển nhân cách Phát triển xu hướng của nhân cách gắn liền với việc giáo dục và phát triển hệ thống động cơ của cá nhân sao cho nội dung đối tượng của những động cơ chính yếu là những giá trị được xã hội đánh giá cao vì tính lợi ích và tính giá trị với toàn xã hội Các thành phần của xu hướng (nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin) là động lực của hành vi và hoạt động của cá nhân với tư cách là những động cơ thúc đẩy bên trong
3.2.3 Các giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách
Sự hình thành và phát triển nhân cách trải qua các giai đoạn từ thấp đến cao Trên bình diện tâm lý học xã hội, sự phát triển nhân cách diễn ra trong quá trình xã hội hóa cá nhân qua 3 giai đoạn
Giai đoạn thích ứng (sự phát triển ở cấp độ sinh học) xảy ra từ lúc lọt lòng mẹ, thoát khỏi thời kỳ cộng sinh trong bụng mẹ, ra đời sống và hòa nhập vào môi trường xã hội Trong những ngày đầu, cơ thể trẻ đáp lại các tác động của môi trường xung quanh chủ yếu dựa trên hệ thống phản xạ không điều kiện, dần dần hệ thống phản xạ có điều kiện hình thành giúp trẻ ngày càng thích ứng với môi trường sống Lúc mới sinh ra trẻ chưa phân biệt được đâu là cảm giác bên trong nội tạng, đâu là cảm giác đến từ kích thích bên ngoài, dần dần theo thời gian mới phân hóa thành các cảm giác riêng biệt (khứu giác, thính giác, vị giác, xúc giác, cảm giác vận động, ) Trẻ cũng chưa phân biệt được người khác với bản thân nhưng dần dần tách biệt, phân hóa để cảm nhận được con người và sự vật xung quanh, từ đó trẻ nhận ra bản thân mình và định hướng vào môi trường bên ngoài Nhờ quá trình thích ứng trong giai đoạn này mà các chức năng tâm lý đơn giản bắt đầu phát triển, đặc biệt là nhận thức cảm tính và các cảm xúc đa dạng
Giai đoạn cá nhân hóa (sự phát triển ở cấp độ tâm lý) chính là quá trình cá nhân lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân loại để biến thành vốn kinh nghiệm riêng của bản thân thông qua hoạt động và giao tiếp trong các hoạt động học tập, vui chơi,
Giai đoạn tích hợp (sự phát triển ở cấp độ xã hội) diễn ra ở tuổi trưởng thành, khi cá nhân không chỉ lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân loại để biến thành vốn kinh nghiệm riêng của bản thân một cách thụ động mà còn chủ động tích hợp những kinh nghiệm đó trên cơ sở chọn lọc và biến chuyển tạo nên bản sắc riêng, độc đáo thể hiện qua nhân sinh quan, thế giới quan, niềm tin, lý tưởng,
3.2.4 Con đường hình thành và phát triển nhân cách
Có nhiều con đường và nhiều biện pháp để hình thành và phát triển nhân cách, tuy nhiên, chủ yếu thông qua dạy học, giáo dục và tự giáo dục a Nhân cách hình thành và phát triển qua con đường dạy học
Dạy học theo quan niệm cũ với phương pháp dạy học truyền thống thì chỉ có thầy là chủ thể của hoạt động dạy học, còn trò là khách thể tiếp thu một cách thụ động những điều thầy dạy Với cách tiếp cận hoạt động - nhân cách, hoạt động dạy - học bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Dưới sự hướng dẫn của thầy, trò phải tích cực hành động để tự mình lĩnh hội tri thức Hoạt động dạy - học có sự hợp tác sư phạm đã phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của trò và hứng thú, động cơ học tập cũng được củng cố và phát triển, đóng góp vào sự hình thành và phát triển nhân cách con người b Nhân cách hình thành và phát triển qua con đường giáo dục
NHỮNG THUỘC TÍNH CỦA NHÂN CÁCH
Xu hướng
Xu hướng là những động cơ bền vững quy định tính lựa chọn của cá nhân đối với hiện thực Xu hướng chính là động lực thúc đẩy con người phấn đấu đi lên và định hướng hành vi của bản thân, bao gồm các thuộc tính nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin Xu hướng có ảnh hưởng và chi phối trong việc lựa chọn các động cơ phù hợp cho nhân cách, trong đó có một thành phần nào đấy chiếm ưu thế và có ý nghĩa chủ đạo, đồng thời các thành phần khác giữ vai trò chỗ dựa, làm nền
Nhu cầu là nền tảng tạo ra xu hướng Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà cá nhân thấy cần phải được thỏa mãn trong những điều kiện nhất định để có thể tồn tại và phát triển
Nó tạo nên trạng thái mất cân bằng tạm thời giữa con người với môi trường xung quanh Khi nhu cầu cá nhân được thỏa mãn làm cho cá nhân duy trì sức khỏe và sự sống, cảm thấy tự do, hạnh phúc và thỏa mãn về bản thân Nhu cầu được thỏa mãn trở thành yếu tố đóng góp cho sự phát triển khả năng của một cá nhân, khích lệ cho mọi sự sáng tạo và thăng hoa trong cuộc sống Lý thuyết về nhu cầu trong tâm lý con người được đề cập đến nhiều nhất chính là thuyết nhu cầu phân tầng của nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow Theo Maslow, con người có 5 tầng bậc nhu cầu, khi nhu cầu bậc một, nhu cầu cơ bản nhất của cá nhân được thỏa mãn, cá nhân sẽ có nhu cầu cao hơn và cứ thế đi lên Mỗi nhu cầu trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để người đó có thể phát triển khả năng cao nhất của mình
Nhu cầu của con người rất đa dạng, thay đổi liên tục nên mang bản chất xã hội, lịch sử Giữa mỗi cá nhân thì mức độ, thứ bậc và cách thức thỏa mãn nhu cầu cũng rất khác nhau Điều này dẫn đến sự đa dạng của phương thức thỏa mãn nhu cầu của con người Nhìn vào thực tế xã hội sẽ thấy, cùng là nhu cầu tiêu dùng nhưng người dân mỗi quốc gia có nhu cầu khác nhau, người dân trong một quốc gia, ở những vùng miền khác nhau, giới tính, độ tuổi, vị trí xã hội khác nhau sẽ có nhu cầu tiêu dùng khác nhau Điều này dẫn đến có những hành vi khác nhau trong tiêu dùng cũng như dẫn đến sự đa dạng của các sản phẩm từ chất liệu, chất lượng, nguồn gốc, giá cả, để thỏa mãn nhu cầu đó
Vì thế, bất kỳ doanh nghiệp nội địa nào cũng cần đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu và đa dạng hóa thị trường, sản xuất những loại hàng hóa thế giới cần chứ không chỉ bán những thứ đang có
Thậm chí, thời điểm khác nhau trong một năm (sự thay đổi mùa/thời tiết, các dịp lễ tết, ), thời điểm trước và sau một sự kiện xã hội (dịch bệnh, chiến tranh, lạm phát, suy thoái kinh tế, ) cũng tác động đến sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng của con người Ví dụ, năm 2023, thị trường hàng hóa thế giới có nhiều biến động và chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, xung đột và cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, tình hình thời tiết cực đoan diễn ra ở nhiều nơi, trên phạm vi rộng làm mất cân đối sản xuất lương thực khiến nhiều quốc gia duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, người tiêu dùng Việt Nam có những điều chỉnh đáng kể trong nhu cầu, thói quen mua sắm, từ cắt giảm mức chi tiêu không cần thiết, hạn chế mua hàng hoặc thay đổi phương thức và lựa chọn xoay sở với ngân sách thu hẹp hơn so với trước đây
Mỗi cá nhân luôn có nhiều nhu cầu được sắp xếp theo một thang bậc nhất định Chính sự sắp xếp này, cùng với cách thỏa mãn nhu cầu cũng như phản ứng của cá nhân khi được thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu sẽ bộc lộ giá trị xã hội của họ
Hứng thú là trạng thái tinh thần hoặc cảm xúc tích cực của cá nhân hướng vào một đối tượng nào đó Nó xuất hiện khi con người có sự kích thích, sự tò mò và niềm say mê với điều gì đó
Hứng thú có nội dung và đối tượng cụ thể, là sự tập trung chú ý của một cá nhân hoặc sự tham dự của cá nhân với các sự kiện và đối tượng điển hình Hứng thú liên quan đến mối quan hệ cụ thể giữa con người và môi trường Mối quan hệ này được duy trì thông qua sự tương tác giữa các yếu tố: tiềm năng hứng thú nằm trong vật chất di truyền của cá nhân, nội dung và môi trường xác định chiều hướng phát triển của hứng thú Hứng thú bao gồm hai thành phần đó là nhận thức và cảm xúc, mặc dù tỉ lệ của các thành phần này có sự khác nhau tùy thuộc vào các giai đoạn của hứng thú Cá nhân không phải lúc nào cũng có thể nhận thức về hứng thú của họ trong suốt quá trình tương tác Người học có thể không nhận thức được hứng thú của họ đã được kích hoạt và trong những giai đoạn sau đó của hứng thú, người học có thể cảm thấy bị thu hút đến nỗi họ không thể nhận thức được quá trình tương tác của họ và đối tượng gây ra sự hứng thú Hứng thú có 2 loại là hứng thú cá nhân và hứng thú tình huống Hứng thú cá nhân là xu hướng mang tính ổn định của cá nhân giúp họ tương tác một cách tích cực với đối tượng gây ra sự hứng thú, chẳng hạn như xu hướng bị thu hút, lôi cuốn hoặc thích thú với đối tượng nào đó, như một thương hiệu xe ô tô, một sản phẩm đồ uống có thương hiệu lâu đời, Hứng thú tình huống chỉ các tương tác hiện tại, gây nên sự chú ý tức thời và không mang tính chất ổn định, ví dụ hiện tượng bắt chước nhau thực hiện một hành động nào đó (bắt trend) thường xảy ra trên mạng xã hội, Cả hai loại hứng thú này không hoàn toàn tách biệt, cô lập, mà ngược lại chúng có khuynh hướng tương tác và là điểm tựa cho sự phát triển của nhau
Hứng thú có 4 giai đoạn phát triển dựa trên sự phân loại hứng thú tình huống và hứng thú cá nhân Theo đó, cả hứng thú tình huống và hứng thú cá nhân đều bao gồm hai giai đoạn Cụ thể, hứng thú tình huống gồm giai đoạn thứ nhất là sự kích hoạt hứng thú tình huống, là những trạng thái tâm lý của hứng thú mà đó là kết quả từ sự thay đổi tương đối ngắn trong quá trình nhận thức, cảm xúc Giai đoạn thứ hai là sự duy trì hứng thú tình huống, là trạng thái tâm lí của hứng thú theo sau giai đoạn kích hoạt hứng thú, giai đoạn này kèm theo sự chú ý và kiên trì nhằm kéo dài và duy trì tình huống Trong khi đó, hứng thú cá nhân gồm giai đoạn thứ ba là xuất hiện hứng thú cá nhân, là chỉ những trạng thái tâm lý của hứng thú cũng như đây là giai đoạn bắt đầu của một khuynh hướng liên quan lâu dài để tìm kiếm, lặp lại sự tái tham gia với lĩnh vực nội dung cụ thể theo thời gian Giai đoạn thứ tư là hứng thú cá nhân được hình thành, là trạng thái tâm lý của hứng thú cũng như đây là giai đoạn thiết lập khuynh hướng liên quan lâu dài để tái tương tác với lĩnh vực nội dung cụ thể theo thời gian Bốn giai đoạn được mô tả thành hai giai đoạn nhỏ là giai đoạn đầu của hứng thú khi con người chủ yếu tập trung vào sự chú ý và các cảm xúc tích cực và giai đoạn sau của hứng thú, bao gồm các cảm xúc tích cực, giá trị và kiến thức Đặc trưng của mỗi giai đoạn là dung hòa sự phát triển của giai đoạn trước đó và làm sâu sắc hơn hứng thú cũng như thành quả đã có ở giai đoạn trước Hứng thú ở mỗi giai đoạn phát triển được hỗ trợ bởi những yếu tố bên ngoài: nhóm bạn, điều bí ẩn để kích thích sự tò mò, Giai đoạn trước có thể là dấu hiệu báo trước để xuất hiện các giai đoạn sau, tuy nhiên nó cũng có thể dẫn đến hoặc không dẫn đến giai đoạn sau của hứng thú Để có được hứng thú cá nhân cần phải có sự trải nghiệm của hứng thú tình huống trước đó Để hứng thú được nuôi dưỡng và sâu sắc hơn hứng thú trước đó, vẫn rất cần có sự tham gia của bản thân, của cá nhân hoặc sự hỗ trợ từ bên ngoài Hứng thú thực sự không thể thiếu vắng kiến thức thiết yếu liên quan đến lĩnh vực mà cá nhân hứng thú
Thành phần của hứng thú gồm mặt nhận thức thường được liên hệ lĩnh vực kiến thức mà cá nhân có sự hứng thú, mặt cảm xúc thường được nhắc đến với khía cạnh thích thú của cá nhân, mặt giá trị gắn liền với sự xem xét tầm quan trọng của đối tượng gây ra sự hứng thú đối với cá nhân, gắn liền với mức độ hữu dụng của nó mà cá nhân có thể nhận thấy
Khi tham gia hoạt động, cá nhân có hứng thú nó sẽ mang lại sự hưng phấn, thỏa mãn trong hoạt động, nó làm cho cá nhân làm việc cảm thấy có ý nghĩa hơn Hứng thú xuất hiện chủ yếu do tính hấp dẫn về mặt cảm xúc với nội dung hoạt động, có hứng thú cá nhân thường huy động sức lực và trí tuệ cao độ vào đối tượng và sự say mê làm việc Hứng thú tạo làm nảy sinh khát vọng hành động, tăng sức làm việc, tăng tính tích cực tự giác, giúp con người vượt mọi khó khăn trong hoạt động và làm tăng hiệu quả của hoạt động Hứng thú có thể tồn tại ở nhiều lĩnh vực và mức độ khác nhau, từ việc thích thú với một sở thích cá nhân, một ngành nghề, một hoạt động giải trí, cho đến sự quan tâm sâu sắc đối với một vấn đề xã hội hay một lĩnh vực nghiên cứu
Lý tưởng là mục tiêu cao đẹp, mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh có sức mạnh lôi cuốn toàn bộ cuộc sống của cá nhân để vươn tới nó
Trong lý tưởng chứa đựng mặt nhận thức sâu sắc và mặt tình cảm mãnh liệt của chủ thể đối với mục tiêu của mình Lý tưởng có sức hấp dẫn mọi hoạt động cá nhân hướng về nó, kích thích, định hướng điều chỉnh các quá trình nhận thức, năng lực cá nhân, đời sống tình cảm khi thực hiện Lý tưởng là hình ảnh tưởng tượng, nhưng không là cái viển vông mà luôn xuất phát từ hiện thực, bởi thực tế cuộc sống, từ con người thực tế, hình mẫu thực tế hoặc do cá nhân tổng hợp những mục tiêu, hình mẫu có trong hiện thực để đúc kết nên hình ảnh cao đẹp cho bản thân từ đó định hướng mục tiêu cho bản thân, ví dụ, trở thành một doanh nhân thành đạt, một nhân sự tài năng trong lĩnh vực tài chính,… Lý tưởng là cái con người hướng tới, phấn đấu trong tương lai, đó có thể là những mong ước vì vậy hình ảnh của lý tưởng được cá nhân thấy hấp dẫn và mong ước đạt tới, hình ảnh lý tưởng được con người ấp ủ, tôn thờ, mường tượng với với những cảm xúc tích cực, toàn tâm toàn ý
Tính giai cấp và xã hội - lịch sử của lý tưởng thể hiện ở chỗ, mục tiêu và hình ảnh của lý tưởng xuất phát từ hiện thực cuộc sống, nó phản ánh tồn tại xã hội, nhu cầu xã hội của từng giai đoạn lịch sử cũng như đời sống giai cấp cá nhân Mỗi giai đoạn lịch sử nhất định sẽ có những hình mẫu lý tưởng riêng, tùy mỗi giai cấp, mỗi dân tộc có lý tưởng sống riêng Ví dụ, trong giai đoạn kháng chiến, lý tưởng sống của thanh niên thời đó là những khát khao giải phóng dân tộc, đánh đuổi giặc ngoại xâm Ngày nay, lý tưởng của thanh niên là những con người thành công, tài giỏi trong lĩnh vực mình theo đuổi Tuy nhiên, vẫn có những mặt trái trong lý tưởng sống của người trẻ ngày nay Sự bùng nổ việc phủ sóng truyền thông và xuất hiện liên tiếp của những cá nhân này đã tạo ra sự thay đổi trong tư duy đối với những người nổi tiếng là như nhau ở cả người lớn và thanh thiếu niên Theo một cuộc khảo sát của các giáo viên tại Vương quốc Anh do Hiệp hội Nhà giáo thực hiện năm 2008 thì, hầu hết người trẻ thường chọn những ngôi sao thể thao (bao gồm cả ngôi sao bóng đá) làm hình mẫu lý tưởng của mình, tiếp sau đó là các ngôi sao nhạc pop và các biểu tượng đại chúng Hiện tượng này ngày càng phổ biến và lan rộng trên mạng xã hội Từ trước đến nay, “Thần tượng” được hiểu là hình tượng đẹp, hình mẫu của giá trị Chân – Thiện – Mỹ mà con người ngưỡng mộ và hướng tới Khi thần tượng một hình mẫu nào đó chính là tôn trọng và đánh giá cao những tài năng, nét đẹp, giá trị của hình mẫu đó Ngưỡng mộ thần tượng khiến mỗi người có thêm động lực sống, làm việc và thực hiện đam mê của mình Tuy nhiên, do thần tượng được cảm nhận, đánh giá qua lăng kính tư duy, tình cảm của chủ thể, nên thần tượng mang tính chủ quan, có tính tương đối Chính vì vậy, nhiều trường hợp họ chỉ là người bình thường trong mắt người này nhưng lại vĩ đại trong khái niệm của người khác Từ đó đã dẫn đến nguyên nhân khiến hiện tượng “thần tượng đúng chuẩn” và “thần tượng lệch chuẩn” cùng tồn tại trong thực tế Lệch chuẩn được hiểu là những hành vi đi lệch khỏi hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội Do đó, “lệch chuẩn thần tượng” nghĩa là sai lầm khi lựa chọn thần tượng, là sự sùng tín đối với các đối tượng lệch chuẩn Với sự phát triển của mạng xã hội, hiện nay có không ít bạn trẻ đang lệch chuẩn trong việc lựa chọn thần tượng Nhiều cá nhân không chỉ hâm mộ những diễn viên, ca sĩ… mà còn sùng bái những
“giang hồ mạng” Sự nổi tiếng của các nhân vật “giang hồ mạng” không phải do tài năng hay đóng góp đặc biệt cho xã hội, mà xuất phát từ những hành vi vô văn hóa hoặc lan truyền các hình ảnh, clip thiếu chuẩn mực Bên cạnh đó, các thanh niên xăm trổ đầy mình, có hành vi côn đồ, tiền án tiền sử… cũng được một số bạn trẻ xem là thần tượng Hàng loạt “giang hồ mạng” sở hữu các kênh youtube, fanpage có số lượng người theo dõi, chia sẻ đông đảo Nguy hại hơn là các bạn trẻ từ tò mò xem cho biết, không ít người đã bắt chước, học theo lối sống, hành vi lệch lạc của những đối tượng đó mà không lường được những hệ lụy xấu đối với sự hình thành phát triển nhân cách Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “lệch chuẩn thần tượng” trong giới trẻ hiện nay Về khách quan, đó là sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội với trào lưu chia sẻ, lan rộng những “hiện tượng” thu hút sự quan tâm cao của cộng đồng mạng Trên môi trường mạng xã hội, bên cạnh những thông tin chính thống, tích cực thì không tít những thông tin xấu, độc, tin giả, những bài báo “giật tít, câu view”, thậm chí là video clip, phát ngôn gây sốc, hành vi “kỳ quặc” cũng được lan truyền nhanh chóng Bên cạnh đó, “lệch chuẩn thần tượng” cũng xuất phát từ việc thiếu vắng sự quan tâm của các bậc phụ huynh trong giáo dục con cháu tại gia đình Trong xã hội hiện đại, không ít các bậc làm cha làm mẹ chưa dành thời gian thích đáng để chăm sóc, giáo dục con cái, một bộ phận gia đình còn chạy theo lối sống thực dụng, phương pháp uốn nắn, giáo dục chưa khoa học khiến cho nhiều bạn trẻ có cái nhìn và nhận thức lệch lạc về con người, xã hội Về chủ quan, giới trẻ là những người đang độ tuổi chuyển giao giữa thời kỳ thiếu niên, phụ thuộc sang những người trưởng thành với những thay đổi về cả sinh lý, tâm lý Các bạn trẻ thường có tâm lý sôi nổi, nhiệt tình nhưng đôi khi bồng bột, ngộ nhận, có khát khao sáng tạo, cống hiến nhưng cũng dễ chạy theo cái mới, dễ hoang mang, kích động và bị cám dỗ
Tính cách
Tính cách là sự kết hợp độc đáo các thuộc tính tâm lý bản chất của nhân cách, biểu thị thái độ của con người đối với bản thân, thế giới xung quanh và được thể hiện trong hệ thống hành vi của họ
Tính cách con người mang nét độc đáo, riêng biệt được hình thành theo các mối liên hệ bên trong và chịu ảnh hưởng của động cơ cá nhân, chịu ảnh hưởng từ những điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội nhất định Hay nói một cách khác, tính cách là sự kết hợp độc đáo, cá biệt những đặc điểm tâm lý tương đối ổn định, biểu hiện thường xuyên của cá nhân, được thể hiện qua các hành vi, hành động và cử chỉ của con người Trong mọi hoạt động, hành vi của con người luôn phản ánh nét tính cách tiêu biểu, những hoàn cảnh giống nhau sẽ thường có phản ứng giống nhau, từ đó có thể phỏng đoán tính cách của một người thông qua sự quan sát phong thái và hành vi của họ một cách có hệ thống Tính cách chủ yếu do giáo dục và tác động của môi trường sống tạo nên, được hình thành trong quá trình hoạt động Gia đình và các nhóm xã hội có ý nghĩa to lớn với việc hình thành tính cách con người Môi trường sống, ví dụ như gia đình chính là một xã hội thu nhỏ, nơi mà con người được rèn luyện về hành vi, ứng xử và chuẩn mực đạo đức Những bài học được dạy từ gia đình tạo nên tác động rất mạnh mẽ góp phần hình thành tính cách Trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường tiêu cực như bị ngược đãi và bạo hành, sẽ có xu hướng bị kích hoạt tính bốc đồng Ngược lại, nếu trẻ em lớn lên ở môi trường tích cực như gia đình an toàn và yêu thương sẽ có tính cách điềm đạm hơn, tự tin, Ngoài ra ở một mức độ nào đó, con người có thể thay đổi tính cách của mình theo hoàn cảnh, thời gian do ngày càng có nhiều trải nghiệm sống hơn Chẳng hạn khi ở độ tuổi thanh thiếu niên, cá nhân có thể nóng nảy, thụ động nhưng theo thời gian, những trải nghiệm của cuộc sống khiến tính cách họ điềm tĩnh hơn, ổn định hơn, chủ động hơn Nét tính cách được hình thành trong quá trình sống sẽ trở nên ổn định, khó thay đổi nên việc điều chỉnh nét tính cách cần có thời gian và sự kiên nhẫn
Cấu trúc của tính cách bao gồm hệ thống thái độ (là các thái độ đối với xã hội, đối với người khác, đối với lao động, đối với bản thân, đối với môi trường) mà tập hợp các thái độ này tạo nên mặt nội dung của tính cách và hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng, là mặt hình thức của tính cách Nội dung và hình thức của tính cách không tách rời nhau mà luôn thống nhất hữu cơ với nhau Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của tính cách là mối quan hệ đa dạng, phức tạp tạo nên những kiểu người khác nhau trong xã hội Bên cạnh đó, tính cách con người bao gồm những nét tích cực và tiêu cực được thể hiện qua cách ứng xử, giao tiếp với người khác và bản thân Ví dụ, những nét tích cực và tiêu cực thể hiện trong các mối quan hệ với người khác có thể là chân thành hoặc giả dốì; lịch sự hoặc thô lỗ, quan tâm hoặc thờ ơ; trong mối quan hệ với công việc tính cách thể hiện ở tinh thần trách nhiệm hoặc vô trách nhiệm; chăm chỉ hoặc lười biếng; sáng tạo hoặc trì trệ, cẩn thận hoặc cẩu thả; trong mối quan hệ với vật chất tính cách thể hiện ở chỗ tiết kiệm hoặc lãng phí; trong mốì quan hệ với bản thân tính cách thể hiện ở đức tính khiêm tôn hoặc tự phụ; tự tin hoặc tự ti; Trong thực tế, không có tính cách hoàn toàn tích cực hoặc tính cách hoàn toàn tiêu cực mà chúng thường đan xen lẫn nhau, sự nổi trội của mặt tích cực hoặc mặt tiêu cực phụ thuộc vào lựa chọn của cá nhân dưới tác động của môi trường, giáo dục và trải nghiệm của cá nhân đó Như vậy, có thể thấy, tính cách con người rất đa dạng Mỗi cá nhân cần nhận thức những nét tính cách tích cực để phát huy đồng thời hạn chế, khắc phụcnhững nét tính cách tiêu cực Một số công cụ có thể sử dụng để hiểu về tính cách như trắc nghiệm MBTI, trắc nghiệm DISC, trắc nghiệm Enneagram, trắc nghiệm Holland, trắc nghiệm về 8 loại hình thông minh, Kết quả các trắc nghiệm sẽ chỉ ra cách con người nhận thức thế giới xung quanh, suy nghĩ, biểu hiện thái độ, sở thích, cách quyết định cho mọi vấn đề trong cuộc sống, từ đó giúp cá nhân hiểu hơn về kiểu tính cách của mình Ví dụ, trắc nghiệm Enneagram là một hệ thống phân loại tính cách con người dựa trên các khía cạnh tâm lý và hành vi và phân loại con người vào 9 loại tính cách cơ bản, theo đó, mỗi loại tính cách sẽ có những đặc điểm, cách suy nghĩ, cảm xúc và hành vi riêng, trong đó sẽ có một nhóm tính cách nổi trội hơn và miêu tả chính xác hơn so với các nhóm còn lại 9 nhóm tính cách đặc trưng trong trắc nghiệm Enneagram gồm: Người cầu toàn (là những người có xu hướng chú trọng đến tiểu tiết, có mức độ trách nhiệm cao, đề cao sự công bằng, đúng đắn, hiệu quả trong công việc, tỉ mỉ, cẩn trọng và đặt chất lượng lên hàng đầu, ); người tốt bụng (là những người có xu hướng quan tâm đến người khác hơn bản thân mình,luôn sẵn lòng đáp ứng nhu cầu của người khác, rất quan tâm đến sự hài lòng, hạnh phúc của người khác, ); người thành công (là những người có xu hướng quan trọng về thành tích và công nhận từ mọi người xung quanh, thường có tầm nhìn rõ ràng về mục tiêu, luôn làm việc chăm chỉ để đạt được thành công, năng động, nhiệt huyết và giàu năng lượng, luôn có những kế hoạch để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, ); người nghệ sĩ (là những người chú trọng về mặt cảm xúc, có nhu cầu tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống, khá nhạy cảm, có khả năng thấu hiểu cảm xúc của mình và người khác, sở hữu khả năng sáng tạo thiên bẩm, thường diễn đạt góc nhìn thông qua nghệ thuật và cái đẹp, có lòng tự trọng cao, khát khao sự công nhận tài năng, dễ rơi vào trạng thái cô đơn và bị chi phối bởi cảm xúc, ); người tri thức (là những người có sự tò mò và khao khát hiểu biết sâu sắc về thế giới xung quanh, thích truyền đạt kiến thức cho người khác, có nhu cầu cô lập để tập trung vào việc suy nghĩ và nghiên cứu, ưu tiên sự riêng tư, không thích ai xâm nhập vào không gian cá nhân của mình, ); người trung thành (là những người có xu hướng tìm kiếm sự an toàn và ổn định trong cuộc sống, đặt sự trung thành lên hàng đầu, thường rất đáng tin cậy, có xu hướng duy trì các mối quan hệ bền vững, thường cảm thấy bất an trước những tình huống không chắc chắn, có nhu cầu được hỗ trợ và định hướng từ người khác, ); người hăng hái (là những người có xu hướng tìm kiếm niềm vui, tránh những cảm xúc và trạng thái tiêu cực, thường rất năng động, nhiệt tình và đam mê, thường thiếu kiên nhẫn và không kiên định, có xu hướng trốn tránh trách nhiệm hay cam kết lâu dài, ); người thách thức (là nhóm người có tính cách mạnh mẽ, quyết đoán và kiên định trong việc bảo vệ quyền lợi cũng như tự do cá nhân, thường có khả năng lãnh đạo tốt, luôn muốn làm chủ cuộc sống của mình và môi trường xung quanh, khó chấp nhận sự yếu đuối hay phụ thuộc của chính mình, ); người hoà giải (là nhóm người xu hướng tìm kiếm sự hoà hợp, bền vững và tránh mâu thuẫn, nhạy cảm, nhân hậu, và có khả năng hiểu, chia sẻ cảm xúc của người khác, thích hợp tác và làm việc nhóm, thường đánh giá cao sự đồng thuận hay thấu hiểu mọi người xung quanh, dễ bị áp đặt ý kiến từ người khác, dễ bị chìm vào sự lười biếng, trì hoãn để tránh những tranh cãi, đối đầu trong một cuộc tranh luận, ).
Năng lực
Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống Người có năng lực trong một hoạt động cần có phẩm chất trí tuệ, đặc điểm trí nhớ, các nét tính cách, thái độ và cảm xúc của hoạt động đó Ví dụ, một giáo viên có năng lực là có kiến thức về môn học phụ trách giảng dạy, có phương pháp sư phạm, có phong cách giao tiếp chuẩn mực, có khả năng ngôn ngữ tốt, có trách nhiệm,
Các năng lực của cá nhân là tiền đề tâm lý bảo đảm cho những xu hướng của nhân cách trở thành hiện thực, chúng liên quan và tác động qua lại với nhau Thông thường có một năng lực nào đó chiếm ưu thế, còn các năng lực khác thì phụ thuộc vào nó và tăng cường cho nó (tức năng lực chủ đạo) Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động
Năng lực được phân loại thành năng lực chung, năng lực chuyên môn/năng lực riêng và năng lực bổ trợ
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán, năng lực giao tiếp, năng lực vận động Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau
Năng lực chuyên môn/năng lực riêng là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hẹp hơn của một hoạt động cụ thể Ví dụ, năng lực chuyên môn cần có của một nhân viên Digital Marketing (tiếp thị số) để có thể hoàn thành các công việc như xây dựng nội dung, hình ảnh quảng cáo, chạy quảng cáo (trên các nền tảng Facebook, Google, Tiktok,…), là phải biết phân tích thông tin thị trường, sản phẩm, tìm hiểu nhu cầu của người dùng để tăng chất lượng của quảng cáo; am hiểu về SEO (quá trình tối ưu hóa công cụ tìm kiếm), SEM (quá trình tiếp thị trên các công cụ tìm kiếm thông qua hai hình thức đó là truy cập miễn phí và giao dịch có trả tiền), Google Analyst (dịch vụ miễn phí của Google cho phép tạo ra các bảng thống kê chi tiết về khách đã ghé thăm một trang web), Webmaster tool (dịch vụ quản trị web kiểm tra trạng thái lập chỉ mục và tối ưu hóa khả năng hiển thị của trang web); có kiến thức về thiết kế đồ họa, sử dụng được các phần mềm Cavas, AI; có kỹ năng chuyên môn marketing như sáng tạo nội dung, quay dựng video, xây kênh, Năng lực chuyên môn đạt được thông qua học tập, đào tạo và kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực đó
Năng lực bổ trợ là những kỹ năng, kiến thức, và phẩm chất hỗ trợ và bổ sung cho năng lực chính hoặc nhiệm vụ chính, nó không cần thiết phải có trong hoạt động nhưng nếu có, nó sẽ hỗ trợ cho năng lực chủ đạo và chuyên môn thực hiện hoạt động nhanh hơn, hiệu quả hơn như các năng lực xử lý tình huống, giao tiếp ứng xử, quản lý cảm xúc,… Ví dụ, năng lực bổ trợ của một nhân viên Digital Marketing (tiếp thị số) là có khả năng làm việc độc lập và làm việc nhóm, khả năng dẫn chương trình,
4.3.2 Các mức độ của năng lực
Năng lực được sắp xếp một cách tương đối thành 4 mức độ là khả năng, năng lực, tài năng và thiên tài
Khả năng là tiềm năng tự nhiên của một người để làm điều gì đó (về mặt sinh học) hoặc phát triển khả năng về mặt vật lý, trí tuệ, tư duy, tình cảm và xã hội để thực hiện trong một lĩnh vực hoặc tình huống nhất định
Năng lực là mức độ được đánh giá khi cá nhân có khả năng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và tư duy để đạt được kết quả mong muốn trong một lĩnh vực hoặc tình huống nhất định Ví dụ, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông của học sinh được thể hiện qua các tiêu chí như: Sử dụng đúng cách các thiết bị và phần mềm thông dụng để thực hiện một số công việc cụ thể trong học tập; Biết các quy định pháp luật cơ bản liên quan đến quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên thông tin, tôn trọng bản quyền và quyền an toàn thông tin của người khác; Sử dụng được một số cách thức bảo vệ an toàn thông tin cá nhân và cộng đồng; Biết tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn với các chức năng tìm kiếm đơn giản; Biết đánh giá sự phù hợp của dữ liệu và thông tin đã tìm thấy với nhiệm vụ đặt ra; Biết tổ chức dữ liệu và thông tin phù hợp với giải pháp giải quyết vấn đề; Sử dụng được môi trường mạng máy tính để tìm kiếm, thu thập, cập nhật và lưu trữ thông tin phù hợp với mục tiêu học tập và khai thác được các điều kiện hỗ trợ tự học; Biết lựa chọn và sử dụng các công cụ thông dụng để chia sẻ, trao đổi thông tin và hợp tác một cách an toàn,
Tài năng được đánh giá khi cá nhân hoàn thành hiệu quả công việc cao, nhanh, sáng tạo mà ít người thực hiện được, thể hiện ở tốc độ và khối lượng hoàn thành công việc Sản phẩm của người có tài năng trong hoạt động mang tính độc đáo và mới mẻ có giá trị xã hội Họ có khả năng tận dụng nhiều khả năng của mình trong hoạt động, hiểu sâu và nắm bắt nhanh chóng kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực của mình
Ví dụ, tài năng toán học/logic thể hiện ở khả năng phân tích, suy luận vấn đề một cách khoa học và nhanh nhẹn khi làm việc với các con số, biểu đồ, mô hình toán học… Người có tài năng toán học, logic thường có khả năng suy luận tốt, khi gặp vấn đề, họ cũng dễ dàng hiểu được nguyên nhân và tìm ra giải pháp xử lý nhanh chóng Tài năng vận động thể hiện qua sự linh hoạt khi sử dụng và phối hợp các bộ phận cơ thể để hoàn thành mục tiêu nhất định, thường bắt gặp ở các vận động viên thể thao, diễn viên múa hay xiếc… Tài năng thị giác, cảm nhận không gian, thể hiện ở khả năng quan sát, đánh giá, ghi nhớ, liên tưởng hình ảnh, vật thể trong không gian tốt Tài năng âm nhạc thể hiện ở khả năng biểu diễn, sáng tác, cảm thụ âm nhạc rất tốt, phân biệt được trường độ, cao độ trong âm nhạc, nhạy cảm với âm thanh Tài năng về ngôn ngữ thể hiện khả năng sử dụng ngôn từ linh hoạt trong các hoạt động như nói, viết
Thiên tài là mức độ cao nhất của năng lực, với những tố chất và năng lực đặc biệt trong lĩnh vực cụ thể, biểu thị sự hoàn thành hoạt động một cách xuất chúng, có thành tựu và đóng góp lớn cho xã hội
Khái niệm thiên tài được sử dụng một cách khái quát trong một số trường hợp nhất định, cá biệt, riêng biệt hơn trong những trường hợp thông thường khác, đó có thể ở trong lĩnh vực triết học, khoa học, nghệ thuật, chính trị, thể thao, Thiên tài là những người có năng khiếu bẩm sinh hay có những thành tựu vượt bậc so với bất kỳ người nào khác trong cùng một lĩnh vực Ví như nhạc sĩ Mozart ở tuổi lên sáu đã viết lại hoàn chỉnh bản nhạc vừa nghe vang lên từ phía nhà thờ Các bậc thiên tài âm nhạc như Beethoven, Chopin, Traikovxki đều bộc lộ tài năng vào tuổi ấu thơ Tuy nhiên khái niệm thiên tài cũng vô cùng trừu tượng Hầu hết việc nghiên cứu khoa học và y khoa đều dựa trên số liệu và thông tin chi tiết nên lĩnh vực trừu tượng như xác định thiên tài thì không dễ để định lượng, phân tích hay nghiên cứu Một thiên tài không chỉ đơn giản là có chỉ số IQ cao, thay vào đó một thiên tài là người thông minh vượt trội và đã phá vỡ những quy luật thông thường bằng những khám phá, phát minh hay tác phẩm nghệ thuật của mình
Những người được coi là thiên tài nhìn chung đều có chỉ số thông minh IQ cao, tính tò mò và khả năng sáng tạo Có những mạng lưới khác nhau trong não tham gia vào việc suy luận và những mạng lưới nào lớn hơn, mạnh hơn và nhanh hơn sẽ giành chiến thắng trong cuộc đua đưa ra những suy luận hợp lý nhất và nhanh nhất Tuy nhiên, sự sáng tạo mới là mấu chốt của thiên tài nhưng lại thuộc một mạng lưới chậm chạp, cho phép tất cả quá trình suy nghĩ có thể diễn ra cùng một lúc Nhờ nó, các thiên tài có thể đưa ra những quyết định vượt qua mọi quy chuẩn thông thường, kể cả đối với những người vốn được đánh giá là cực kỳ thông minh Sự sáng tạo là một điều lớn lao, nhưng cũng cần có sự bền bỉ và kiên quyết Ngoài ra, sự đam mê với một lĩnh vực cụ thể và động lực là yếu tố quan trọng để những người có trí tuệ tốt trở thành thiên tài vì họ sẽ liên tục tìm kiếm những cơ hội thể hiện khả năng sáng tạo và trí tuệ của mình
Thiên tài là sự kết hợp của cả yếu tố bẩm sinh và môi trường sống Một đứa trẻ dù là thần đồng đi nữa, cũng cần cha mẹ, thầy cô giáo hiểu biết tâm lý phát triển, yêu cầu của trẻ để đáp ứng yêu cầu giáo dục, giảng dạy cũng như cung cấp cho trẻ những kiến thức qua tài liệu, sách báo phù hợp tìm hiểu để phát triển năng khiếu Điều cơ bản trong việc nuôi dưỡng nhân tài là hài hòa, quan tâm, tạo điều kiện cho trẻ học tập, vui chơi, phát triển theo sở thích
Về khía cạnh thiên tài, có thể đề cập đến hội chứng bác học - Savant syndrome Đây là một hội chứng rất hiếm hay còn được gọi là hội chứng thiên tài Gọi là hội chứng thiên tài vì người mang hội chứng sẽ có những khả năng hết sức đặc biệt mà người bình thường không có Họ có những khả năng thiên bẩm vô cùng tuyệt diệu về một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống Các khả năng mà một người mang hội chứng Savant có thể có là trí nhớ thần kỳ, tính toán nhanh, thiên phú về các lĩnh vực nghệ thuật như hội họa, âm nhạc, và một số đó lại có khả năng thiên bẩm về ngôn ngữ Người mang hội chứng Savant thường có khả năng mắc một trong những hội chứng đi kèm như hội chứng Asperger gây ra khó khăn trong việc xác định cảm xúc bản thân và thiết lập các mối quan hệ Hội chứng Rett gây khó khăn trong vận động Rối loạn tự kỷ là hội chứng gây ra các vấn đề về hành vi và hội chứng Heller làm cho người mang hội chứng co giật hoặc trí tuệ không phát triển Nhưng không phải tất cả những người mang hội chứng Savant sẽ có các hội chứng khác nêu trên Một số người mắc hội chứng này nhưng vẫn hoàn toàn bình thường về cảm xúc và hành vi Hội chứng Savant vẫn còn là một điều bí ẩn đối với lĩnh vực y tế và khoa học, tuy nhiên, người mang hội chứng này vẫn có thể tận hưởng cuộc sống nếu được hỗ trợ phù hợp và kịp thời bởi người thân, nhà trường, xã hội để họ phát huy những năng lực đặc biệt vào sự phát triển của xã hội
4.3.3 Các yếu tố tạo thành năng lực
Có 4 yếu tố đóng góp vào sự hình thành năng lực là tư chất - tri thức - kinh nghiệm
Tư chất là những điều kiện sinh học vốn có khi con người được sinh ra, kế thừa từ thế hệ trước bằng con đường di truyền sinh học Người có tư chất thuận lợi có khả năng đạt đến mức độ cao của năng lực, có thể đạt đến mức tài năng hoặc thiên tài Trong cuộc sống chúng ta hay được nghe đến "năng khiếu", năng khiếu khác với năng lực, tài năng, thiên tài ở chỗ, năng khiếu là năng lực hoạt động khi được phát hiện trong hoạt động mà chưa có sự chuẩn bị, đầu tư và rèn luyện Người có năng khiếu có thể đạt được hiệu quả hoạt động cao hơn người khác khi được đặt trong môi trường phù hợp Năng khiếu có được nhờ yếu tố tư chất được đặt đúng chỗ, phù hợp trong hoạt động nhờ vào sự tác động của giáo dục và rèn luyện ở mỗi người Những cá nhân có tư chất khiếm khuyết, thiếu hụt vẫn có thể có hình thành năng lực trên cơ sở các yếu tố còn lại b Tri thức
Khí chất
Khí chất là một tập hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân quy định các sắc thái khác nhau về cường độ, tốc độ, nhịp độ của hành vi và hoạt động bộc lộ ra bên ngoài Khí chất thể hiện rõ diễn biến hoạt động tâm lý của cá nhân, thể hiện trong những điều kiện hoạt động khác nhau, tình huống khác nhau và làm cho hành vi của chủ thể mang màu sắc cảm xúc
Khí chất bộc lộ qua diễn biến hoạt động tâm lý của cá nhân khi thể hiện trong những điều kiện hoạt động khác nhau, tình huống khác nhau và hành vi luôn mang màu sắc cảm xúc của chủ thể Kiểu hoạt động thần kinh cấp cao là cơ sở sinh lý của các kiểu khí chất, nó bao gồm hai quá trình cơ bản là hưng phấn và ức chế khi tế bào thần kinh tiếp nhận kích thích và hoạt động
Cường độ hưng phấn và ức chế, tính linh hoạt giữa hưng phấn và ức chế, tính cân bằng hưng phấn và ức chế của mỗi người là khác nhau Dựa vào cơ chế hoạt động của hệ thần kinh được phân loại làm bốn kiểu thần kinh tương ứng với bốn kiểu khí chất và cũng là cơ sở quy định hành vi của cá nhân
Kiểu khí chất nóng nảy Đặc điểm hoạt động thần kinh của người có khí chất nóng nảy là tính ức chế và hưng phấn đều cao, nhịp độ thần kinh nhanh, nhưng không cân bằng giữa ức chế và hưng phấn Tính cách có các đặc điểm như tính nhạy cảm thấp, tính phản ứng cao, có tính cứng nhắc và tính hướng ngoại, nhịp độ phản ứng nhanh, tính dễ xúc cảm cao Biểu hiện bên ngoài của người khí chất nóng nảy là cường độ âm thanh trong giọng nói cao, tốc độ nói nhanh, mạnh, hành động mạnh mẽ, thường biểu lộ cảm xúc ra ngoài, ngoài ra, người có khí chất nóng nảy khả năng nhận thức sự việc nhanh, khả năng thích nghi với môi trường cao,
Kiểu khí chất linh hoạt Đặc điểm hoạt động thần kinh của người có khí chất nóng nảy là phản ứng, nhịp độ thần kinh mạnh, mềm dẻo, tính cân bằng giữa ức chế và hưng phấn cao Người có khí chất linh hoạt nổi bật với các biểu hiện bên ngoài như nói nhiều, nhanh, hoạt động nhanh nhẹn, hoạt bát, có khả năng thiết lập quan hệ xã hội nhanh nhưng tính chất mối quan hệ không sâu sắc Có khả năng tư duy, nhận thức nhanh, nhiều sáng kiến cũng như có khả năng thích nghi nhanh với môi trường, hoàn cảnh khác nhau
Tính cách lạc quan, nhiều sáng kiến, có khả năng tổ chức nhưng thiếu kiên định, làm việc tùy hứng, dễ nản, hiệu quả công việc của người khí chất linh hoạt phụ thuộc vào hứng thú của đối với công việc
Kiểu khí chất điềm tĩnh Đặc điểm hoạt động thần kinh của người có khí chất điềm tĩnh có cường độ thần kinh hưng phấn và ức chế cân bằng ở mức độ tương đối (không mạnh như khí chất nóng nảy và linh hoạt) Người có khí chất điềm tĩnh có hành vi chậm rãi, không bộc lộ cảm xúc rõ ràng, ít nói, không thích mở rộng các mối quan hệ, khó thích nghi với sự thay đổi của môi trường, hoàn cảnh Tính cách có các đặc điểm như chu đáo, có trách nhiệm, lịch sự, tế nhị, luôn bình tĩnh, làm việc có nguyên tắc, kế hoạch, làm chủ được tình huống, kiên định, điềm đạm, tuy nhiên, khả năng tiếp thu cái mới chậm, cứng nhắc, đôi khi máy móc làm mất thời gian và dễ mất thời cơ không cần thiết
Kiểu khí chất ưu tư Đặc điểm hoạt động thần kinh của người có khí chất ưu tư là có cường độ thần kinh yếu, hưng phấn và ức chế đều yếu và không linh hoạt nhưng ức chế vẫn trội hơn, tính phản ứng và tính tích cực thấp Biểu hiện bên ngoài thường ít nói, tiếng nói nhẹ nhàng hoặc yếu, hành động rụt rè, nhút nhát, phản ứng chậm Tính cách ít cởi mở, nhận thức chậm nhưng chắc, tế nhị, nhạy cảm, cẩn trọng, tính tự giác cao, kiên trì trong công việc, làm việc cẩn thận, chu đáo, có thể hoàn thành tốt công việc được giao trong điều kiện quen thuộc, tuy nhiên, hay lo nghĩ, dễ bị tổn thương, hay chịu tác động của môi trường, không chịu được sức ép công việc và khó thích nghi với môi trường hoàn cảnh mới, sợ sự thay đổi
Các kiểu này được thể hiện cụ thể trong ứng xử của cá nhân ở mỗi tình huống nhất định Kiểu khí chất nào cũng có những ưu điểm và hạn chế của nó khi cá nhân hoạt động và giao tiếp Việc phân chia các kiểu khí chất cũng chỉ mang tính quy ước, vì trong thực tế, không có cá nhân nào chỉ có biểu hiện của một kiểu duy nhất
Khí chất không nói lên giá trị đạo đức, giá trị xã hội và năng lực của nhân cách, chỉ là sự biểu hiện của hành vi ở mỗi tình huống nhất định Người có khí chất khác nhau có thể có chung một giá trị đạo đức hoặc những người có khí chất như nhau thì lại có những giá trị đạo đức và xã hội khác nhau
TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG
Xu hướng là những động cơ bền vững quy định tính lựa chọn của cá nhân đối với hiện thực, bao gồm các thuộc tính nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin Tính cách là sự kết hợp độc đáo các thuộc tính tâm lý bản chất của nhân cách, biểu thị thái độ và hành vi của con người đối với bản thân, thế giới xung quanh Cấu trúc của tính cách bao gồm hệ thống thái độ tạo nên mặt nội dung của tính cách và hệ thống hành vi là mặt hình thức của tính cách
Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí Năng lực được phân loại thành năng lực chung, năng lực chuyên môn/năng lực riêng và năng lực bổ trợ Năng lực được sắp xếp thành 4 mức độ là khả năng, năng lực, tài năng và thiên tài Có 4 yếu tố đóng góp vào sự hình thành năng lực là tư chất - tri thức - kinh nghiệm - kỹ năng
Khí chất là một tập hợp các đặc điểm tâm lý cá nhân quy định các sắc thái khác nhau về cường độ, tốc độ, nhịp độ của hành vi và hoạt động bộc lộ ra bên ngoài Dựa vào cơ chế hoạt động của hệ thần kinh, khí chất được phân loại làm bốn: Kiểu khí chất nóng nảy; Kiểu khí chất linh hoạt; Kiểu khí chất điềm tĩnh; Kiểu khí chất ưu tư Việc phân chia các kiểu khí chất cũng chỉ mang tính quy ước, vì trong thực tế, không có cá nhân nào chỉ có biểu hiện của một kiểu duy nhất