1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tràng giang huy cận

5 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tràng Giang
Tác giả Huy Cận
Thể loại Essay
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 155,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dàn ý chi tiết "Tràng Giang" - Huy Cận - 10 trang III. KẾT LUẬN 1.Nghệ thuật Bài thơ “Tràng giang vừa mang đặc điểm thơ cổ điển vừa mang tính hiện đại rõ nét. Thể thơ bảy chữ với cách ngắt nhịp truyền thống là 4/3, bút pháp tả cảnh ngụ tình, nghệ thuật đối chủ yếu là đối ý chứ không phải trong câu thiên về nghiêm luật tạo không khí trang trọng, sự tương xứng nhịp nhàng. Bên cạnh đó việc láy lại vần “ang” và các từ láy song song, điệp điệp, chót vót, lớp lớp, việc học lại ý thơ cổ điển … cũng là những yếu tố tạo nên cổ điển cho bài thơ. Tính chất hiện đại thể hiện ở thi liệu rất mới mẻ, quan niệm Mỹ học chịu ảnh hưởng từ phương Tây, cách kết hợp từ mới lạ “sâu chót vót”…cách thể hiện những chuyển động ngược hướng thể hiện tính chất phân li của cuộc đời, sử dụng sáng tạo các dấu câu … 2. Nội dung Bài thơ “Tràng Giang” đã vẽ trước mắt ta những một bức tranh cảnh vật tràng giang hùng vĩ, với cách nhìn độc đáo vừa gần vừa xa, vừa cao vừa sâu. Bức tranh mà Huy Cận tạo nên với những hình ảnh gần gũi như sông nước, bến, thuyền… vừa mang một vẻ đẹp vừa cổ kính vừa hiện đại vừa rất Việt Nam. Nhưng bao trùm không gian ấy là một nỗi buồn. Đó không chỉ là nỗi buồn cô đơn lẻ loi của chính tác giả mà còn là nỗi buồn chung của một thế hệ các nhà thơ mới 1930 – 1945, của những kẻ “bơ vơ như những đứa con lạc mẹ” trước bối cảnh xã hội đương thời. Nỗi buồn được thể hiện trong bài thơ là nỗi buồn sông núi, gắn với tình yêu quê hương đất nước.

Trang 1

Tràng giang - Huy Cận

I MỞ BÀI

Nhận xét về thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, nhà nghiên cứu phê bình Hoài Thanh viết ''Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế'' Huy Cận chính là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ

ca lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945 và trong dàn đồng ca đa sầu đa cảm của các nhà thơ lãng mạn thì hồn thơ Huy Cận là ảo não nhất Khi ông xuất hiện trên thi đàn thì người ta thấy dậy lên một tiếng địch buồn Thơ của ông thường thể hiện một nỗi buồn lớn, triền miên, vô tận và tưởng chừng kéo dài đến hàng ngàn, hàng vạn năm Vì thế

người ta mệnh danh ông là nhà thơ của nỗi “sầu vạn cổ” hay “thiên cổ sầu” Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân

thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rõ nét qua bài thơ “Tràng Giang” Bài thơ được đưa vào tập thơ “Lửa thiêng” in năm 1940 là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng Tác phẩm là bức tranh cảnh vật Tràng giang mênh mông sóng nước và trong bức tranh cảnh vật ấy ẩn chứa một nỗi buồn triền miên, vô tận, cái tôi cô đơn và tình yêu quê hương, đất nước thầm kín Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc

II THÂN BÀI

1 Khái quát

Huy Cận là hạt cát đã bay lượn tìm kiếm vẻ đẹp của quê hương, xứ sở để làm thơ Người nghệ sĩ ấy đã đứng trước dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa để nguồn xúc cảm lắng đọng lại ở thi phẩm “Tràng Giang” Cảnh vật dòng sông mênh mông sóng nước gợi hứng cho nhà thơ sáng tác bài thơ “Tràng Giang” Bài thơ được xem là thi phẩm nổi tiếng thể hiện rõ phong cách thơ của Huy Cận Ban đầu, tác phẩm có tên là “Chiều trên sông” nhưng về sau đổi thành “Tràng giang”

Nhan đề:

+ “Tràng giang” là một cách nói đầy sáng tạo của Huy Cận Âm “ang” đi liền nhau đã gợi lên cho người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô tận mà còn rộng mênh mông, bát ngát Hai chữ “tràng giang” mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi Hơn nữa “Tràng giang” là từ Hán Việt nên còn gợi cho bài thơ một không khí cổ kính, gợi tả một dòng sông từ ngàn xưa chảy qua hàng ngàn năm lịch

sử, văn hóa, chảy qua không biết bao nhiêu áng sử thi

+ Tứ thơ “Tràng giang” mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hòa nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nỗi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ

bé trước vũ trụ bao la Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại

Đề từ:

+ Câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” gợi không gian rộng lớn, rợn ngợp với cảnh “trời rộng

sông dài” và trong không gian ấy hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp Đồng thời, nghe tiếng sóng vỗ đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ, lời đề từ còn bộc lộ rõ cảm xúc, cảm hứng chủ đạo xuyên suốt tác phẩm Đó là tâm trạng “bâng khuâng”, khó diễn tả, nỗi buồn mênh mang, da diết, chơi vơi, gợi cả nỗi buồn sâu lắng trong lòng người đọc Lời đề từ này như vậy vừa là cảm hứng vừa có tác dụng định hướng về ý nghĩa, vừa tạo tính cổ điển, hiện đại cho bài thơ

2 Khổ thơ 1: Cảnh sông nước và tâm trạng buồn của thi nhân

1 - Huy Cận là một nhà thơ mới, ông yêu thích cả thơ ca Việt Nam, thơ Đường và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn

học Pháp Bởi vậy thơ Huy Cận vừa mang màu sắc dân tộc vừa có tính cổ điển và vừa rất hiện đại Những đặc điểm nổi bật của thơ Huy Cận được thể hiện rõ ngay từ khổ thơ đầu tiên của bài thơ:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Có biết bao thi sĩ đã mượn thiên nhiên để giải bày lòng mình Tâm trạng của con người, nhất là nỗi buồn thường

được giãi bày ra trong cảnh vật Ta đã thấy điều đó trong thơ Nguyễn Du “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”,

đã thấy một nỗi buồn như thế trong “Chinh phụ ngâm”:

Người buồn cảnh thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun

Nỗi buồn của con người thì vô vàn, nhất là với các nhà thơ mới thì buồn rất nhiều nên thiên nhiên trong thơ mới thường đẹp nhưng lại buồn đến da diết Trong những năm tháng tăm tối của đất nước, Huy Cận cũng buồn và thi sĩ cũng tìm đến phơi trải lòng mình qua các hình ảnh thiên nhiên đẹp Vì thế, ngay từ câu thơ đầu tiên, tác giả đã hướng người đọc hình dung ra một dòng sông mênh mang sóng nước

Trên mặt nước của dòng đại giang mênh mông, bát ngát là những con sóng lăn tăn, gợn gợn Những con sóng tuy nhỏ nhưng muôn vàn con sóng cùng từ láy “điệp điệp” đã gợi nỗi buồn lan tỏa, kéo dài đến vô tận thành bức tranh thiên nhiên rộng mở, kỳ vĩ Đứng trước cảnh vật bao la, vô cùng vô tận ấy nỗi buồn của nhà thơ có trong và trải

Trang 2

dài trên từng con sóng Nỗi buồn vì thế cũng triền miên, vô tận, thành nỗi sầu vạn kỉ, thiên cổ sầu vẫn thường thấy

trong thơ Huy Cận: “Một chiếc linh hồn nhỏ, mang mang thiên cổ sầu”.

2+3 - Giữa dòng Đại giang còn xuất hiện hình ảnh một con thuyền, con thuyền ấy không có người lái nên mái

chèo của nó bị buông lơi Con thuyền trôi không định hướng, song song với dòng nước theo kiểu nước chảy thì thuyền trôi Bởi vậy, hình ảnh con thuyền giữa dòng đại giang mênh mông sóng nước trong câu thơ trước hết gợi

ấn tượng về sự nhỏ bé, trôi dạt, vô phương hướng

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Thuyền và nước đi liền với nhau, người ta thường nói “nước chảy thuyền trôi” Nhưng ở đây, dòng nước và con thuyền lại đi song song với nhau, chuyển động ngược hướng nhau “thuyền về nước lại” Thuyền và nước đi song song với nhau thế nên không bao giờ gặp gỡ, bỗng trở thành hai cá thể độc lập không có sự gắn bó và gợi tính chất phân ly của cuộc đời Câu thơ một lần nữa nhấn mạnh thêm nỗi buồn Có lẽ nỗi buồn ấy ngày trở nên da diết, Huy Cận đang nhớ quê, đất nước đang bị chia cắt, nỗi buồn nhân thế in hằn trên khuôn mặt đến phát “sầu” Một nỗi buồn lan tỏa khắp vũ trụ bao la, rộng lớn như thế thì có lẽ chúng ta chỉ tìm thấy ở hồn thơ Huy Cận

4 - Trơ trọi lại càng thêm trơ trọi, rời rạc lại nối tiếp rời rạc, cành củi khô một mình lạc lõng giữa dòng chảy,

không biết đi đâu về đâu gợi nỗi chua xót thân phận xiết bao! Không phải là một “bông hoa tím biếc” “mọc giữa dòng sông xanh” mà là nhành củi khô ráo hoảnh sự sống, một nhành củi rỗng ruột, vô vọng

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Hình ảnh con thuyền trôi dạt giữa dòng đại giang đã gợi sự nhỏ bé, trôi dạt, vô phương hướng những hình ảnh cành củi khô xuất hiện trong câu thơ thứ tư đã gợi sự cô đơn, tội nghiệp hơn rất nhiều Trên mặt nước Tràng giang

đã có những con sóng lăn tăn, gợn gợn, đã có hình ảnh con thuyền nhỏ bé giờ còn xuất hiện thêm hình ảnh một cành củi khô Hình ảnh sóng, con thuyền vốn là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca xưa nay nhưng đến thời điểm

“Tràng giang” ra đời thì hình ảnh cành củi khô vẫn là một thi liệu mới mẻ chưa từng được nhắc đến Đây liệu có phải là chất mới trong thơ mới của Huy Cận Cành củi khô vốn là một cành cây đã lìa khỏi cây, nó đã mất đi sự sống và nay lại lạc giữa mấy dòng nước “Một” gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, tầm thường, “cành khô” gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, “lạc” mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên “mấy dòng” nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông So với sự mênh mông, rộng lớn trong dòng Đại giang, hình ảnh con thuyền đã nhỏ bé thì hình ảnh cảnh củi còn nhỏ hơn nhiều Cả hai hình ảnh con thuyền và cành củi đều nằm trong hệ thống hình ảnh gợi sự nhỏ

bé, trôi dạt… Những hình ảnh đó đều gợi ta liên tưởng về những kiếp người nhỏ bé, vô danh, trôi dạt giữa dòng đời Nghệ thuật đối lập giữa các hình ảnh con thuyền, cành củi với sự rộng lớn của dòng Đại giang càng nhấn mạnh thêm nỗi buồn, tô đậm thêm sự nhỏ bé, vô định của những kiếp người, cái nghèo những năm 30 - 45 Bút pháp "tả cảnh ngụ tình" của Huy Cận trong khổ thơ cũng thật tài tình, chỉ thông qua vài hình ảnh giản đơn như

“sóng gợn”, “con thuyền”, “củi một cành khô” mà tác giả có thể truyền tải mạnh mẽ những cảm xúc của mình đến người đọc khiến khổ thơ không chỉ là bức tranh cảnh vật thiên nhiên mà hơn nữa là cảm xúc vũ trụ, là nỗi buồn nơi đáy hồn nhân thế

⇒Khổ thơ cũng như toàn bộ bài thơ không chỉ là nỗi buồn mà còn là bức tranh cảnh vật về dòng tràng giang Tìm hiểu bài thơ từ góc độ thiên nhiên cảnh vật ta thấy đây là một bài thơ rất đỗi Việt Nam, với những hình ảnh quen thuộc với người Việt Nam như dòng sông, sóng gợn, con thuyền, cành củi khô dập dềnh Ở những khổ thơ sau ta còn bắt gặp thêm những hình ảnh những cánh bèo trôi dạt, một buổi chợ chiều, một chuyến đò ngang Vì thế xét ở một góc độ nào đó, Tràng giang là một bài thơ ca hát về non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu Tổ quốc

Ai đó đã từng nói cuộc sống là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá, là cái đích cuối cùng của thơ ca Những tác phẩm nghệ thuật chân chính luôn bắt rễ từ đời sống hiện thực sẽ có sức lan tỏa mãi trong trái tim bạn đọc “Tràng giang” của Huy Cận bắt nguồn từ hiện thực đời sống, từ cảnh sông Hồng mênh mông sóng nước với con thuyền, cành củi trôi dạt, từ tình cảnh đau thương của đất nước và đã thể hiện được những nỗi niềm nhà thơ muốn ký thác, như một tiếng thở dài bất lực của thi nhân trước cảnh nước mất nhà tan Nỗi niềm ấy của người nghệ sĩ chân chính Huy Cận hẳn sẽ còn lắng đọng mãi để những vần thơ có đủ sức sống đi theo năm tháng

3 Khổ thơ 2: Cảnh hoang vắng

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

2 - Có những tâm trạng của con người chỉ có thể diễn đạt bằng thơ và nỗi buồn của Huy Cận cũng phải tìm đến

thơ và qua các hình ảnh thơ để được giãi bày Trong khổ thơ thứ hai, bức tranh cảnh vật sông nước được mở rộng

về đôi bờ và bầu trời

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Trang 3

Những cồn cát trên sông nhấp nhô, gió chiều nhè nhẹ thổi "đìu hiu" gợi buồn da diết Cồn là một bãi đất nằm ở giữa sông, nó vốn đã gợi sự đơn độc, trơ trọi Đã thế lại là “cồn nhỏ” càng gợi sự lẻ loi, đơn chiếc và gợi buồn Sự vật hiện diện ở trên cồn chỉ lơ thơ, lác đác và hẳn đó là cỏ cây lưa thưa, phất phơ trước làn gió nhẹ Nghệ thuật đảo ngữ đã đảo trật tự cú pháp thông thường đặt từ láy “lơ thơ” lên đầu câu thơ càng gợi sự hoang vắng, ít ỏi, trống vắng của cảnh vật từ đó gợi cho lòng người sự hiu hắt Riêng về từ “đìu hiu”, Huy Cận được trong “Chinh phụ ngâm”:

Non Kì quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò

Gió thổi đìu hiu đã gợi sự buồn bã, quạnh vắng, thê lương, hiu hắt của bức tranh cảnh vật, gợi cả âm hồn, tử khí phảng phất trong gió trong cây

Trước cảnh vật hoang vắng, thi sĩ đi tìm dấu hiệu cuộc sống con người như một lẽ tự nhiên Câu thơ thứ hai của khổ thơ bắt đầu nhắc đến các dấu hiệu của cuộc sống con người nhưng có vẻ như nhắc đến chỉ là để phủ nhận Lấy động để tả tĩnh, câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" đã làm nổi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang Các nhà thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hoà thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu Hai câu thơ này của khổ thơ có điệp âm "lơ thơ" và "đìu hiu", có vần lưng: "nhỏ- gió", có vần chân: "hiu- chiều" làm ta liên tưởng đến câu thơ đầy chất thơ, chất nhạc của Xuân Diệu:

"Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu

Lả lả cành hoang nắng trở chiều"

Dấu hiệu của cuộc sống con người ở đây là âm thanh của một buổi chợ chiều đã vắng người Một buổi chợ đông đúc, ồn ào bao nhiêu thì một buổi chợ chiều hiu hắt, ảm đạm bấy nhiêu Đây lại là âm thanh một buổi chợ chiều ở một cái làng xa nào đó vẳng lại Câu thơ có thể hiểu theo hai hướng khác nhau xuất phát từ hai cách hiểu về từ

“đâu” Đâu có nghĩa là đâu đó hoặc là đâu có Trước tiên, câu thơ được như một câu hỏi, một lời thở than cảnh vật Tràng giang quạnh vắng đến mức ngay cả âm thanh của một buổi chiều từ cái làng xa nào đó vẳng lại cũng không

có Vắng lặng đến không có sự hoạt động của con người mà ngay đến âm thanh của hoạt động đó cũng không có Ngoài ra, đâu đó giữa không gian cảnh vật tràng giang vẳng lại âm thanh xao xác của một buổi chợ chiều Có âm thanh nhưng cảnh vật không trở nên vui tươi và sống động hơn, trái lại càng trở lên nên vắng lặng Dù có hiểu theo cách nào thì câu thơ vẫn là để tô đậm nỗi buồn và bức tranh cảnh vật hoang vắng, hiu hắt Trong suốt bài thơ Huy Cận dường như muốn phủ nhận tất cả những gì thuộc về cuộc sống con người Không có âm thanh của buổi chợ chiều cùng hệ thống với các ý thơ như “không một chuyến đò ngang”, “không cầu gợi chút niềm thân mật”,

“không khói hoàng hôn”

2 - Đến hai câu thơ sau của khổ thơ thứ hai thì không gian cảnh vật tràng giang đã vụt lớn lên, mở rộng đến vô

cùng và cảm xúc vũ trụ được thể hiện một cách mãnh liệt Tình cảm chân thành, mãnh liệt vốn là cơ sở tạo nên một tác phẩm nghệ thuật chân chính Vẻ đẹp của bầu trời cao xanh đã bao lần đi vào thi ca dân tộc: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao" - Thu vịnh Để diễn tả chiều cao của bầu trời Tràng giang, thi sĩ Huy Cận không dùng từ cao thông thường mà sử dụng từ “sâu” Từ “sâu” vừa gợi chiều cao vừa gợi cái thăm thẳm, hun hút đến vô cùng của bầu trời chiều Từ láy “chót vót” càng tô đậm hơn chiều cao đến không cùng, không tận ấy

"Nắng xuống trời lên sâu chót vót"

Nhà thơ lại miêu tả một chuyển động ngược hướng “nắng xuống gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian,

“trời lên” như để tô đậm thêm tính chất phân li của cuộc đời

Đến câu thơ cuối của khổ thơ “Sông dài trời rộng bến cô liêu” gợi một không gian ba chiều vô tậntận Cùng với

cái cao, sâu hun hút của bầu trời chiều tràng giang là bề rộng đến bao la, bát ngát của trời đất, vũ trụ và chiều dài đến vô cùng vô tận của dòng sông Tất cả gợi bức tranh cảnh vật tràng giang mênh mông đến rợn ngợp Giữa cảnh vật Tràng giang hùng vĩ, mênh mông, hoang vắng xuất hiện một cái bến cô liêu, tức là một cái bến trơ trọi, vắng

vẻ không có một bóng người Nghệ thuật đối lập giữa sự mênh mông của cảnh vật tràng giang với sự trơ trọi, nhỏ

bé của cái bến để tô đậm thêm cả hai chiều, vừa tô đậm thêm cái bát ngát của dòng trường giang vừa tô đậm là cái nhỏ bé, hoang vắng của cái bến Nỗi buồn của Huy Cận trong khổ thơ này là tâm lý tự nhiên của một con người cảm thấy mình nhỏ bé trước thiên địa vô thủy vô chung Phải chăng, Huy Cận đã mượn những nỗi buồn vẩn vơ đó

để gửi tâm sự gì kín đáo sâu bên trong, mà một tâm hồn đầy phức tạp như ông không thể nào diễn tả hết bằng lời?

4 Khổ thơ 3: Nỗi cô đơn của nhà thơ

Cái tình trong thơ Huy Cận trong “Tràng giang” đúng là không phô lộ, không phải “rượu đã rót ra chén” mà đầy sức gợi Âm hưởng âm trầm, chất ngất u buồn từ những câu thơ đầu tiên lan rộng đến hai khổ cuối Từ một cành củi khô, con thuyền trôi dạt ở khổ thơ thứ nhất đến hình ảnh "bèo dạt" vô định, vô phương ở đây đều gợi lên sự chia li "tan" mà không "hợp":

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Trang 4

Trước cảnh "mênh mông" sông dài trời rộng, cánh bèo xanh nổi như một nét điểm xuyết cho bức tranh cảnh vật Hình ảnh những đám bèo nối tiếp nhau trôi dạt trên dòng sông thành “hàng nối hàng” tô đậm thêm hình ảnh dòng sông trải dài miên man, vô tận Ở đây, ta thấy có sự gần gũi giữa hình ảnh “bèo dạt về đâu” với hình ảnh “bèo dạt mây trôi” trong dân ca quan họ từng gợi lên trong lòng người bao cảm xúc, số phận con người nói chung Từng cụm bèo lững lờ trôi vô định trên sông không biết rồi sẽ đi đâu về đâu cũng khiến ta nhớ đến câu ca dao:

Thân em như thể bèo trôi Sóng dập, gió dồi biết tấp vào đâu?

Cánh bèo trôi hay chính con người đang lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian Biện pháp nghệ thuật sử dụng câu hỏi tu từ cùng điệp từ “hàng” như trải rộng nỗi buồn trên sóng nước tràng giang khiến câu thơ càng gợi buồn, khiến thi nhân đã buồn rồi lại buồn hơn Vì buồn nên thi nhân muốn tìm một nơi bấu víu, muốn tìm một chút hơi ấm của sự sống con người nhưng cái nhận được chỉ là sự hiện diện của những cái không có Cảnh bao la nhưng vắng bặt bóng dáng con người Điệp từ "không" như điểm nhấn cho sự vắng mặt: không có một chuyến đò ngang, không có lấy một cây cầu để nối liền hai bờ, gợi chút niềm thân mật Không một cái gì đó gợi về tình người, lòng người muốn gặp gỡ lại qua nơi đôi bờ hoang vắng Hai bờ sông cứ thế chạy dài

vô tận như hai thế giới cô đơn, không chút “niềm thân mật” của những tâm hồn đồng điệu Nó giống như là hai thế giới không có bất kỳ liên hệ nào với nhau Giữa đất trời sông nước bao la không tìm được một người bạn tâm giao tri kỷ, không ai có thể hiểu nỗi lòng của tác giả, làm cho nỗi cô đơn như con sóng vỗ từng cơn trong lòng, cảm thấy mình thật bé nhỏ Không có con người, không có sự tương giao, tất cả đều "lặng lẽ", chỉ có thiên nhiên "bờ xanh" nối tiếp thiên nhiên “bãi vàng” hoang vắng

5 Khổ thơ 4: Cảnh hoàng hôn và tình yêu quê hương, đất nước của nhà thơ

Nếu như ba khổ thơ trước nhà thơ chủ yếu miêu tả cảnh vật Tràng giang mênh mông vô tận với hình ảnh dòng nước, bờ bãi, cái bến, cồn…rồi mở rộng ra lên bầu trời và qua cảnh vật để nói đến tâm trạng cùng chất cổ điển thì trong khổ thơ cuối cùng này, cảnh vật và tâm trạng được miêu tả chia đều trong bốn câu thơ cùng chất hiện đại

2 - Hai câu thơ đầu của khổ thơ cuối cùng tiếp tục miêu tả bầu trời tràng giang vào thời điểm cụ thể là vào lúc

chiều tà Bức tranh thiên nhiên được gợi lên trong hai câu thơ thật là kỳ vĩ, hoành tráng

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Thường thì buổi chiều hay gợi cho ta sự ảm đạm nhưng cảnh chiều ở đây lại thật rạng rỡ Những đám mây trắng cuộn lên ở phía chân trời thành một không gian rộng lớn bàng bạc Từ láy “lớp lớp” gợi liên tưởng đến về những đám mây chiều tầng tầng lớp lớp chồng chất lên nhau Từ “đùn” gợi chuyển động của những đám mây cứ cuộn lên

và mở rộng ra mãi Tuy nhà thơ Huy Cận đã sử dụng hình ảnh trong thơ cổ nhưng câu thơ vẫn có vẻ đẹp riêng rất hiện đại, kì vĩ, đẹp thơ mộng

Trong bài thơ nghệ thuật đối cũng được nhà thơ Huy Cận vận dụng linh hoạt và với tần số cao Đó là sự đối lập giữa con thuyền và cành củi, cánh bèo trôi vô định ở những khổ thơ trước để nhấn mạnh sự nhỏ bé của chúng trước sự mênh mông, rộng lớn bát ngát của cảnh vật Tràng giang Nghệ thuật đối lập giữa hình ảnh cánh chim và hình ảnh bầu trời tràng giang tô đậm sự khoáng đạt của bầu trời chiều nhưng cũng cho thấy sự bé nhỏ, đơn chiếc của cánh chim Giữa nền trời màu bạc khoáng đạt ấy cánh chim chỉ là một chấm đen nhỏ bé, đơn chiếc Đã là

"cánh nhỏ" mà lại chao nghiêng nên nét thanh mảnh của cánh chim càng dễ biến mất giữa khoảng không vô tận

Có lẽ cái hay trong câu thơ miêu tả cánh chim chiều của Huy Cận là màu sắc hiện đại Sắc hoàng hôn bát ngát trên trang thơ, cánh chim bé bỏng nghiêng chao gợi lên bao nhiêu xúc cảm Con chim đường như chao nghiêng đôi cánh để kéo bầu trời xuống hay là đôi cánh của nó đang chao nghiêng đi vì sức nặng của buổi chiều đang buông, bóng tối đang lấn dần Đặc biệt, hình ảnh bầu trời và cánh chim ít nhiều khiến người đọc cảm nhận được sự nhỏ bé của con người trước trời đất vũ trụ bao la Câu thơ hay là ở chỗ đã hiện đại hóa được một hình ảnh thơ đậm chất

cổ điển Dấu hai chấm giữa câu thơ đã gợi mối quan hệ giữa cánh chim và bóng chiều, thể hiện buổi chiều tối dần, màn đêm bắt đầu buông xuống khiến con chim chao nghiêng cánh, vội vàng tìm về với tổ ấm Bức tranh cảnh vật được gợi lên từ hai câu thơ ít nhiều cũng gợi cả tâm trạng và tâm trạng vẫn là nỗi buồn Có thể nói rằng hình ảnh cánh chim luôn là một thi liệu quen thuộc trong thi ca cổ điển, là dấu hiệu của buổi chiều tà, mang đến cho con người những nỗi bâng khuâng, bất định trong tâm tưởng khi nhìn bóng chim bay lưng trời mà chưa thấy một điểm dừng nhất định

b Hai câu thơ sau: Tâm trạng nhớ nhà nhớ quê của tác giả

Hai câu thơ là tâm trạng nhớ nhà nhớ quê của tác giả Tâm trạng ấy vốn được gợi ra từ hình ảnh cánh chim bay về

tổ trong buổi chiều tà ở hai câu thơ trước nhưng đến hai câu thơ này mới trở nên rõ ràng hơn

Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Trong thơ ca xưa nay, cánh chim nhỏ bé, đơn côi giữa bóng chiều tà luôn gợi cho những kẻ xa nhà nỗi nhớ nhà nhớ quê và niềm khao khát được sum họp gia đình Hình ảnh cánh chim giữa cảnh vật Tràng giang mênh mông bát ngát cũng là sự tiếp nối của thơ ca cổ điển, cũng gợi cho Huy Cận tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê Nối tiếp mạch thi cảm của người xưa, Huy Cận chính là "một người của đời, một người ở giữa loài người", tình cảm cảm xúc trong

Trang 5

thơ ông suy cho cùng vẫn là những tình cảm cảm xúc của con người nói chung Sức sống lâu bền của Tràng giang

chính là bởi có lẽ nó đúng là một tác phẩm có giá trị như quan niệm của nhà văn Nam Cao: “Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người”.

Hai câu thơ của Huy Cận cũng nói về tâm trạng của con người trước cảnh sông nước vào buổi chiều tà, cũng là tâm trạng nhớ nhà, nhớ quê hương Từ láy “dợn dợn” thì không chỉ thể hiện nỗi buồn, nỗi nhớ nhà nhớ quê có trên từng con sóng của dòng Tràng giang mà hơn nữa,“dợn dợn” còn thể hiện được cảm giác rợn ngợp của con người trước cảnh đất trời mênh mông, vô tận, tô đậm thêm cảm giác vũ trụ cho bài thơ Trước những nỗi sầu bi bất định, Huy Cận không khỏi nhớ nhà, nhớ quê nơi đã sinh ra, cho lữ khách hơi ấm yêu thương, để vơi bớt đi những quạnh quẽ, chua xót trong lòng Nỗi nhớ ấy tha thiết đến độ không cần đến “khói hoàng hôn”, ánh lửa bữa cơm chiều từ những căn bếp mà lòng vẫn đượm một nỗi nhớ mong sâu nặng Ấy rồi mở rộng ra nỗi nhớ quê đau đáu của Huy Cận lại diễn ra khi chính bản thân tác giả đang đặt chân ở mảnh đất quê mình, ta mới hiểu được rằng nỗi nhớ quê chính là lòng yêu nước thầm kín Huy Cận nhớ về những ngày đã xa, khi đất nước còn yên ấm, tươi đẹp, khác hẳn với hiện thực đau thương, buồn bã Trước cảnh tượng ấy, ông lại chỉ có thể bất lực trước thời thế rối ren, luẩn quẩn trong chính sự bế tắc của tâm hồn với những nỗi sầu bi bất định, nghe thật chua xót

Khổ thơ đã bộc lộ rõ nhất tâm trạng nhớ nhà nhớ quê của Huy Cận, nhớ một cách da diết, nhớ ngay cả khi đang ở trên quê hương của mình Đoạn thơ đi thế cũng thể hiện nghĩa chung của cả bài đó là tình yêu quê hương, đất nước rất kín đáo mà sâu nặng

Toàn bộ bài thơ Tràng giang đã miêu tả cảnh vật sông nước mênh mang vô tận Cảnh vật nhìn chung là vắng lặng không có dấu hiệu của sự sống con người, không có lấy một âm thanh Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng hai nét

vẽ động, đó là chuyển động của cánh chim, của đám mây chiều Có nét vẽ động nhưng bức tranh cảnh vật không trở nên sinh động hơn, vui tươi hơn mà chỉ tô đậm thêm nỗi buồn đang đầy vơi trong lòng thi sĩ Có thể thấy rất rõ,

trong nỗi buồn, sự bất lực của chính mình, Huy Cận đã viết lên những dòng thơ ca hát về non sông đất nước III KẾT LUẬN

1.Nghệ thuật

Bài thơ “Tràng giang vừa mang đặc điểm thơ cổ điển vừa mang tính hiện đại rõ nét Thể thơ bảy chữ với cách ngắt nhịp truyền thống là 4/3, bút pháp tả cảnh ngụ tình, nghệ thuật đối chủ yếu là đối ý chứ không phải trong câu thiên

về nghiêm luật tạo không khí trang trọng, sự tương xứng nhịp nhàng Bên cạnh đó việc láy lại vần “ang” và các từ láy song song, điệp điệp, chót vót, lớp lớp, việc học lại ý thơ cổ điển … cũng là những yếu tố tạo nên cổ điển cho bài thơ Tính chất hiện đại thể hiện ở thi liệu rất mới mẻ, quan niệm Mỹ học chịu ảnh hưởng từ phương Tây, cách kết hợp từ mới lạ “sâu chót vót”…cách thể hiện những chuyển động ngược hướng thể hiện tính chất phân li của cuộc đời, sử dụng sáng tạo các dấu câu …

2 Nội dung

- Bài thơ “Tràng Giang” đã vẽ trước mắt ta những một bức tranh cảnh vật tràng giang hùng vĩ, với cách nhìn độc đáo vừa gần vừa xa, vừa cao vừa sâu Bức tranh mà Huy Cận tạo nên với những hình ảnh gần gũi như sông nước, bến, thuyền… vừa mang một vẻ đẹp vừa cổ kính vừa hiện đại vừa rất Việt Nam Nhưng bao trùm không gian ấy là một nỗi buồn Đó không chỉ là nỗi buồn cô đơn lẻ loi của chính tác giả mà còn là nỗi buồn chung của một thế hệ các nhà thơ mới 1930 – 1945, của những kẻ “bơ vơ như những đứa con lạc mẹ” trước bối cảnh xã hội đương thời Nỗi buồn được thể hiện trong bài thơ là nỗi buồn sông núi, gắn với tình yêu quê hương đất nước

- Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường

- Vẻ đẹp hiện đại lan tỏa qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như “sâu chót vót”, dấu hai chấm thần tình Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức mình cho đất nước mà đành bất lực, không làm gì được

- Hồn thơ Huy Cận là một hồn thơ hay và chịu thích nghi với thời cuộc, trước cách mạng tháng tám với tư cách là một trí thức tiểu tư sản, trong các sáng tác của mình, ông thường bộc lộ những nỗi buồn thế sự, nỗi bất lực trước cảnh đổi thay của thời đại, cũng như cảnh đau thương của đất nước, thể hiện tấm lòng yêu đất nước sâu nặng Tất

cả những tình cảm ấy được thể hiện rõ nét trong Tràng giang bằng lối thơ vừa cổ điển vừa hiện đại, kết hợp cùng nỗi ám ảnh sâu sắc với không gian rộng lớn, Huy Cận đã tạo ra một tác phẩm xuất sắc, để lại nhiều dấu ấn trong lòng người đọc về thơ ca Việt Nam giai đoạn trước cách mạng

Ngày đăng: 29/09/2024, 15:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w