1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tràng giang huy cận

6 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tràng Giang Huy Cận
Tác giả Huy Cận
Trường học Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại bài phân tích
Năm xuất bản 1939
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài: Phân tích Tràng Giang Huy CậnBài làm:Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thành được từng nhận xét: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn trở về hồn ta cùng Huy Cận.” Khác với những nhà thơ cùng thời hân hoan chào đón giai đoạn mới, buồn và buồn man mác, thê lương có thể nói là màu sắc chủ đạo in trên từng trang thơ của Huy Cận, là cảm xúc chung của bao thế hệ đọc giả mỗi lần đóng lại những tập thơ của ông. Hiểu rõ bản thân mình, Huy Cận đã có màn tự họa chân dung tâm hồn mình“Một chiếc linh hồn nhỏMang mang thiên cổ sầu”Nỗi sầu ấy có bao trùm cả tập “Lửa thiêng” và hội tụ ở bài “Tràng giang” cụ thể qua

Trang 1

Đề bài: Phân tích Tràng Giang- Huy Cận

Bài làm:

Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thành được từng nhận xét: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn trở về hồn ta cùng Huy Cận.” Khác với những nhà thơ cùng thời hân hoan chào đón giai đoạn mới, buồn và buồn man mác, thê lương có thể nói là màu sắc chủ đạo in trên từng trang thơ của Huy Cận, là cảm xúc chung của bao thế hệ đọc giả mỗi lần đóng lại những tập thơ của ông Hiểu rõ bản thân mình, Huy Cận đã có màn tự họa chân dung tâm hồn mình

“Một chiếc linh hồn nhỏ

Mang mang thiên cổ sầu”

Nỗi sầu ấy có bao trùm cả tập “Lử&a thiêng” và hội tụ ỏ& bài “Tràng giang”- cụ thể qua Nếu thơ của Xuân Diệu mang một nỗi ám ảnh của thời gian tịnh tiến “ không một lần thắm lại”, thì thơ Huy Cận lại bao trùm nỗi khắc khoải về không gian rộng lớn, vô ngần.Lấy cảm hứng từ những hình ảnh thân thuộc, kì vĩ của thiên nhiên, sông nước, nhưng đặt trước con mắt của nhà thơ lại hóa ra những

sự vô lực, cô độc của nhân loại, dây lên bao nỗi niềm, suy tưởng về trí lý nhân sinh để rồi ngưng tụ thành một “nỗi sầu trăm ngả” Đồng thời, nói đến Huy Cận,

ta không thể không nhắc đến một phong cách văn thơ với một sự pha trộn hài hòa giữa hiện đại và cổ điển Thơ Huy Cận như một nút giao thời giữa quá khứ với hiện thực và tương lai Chính những nét cổ điển ấy đã làm nên cái mới trong thơ của ông Tất cả cùng làm nên vị trí to lớn của Huy Cận trong phong trào thơ Mới nói riêng và là gương mặt tiêu biểu cho những thi nhân của văn học nước ta

Được in trong tập Lửa thiêng, Tràng Giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Huy Cận Theo như tác giả, cảm hứng của bài thơ được khơi gợi trong một buổi chiều mùa thu của năm 1939, giữa dòng nước lũ chảy xiết của con sông Hồng, Huy Cận đứng ở bờ nam nhìn ra một bể nước mênh mông, cuồn cuộn nổi bật lên một cành củi khô, khiến ông bắt đầu có những suy ngẫm về một kiếp người trôi nổi, phiêu bạc và lẻ loi, mạch cảm xúc cùng dần dần dồn nén làm cho những dòng thơ cứ thế cứ thế tuôn trào

Nhưng tại sao lại là “Tràng Giang” mà không phải “Trường Giang” với cùng một nét nghĩa? Dễ dàng nhận thấy, nhan đề bài thơ chứa đựng cả một tình yêu và lòng tự tôn dân tộc của tác giả khi ông sợ tác phẩm của mình sẽ bị nhầm lẫn với con sông Trường Giang- Dương Tử ở Trung Quốc Và hơn hết, so với

“Trường Giang” thì “Tràng Giang” với phép điệp vần “ang”, gợi lên âm hưởng vang vọng, lan tỏa khắp mọi nơi Con sông Hồng như đang chuyển động giãn

nở ngày một dài ra, không gian như ngày một rộng lớn hơn, mang theo một nỗi niềm cô liêu Và rồi, mọi thứ càng trở nên sinh động và có hồn hơn khi hai tiếng “Tràng Giang” còn là một nửa của một điển tích kinh điển “Tràng giang đại hải”

Câu đề tự của bài thơ đã mở đầu cho dòng cảm xúc xuyên suốt bài thơ:

“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

Hai chữ "bâng khuâng" thể hiện được nỗi niềm của nhà thơ là cảm giác buồn sầu trước dòng sông rộng lớn "Trời rộng" được nhân hóa nhớ sông dài hay chính là ẩn dụ cho nỗi nhớ của nhà thơ Qua câu thơ đề từ cảm nhận được nỗi bâng khuâng, xao xuyến của tác giả trước sự mênh mông của con sông, đồng thời cảm nhận được nỗi nhớ da diết của tác giả Câu thơ định

Trang 2

hướng cảm xúc chủ đạo của bài thơ nỗi buồn sầu lan tỏa, nhẹ nhàng mà sâu lắng trước cảnh trời rộng sông dài, đồng thời tạo nên vẻ đẹp hài hòa, vừa cổ điển của sông nước mây trời vừa hiện đại của chàng thanh niên thời thơ mới

Bài thơ được mở đầu bằng những hình ảnh rất hùng vĩ của sông Hồng bao bọc sự êm ái, mong manh của con thuyền:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song

Huy Cận mở đầu bài thơ vớimột âm hưởng đầy ảo não, thê lương bằng dòng sông và con thuyền -những hình ảnh vốn dĩ rất quen thuộc trong thơ Đường vẽ nên một bức tranh thủy mặc gợi tình, nhưng đặt dưới cây bút của thi nhân, tất cả lại mang theo những nỗi niềm riêng Đọc câu thơ người đọc hình dung ra một con sông mênh mang sóng nước, nó không chỉ hiện ra với một chiều dài bất tận mà còn với chiều sâu cùng những chuyển động sinh động

Từ láy “điệp điệp” gợi lên trong tâm trí của người đọc về những đợt sóng cứ dập dồn, liên tiếp xô nhau vào bờ, tưởng chừng mãi không bao gi ngừng lại Nhưng khi đem “điệp điệp” gắn với “song song” lại mang đến một màu xót xa cho hai câu thơ, vang vọng, ám ảnh Không những vậy, những cụm từ :điệp điệp, song song còn là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca cổ Như bài Đăng Cao của Đỗ Phủ:

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,

Bất tận trường giang cổn cổn lai

Giữa những con sóng gối đầu lên nhau, bỗng xuất hiện con thuyền yếu

ớt, lẻ loi, cô độc một mình “xuôi mái nước” Con thuyền giờ đây đang dần “xuôi mái”, vô vọng, chán chường, mặc cho dòng đời đưa đẩy vồ vập Nó không biết rồi sẽ về đâu, nó không có thứ gì để bán víu Có thể nói “thuyền” giờ đây như chở theo nỗi trăn trở của tác giả, trở thành hiện thân của chính Huy Cận nói riêng và của những kiếp người sống bơ vơ, lạc lõng, trôi dạt, vô định sự những cơn sóng vỗ của cuộc đời Tất cả khiến cho tâm trạng người đọc cũng thượt dài, mênh mang theo dòng chảy của con sông dài vạn dặm ấy Cái tài viết thơ của Huy Cận thật đáng ngưỡng mộ, bằng từ ngữ thơ ông lại lột tả nên sự chuyển động của “sóng”, của “thuyền”, nhưng lại khiến cho người đọc không tránh khỏi có chút cảm giác lặng lẽ, cô độc trước thiên nhiên

Tiếp nối với nỗi buồn, Huy Cận đặt bút để sự chia li thêm in hằn:

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Hình ảnh thuyền và nước dường như phá vỡ quy luật thường tình Nước chảy thuyền trôi như một điều tất yếu Thế nhưng, Huy Cận lại nỡ tách chúng

ra, riêng biệt, xa cách Tưởng chừng, con thuyền và dòng nước trôi song song, không thể tách rời nhau nhưng thực chất là một sự chia ly không thể nào ngăn cản Hai thực thể vốn vận động cùng chiều này lại đối lập “về” – “lại” Tuy vậy, sự bất hợp lý trong tự nhiên lại rất có lý trong vận động tâm trạng tác giả Tâm hồn đầy lo âu, mặc cảm, lạc lõng kia có thể nào thấy được cảnh tượng thiên nhiên hòa hợp, sum vầy? Thuyền buồn vì nhớ sóng, sóng thì không nỡ xa thuyền Hai sự vật ấy cứ quyến luyến, không muốn rời xa, vì khi không có nhau chúng sẽ lại cô độc Tất cả tụ thành một nỗi sầu trăm ngả Nỗi sầu cứ thế dâng lên, từng chút để rồi vang xa khắp không gian Bao nhiêu đợt sóng là bấy nhiêu nỗi buồn Qua cái nhìn đa sầu đa cảm của thi nhân, nỗi buồn của dòng sông lúc này lại hóa thành nỗi “sầu trăm ngả” của nhân vật trữ tình.Nỗi buồn lặp đi lặp lại, đầy ấp, dồn nén, lớp lớp chồng chất như không cách nào xóa nhòa

Nếu như ba câu thơ đầu là một loạt các hình ảnh sóng, thuyền, nước thì câu thơ cuối lại xuất hiện hình ảnh rất lạ:

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Đi ngược với những quy chuẩn của thơ Đường luật về cái đẹp, cái trang

Trang 3

trọng, Huy Cận đề cập một từ “củi” mà như xé toạc mọi khuôn mẫu phép tắc nền thi ca trước đó,dẫn đường cho cái tôi độc đáo, sáng tạo Khác hẳn với cảnh vật tràn đầy sức sống của “Một bông hoa tím biếc” của Thanh Hải trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” "Cành khô” ấy mang nỗi sầu vô định của thi nhân, chỉ

có thể trôi nổi, bập bềnh theo dòng nước Với phép đảo trật tự từ, Huy Cận nhưng đang muốn làm bật lên những sự tàn úa, héo mòn Cành củi khô rời xa rừng núi, rời xa cội nguồn, dập dìu trôi nổi, phiêu bạt giữa dòng Tràng Giang Khi liên kết với con thuyền của đầu bài thơ, ta bỗng ngờ ngợ nhận ra bao nỗi lòng của tác giả Với thủ pháp đối lập giữa “ một cành khô” và “lạc mấy dòng”, Huy Cận phải chăng đang ngấm ngầm gửi đến cho chúng ta một hiện thực tàn khốc hơn cả con thuyền giữa quãng nước rộng Cành củi thậm chí không thể “xuôi mái nước song song” mà bị quăng quật, bị dồn ép theo dòng nước, lạc đến mấy dòng Có phải Huy Cận cũng đang mê mang, lưỡng lự: Sau một đời lênh đênh, liệu con người sẽ tìm được bến bờ an yên hay nhìn lại chỉ còn lại

sự yếu ớt, tàn phai, còn lại bao sự hối tiếc, cô độc, bất lực trước dòng đời Liệu con thuyền mỏng manh ấy rồi có hóa thành cành củi điêu tàn, khô héo Tác giả đang thấm thía cái thân phận nhỏ bé, lênh đênh, bơ vơ của con người, dù

có vẫy vùng cũng không tìm được sự giải thoát Đứng trước bao người rẽ của cuộc đời, cành củi khô chỉ có một mình chống chọi trước thế gian Cái cảm xúc trầm lắng này cứ thế xâm chiếm, gặm nhấm hết toàn bộ bài thơ Linh hồn của Tràng Giang hóa thành một nỗi buồn mênh mông, xa vãn và dai dẳng

Tiếp nối với tâm trạng buồn tủi, cô đơn, lạc lõng ngay trước những cảnh vật mà mình hằng quen thuộc, khổ thơ cuối là những nỗi nhớ nhà tha thiết, da dẳng của nhà thơ đứng trước thiên nhiên lúc chiều tà

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều xa Người ta thường nói: “Thi trung hữu họa” Với cây bút cứng cáp của nhà thơ, những nét vẽ mềm mại, hùng vĩ của thiên nhiên, đất nước dần được hiện

ra với cả màu sắc và hình khối Mở đầu khổ thơ bằng điệp từ “lớp lớp” , bức tranh bỗng trở nên thật chân thật và có chiều sâu Mây cao tụ lại, tạo thành những mảng mây xếp chồng lên nhau tạo thành một khối trôi lơ lửng hòa trong ánh sáng nhè nhẹ chiếu lên những ngọn núi xa xăm kết thành những dải màu bạc bao phủ lên khắp muôn nơi Phải chăng, hai chữ “núi bạc” kia chính là những mơ ước, cầu mong của tác giả cho sự sung túc, trù phú và bình

an của đất nước Và rồi, cả câu thơ như sống dậy bởi một chữ “đùn” Có lẽ mây cao cùng núi bạc hối hả, thúc dục, xô đẩy nhau cùng nhanh chân trở về, cùng nhau hội họp ở phía chân trời bỏ lại một cánh chim bé nhỏ Giữa khung cảnh thiên nhiên cao rộng, hùng vĩ, bỗng nhiên lại một nổi bật một cánh chim bay

về từ một vùng trời xa Chim là một hình ảnh cũng vô cùng quen thuộc với văn thơ xưa Ví như Nguyễn Du đã từng viết: “ Chim hôm thoi thóp về rừng” hay Bà Huyện Thanh Quan với “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”

Và đến Tràng Giang, cánh chim lại một lần nữa xuất hiện mang theo những tâm tưởng mới Hai chữ “nghiêng cánh” cho ta những liên tưởng rằng chú chim đang chở trên một cái gì đó trĩu nặng, xa sầm xuống, phải chăng đó

là cả bóng chiều, cả những nỗi lòng của những người con xa xứ Đồng thời, phải nói đến chim là loài thường bay theo bầy đàn, nhưng tại sao trong bức tranh thiên nhiên của Huy Cận lại duy chỉ một cánh chú chim nhỏ bé Phải chăng, ẩn sau dưới đôi cánh kia là nhân vật trữ tình hay cũng chính là tác giả-con người đang cô độc, lạc loài trên chính quê hương của mình Qua 2 câu thơ, tác giả đã khắc họa một mối quan hệ tương phản, đối lập giữa cái nhỏ bé với cái vĩ mô, giữa cái hữu hạn với cái vô hạn, từ đó làm bật lên sự nhỏ bé, yếu

ớt của con người trước thiên nhiên bao la, rộng lớn cùng dòng chảy vô hạn của thời gian Tất cả như xoáy sâu vào trong tâm hồn của Huy Cận làm ông càng thêm trống trãi và đơn độc, làm ông khát vọng thêm cái hơi ấm của quê

Trang 4

hương, của tình người.

Như đại thi hào Nguyễn Du đã từ viết trong Truyện Kiều:

Cảnh buồn người có vui đâu bao giờ

“Tả cảnh ngụ tình” là một thủ pháp nghệ thuật thường thấy trong văn thơ xưa Bởi lẽ, thiên nhiên là khởi nguồn cho bao nhiêu xúc cảm của con người, cảnh tình thiên nhiên nối liền với những nỗi niềm của con người Đứng trước một không gian như thế, trong lòng nhà thơ một trào dâng, cô đọng thành hai dòng thơ cuối:

Lòng quê dợn dợn vời con nước;

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Ta có thể khẳng định hai câu thơ cuối là đỉnh cao cảm xúc của Huy Cận Tất cả tình cảm của ông dành cho quê hương thương nhớ được thể hiện cụ thể, da diết qua hai chữ “dợn dợn” Tình cảm dành cho quê nhà luôn thường trực, đong đầy, xao động như những con sóng của sông Hồng, không ngừng dâng trào, đến mức trào ra mãnh liệt Từ "dợn dợn" thực sự là điểm mấu chốt

để ta thấy bút thơ tài hoa của Huy Cận, vừa gợi được cái cồn cào khắc khoải trong lòng người, vừa cho thấy sự day dứt khôn nguôi trọng tâm can, sự khắc khoải, đau đáu của một kẻ đứng trên quê hương mà vẫn cảm thấy thiếu quê hương Đồng thời, có một số ý kiến cho rằng ‘dợn dợn” còn có thể là “rợn rợn”

do tác giả cố tình dùng tiếng địa phương mình vào tác phẩm Nhưng nếu đặt vào trong mạch cảm xúc của toàn bài thơ, nét nghĩa của “rợn rợn” cũng rất đúng, khi tác giả được cảm thấy bần thần, trơ trọi, sợ hãi giữa một dòng đời mênh mông, xa lạ, chính vì thế, ông cần lắm những hơi ấm quen thuộc và dịu

êm của quê hương, của con nước Và rồi, lòng quê ấy lại một lần nữa nhấn mạnh qua hình ảnh “khói hoàng hôn”- một hình ảnh từng xuất hiện trong Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu

"Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu"

Khói đối với Thôi Hiệu là chất xúc tác quan trọng gợi nhớ đến quê

hương, nhưng Huy Cận lại khẳng định rằng rằng dẫu không cần một điểm tựa, điểm gợi đến từ khói trắng của chiều tà, của hoàng hôn thì trong lòng nhân vật trữ tình vẫn đong đầy nỗi niềm tha thiết với quê hương Đây là cảm giác trống vắng, thiếu thốn bất định của cái tôi thơ Mới thời kì bấy giờ Nhưng đồng thời cũng đặt ra cho ta một câu hỏi, phải chăng giữa con người và cảnh vật, con người và con người nơi đây không còn sự gắn kết, cho nên tôi mới cảm thấy bơ vơ, cô quạnh và lạc lõng đến vậy Tố Hữu đã nói “sống giữa quê hương

mà bơ vơ như kiếp đi đày” quả thực nói rất đúng về tâm trạng của những người dân một đất nước chịu cảnh đô hộ và tâm trạng riêng của Huy Cận trong khổ thơ này Và càng cho ta hiểu nỗi buồn thấm thía của một thời đất nước ta lúc bấy giờ Nó phải chăng là một sự đứt gãy có tính phổ quát và sự gắn kết trong xã hội, cũng đồng thời là sự biến mất của những giá trị truyền thống và thay vào đó là sự chuyển mình của dòng chảy hiện đại Dường như sau hàng loạt khung cảnh mênh mang sóng nước, sự trĩu nặng của tâm trạng khi cảnh vật về chiều thì cuối cùng tác giả cũng phải bật thốt lên về nỗi nhớ thương của mình trong khổ thơ cuối cùng này Phải dồn nén thế nào, nỗi nhớ chan chứa và sâu lắng ấy mới được nhà thơ gói gọn trong hai dòng thơ cuối

Với hình ảnh bình dị giàu sức thơ, mang đậm phong vị Đường thi, với những hình ảnh cổ điển tiêu biểu, bức tranh mà Huy Cận tạo nên với những hình ảnh gần gũi như sông nước bến thuyền vừa mang một vẻ đẹp vừa cổ kính vừa hiện đại Bài thơ “Tràng Giang” đã vẽ trước mắt ta những một bức tranh hùng vĩ, với cách nhìn độc đáo vừa gần vừa xa, vừa cao vừa sâu, nhưng bao trùm không gian ấy là một nỗi buồn Đó không chỉ là nỗi buồn cô đơn lẻ loi của chính tác giả mà còn là nỗi buồn của một thế hệ khi phải sống trong cảnh nước mất nhà tan Tất cả đã tô đậm thêm sự độc đáo trong thơ của Huy Cận

Trang 5

Đóng quyển sách lại, hai thứ ấn tượng còn đọng lại sau bài thơ là

không gian vô cùng, vô tận của ngoại cảnh và nỗi buồn, nỗi cô đơn không giới hạn của lòng người Thơ mang đậm nét buồn, buồn ở đây không phải là buồn

do cảnh vật tàn phai, không gian chật hẹp, tù túng hay chết chóc mà buồn vì cái đẹp thiếu tình người, từ một sự mất mát các mối liên hệ có tính phổ quát gây nên một cái buồn đậm màu triết lý, nỗi buồn đó cũng phản ánh sự thay đổi đời sống xã hội, khổ thơ cũng muốn nói lên nỗi buồn của những ai khi phải

xa quê hương Cả hai như cùng kích ứng để càng rộng, càng lớn thì càng buồn, càng cô đơn khiến bài thơ như chất chứa, tích tụ nỗi sầu của cả ngàn năm lại vậy Nhưng vượt lên trên hết, bút pháp đặc trưng và nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển và hiện đại đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên thật đẹp dẫu có buồn Song người đọc vẫn nhìn thấy một tình yêu quê hương đất nước thầm kín hiện lên trong Tràng giang

The end.

Trang 6

Cả hai như cùng kích ứng để càng rộng, càng lớn thì càng buồn, càng cô đơn khiến bài thơ như chất chứa, tích tụ nỗi sầu của cả ngàn năm lại vậy

Có lẽ, trước khung cảnh ánh sáng dần lùi về xa nhường chỗ cho bóng tối, khi mà vạn vật rục rịch lui về nghỉ ngơi thì con người cũng bắt đầu thèm khát những bữa cơm gia đình, những giây phút bình yên dưới mái nhà thân thương trong một hơi nồng ấm

Ngày đăng: 21/07/2023, 14:10

w