1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tai liệu tham khảo tâm lý học văn hóa - đề cương ôn tập

11 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 100 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người. Văn đối lập với vũ, vũ công, vũ uy dùng sức mạnh để cai trị. Ở nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội.Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú. Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên.

Trang 1

TÂM LÝ HỌC VĂN HÓA

VĐ1 Một số xu hướng tâm lý học nghiên cứu văn hóa Ý nghĩa.

Từ lâu văn hóa đã là một vấn đề trung tâm của khoa học xã hội và nhân văn

và đã thực sự trở thành đối tượng của tâm lý học, đó là Tâm lý học văn hóa Cùng với những bước tiến trong nhận thức, các triết gia cũng như các nhà tâm lý học đã ngày càng hiểu rõ vai trò của văn hóa đối với sự tồn tại và phát triển của con người

1.1 Khái niệm văn hóa

Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như

ở phương Tây Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái

đẹp để giáo dục và cảm hóa con người Văn đối lập với vũ, vũ công, vũ uy dùng

sức mạnh để cai trị Ở nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độ học vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội

Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Tuy khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa Văn hóa

là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên

Con người là từ tự nhiên mà ra, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển Văn hóa trước hết là một sự thích nghi chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, đồng thời lại là sự phát triển của sự thích nghi ấy Với tính cách là một sinh vật, con người có một bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên Nhưng với tính cách là một sinh vật có ý thức và sống thành xã hội thì con người lại có bản chất thứ hai, đó là bản chất văn hóa, vượt ra khỏi bản chất tự nhiên, điều này đưa đến quan niệm coi văn hóa là tự nhiên thứ hai được hình thành và phát triển trên cơ sở tự nhiên thứ nhất tự tại: Là văn hóa, những gì không phải tự nhiên Khi tiếp cận khái niệm văn hóa, tùy từng mục tiêu, mục đích khác nhau của người nghiên cứu mà dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và từ đó hình thành các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa Hiện nay có hàng trăm định về văn hóa Ở đây, có thể đặc biệt lưu ý tới những quan niệm chủ yếu sau:

“Văn hóa là những gì do con người sáng tạo ra, đối lập với trạng thái tự nhiên” (M.T Cicero, A Adler, G.D Tomakhin…)

“Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên”

(Quan niệm của Unesco, giới triết học Nga, Trần Ngọc Thêm)

“Văn hóa là cái được con người thừa kế, tiếp nhận” (Quan niệm của E.

Herriot, R Benedict, Phạm Minh Hạc,… )

Trang 2

“Văn hóa là phức hợp chỉnh thể, tổng thể” (Quan niệm của A Kroeber, W.G

Sumner, E.B Tylor…)

“Văn hóa là biểu hiện, dấu ấn của cộng đồng” (S.Kavirạ, A.L White, Phan

Ngọc…)

“Văn hóa là hoạt động làm chủ tự nhiên, xã hội và phát triển nhân cách con người” (Leizig 1980, Từ điển tiếng Việt 1994…).

“Văn hóa là sự tiến bộ của những tiến bộ” (Quan niệm của A Schweitzer).

Từ những quan điểm nói trên và xuất phát từ đối tượng và nhiệm vụ của tâm

lý học, văn hóa có những định nghĩa riêng khác nhau

Theo A.A Belik “Những định nghĩa tâm lý về văn hóa tạo thành nhóm lớn nhất”, (A.A Belik (2000): Văn hóa học – Những lý thuyết nhân học văn hóa Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, Tr15), ví dụ:

W Sumner định nghĩa văn hóa như là tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sống của nó.

R Benedict hiểu văn hóa là hành vi ứng xử có được mà mỗi thế hệ người cần phải nắm lại từ đầu.

G Stein cho rằng văn hóa là sự tìm kiếm phép trị liệu trong thế giới hiện đại M.Herskovits coi văn hóa là tổng số những hành vi và kiểu tư duy tọa nên một xã hội nào đó.

Ngoài ra, chúng ta có thể bổ sung thêm những định nghĩa khác như:

Theo Jae –hyeon Choe: Văn hóa là một lối sống (Sự phát hiện lại bản sắc văn

hóa trong quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh chóng Trong J.Matthes (hg.1992)

Theo Bách khoa toàn thư Encyclopaedia Universalis của Pháp: Văn hóa theo nghĩa rộng là phong tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu, thẩm mỹ, những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ tổ chức môi trường của con người

Văn hóa là khái niệm chung “chỉ các khía cạnh trí tuệ của văn minh trong một nhóm dân cư nào đó, được hiểu như là sự thống nhất nhân chủng, địa lý hay ngôn ngữ Theo nghĩa rộng, văn hóa liên quan tới toàn bộ những huyền thoại, nghệ thuật, khoa học, các chuẩn mực xã hội và những thói quen, bao gồm sự hình thành và tác động của chúng”.

Từ góc độ tâm lý học, có thể hiểu: Văn hóa là phức hợp tâm lý mang tính

chỉnh thể được hình thành và phát triển cao độ trong hoạt động và giao tiếp của

cá nhân, phản ánh dấu ấn của một cộng đồng và là một nhân tố quan trọng bậc nhất góp phần hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người.

Ở một mức độ nhất định, văn hóa là chung cho tất cả các thành viên của nhóm tạo nên nền văn hóa Những khác biệt cá nhân về văn hóa của nhiều người có thể được quan sát theo mức độ họ tiếp nhận và chia sẻ các nguyên tắc, giá trị, quan niệm và hành vi

Nếu bạn cư xử phù hợp với mô hình hành vi chung và giá trị thì khi đó văn hóa tồn tại trong các bạn Nếu bạn không chia sẻ những giá trị hay mô hình hành vi chung thì bạn không là một bộ phận của văn hóa Lịch sử của văn hóa là lịch sử phát triển của con người và loài người Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm

cho con người thành người.

Văn hóa bao gồm ba bộ phận hợp thành, đó là: những sản phẩm bề ngoài; hành vi ứng xử và những chuẩn mực giá trị

Trang 3

Các sản phẩm bề ngoài: Đó là những gì có thể quan sát được như ngôn ngữ,

thức ăn, cao ốc, nghệ thuật… Mỗi ý kiến của chúng ta về sản phẩm bề ngoài thường nói nhiều về việc chúng ta đến từ đâu hơn là về cộng đồng chúng ta đang đánh giá Chúng ta thường dùng quan điểm cá nhân - quan điểm này được xây dựng từ nền văn hoá gốc mà chúng ta là thành viên - để đánh giá người khác, cá nhân khác Các định kiến hầu hết xuất phát từ cấp độ biểu tượng và những gì quan sát được

Hành vi ứng xử: Văn hóa là sự chỉ dẫn cho hành động của cá nhân Nền văn

hoá này có thể phân biệt với nền văn hoá khác bởi những giải pháp riêng mà nó chọn để giải quyết các vấn đề khác nhau

Giá trị và chuẩn mực: Văn hoá bề ngoài phản ánh các lớp sâu hơn của văn

hoá, các chuẩn mực và giá trị của một nhóm cá nhân

Chuẩn mực là cảm nhận chung của một nhóm về cái gì là đúng và sai

Các chuẩn mực tạo ra sự kiểm soát xã hội

Giá trị quyết định “tốt và xấu”

Chuẩn mực, cho chúng ta cảm giác “đây là cách tôi nên làm”

Các giá trị lại cho chúng ta cảm giác “Đây là cách tôi mong muốn và ao ước hành xử”.

Một nền văn hóa ổn định khi các chuẩn mực phản ánh đúng các giá trị của nhóm và ngược lại

Trong bất kỳ nền văn hoá nào cũng có một hệ thống các định hướng giá trị thống trị hay được ưu tiên hơn Có thể phân biệt các nền văn hoá bởi sự sắp xếp các giải pháp cụ thể mà nó lựa chọn cho mỗi tình huống gặp khó khăn

1.2 Những đặc điểm của văn hóa

Xét từ góc độ tâm lý học, văn hóa có những đặc điểm cơ bản sau:

a Tính hệ thống:Chỉnh thể, thống nhất, đan xen trên nhiều lĩnh vực

b Tính giá trị: có giá trị

c Tính nhân sinh: do con người sáng tạo ra

d Tính lịch sử: là quá trình hình thành lâu dài

e Tính bền vững: Tính ổn định tương đối

g Tính tiềm ẩn và tường minh: tiềm ẩn với người khác, tường minh với mình

h Tính đồng nhất văn hóa: sự giống nhau về văn hóa trong nhóm, dân tộc

1.2 Một số xu hướng nghiên cứu

* Tâm lý học dân tộc

Đây là xu hướng tâm lý học ra đời năm 1860, hai nhà Tâm lý học người Đức

là R.S.Lazarus và H.Steinthal là người sáng lập ra trường phái này

Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học dân tộc: huyền thoại, đạo đức, ngôn ngữ, luân lý, cách thức sinh hoạt và những đặc điểm khác của văn hóa, thông qua

đó thấy được tinh thần, ý thức chung của một dân tộc nào đó Trong đó có tinh thần dân tộc, tinh thần dân tộc được hiểu là sự giống nhau về mặt tâm lý giữa những cá thể cùng thuộc về một dân tộc bởi có sự thống nhất về nguồn gốc và phương tiện

cư trú

Từ năm 1900, W.Wunt tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và cho công bố một tác phẩm lớn gồm 10 tập phản ánh các quan điểm cơ bản, theo W.Wunt: Các quá trình

Trang 4

tâm lý cấp cao của con người, trước hết là tư duy, là sản phẩm của sự phát triển văn hóa của quần thể người và Sự đồng nhất giữa ý thức cá nhân và ý thức dân tộc được thể hiện thực tế trong ngôn ngữ và huyền thoại

Theo G.G Shpet, tâm lý học dân tộc có ba nhiệm vụ cơ bản:

Một là, nhận thức tâm lý về bản chất tinh thần dân tộc và tác động của nó Hai là, phát hiện các quy luật của hoạt động tinh thần hoặc lý tưởng của dân tộc được thực hiện trong cuộc sống, trong nghệ thuật và khoa học

Ba là, tìm ra các cơ sở, nguyên nhân làm xuất hiện, phát triển hoặc thủ tiêu những đặc điểm của một dân tộc nào đó

Theo L.P Yoodo, ông cho rằng:

Nguồn gốc của các văn hóa là bậc cao của chiếc thang tiến hóa, trong lịch

sử văn hóa, con người hành động nhằm đạt đến các mục tiêu khác nhau

Khát, đói và nhu cầu sinh dục là những nhu cầu đầu tiên cần thỏa mãn của con ngời Trên nền tảng đó các nhu cầu: đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ trở thành cơ sở

để phát triển và hoàn thiện xã hội

Ông cũng chú ý phân tích nguồn gốc và vai trò của sự khoái lạc, đau khổ trong cuộc sống, hạnh phúc, tự do, bên cạnh những mục tiêu cá nhân ông thừa nhận có sự tồn tại mục tiêu của tập thể

Khi nghiên cứu dân tộc, tâm lý dân tộc, Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc đã

nói: việc nghiên cứu để phát hiện ra bản sắc dân tộc, hay bản sắc tâm lý dân tộc

đã phát triển và lớn lên cũng chính là để tìm ra cho được những “cái riêng” rất đáng tự hào của chúng ta với tư cách là một dân tộc Như vậy, khi nghiên cứu tâm

lý học dân tộc, chúng ta thấy được định kiến dân tộc là gì, đồng nhất dân tộc là gì, đặc biệt là định hình tâm lý dân tộc: đó là định hình về nước Việt và người Việt, định hình qua đại từ nhân xưng… và thấy được những phẩm chất, thuộc tính đã được định hình ở người Việt trong lịch sử cũng như những phẩm chất và các thuộc tính mới đang được định hình trong con người Việt Nam hiện nay

* Tâm lý học nhóm

Một số nhà tâm lý học xã hội ở Pháp như G.Lebon (1841 - 1931), G.Tarde (1843 - 1904), ở Mỹ như W.James đã nghiên cứu các cơ chế tâm lý của sự tương tác của con người trong những nền văn hóa khác nhau cũng như những biến đổi văn hóa có liên quan đến ngôn ngữ, tôn giáo, tình cảm, tư tưởng, chính trị

Trong nghiên cứu về tâm lý học nhóm, chúng ta còn có thể nhắc đến K.Lewin (1890 - 1947), ông đã đưa ra khái niệm trung tâm là “không gian sống”,

mô tả toàn bộ những gì quy định hành vi con người Trong công thức V = f (PU) =

f (L), K.Lewin đã nhấn mạnh vai trò quy định tính cách và hành vi của cá nhân sống trong một nền văn hóa nào đó

Trong tâm lý học nhóm, thường xảy ra các cơ chế sau:

Bắt chước thể hiện trong việc tái tạo, sao chép lại các khuôn mẫu vận động

trong quá trình chiếm lĩnh văn hóa từ thời thơ ấu Nhờ có nó mà trẻ em nắm được ngôn ngữ, và sẽ chiếm lĩnh được các kỹ năng văn hóa Bắt chước là nền tảng của

sự học và khả năng truyền đạt truyền thống văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác

Sự lây lan tâm lý thường biểu hiện ở các hành động nhắc lại một cách vô

thức trong tập thể ngời, hoặc đơn giản là trong chỗ đông người Phẩm chất này có

Trang 5

thể xuất hiện khi con ngời ở trong trạng thái tâm lý nào đó: sợ hãi, căm thù, khi đang yêu, tức giận… đôi khi nó còn được sử dụng trong các nghi thức tôn giáo

Ám thị là những hình thức rất khác nhau đưa vào ý thức con người (tiềm

thức hoặc vô thức) những quan điểm, quy tắc, chuẩn mực xác định nhằm điều chỉnh hành vi trong văn hóa

Những công trình của họ đã được vận dụng trong nghiên cứu văn hóa thế kỷ

XX đó là: Khả năng nhận thức của con người thuộc các nền văn hóa khác nhau; các khuôn mẫu ứng xử mang tính quy ước văn hóa; những phản ứng cảm xúc, phân tích lịch sử tộc người và sự phản ánh của nó trong các tác phẩm sử thi…

* Phân tâm học

Vào đầu thế kỷ XX, trong nghiên cứu văn hóa đã xuất hiện một hiện tượng mới: Phân tâm học về văn hóa, do S Freud (1856 - 1939) sáng lập

Lý luận về văn hóa của S.Freud được trình bày trong cuốn Lý giải về giấc

mơ (1900) và cuốn Vật tổ và cấm kỵ (Totem und Tabu, 1912) Trong tác phẩm này

tác giả đặt vấn đề: Lịch sử văn hóa bắt đầu từ bao giờ? Tình cảm tội lỗi và sự ân hận đó tạo nên điều luật cấm loạn luân và cấm ăn thịt các loài động vật được coi là vật tổ Đối với Freud, đó là lúc con người có năng lực văn hóa

Để củng cố luận điểm của mình về khởi nguyên của văn hóa, ông đã dẫn ra những ví dụ về chứng sợ hãi của trẻ em đối với những dạng động vật cụ thể, đó là nỗi sợ hãi với người cha đầu tiên đã chuyển sang phía động vật Ông cho rằng hiện tượng này là khá phổ biến trong các nền văn hóa khác nhau Sự xuất hiện nỗi sợ hãi thời thơ ấu như là nhắc lại cái khởi nguyên của quá trình văn hóa, như là tiếng vang vọng của các sự kiện cổ đại trong ký ức di truyền

Học thuyết phân tâm về văn hóa về sau đợc hệ thống lại và phân tích trong

tác phẩm Tôi và nó Trong tác phẩm này ông đã bổ sung thêm nguyên lý khoái lạc,

sự ham thích sống, khao khát hướng tới cái chết đó là những lực lượng thúc đẩy con người hành động

Ngoài những khát vọng hớng tới bản năng sống và cái chết, ông còn nhận thấy ở con người có thiên hướng bẩm sinh là muốn phá hoại và niềm say mê muốn bạo hành với người khác Mô hình nhân cách của một cá nhân theo Freud gồm 3 phần: cái Tôi, cái Nó và cái Siêu tôi

Cái Nó là tầng sâu của sự say mê, của những ham muốn mang tính bản

năng, trung tâm của nó là năng lượng libido Cái Nó là hạt nhân quan trọng của nhân cách, những yếu tố còn lại được xây dựng trên đó Cái Nó là cái phi đạo đức, cái nguyên thủy theo thời gian, không bị kiểm duyệt từ bên trong, được điều khiển bởi nguyên tắc khoái lạc

Cái Tôi làm cho các ước muốn của cái Nó phù hợp với thực tại tương ứng

của thế giới bên ngoài Cái tôi là lĩnh vực thuộc về ý thức, là kẻ môi giới giữa những say mê vô thức của con người với thực tế bên ngoài (văn hóa và sinh học )

Nó trì hoãn các ham muốn bản năng, xác lập những hành vi văn hóa được xã hội chấp nhận Cái Tôi hoạt động theo nguyên tắc thực tế

Siêu tôi là lĩnh vực của bổn phận, của luân lý, của đạo đức, là những chuẩn

mực được xác định trong văn hóa Nó ngăn không cho cái tôi thực hiện những sai trái, ham muốn mà cái nó thúc giục Siêu tôi là chiếc cầu nối giữa văn hóa với các tầng bên trong của nhân cách Cái Siêu Tôi là sự tiếp thu của cá nhân từ xã hội

Trang 6

Sơ đồ cấu trúc này là phương thức phổ biến để giải thích về hành vi của con người thuộc văn hóa hiện đại, cổ đại; người bình thường và mất trí

Những bộ phận, yếu tố của văn hóa như tôn giáo, nghệ thuật, khoa học chỉ là

sự thăng hoa của những xung đột ẩn ức trong vô thức, trong các hình thái xã hội-văn hóa

Sau này Carl Jung (1875 - 1961) không thừa nhận thuyết tính dục của Freud

và cách giải thích tính dục về mọi hiện tượng văn hóa Với Freud, văn hóa ghi nhận cái siêu tôi đứng độc lập với cái nó Với Carl Jung, hai cái đó bổ sung cho nhau và đều là ngọn nguồn của văn hóa

Ông chủ trương nghiên cứu vô thức tập thể, là ký ức thị tộc của loài người,

là kết quả của đời sống thị tộc, nó có ở trong mọi người, được truyền đạt theo di truyền và là cơ sở của tâm trạng cá nhân và văn hóa

Theo G.Rôhêm (1891- 1953), văn hóa là một tổng thể của những cái làm cho xã hội vượt qua trình độ động vật, văn hóa được xây dựng trên cơ sở sinh dục, trước hết là bản năng sinh sản và niềm say mê giới tính

G.Rôhêm cũng rất trung thành với nguyên lý về sự thăng hoa khi xây dựng

các lý thuyết về văn hóa Thăng hoa đó là sự chuyển hóa những xung đột, các bản năng, đó là lực lượng chính sản sinh ra các dạng hoạt động văn hóa khác nhau như khoa học, văn chương, nghệ thuật thậm chí cả sự sáng tạo kỹ thuật.

Một người khác là G.Deveraux (nhà phân tâm học người Pháp), ông chú ý

nghiên cứu đến các bệnh nhiễu tâm có tính tộc người Ông chỉ ra sự quy định của

văn hóa đối với các triệu chứng của bệnh nhiễu tâm Theo ông: Văn hóa là tâm lý phóng chiếu ra ngoài; Tâm lý là văn hóa phóng chiếu vào trong Ông cũng là người đưa ra hai khái niệm quan trọng: Stress và chấn thương Một stress thuộc

loại gần như thông thường cũng có thể là nguồn gốc chấn thương nếu nó mang một cường độ đặc biệt Trạng thái gây chấn thương mạnh khi nó tới sớm, nó tác động vào một cá nhân chưa có được những sự tự vệ văn hóa thích hợp

* Tâm lý học nhân văn

Sự phát triển tâm lý học nhân văn trong những năm 60 của thế kỷ XX vừa qua

là một minh chứng rõ rệt cho sự phát triển tâm lý học, thể hiện ở việc phản đối tâm lý học hàn lâm, hướng vào khoa học tự nhiên, xa rời thực tiễn và cuộc sống Theo A Maslow (1908 - 1970), sự sai lầm, phiến diện đó đã dẫn đến hậu quả tất yếu là tâm lý học không thể nào nhận biết, hiểu được con người và các nền văn hóa

Tuy nhiên, hoạt động thực tiễn và các nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất của các nhà tâm lý học nhân văn lại chưa chú ý đầy đủ đến những biến đổi của xã hội và văn hóa Vì thế, khi phân tích khái niệm cơ bản nhất của tâm lý học nhân văn như “sự thực hiện bản ngã” hay “sự hiện thực hóa bản ngã”, “trải nghiệm bản

ngã” trong “quá trình nhóm”, R.O Zucha đã coi đó là duy tâm vì, tồn tại quyết định ý thức chứ không phải ý thức quyết định tồn tại.

A.Maslow nhìn thấy trong xã hội hiện đại có hai nền văn hóa: Một nền văn hóa được tạo thành bởi những người nghiêng về những cảm xúc cao thượng và hướng tới những giá trị cao đẹp của cuộc sống (sự thật, lòng tốt, cái đẹp) Nền văn hóa kia là hiện thân của khuynh hướng quan liêu trong xã hội, tạo ra nền văn hóa này là những người không hướng tới những cảm xúc cao thượng

Trang 7

Trong các công trình nghiên cứu của mình ông đã xây dựng mô hình một nền văn hóa lý tưởng cho phép con người triển khai được hết những khả năng vốn

có của mình Nền văn hóa được tạo ra bởi những người có phẩm chất đặc biệt mà nét chủ yếu của họ là khát vọng hoàn thiện bản thân

Ông phân tích những hiện tượng văn hóa ít được nghiên cứu như: sự sáng tạo, tình yêu, trò chơi, óc hài hước, sự chân thành khả ái, những trạng thái khoái cảm, những giá trị làm cho bản chất con người trở nên cao cả Ông cũng đặt ra vấn

đề hiểu nhau giữa những con người cùng chung sống trong một cộng đồng và giữa những nền văn hóa khác nhau

Nhà tâm lý học Mỹ này đưa ra hệ thống các nhu cầu cơ bản ở con người và ông coi khát vọng giao tiếp giữa con người với nhau, khát vọng tình yêu là phẩm chất không thể tách rời con người Sự thiếu vắng những nhu cầu như vậy sẽ là

bệnh lý:“Ai dám nói rằng sự không đủ tình yêu kém quan trọng hơn sự không đủ vitamin” Cũng theo ông, tình yêu không đồng nghĩa với tình dục, ông liệt tính dục

vào các nhu cầu sinh lý Nhu cầu cao nhất là hướng tới sự sáng tạo và cái đẹp

Những tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng đối với sự hoàn thiện nhân cách, thực hiện một đường lối giáo dục chân chính, thậm chí, như có người đã nói, trở thành nền tảng cho các quan niệm phát triển kinh tế như ở Nhật vào những năm 70,

80 của thế kỷ XX

* Tâm lý học so sánh văn hóa (TLH xuyên văn hóa)

Những nghiên cứu so sánh các đại diện của những nền văn hóa khác nhau được tiến hành từ 100 năm trước Năm 1972, hiệp hội TLH xuyên văn hóa được thành lập Tờ tạp chí đầu tiên của hiệp hội ra đời từ những năm 1970, đã có những bài báo trình bày điểm giống và khác nhau giữa các nền văn hóa

Tâm lý học so sánh văn hóa hay tâm lý học xuyên văn hóa được các nhà tâm

lý học như W.D.Ftoehlich, A.J.Marsella, H.C.Triandis quan niệm như một phân ngành tâm lý học ra đời trên cơ sở của tâm lý học văn hóa và tâm lý học các dân tộc trước đây Phạm vi nghiên cứu của nó là những chức năng nhận thức cơ bản (Vd, tư duy, tri giác ), động cơ, thái độ, khuynh hướng nghệ thuật, sự phát triển và thực tiến giáo dục, các quan hệ và chuẩn mực nhóm cũng như những rối loạn tâm

lý và ảnh hưởng của chúng đối với người khác và các hình thức chữa trị Nói khác

đi, tâm lý học so sánh các văn hóa tập trung xem xét các phương thức hành vi cụ thể biểu hiện mối quan hệ với các đặc thù và chuẩn mực mang tính văn hóa

 Tính đa dạng văn hóa

 Mối quan hệ giữa các nhóm văn hóa

 Sự khác biệt về dân tộc, chủng tộc của các tầng lớp dân cư

 Cái mà chúng ta biết có đúng với tất cả mọi người, có độc lập với nguồn gốc văn hóa của họ hay không?

 Nếu như không thì có những khác biệt gì?

 Trong hoàn cảnh nào xuất hiện những khác biệt và tại sao?

 Những yếu tố nào bên ngoài văn hóa thúc đẩy sự khác biệt này?

Như vậy: Văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân

tộc mất nước thì có thể lấy lại được, mất văn hóa là mất tất cả Trong thời đại ngày

Trang 8

nay, biên giới về văn hóa gần như bị xóa nhòa, trong khi chúng ta hội nhập để tiếp thu cái hay, cái đẹp, làm phong phú, đa dạng hơn văn hóa dân tộc nhưng cũng cần phải giới thiệu, truyền bá văn hóa, văn nghệ, đất nước con người Việt Nam đến cộng đồng quốc tế, vì vậy trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” là một

trong tám đặc trưng về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng

Vấn đề văn hóa bao giờ cũng gắn liền với vấn đề con người Con người là tinh hoa của văn hóa và sáng tạo ra văn hóa Vì vậy, vấn đề phát triển văn hóa gắn liền với vấn đề phát triển đa dạng của từng người, từng nhóm người, cộng đồng người, giới… Theo tinh thần đổi mới (từ năm 1986 đến nay) Việt Nam chú trọng tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội nhằm nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống, thúc đẩy văn hóa, văn minh lên đỉnh cao mới, nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người bền vững Phát triển con người bền vững là đa dạng hóa cá nhân, động viên tiềm năng của từng cá thể người, đa dạng trong lối sống, trong tư duy, trong khiếu thẩm mỹ… của từng người cũng như đa dạng trong ăn uống, mặc,

ở, sinh hoạt của các cộng đồng Tất nhiên, điều đó phải dựa trên cơ sở tinh thần công dân và tôn trọng một hệ thống giá trị cơ bản chung, định hướng giá trị chung, chia sẻ các giá trị của sự thống nhất, hòa bình, hợp tác, đồng thuận xã hội Đó cũng là cách tiếp cận tâm lý trong nghiên cứu văn hóa

Môi trường quân đội là một môi trường tương đối rộng lớn, khi tiến hành xây dựng môi trường văn hóa quân sự phát triển toàn diện cũng cần đặc biệt chú trọng đến các xu hướng tâm lý trong phát triển văn hóa quân sự, đặc biệt là trong xây dựng nhóm, tập thể quân nhân vững mạnh trong giai đoạn hiện nay nhằm góp phần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./

VĐ2 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học văn hóa Ý nghĩa?

- Văn hóa là gì?

- Đặc điểm của văn hóa

- Cấu trúc của văn hóa

- Các xu hướng nghiên cứu

- Tâm lý học văn hóa là gì? TLHVH là một phân ngành TLH nghiên cứu các hiện tượng, quá trình, quy luật tâm lý trong tiếp nhận và sáng tạo các giá trị văn hóa để góp phần phát triển toàn diện nhân cách con người

- Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học văn hóa là:

+ Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý:

1 Cách phân loại phổ biến trong các tài liệu tâm lý học là việc phân loại các hiện tượng tâm lý theo thời gian tồn tại của chúng và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách Theo cách phân loại này, các hiện tượng tâm lý có ba loại chính:

Trang 9

a Các quá trình tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có mở đầu, diễn biến, kết thúc tương đối rõ ràng Người ta phân biệt thành ba quá trình tâm lý:

+ Các quá trình nhận thức gồm cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy + Các quá trình cảm xúc biểu thị sự vui mừng hay tức giận, dễ chịu hay khó chịu + Quá trình hành động ý chí

b Các trạng thái tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài, việc mở đầu và kết thúc không rõ ràng, như: chú ý, tâm trạng…

c Các thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, tạo thành những nét riêng của nhân cách Người ta thường nói tới bốn nhóm thuộc tính tâm lý cá nhân như: xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực

2 Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý thành: các hiện tượng tâm lý có ý thức và các hiện tượng tâm lý chua được ý thức

3 Người ta còn phân biệt hiện tượng tâm lý thành: hiện tượng tâm lý sống động và hiện tượng tâm lý tiềm tàng

4 Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý của cá nhân với hiện tượng tâm

lý xã hội

+ Nghiên cứu các quá trình tâm lý trong truyền và tiếp nhận văn hóa: thi đua, lây lan tâm lý, bắt chước, ám thị, đồng cảm, ác cảm

+ Nghiên cứu các quy luật tâm lý trong truyền và tiếp nhận văn hóa:

Ql các hiện tượng tâm lý được hình thành và phát triển từ nguồn gốc tồn tại

xã hội, từ thực tiễn cuộc sống

Ql về sự tồn tại của cái chung, cái riêng và cái đơn nhất trong các hiện tượng tâm lý xã hội

Ql về mối quan hệ qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau giữa người và người trong quá trình giao tiếp là nhân tố hình thành các hiện tượng tâm lý xã hội

Ql kế thừa, lây lan và bắt chước trong nhóm

- Nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học văn hóa:

 Nghiên cứu văn minh, trình độ phát triển tâm lý nhân cách với những nội dung như sau : thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức, lối sống, định hướng giá trị

Văn minh là trình độ phát triển của một cộng đồng người, một quốc gia, dân tộc trong những giai đoạn lịch sử nhất định

Văn minh trong mỗi con người được hiểu là trình độ phát triển tâm lý, nhân cách của con người phù hợp với những điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa của một thời đại

Nghiên cứu văn minh ở lối sống, lẽ sống (thế giới quan, định hướng giá trị)

và nếp sống

 Nghiên cứu nghệ thuật : đề cập đến những phẩm chất tâm lý, trạng thái, quá trình tâm lý nảy sinh trong sáng tạo và tiếp nhận nghệ thuật

Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để không chỉ phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm mà còn tạo ra những giá trị văn hóa mới

Tâm lý học văn hóa nghiên cứu mối quan hệ giữa nghệ thuật và tâm lý trong quá trình tiếp nhận và sáng tạo văn hóa, cụ thể đó là các quá trình tâm lý

Trang 10

như quá trình tri giác, tưởng tượng, cảm xúc ; các trạng thái tâm lý như những ấn tượng, xúc cảm trong quá trình tiếp nhân ; và những phẩm chất nhân cách cần thiết trong quá trình sáng tạo nghệ thuật

 Nghiên cứu mối quan hệ giữa khoa học (thành tựu văn hóa) với lối sống, nghệ thuật

Khoa học là hình thức cao nhất của nhận thức lý luận và kết quả của nó, hình thức đặc biệt của ý thức xã hội hướng vào việc phản ánh và làm chủ các quy luật trong tự nhiên, xã hội và tư duy Là sản phẩm của hoạt động nhận thức, khoa học là một hệ thống những tri thức được ghi lại trong các khái niệm, ý kiến, giả thuyết và lý luận, được kiểm nghiệm trong thực tiễn và t.xuyên phát triển

Tâm lý học khoa học nghiên cứu các cơ sở tâm lý trong việc hình thành và phát triển các tri thức, trí tuệ cũng như văn hóa trong nhân cách

Tri thức là một giá trị văn hóa phức tạp, hoạt động khoa học là hoạt động sáng tạo ra các giá trị văn hóa

 Nghiên cứu quá trình truyền và tiếp nhận văn hóa ở cấp độ cá nhân và nhóm Quá trình truyền: cấp độ: dọc, ngang, chéo; phương thức: trực tiếp và gián tiếp Quá trình tiếp nhận là quá trình tiếp thu, lĩnh hội các giá trị văn hóa

* Ý nghĩa: Rút ra từ các nhiệm vụ: Nghiên cứu lịch sử nền văn minh dân tộc, lối sống, lẽ sống, niềm tin, thế giới quan (trong hoạt động quân sự); nghiên cứu các hiện tượng, quá trình, quy luật tâm lý trong tập thể quân nhân; nghiên cứu các giá trị và định hướng giá trị; nghiên cứu các hình tượng, mẫu hình lý tưởng của thanh niên việt nam, quân nhân cách mạng ; quá trình học tập trong hoạt động quân sự; quá trình tiếp thu, lĩnh hội cũng như gìn giữ các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa quân đội

VĐ3 Phòng ngừa các hiện tượng phi văn hóa, phản văn hóa Ý nghĩa.

Ngày nay, khái niệm “sốc văn hóa” ngày càng được sử dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội sốc văn hóa là một trạng thái tâm lý hụt hẫng, mất phương hướng, mất cân bằng của cá nhân trong quá trình tiếp nhận các giá trị hay hiện tượng văn hóa nào đấy Nguyên nhân sâu sa của những cú sốc văn hóa này chính là ở các hành vi, hiện tượng phi văn hóa và phản văn hóa của con người trong cộng đồng xã hội

Cương lĩnh năm 1991 ( được Đại hội VII thông qua) lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hóa Việt Nam có đặc trưng: tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc thay cho quan niệm nền văn hóa Việt Nam có nội dung xã hội chủ nghĩa, có tính chất dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân, được nêu ra trước đây; phê phán những cái lỗi thời thấp kém; chống tư tưởng văn hóa phản tiến bộ; những tư tưởng hành vi phi văn hóa, phản văn hóa, những khuynh hướng sùng ngoại lai căng mất gốc, sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý; bảo vệ nền văn hóa dân tộc trước sự xâm lăng văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rông giao lưu quốc tế

Lối sống và hành vi của con người có những biểu hiện không được coi là văn hóa, trong đó, những gì không phù hợp là phi văn hóa và những gì chống lại bản sắc tốt đẹp là phản văn hóa

Ngày đăng: 09/02/2022, 13:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w