Cũng trong thời kỳ này, để tháo gỡ những khó khăn về vấn đề nguyên vật liệu và thị trường tiêu thụ, chủ động sản xuất kinh doanh, công ty đã chỉnh hướng sản xuất kinh doanh từ chủ yếu ph
Trang 1
LUẬN VĂN:
Phân tích cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
của công ty dệt Minh Khai
Trang 2
Lời mở đầu
Trong quá trình hội nhập nề kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu đang rất được Nhà nước cũng như nhiều doanh nghiệp quan tâm Xuất khẩu không những đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, mà còn giảI quyết hàng triệu công ăn việc làm cho người lao động, thức đẩy các ngành khác phát triển
Ngành dệt may ngày nay đang là một trong những ngành xuất khẩu chính của toàn
bộ các ngành công nghiệp Ngành công nghiệp dệt may được đánh giá có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của đất nước
Công ty dệt Minh Khai là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu đứng đầu của
sở công nghiệp Hà Nội Hàng năm doanh thu xuất khẩu của công ty đạt trên 80% tổng doanh thu toàn doanh nghiệp Trong thời gian qua công ty luôn hoàn thành nhiệm vụ sản xuất và các chỉ tiêu do Nhà nước giao và ngày càng khẳng định được vị thế của mình
Công ty đã xuất khẩu sang thị trường nhiều nước trên thế giới như thị trường Nhật Bản, EU, ĐàI Loan,… đồng thời tạo được uy tín của công ty trên thị trường thế giới
Với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu khá đa dạng và phong phú, sản phẩm của công ty
đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng các nước bạn Sản phẩm của công ty được biết đến bởi chất lượng cao, kiểu dáng mẫu mã phong phú
Tuy nhiên trong môI trường cạnh tranh khốc liệt như hiẹn nay đòi hỏi doanh nghiệp phảI luôn đỏi mới và hoàn thiện mình Lựa chọn một cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
có hiệu quả là một trong những vấn đề mà công ty cần xem xét nhằm tìm được một hướng đI đúng đắn nhất tạo khả năng cạnh tranh tốt nhất cho doanh nghiệp
Xuất phát từ thực tế trên, em đã chon đề tàI “Phân tích cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai”cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Chuyên đề gồm 3 phần:
Phần 1 Giới thiệu chung về công ty dệt Minh Khai
Phần 2 Thực trạng cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai
Phần 3 Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai
Trang 3
nội dung
Phần 1 Giới thiệu chung về công ty dệt minh khai
1.1 Giới thiệu khái quát về công ty dệt Minh Khai:
1.1.1 Thông tin chung về công ty
Tên công ty: Công ty dệt Minh Khai
Tên giao dịch quốc tế: Minh Khai Textile Company
Hình thức pháp lý: Doanh nghiệp nhà nước
Ngành nghề kinh doanh chính: Sản xuất khăn mặt và khăn tắm, màn tuyn
Điện thoại: 84-4-8624002
Fax: 84-4-8624255
1.1.2 Lịch sử hình thành của công ty:
Công ty dệt Minh Khai là một trong những đơn vị chủ lực của ngành công nghiệp
Hà Nội , thuộc sự quản lý của sở công nghiệp Hà Nội Trước khi thành lập công ty có tên
là Nhà máy dệt khăn mặt khăn tay
Công ty được khởi công xây dựng từ cuối những năm 60 - đầu những năm 70 của thế kỷ 20 - đây là thời kỳ cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở Miền Bắc Việt Nam đang ở giai đoạn ác liệt nhất Vì vậy, việc xây dựng công ty có những thời gian bị gián đoạn và phải dời đi sơ tán ở những địa điểm khác nhau trên địa bàn Hà Nội Đến đầu những năm 70, công ty chuyển về đóng trụ sở tại địa bàn phía Đông Nam thành phố Hà Nội
Năm 1974, Công ty cơ bản được xây dựng xong và chính thức được thành lập theo quyết định của UBND thành phố với tên gọi là Nhà máy dệt khăn mặt khăn tay Cũng năm đó nhà máy đi vào sản xuất thử và đến năm 1975 công ty chính thức nhận kế hoạch của nhà nước giao Đến năm 1983, công ty đổi tên thành: Nhà máy dệt Minh Khai
Năm 1992, công ty được thành lập lại theo quyết định số 338/TTg của thủ tướng chính phủ với số vốn là 8,680 tỷ đồng, trong đó:
- Vốn ngân sách cấp: 1,300 tỷ đồng
- Vốn huy động (vay): 7,380 tỷ đồng
Trang 4Năm 1994, để thuận tiện trong giao dịch sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, nhà máy đổi tên thành Công ty dệt Minh Khai
Đến 2004, công ty dệt Minh Khai đã đạt đến quy mô:
Diện tích mặt bằng: gần 4 ha
Công ty gồm 4 phân xưởng sản xuất, 5 phòng chức năng, với tổng số cán bộ công nhân viên trong danh sách 1061 người
Số ngày làm việc trong năm: 350 ngày
Số ca làm việc trong ngày: 3 ca (tuỳ theo phân xưởng)
Số giờ làm việc trong ca: 8h
Thu nhập bình quân đầu người: 900.000 đ/người/tháng
Công ty dệt Minh Khai là một doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong nghành công nghiệp địa phương của Hà Nội, đóng góp một phần đáng kể vào GDP của địa phương, đặc biệt là tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động của thành phố và của các tỉnh lân cận Nhiệm vụ chủ yếu của công ty là sản xuất các loại khăn bông, khăn tắm, khăn ăn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa Cho đến nay cơ cấu sản phẩm của công ty đã được mở rộng và đa dạng hơn, gồm: các loại khăn bông thường, khăn bông in hoa, khăn bông dệt Dobby, khăn bông dệt Jacquard, áo choàng tắm, khăn nhà bếp, màn tuyn Các sản phẩm này chủ yếu là phục vụ xuất khẩu , ngoài ra được tiêu thụ tại các đại
lý, siêu thị, khách sạn trong nước
1.1.3 Quá trình phát triển:
* Giai đoạn 1974-1980:
Trong thời gian đầu mới thành lập và đi vào hoạt động, công ty gặp rất nhiều khó khăn do nhà xưởng xây dựng chưa hoàn chỉnh, thiết bị do Trung Quốc viện trợ về lắp đặt không đồng bộ, khâu đầu của dây chuyền sản xuất không hoạt động được phải làm theo phương pháp thủ công Số máy ban đầu của công ty chỉ có 260 máy dệt thoi khổ hẹp của Trung Quốc, tài sản cố định của công ty khi đó mới chỉ có gần 3 triệu đồng Là đơn vị đầu tiên của miền Bắc sản xuất mặt hàng khăn bông nên nhiều thông số kỹ thuật không
có sẵn, mà phải vừa làm vừa mò mẫm tìm tòi Đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề thiếu nhiều Do vậy, những năm đầu sản xuất công ty mới chỉ đưa vào hoạt động được hơn 100 máy dệt, số cán bộ công nhân viên là 415 người
Năm 1975, năm đầu tiên đi vào sản xuất, công ty mới chỉ đạt:
Trang 5
- Giá trị tổng sản lượng gần 2,5 triệu đồng
- Sản phẩm chủ yếu gần 2 triệu khăn các loại
Những năm tiếp theo, hoạt động của công ty dần đi vào ổn định, việc xây dựng và hoàn thiện dây chuyền sản xuất được tiếp tục, năng lực sản xuất được tăng thêm, lao động được bổ sung, năng suất lao động và doanh thu ngày càng tăng
* Giai đoạn 1981-1989:
Đây là thời kỳ phát triển cao của công ty Những năm này, công ty được thành phố đầu tư thêm cho một dây chuyền công nghệ dệt kim đan dọc của CHDC Đức (cũ) để dệt các loại vải tuyn, rèm, valide Như vậy, về mặt sản xuất, công ty đã được giao cùng một lúc quản lý và triển khai thực hiện 2 quy trình công nghệ dệt khác nhau là dệt kim đan dọc và dệt thoi Công ty cũng đã tập trung đầu tư chiều sâu, đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất, bằng mọi phương pháp kinh tế và kỹ thuật đưa dần toàn bộ máy móc thiết bị ở khâu đầu dây chuyền sản xuất như: nồi hơi, nồi nấu áp lực, máy nhuộm, máy sấy sợi đi vào hoạt động, phục vụ cho sản xuất Nhờ đó công ty đã chấm dứt được tình trạng khâu đầu của sản xuất phải làm thủ công và đi thuê ngoài gia công
Cũng trong thời kỳ này, để tháo gỡ những khó khăn về vấn đề nguyên vật liệu và thị trường tiêu thụ, chủ động sản xuất kinh doanh, công ty đã chỉnh hướng sản xuất kinh doanh từ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa sang lĩnh vực sản xuất phục vụ cho xuất khẩu là chủ yếu (xuất khẩu sang cả 2 thị trường XHCN và TBCN) Năm 1981, thông qua công ty xuất nhập khẩu hàng dệt TEXTIMEX, công ty đã ký hợp đồng xuất khẩu dài hạn sang CHDC Đức và Liên Xô (cũ) Năm 1983, công ty bắt đầu sản xuất khăn
ăn xuất khẩu cho thị trường Nhật Bản với sự giúp đỡ của UNIMEX Hà Nội, và từ đó đến nay, lượng hàng xuất khẩu sang thị trường này ngày càng lớn, thị phần của công ty trong thị trường Nhật Bản ngày càng tăng Đặc biệt từ năm 1988, công ty được Nhà nước cho phép thực hiện xuất khẩu trực tiếp, trở thành công ty đầu tiên ở miền Bắc được Nhà nước cho phép làm thí điểm về xuất nhập khẩu trực tiếp sang thị trường nước ngoài
Trong thời kỳ 1981-1989, mức tăng trưởng trong sản xuất kinh doanh của công ty luôn ở mức cao (từ 9-11%/năm) , đặc biệt là chỉ tiêu xuất khẩu
* Giai đoạn 1990 đến nay:
Những năm 90, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế quản lý mới theo tinh thần nghị quyết Đại hội VI - VII của Đảng Tình hình chính trị trên thế giới cũng có nhiều biến
Trang 6động Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ, các quan hệ bạn hàng của công ty với các nước này cũng không còn, công ty mất đi một thị trường quan trọng
và truyền thống
Trong lịch sử hơn 20 năm xây dựng và phát triển của công ty, có thể nói đây là thời
kỳ mà công ty gặp nhiều khó khăn lớn nhất, phảI đối mặt với những thách thức khắc nghiệt nhất Vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh thiếu trầm trọng, máy móc thiết bị đầu
tư ở giai đoạn trước đã cũ và lạc hậu, không đủ đáp ứng cho yêu cầu mới Đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty quá đông và đã quen với cơ chế bao cấp nay chuyển sang cơ chế mới không dễ thích nghi
Trước tình hình đó, bằng những nỗ lực cố gắng, chủ động sáng tạo của bản thân công ty, cùng với sự quan tâm của lãnh đạo cấp trên, sự hỗ trợ của các đơn vị bạn, công
ty tập trung sức tháo gỡ những khó khăn, giải quyết từ những vấn đề quan trọng nhất về thị trường, về vốn, và về tổ chức lại sản xuất, lựa chọn bố trí lại lao động Nhờ đó công
ty đã từng bước thích nghi với cơ chế thị trường, ổn định và phát triển theo hướng xuất khẩu là chính, hoàn thành các nghĩa vụ với Nhà nước, bảo toàn và phát triển được vốn cho sản xuất kinh doan, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên
Nhìn lại quá trình hơn 20 năm xây dựng và phát triển của công ty, tuy có lúc thăng trầm, song đó chỉ là những bước nhất định trong một tiến trình phát triển và đổi mới đi lên Điều này được thể hiện thông qua kết quả như sau:
- Giá trị tổng sản lượng năm 1975, công ty mới chỉ đạt được gần 2,5 triệu đồng, năm 1990, đã đạt hơn 9,1 tỷ đồng
- Sản phẩm chủ yếu, những năm đầu mới chỉ đạt được gần 2 triệu sản phẩm khăn các loại cho nhu cầu nội địa Năm 1995 đã có sản phẩm xuất khẩu (85% sản phẩm khăn)
và sản xuất thêm mặt hàng màn tuyn
- Doanh thu đạt gần 3,5 triệu đồng năm 1975, những năm 1990 đã đạt 13,5 tỷ đồng và đến năm 1997 đạt 54,6 tỷ đồng
- Kim ngạch xuất khẩu năm 1990 đạt 1.635.666 USD Năm 1997 đạt 3.588.397 USD
- Nộp ngân sách năm đầu tiên gần 68.000 triệu đồng, năm 1990 nộp 525,9 triệu đồng và đến năm 1997 nộp 1.534,8 triệu đồng
Công tác khoa học kĩ thuật được đặc biệt chú ý và được coi là biện pháp hàng đầu
Trang 71.2 Những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến cơ cấu sản phẩm xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai :
1.2.1 Tính chất và nhiệm vụ sản xuất:
Công ty dệt Minh Khai là một công ty chuyên sản xuất và xuất khẩu các loại khăn bông, áo choàng tắm, màn tuyn và vải tuyn, đồng thời đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng trong nước Sản phẩm của công ty được sản xuất hàng loạt trên dây chuyền với số lượng lớn, kiểu dáng phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc do phòng kỹ thuật thiết kế trên máy vi tính
Công ty không đặt ra kế hoạch sản xuất trong thời gian dài mà đề ra kế hoạch theo năm, năm trước đặt kế hoạch cho năm sau trên cơ sở phân tích năng lực sản xuất hiện có của công ty về các mặt vốn, công nghệ, lao động Bên cạnh đó công ty cũng căn cứ vào tình hình tiêu thụ sản phẩm của năm trước và những biến động trên thị trường
Việc xuất khẩu chủ yếu của công ty là làm theo đơn đặt hàng và Nhật Bản là một trong những khách hàng chính của công ty nên tính chất và nhiệm vụ sản xuất khó ổn định Thêm vào đó là sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt làm cho công tác lập kế hoạch của công ty gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, do khách hàng chủ yếu của công ty là các bạn hàng Nhật Bản cộng với sự cạnh tranh gay gắt nên vấn đề đa dạng hoá sản phẩm, mẫu mã, chủng loại, cải tiến chất lượng và giá cả phù hợp với người tiêu dùng là nhiệm
vụ trọng tâm xuyên suốt quá trình sản xuất và kinh doanh của công ty Với một môI trường cạnh tranh khốc liệt việc lựa chọn một cơ cấu sản phẩm xuất khẩu là tương đối khó và cần được thực hiện từng bước nhằm đạt mục tiêu đề ra
1.2.2 Đặc điểm về sản phẩm và cơ cấu sản phẩm của công ty:
Sản phẩm của công ty là sản phẩm thiết yếu đối với người tiêu dùng, vật dụng
Trang 8không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng như khăn mặt, khăn tắm, màn tuyn Sản phẩm của công ty mang tính chất sử dụng nhiều lần, có tác dụng giữ gìn
vệ sinh, và bảo vệ sức khoẻ Sản phẩm tiêu dùng cho cá nhân nên đòi hỏi bền, mềm, thấm nước, màu sắc, mẫu mã phong phú, không phai màu, nhiều kích cỡ khác nhau, độ dày mỏng phù hợp
Do nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của người dân ngày càng cao, cùng sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật nên công ty đã không ngừng cải tiến, thiết kế ra những mẫu mới Hơn nữa các sản phẩm của công ty không những chỉ phong phú về kiểu dáng, mẫu mã, mà ngày càng được nâng cao về chất lượng Hiện nay cơ cấu sản phẩm của công ty đã phong phú hơn rất nhiều và có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và thị trường xuất khẩu (sản phẩm xuất khẩu chiếm xấp xỉ 90% khối lượng sản phẩm sản xuất) Sản phẩm của công ty gồm 2 loại chủ yếu:
- Khăn bông các loại
- Vải màn tuyn
Với sản phẩm khăn bông công ty sản xuất từ nguyên liệu sợi bông 100% nên có độ thấm nước, độ mềm mại cao, phù hợp với yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng Đây là nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của công ty, chiếm tới 98% khối lượng sản phẩm của công ty, bao gồm:
+ Khăn ăn: dùng trong các nhà hàng và gia đình Đối với các loại khăn ăn dùng cho nhà hàng công ty bán cho các cơ sở cung cấp khăn cho nhà hàng làm khăn ướt Loại khăn này chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, chỉ có một phần rất ít tiêu thụ trong nước
+ Khăn rửa mặt: Đối với loại khăn này, công ty cũng có các loại khăn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, song chủ yếu là tiêu thụ qua các nhà bán buôn và các siêu thị
+ Khăn tắm: Loại khăn này công ty chủ yếu sản xuất cho nhu cầu xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Song hiện nay, xu hướng sử dụng khăn tắm trong nước cũng tăng nhiều nên công ty đã có hướng nghiên cứu mặt hàng khăn tắm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng và còn phục vụ cho nhu cầu quảng cáo, khuyến mãi các sản phẩm khác như: dầu gội đầu, sứ vệ sinh, dụng cụ thể thao
+ Bộ khăn dùng cho khách sạn bao gồm khăn tắm, khăn mặt, khăn tay, thảm chùi
Trang 9chân, và áo choàng tắm Công ty có hợp đồng cung cấp loại sản phẩm này cho gần 100 khách sạn tại Nhật Bản thông qua các công ty thương mại Nhật Bản là ASAHI, HOUEI, DAIEI, VINASEIKO, DAIWABO, FUKIEN, FUJIWARA Ngoài ra, các khách sạn trong nước nhất là các khách sạn liên doanh với nước ngoài tại các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh cũng đặt hàng tại công ty
- Các loại vải sợi bông sử dụng để may lót và may mũ giày phục vụ cho các cơ sở may xuất khẩu như: giày Ngọc Hà, may X40
- Với sản phẩm vải màn tuyn, công ty sản xuất từ nguyên liệu 100% sợi PETEX nên đảm bảo cho màn tuyn có độ bền cao và chống được oxy hoá gây vàng màn Loại sản phẩm này mới được đưa vào sản xuất trong công ty hơn 10 năm, nên khối lượng sản xuất
ra chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn Ngoài ra công ty cũng ký các hợp đồng xuất khẩu màn tuyn sang các nước Châu Phi theo chương trình phòng chống sốt rét của Liên Hợp Quốc
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu gồm các loại sản phẩm chính sau:
1.2.3 Đặc điểm thị trường xuất khẩu của công ty:
Thị trường tiêu thụ chính của công ty dệt Minh Khai là thị trường nước ngoài với lượng sản phẩm chiếm khoảng 90% số lượng sản phẩm sản xuất Trong đó thị trường xuất khẩu truyền thống của công ty là các khách hàng Nhật Bản (chiếm 85% số lượng sản phẩm xuất khẩu ), còn 5% là xuất khẩu sang các thị trường Châu Âu và Châu á và các thị trường khác
Trước đây sản phẩm của công ty chỉ xuất khẩu sang các nước Đông Âu và Liên Xô
cũ là chính Song từ khi hệ thống Xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở những nước này thì công ty
đã mất đi các bạn hàng, và đặc biệt từ khi thực hiện nền kinh tế mở cửa thì sản phẩm xuất khẩu của công ty hướng mạnh về các nước có nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa Đây là những thị trường có tiềm năng xuất khẩu lớn đối với công ty Nếu biết cách khai thác, sẽ đem lại lợi nhuận rất lớn cho công ty, giúp công ty có thể cải thiện đời sống cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, hoàn thành nghĩa vụ ngân sách với Nhà nước, đóng góp một phần
Trang 10không nhỏ vào công cuộc xây dựng đất nước trở thành một nước công nghiệp
Hơn nữa, hiện nay trên thị trường Nhật Bản công ty đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty sản xuất khăn bông Trung Quốc và của một số nước Đông Nam á trong đó đặc biệt là từ Trung Quốc: sản phẩm khăn bông của công ty và sản phẩm
Trang 11khăn bông của Trung Quốc tuy có chất lượng tương đương nhau, nhưng Trung Quốc lại
có lợi thế giá rẻ, do đó làm cho tốc độ tiêu thụ sản phẩm của công ty trên thị trường Nhật Bản giảm xuống hẳn, gây ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động xuất khẩu của công ty
2.3.2 Thị trường EU:
EU là thị trường nhập khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất của VN, trên 40% hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam là xuất sang EU Nhờ có hiệp định buôn bán dệt may mà số lượng hàng dệt may xuất khẩu sang EU tăng lên nhanh chóng, cơ hội mở rộng xuất khẩu sang EU đang mở ra đối với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
EU là thị trường rộng lớn gồm 15 quốc gia với hơn 375 triệu người tiêu dùng, nên nhu cầu về hàng hoá rất đa dạng, phong phú Đặc biệt với mặt hàng dệt may thì nhu cầu càng đa dạng Tuy có sự khác biệt về tập quán và thị hiếu tiêu dùng giữa thị trường các quốc gia, song 15 nước trong khối EU đều nằm trong khu vực Tây Âu và Bắc Âu nên có những nét tương đồng về kinh tế và văn hoá.Trình độ phát triển của những nước này khá đồng đều nên người dân EU có những điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng Đối với mặt hàng dệt may, khách hàng EU rất quan tâm tới chất lượng và thời trang,
do đó yếu tố này có khi lại quan trọng hơn yếu tố giá cả Người tiêu dùng EU có sở thích
và thói quen tiêu dùng hàng của những hãng nổi tiếng thế giới, vì họ cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng và uy tín lâu đời nên sử dụng những mặt hàng này có thể yên tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng Những sản phẩm của các nhà sản xuất ít danh tiếng hay những nhãn hiệu ít người biết đến sẽ rất khó tiêu thụ trên thị trường
EU Mức sống của người tiêu dùng trong cộng đồng EU tương đối đồng đều và ở mức cao nên tiêu dùng của họ rất cao cấp, yêu cầu khắt khe về chất lượng và độ an toàn, giá cả không phải là vấn đề quyết định đối với thị trường này Vì thế cạnh tranh về giá không hẳn là biện pháp tối ưu khi thâm nhập thị trường EU
Tuy nhiên đối với công ty dệt Minh Khai, thị trường Châu Âu vẫn còn khá mới mẻ Hiểu biết về thị trường này của công ty vẫn còn hạn chế, chủ yếu công ty có được thông tin về thị trường này là thông qua Bộ Thương mại, các công ty trung gian thương mại Quan hệ làm ăn của công ty với các bạn hàng EU chưa thực sự đủ để tạo ra niềm tin và uy tín đối với bạn hàng
So với thị trường Nhật Bản, thì giá trị xuất khẩu sản phẩm vào thị trường EU của công ty chỉ bằng một phần rất nhỏ Do vậy mà hoạt động xuất khẩu của công ty hiện nay
Trang 12mới chỉ tập trung phần lớn vào thị trường Nhật Bản Trong tương lai, công ty dự định sẽ
cố gắng tìm mọi biện pháp để mở rộng thị trường xuất khẩu , đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu vào Nhật Bản và EU Để thực hiện được điều này đòi hỏi công ty phảI không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, phong phú kiểu dáng mẫu mã đồng thời phảI tự xây dung một thương hiệu riêng cho mình, khẳng định được vị thế của mình trong một môI trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt
2.4 Đặc điểm máy móc thiết bị
Việc nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng máy móc thiết bị Những ngày đầu tiên mới thành lập, máy móc của công ty chủ yếu là của Trung Quốc và một số nước XHCN như Liên
Xô (cũ), Ba Lan Sản phẩm lúc đó chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước là chính
Nhưng kể từ khi công ty được Nhà nước cho phép xuất khẩu trực tiếp thì công ty đã chuyển hướng sản xuất kinh doanh sang phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu là chính Máy móc thiết bị từ trước cũng đã trở nên cũ và lạc hậu không thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất để xuất khẩu của công ty Vì vậy công ty đã tiến hành đầu tư mua sắm, lắp đặt một
số thiết bị của Nhật Bản, Đức, Trung Quốc
Trong thời gian từ năm 1997 – 2002 giá trị đầu tư đổi mới của công ty lên đến 3 triệu USD, trong đó có kiểu máy dệt kiểu Italy được lắp đồng bộ với đầu Jacquard STAUBLI và đầu Dobby STAUBLI của Thuỵ Sĩ, đây là loại thiết bị dệt khăn bông hiện đại lần đầu tiên được lắp đặt và sử dụng tại Việt Nam Đồng thời công ty đã đầu tư một
hệ thống thiết kế CAD/CAM trên máy vi tính, sử dụng phần mềm chuyên ngành của hãng NEDGRAPHICS – Hà Lan để thiết kế những mẫu khăn Jacquard
ở các phân xưởng công ty đều đầu tư thêm những máy móc thiết bị mới Nhờ có sự đầu tư thêm máy móc thiết bị mà trình độ công nghệ của công ty ngày càng nâng cao
Từ khi mới thiết lập, trình độ công nghệ mới chỉ ở mức thủ công và cơ khí, đến nay trình độ công nghệ của công ty mới chỉ ở mức trung bình so với trong khu vực nhưng nhiều bộ phận đã đạt được trình độ công nghệ tự động hoá.Từ khi mới thành lập năm
1975, công ty chỉ có 260 máy dệt thoi khổ hẹp do Trung Quốc viện trợ Sau đó công ty đã từng bước đầu tư cả về chiều sâu vầ chiều rộng nên đã có một hệ thống thiết bị tương đối
Trang 13hoàn chỉnh Do vậy công ty đã lắp đặt được một số thiết bị của Nhật Bản, Đức, ý
…chuyển từ trình độ công nghệ mức thủ công và cơ khí đến trình độ công nghệ ở mức trung bình và một số bộ phận đã được tự động hoá Điều này đã tạo điều kiện cho công ty nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, sản xuất được các sản phẩm cao cấp
và trung bình phục vụ nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu Cụ thể hiện nay số máy móc thiết bị của công ty như sau:
Trang 14
Bảng 1.1 Tình hình trang bị máy móc thiết bị hiện có của công ty dệt Minh Khai
Máy dệt kiếm có lắp đầu
Jacquard điện tử
Như vậy, cho đến nay mặc dù hệ thống thiết bị của công ty tuy không được đồng bộ song hầu hết đều là những máy móc trung bình khá hiện đại, tương đối phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty, trong đó có kiểu máy dệt kiểu Italy được lắp đồng bộ với đầu Jacquard STAUBLI và đầu Dobby STAUBLI của Thuỵ Sĩ, đây là loại thiết bị dệt khăn bông hiện đại lần đầu tiên được lắp đặt và sử dụng tại Việt Nam Đồng thời công ty đã đầu tư một hệ thống thiết kế CAD/CAM trên máy vi tính, sử dụng phần
Trang 15mềm chuyên ngành của hãng NEDGRAPHICS – Hà Lan để thiết kế những mẫu khăn Jacquard Tuy nhiên, quá trình đẩy mạnh xuất khẩu luôn đòi hỏi công ty phải thường xuyên đổi mới, cải tiến mẫu mã sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời giảm giá thành để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu trên thị trường nhập khẩu của công ty, mà chủ yếu là thị trường Nhật Bản Chính vì vậy mà công ty luôn quan tâm và không ngừng tập trung đầu tư mới máy móc thiết bị hiện đại, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.Không những thế đó còn
là tiền đề vật chất kỹ thuật quan trọng trong sự phát triển của công ty trong chiến lược lâu dài đẩy mạnh hoạt động sản xuất của công ty ra các nước khác và mở rộng thị trường nội địa
Tính đến cuối năm 2002 tổng giá trị tài sản cố định của công ty là 35 tỷ đồng
Vào cuối năm 2004, công ty đã cho nhập thêm một số máy móc mới hiện đại nhập
từ Trung Quốc với giá trị lên tới hàng tỷ đồng và công ty đang tiến hành xây dựng thêm nhà xưởng để có thể đưa công nghệ mới vào sử dụng trong thời gian tới
Bảng 1.2 Giá trị đầu tư năm 2004 (triệu đồng)
2.5 Đặc điểm về nguyên vật liệu sản xuất
Nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất của công ty chủ yếu là các loại sợi, trong đó sợi bông để sản xuất khăn bông và áo choàng tắm chiếm 50%, 45% cho sợi PETEX sản xuất ra màn tuyn và vải tuyn và các loại hợp chất, thuốc nhuộm Tất cả các nguyên vật liệu này chủ yếu được nhập khẩu từ các nước như ấn Độ, Pakistan, Indonexia, Nhật, Thuỵ Sỹ lượng này thường chiếm 70-80% nhu cầu đầu vào của công ty, còn lại được cung cấp từ thị trường trong nước Cấc cơ sở trong nước thường cung cấp nguyên liệu sợi 100% Cotton cho công ty bao gồm; công ty dệt 8-3, công ty dệt Hà Nội công ty dệt 19/5, công ty dệt Vĩnh Phú, công ty dệt Huế, công ty dệt Nha Trang
Sở dĩ công ty phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên vật liệu đầu vào từ nước ngoài như vậy là do yêu cầu của sản phẩm công ty sản xuất ra chủ yếu là để xuất khẩu nên sản
Trang 16phẩm phải có chất lượng cao và ổn định trong khi đó nguyên vật liệu từ thị trường cung cấp trong nước không đáp ứng được yêu cầu công ty về chất lượng cũng như số lượng Vì vậy công ty phải tìm nguồn cung cấp đầu vào từ thị trường nước ngoài
Tuy nhiên do quá trình nhập khẩu nguyên vật liệu làm tăng chi phí vận chuyển, các hợp đồng nhập khẩu thường phải mất nhiều thời gian mới được hoàn tất do các thủ tục nhập khẩu tương đối phức tạp Do vậy chi phí nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm thường cao hơn trong nước song chất lượng lại ổn định hơn, đáp ứng được khách hàng nước ngoài của công ty
Chất lượng và giá cả nguyên vật liệu có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu của công ty nói chung và tới việc điều chỉnh cơ cấu sản phẩm xuất khẩu nói riêng Nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và giá thành sản phẩm hoàn thành và ảnh tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
2.6 Đặc điểm lao động:
Yếu tố lao động có vai trò quyết định đến sản xuất kinh doanh Trình độ hiểu biết, trình độ tay nghề bậc thợ nâng cao thì sản phẩm làm ra càng có chất lượng và khả năng nắm bắt, thích nghi với công nghệ mới của người lao động càng nhanh, nhờ đó mới có thể đáp ứng được kịp thời yêu cầu của thị trường
Công ty dệt Minh Khai ngày đầu khi mới thành lập mới chỉ có khoảng 415 cán bộ CNV, trong đó có 55 cán bộ quản lý kinh tế và kỹ thuật Hiện nay số lượng cán bộ - công nhân viên trong công ty là 1.061 người trong đó:
Giám đốc: 01
Phó giám đốc kỹ thuật- QMR: 01
Phó giám đốc sản xuất: 01
Phó giám đốc nội chính và XDCB: 01
Lao động trực tiếp: 981 người
Lao động gián tiếp: 76 người
Tính đến thời điểm 31/12/2004 theo báo cáo sử dụng lao động của công ty:
Trang 17
Bảng 1.3 : Báo cáo lao động
Lao động có trong danh sách 1190
Nguồn: Phòng tổ chức- Công ty dệt Minh Khai
Bảng 1.4 : Cơ cấu lao động của công ty dệt Minh Khai
Trang 18Nguồn : Phòng tổ chức- Công ty dệt Minh Khai
Với đặc điểm là doanh nghiệp sản xuất trong ngành dệt nên tỷ lệ lao động nữ trong công ty là tương đối cao Điều này thực hiện thông qua bảng 2 Lao động nữ có đặc điểm cần cù, khéo léo, chăm chỉ nên năng suất lao động cao, song những đối tượng lao động này có một đặc điểm khác biệt đó là họ cần có thời gian nghỉ phép để sinh đẻ, chăm sóc con cái đau ốm Đây là một hạn chế của đối tượng lao động này Mặc dù vậy, công ty dệt Minh Khai vẫn tạo mọi điều kiện cho đội ngũ lao động để họ có thể phát huy tối đa khả năng làm việc
Trình độ của đội ngũ lao động có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất của công ty dệt Minh Khai Lao động trực tiếp sản xuất có tay nghề bậc thợ càng cao thì sản phẩm công ty sản xuất ra mới đạt được yêu cầu xuất khẩu Sản phẩm chất lượng càng cao thì lượng xuất khẩu được càng nhiều Cán bộ quản lý trong công ty cũng đóng vai trò rất lớn trong việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của công ty thông qua hoạt động giao dịch, đàm phán ký kết các hợp đồng xuất khẩu Công ty dệt Minh Khai chủ yếu dựa vào các hợp đồng xuất khẩu trực tiếp Giám đốc công ty là người quyết định việc xuất khẩu, ký kết hợp đồng xuất khẩu với các bạn hàng nước ngoài.Trình độ cán bộ công ty hiện nay:
Trang 19
Đại học: 5.4% Tổng cán bộ- công nhân viên
Công nhân bậc cao: 42% Tổng cán bộ- công nhân viên
Hiện nay, công ty dệt Minh Khai rất chú trọng quan tâm tới việc bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động Những lao động quản lý có bằng cấp, lao động có trình độ tay nghề cao, nhiều kinh nghiệm ngày càng tăng và chiếm một tỷ trọng khá cao trong số lao động của công ty
2.7 Đặc điểm cơ cấu sản xuất và bộ máy quản lý của công ty:
2.7.1 Cơ cấu sản xuất
Cơ cấu sản xuất có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động xuất khẩu của công ty Mặc
dù các yếu tố sản xuất khác nhau đã chuẩn bị tốt và đầy đủ nhưng nếu cơ cấu sản xuất không hợp lý sẽ gây lãng phí nguồn lực, và không đảm bảo cho việc thực hiện đúng thời hạn hợp đồng xuất khẩu quy định
Cơ cấu sản xuất của công ty thể hiện thông qua sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 : Sơ đồ cơ cấu sản xuất của công ty:
Nguồn:Phòng kế hoạch thị trường-Công ty dệt Minh Khai
- Phân xưởng dệt thoi có nhiệm vụ:
Có nhiệm vụ thực hiện các công đoạn chuẩn bị các trục dệt tuốt sợi ngang, đưa vào máy dệt để dệt khăn thành phẩm theo quy trình công nghệ sản xuất khăn bông
- Phân xưởng dệt kim:
Có nhiệm vụ thực hiện các công đoạn chuẩn bị các bộ sợi mắc lên máy để dệt thành
Cơ cấu sản xuất của công ty
Phân xưởng
dệt thoi
Phân xưởng dệt kim
Phân xưởng tẩy nhuộm
Phân xưởng hoàn thành
Trang 20vải tuyn mộc theo quy trình công nghệ sản xuất vải màn tuyn
-Phân xưởng tẩy nhuộm:
Có nhiệm vụ thực hiện các công đoạn nấu, nhuộm, sấy khô và đóng hìnhcác loại khăn, sợi và vải màn tuyn theo quy trình công nghệ sản xuất vải màn tuyn và mặt hàng khăn bông xuất khẩu
- Phân xưởng hoàn thành:
Có nhiệm vụ thực hiện các công đoạn cắt may, kiểm đóng gói, đóng kiện các sản phẩm khăn bông, và cắt kiểm các loại vải tuyn, vải nối cùng quy trình công nghệ sản xuất các mặt hàng
Bốn phân xưởng này được bố trí theo yêu cầu của dây chuyền công nghệ sản xuất sản phẩm Do vậy các phân xưởng có mối quan hệ qua lại phụ thuộc lẫn nhau Riêng hai phân xưởng là phân xưởng dệt và phân xưởng dệt thoi thì có sự độc lập nhau, do những phân xưởng này có một quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm riêng biệt, song vẫn chịu
sự quản lý chung
Với cơ cấu sản xuất như trên tuỳ theo tình hình hoạt động cụ thể mà công ty có kế hoạch tổ chức, sản xuất, bố trí hợp lý các tổ sản xuất trong các phân xưởng và các bộ phận phụ hợp lý bảo đảm dây chuyền sản xuất hoạt động cân đối nhịp nhàng và liên tục
Có thể nói cơ cấu tổ chức sản xuất này đã giúp đỡ cho công ty có điều kiện chuyên môn hóa và hợp tác hoá giữa các bộ phận một cách có hiệu quả, đồng thời tạo ra khả năng
tự chủ và quản lý sản xuất kinh doanh nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, khuyến khích nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng doanh thu và doanh lợi cho công ty
2.7.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty
Trong thời kỳ bao cấp bộ máy quản lý của công ty rất cồng kềnh, kém hiệu quả Nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, công ty đã tiến hành cải tổ, đổi mới bộ máy quản lý làm cho nó gọn nhẹ và phù hợp với cơ chế mới Một cơ cấu tổ chức hợp lý gọn nhẹ sẽ tạo nên một môi trường nội bộ công ty thuận lợi cho công việc của công nhân
và các bộ phận khác Nó tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu của công ty được diễn ra thuận lợi
Bộ máy tổ chức quản lý của công ty hiện nay được tổ chức như sơ đồ 2
Trang 21
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty dệt Minh Khai
Nguồn: Phòng tổ chức – Công ty dệt Minh Khai
- Đứng đầu là giám đốc công ty, có nhiệm vụ quản lý chungvề mọi vấn đề của công ty như các vấn đề hành chính, tổ chức, công tác tài chính kế toán, bên cạnh đó giám đốc còn phải giám sát tất cả các vấn đề về kế hoạch thị trường và kỹ thuật
Giúp việc cho giám đốc là hai phó giám đốc
+ Phó giám đốc sản xuất: chịu trách nhiệm quản lý điều hành quá trình sản xuất, chỉ đạo sản xuất theo kế hoạch và chỉ đạo kế hoạch tác nghiệp tại các phân xưởng
+ Phó giám đốc kỹ thuật: chịu trách nhiệm quản lý kĩ thuật, chất lượng sản phẩm, quản lý nguồn cung cấp điện, nước, than phục vụ cho sản xuất Chỉ đạo việc xây dựng các định mức vật tư và quản lý việc thực hiện an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp
- Các phòng ban nghiệp vụ có trưởng phòng và phó phòng trợ giúp cho trưởng phòng ở các phân xưởng có quản đốc phân xưởng, phó quản đốc, trưởng ca điều hành từng ca máy và các tổ trưởng sản xuất Với các phòng ban lớn như phòng kế hoạch thị trường, kĩ thuật thì có hai phó phòng trợ giúp cho trưởng phòng
TT
Phòng Tài vụ
Phân xưởng
dệt thoi
Phân xưởng dệt kim
Phân xưởng tẩy nhuộm
Phân xưởng hoàn thành
Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng
Trang 22Tuy nhiên ở công ty dệt Minh Khai, mặc dù cơ cấu tổ chức quản lý tương đối gọn nhẹ, có mối quan hệ chặt chẽ, song công tác nghiên cứu thị trường, tiêu thụ sản phẩm của công ty chưa được tổ chức thành một bộ phận quản lý riêng, mà chỉ ở tình trạng chung chung trong phòng kế hoạch thị trường Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động xuất khẩu của công ty
2.8 Đặc điểm về hệ thống quản lý chất lượng:
Với đặc thù là một doanh nghiệp may mặc độ ồn và bụi cao, hơn nưa doanh nghiệp lại chuyên sản xuất phục vụ xuất khẩu nên yêu cầu về chất lượng sp được doanh nghiệp coi trọng và quan tâm hàng đầu
2.8.1 Công tác quản lý chất lượng sản phẩm xuất khẩu
Trong thời gian qua, công ty dệt Minh Khai đã không ngừng đầu tư đổi mới các thiết bị công nghệ sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cho khăn bông đáp ứng nhu cầu của thị trường và để nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu Đồng thời công ty cũng đã áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000 cho quy trình sản xuất của công ty Năm 2000 công ty đã triển khai xây dựng và từng bước thực hiện hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001-2000 cùng với sự giúp đỡ của trung tâm năng suất chất lượng Việt Nam (VPC) và đã áp dụng thành công, được tổ chức GLOBAL của Anh cấp chứng chỉ tiêu chuẩn quốc tế Đồng thời, có 270 cán bộ công nhân viên được đào tạo nâng cao tay nghề và trình độ đảm bảo yêu cầu sản xuất và quản lý Do đó các sản phẩm khăn bông của công ty đã đáp ứng được đầy đủ các thông số kỹ thuật đảm bảo cho chất lượng sản phẩm làm ra có độ bền cao, mịn, dễ thấm nước, độ dày mỏng khác nhau phù hợp với nhu cầu của khách hàng Chính vì vậy công ty có thể duy trì, mở rộng quan
hệ lau dài với thị trường Nhật Bản và tin tưởng rằng trong tương lai công ty sẽ có thị phần trên thị trường khác
2.8.2.Cam kết chất lượng:
1 Liên tục cải tiến mẫu mã để đổi mới sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường
2 Cung cấp những sản phẩm có chất lượng thoả mãn yêu cầu của khách hàng
3 Liên tục cải tiến hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượn phù hợp với :
Yêu cầu của tiêu chuẩn ISO 9001:2000
Yêu cầu phát triển của công ty
Trang 23
Sự phát triển của thị trường trong nước và quốc tế
1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
1.3.1.Kết quả kinh doanh:
Nhiệm vụ ban đầu khi mới thành lập của công ty là phục vụ cho nhu cầu nội địa Song kể từ khi được nhà nước cho phép xuất nhập khẩu trực tiếp công ty đã chuyển hướng sản xuất kinh doanh sang xuất khẩu là chính Thời gian đầu công ty chủ yếu xuất sang các nước Đông Âu nhưng bước sang những năm đầu của thập kỷ 90 do những biến động lớn về chính trị trên thị trường truyền thống của công ty Khi chủ nghĩa xã hội sụp
đổ, tình hình kinh tế các nước Đông Âu rối loạn và suy sụp các quan hệ bạn hàng của công ty với các nước này không thể tiếp tục duy trì được nữa khiến cho công ty bị mất đi một thị trường quan trọng và truyền thống
Cũng từ năm 1983 công ty cũng bắt đầu xuất khẩu khăn ăn sang thị trường Nhật Bản với sự giúp đỡ của UNIMEX Hà Nội và dần dần chiếm lĩnh được thị trường Nhật Bản, thị phần của công ty trên thị trường này ngày một lớn Bước sang năm 1998 do tình hình suy thoái kinh tế khu vực, Nhật Bản không những không bị ảnh hưởng mà còn chịu
sự tác động mạnh mẽ làm cho nền kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng suy thoáI, nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhật giảm xuống rõ rệt Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của công ty
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp cùng với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, thêm vào đó xuất khẩu của ngành dệt may trong nước gặp nhiều khó khăn công ty dệt Minh Khai đã không ngừng đầu tư đổi mới các loại thiết bị máy móc áp dụng các quy trình công nghệ sản xuất tiên tiến để mở rộng sản xuất, tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hạ giá thành Đồng thời công ty cũng liên tục cải tiến mẫu mã đổi mới sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng đặc biệt là các khách hàng trên thị trường nước ngoài nhờ đó mà hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty luôn đạt được kết quả cao, lợi nhuận ngày một tăng lên Chúng ta có thể thấy được điều này thông qua tìm hiểu xem xét phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty những năm gần đây
Trang 24Lợi nhuận từ hoạt động KD 1.430 1.460 2.090 2.900 2.270
Nguồn: Phòng Tài vụ- Công ty Dệt Minh Khai
Tổng doanh thu năm 2004 tăng so với năm 2003 là 9.069%, từ 2000 đến 2004 doanh thu tăng 38.435% Như vậy, tổng doanh thu của công ty cũng liên tục tăng qua các
năm nhưng với mức độ còn thấp và với tốc độ cũng không đồng đều
Doanh thu hàng xuất khẩu luôn chiếm một tỉ lệ lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp: năm 2003 doanh thu xuất khẩu chiếm 84.121%, năm 2004 chiếm 82.296% Doanh thu xuất khẩu năm sau luôn tăng so với năm trước: năm 2003 tăng 0.17% so với năm 2002, năm 2004 tăng 6.7% so với năm 2003
Chi phí quản lý doanh nghiệp đã giảm dần qua các năm, điều này sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí gián tiếp từ đó tăng thêm doanh thu
Trang 25Trong thời gian gần đây, hoạt động bán hàng đã được quan tâm nhiều hơn thể hiện
rõ trong việc tăng chi phí bán hàng
Cụ thể ta xem xét tình hình hoạt động của doanh nghiệp thể hiện qua các mặt hàng
Bảng 1.7: Kết quả sản xuất các mặt hàng của công ty
Chỉ tiêu Đơn vị Năm
Nguồn phòng kế hoạch thị trường-Công ty Dệt Minh Khai
Bảng 2 cho thấy giá trị sản xuất của công ty không ngừng tăng lên qua các năm Giá trị sản xuất công nghiệp của các mặt hàng năm 2000 mới chỉ đạt 42700 triệu đồng Sau 5 năm, năm 2004 con số này đã lên tới 65750triệu đồng tức là tăng khoảng 54% Nếu so sánh theo từng năm thì kết quả đạt được là: năm 2001 giá trị sản xuất công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm 2000 là 27.69%, năm 2002 so với năm 2001 tăng 5.47%, năm 2003 so với năm 2002 tăng 12.82%, năm 2004 so với năm 2003 tăng 1.8% Có thể thấy mặc dù giá trị sản xuất công nghiệp của công ty tăng lên nhưng mức độ tăng không đều và tốc độ tăng liên tục giảm Lý do chủ yếu là vì khối lượng các đơn đặt hàng của công ty ngày càng giảm, các khách hàng chủ yếu của công ty là các công ty thương mại Nhật Bản liên tục cắt giảm số lượng đặt hàng do nhu cầu tiêu dùng trên thị trường Nhật Bản giảm
1.3.2 Tình hình xuất khẩu:
Đối với công ty dệt Minh Khai hoạt động xuất khẩu được coi là hoạt động quan trọng nhất của công ty Nếu so với toàn ngành thì hoạt động xuất khẩu của công ty chỉ chiếm một phần rất nhỏ bé, song đặt trong môi trường nội bộ của công ty thì hoạt động xuất khẩu lại có một vị trí quan trọng nhất trong các hoạt động kinh doanh của công ty Chính vì vậy trong những năm qua công ty thực hiện xuất khẩu là chính với doanh thu
Trang 26xuất khẩu luôn chiếm một tỷ trọng lớn từ 80-85% trong tổng doanh thu của công ty hàng năm
Thị trường xuất khẩu chính của công ty là Nhật Bản Hàng năm công ty có các hợp đồng xuất khẩu trực tiếp với các khách hàng là các công ty thương mại Nhật Bản như: HOUEI, DAIEI, ASAHI, FUKIEN, DAIWABO, ITOCHU, VINASEIKO Ngoài ra công
ty còn xuất khẩu sang các thị trường như EU, Hông Kông, Đài Loan, Hàn Quốc
Mặt hàng xuất khẩu chính của công ty là khăn bông các loại, bên cạnh đó còn có sản phẩm màn tuyn sản phẩm này công ty mới bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Châu Phi trong thời gian gần đây
Bảng 1.8: Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo thị trường của công ty
Trang 27
Phần 2 thực trạng cơ cấu sản phẩm xuất khẩu công ty dệt minh khai
2.1 Tình hình xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai
2.1.1 Thực trạng hoạt động xuất khẩu
Trong những năm qua, doanh thu xuất khẩu của công ty dệt Minh Khai luôn chiếm
một tỷ trọng lớn từ 80-85% trong tổng doanh thu của công ty hàng năm Chính vì vậy,
hoạt động xuất khẩu được coi là hoạt động quan trọng nhất của công ty Điều đó được thể hiện qua bảng và biểu đồ dưới đây:
Bảng 2.1: Tỷ trọng doanh thu xuất khẩu trong tổng doanh thu
Nguồn: Trích từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Biểu đồ2.1 : Doanh thu xuất khẩu từ năm 2000-2004
Trang 28biến động của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1998 Từ 2002 đến nay doanh thu xuất khẩu của công ty liên tục tăng: doanh thu xuất khẩu năm 2003 tăng 0.2% so với năm 2002 đến năm 2004 tốc độ tăng doanh thu xuất khẩu là 6.7% Nguyên nhân của việc tăng nhanh tốc
độ tăng doanh thu xuất khẩu là ngày nay công ty đang ngày sàng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng thêm giá tị sử dụng cho khách hàng từ đó tăng giá bán và tăngg doanh thu, lợi nhuận cho công ty
Thị trường xuất khẩu chính của công ty là Nhật Bản Ngoài ra công ty còn xuất khẩu
sang các thị trường như EU, Hông Kông, Đài Loan, Hàn Quốc
Mặt hàng xuất khẩu chính của công ty là khăn bông các loại, bên cạnh đó còn có sản phẩm màn tuyn, sản phẩm này công ty mới bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Châu Phi trong thời gian gần đây theo chương trình phòng chống sốt rét của Liên Hợp Quốc
Hoạt động xuất khẩu của công ty được phân biệt theo các tiêu thức sau:
2.1.2 Theo thị trường xuất khẩu
Với công ty dệt Minh Khai hoạt động xuất khẩu được coi là hoạt động chính đem lại thu nhập chủ yếu cho công ty Trong đó, thị trường xuất khẩu có ý nghĩa quyết định tới sự sống còn của công ty bởi nó liên quan trực tiếp tới mọi hoạt động của công ty Thị trường xuất khẩu của công ty bao gồm:
Trang 29Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường- Công ty Dệt Minh Khai
Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo thị trường của công ty năm 2004 được thể hiện trong biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 2.2 : Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo thị trường
0 1000000 2000000 3000000 4000000 5000000
Gia tri (USD)
2000 2002 2004
Nam
Kim ngach xuat khau theo thi truong
Nhat Ban EU Chau A
Tính riêng năm 2004 kim ngạch xuất khẩu theo thị trường của công ty được phân
bố theo biểu đồ sau:
Trang 30Với từng thị trường việc am hiểu công ty phảI có một chính sách nhất định, phân biệt dựa trên những đặc điểm về môI trường kinh doanh của từng nước Từ khi phát triển đến nay công ty luôn coi Nhật Bản là thị trường chính của mình và luôn có những chiến lược nhằm củng cố và duy trì thị trường này Thị trường EU và Châu á tuy chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp không coi nhẹ những thị trường này mà luôn đặt ra những kế hoạch cụ thể để nhằm xâm nhập và tìm kiếm những cơ hội mới tại các thị trường này Việc phân tích từng thị trường
là một việc làm không thể thiếu trong việc phân tích kế hoạch xuất khẩu của doanh nghiệp
Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường truyền thống của công ty và cũng là một trong những thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam Công ty đã thiết lập và duy trì mối quan hệ làm ăn với các khách hàng Nhật Bản trong một thời gian dài Từ năm 1983 công ty bắt đầu xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và vẫn duy trì phát triển cho tới nay Công ty xuất khẩu sang Nhật Bản những sản phẩm khăn bông bao gồm các loại khăn ăn, khăn mặt, khăn tắm, khăn Jacquard, áo choàng tắm Giá trị kim ngạch xuất khẩu của công
ty sang thị trường này luôn chiếm một tỷ trọng cao nhất khoảng 80% - 90% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty hàng năm Sau 1998 là giai đoạn mà nền kinh tế Nhật Bản vừa trải qua tình trạng suy thoái do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực bắt đầu từ năm 1997-1998, song công ty vẫn duy trì được hoạt động xuất khẩu của
Trang 31công ty sang thị trường này, không những thế mà giá trị kim ngạch xuất khẩu còn đạt ở mức tương đối cao
Năm 2000 kim ngạch xuất khẩu của công ty sang Nhật Bản đạt 3.01 triệu USD chiếm tỷ trọng 91.74% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu tăng lên 3.587.000 USD tức là chiếm 88.6% và sang đến năm 2003 con số này tăng lên 4.240.000 USD đạt tỷ trọng 91.38% Bước sang năm 2004, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản của công ty giảm xuống còn 4.038.000 USD tức là chỉ bằng 95% so với năm 2003 (4.240.000USD) Như vậy, chúng
ta có thể thấy rằng mức tăng kim ngạch xuất khẩu của công ty trên thị trường Nhật Bản không đều và không ổn định Nguyen nhân có tình trạng như vậy là vì hiện nay công ty đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh lớn mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu hàng dệt may là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia đặc biệt là Trung Quốc trên thị trường Nhật Bản Do đó, để duy trì và tăng doanh thu xuất khẩu vào thị trường này, công ty cần có các giải pháp làm tăng chất lượng, mẫu mã đồng thời giảm giá thành nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
Biểu đồ 2.4 : Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản 2000-2004
(1000 USD)
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 4500
Đối với công ty dệt Minh Khai thị trường EU chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường của công ty (tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang
Trang 32thị trường EU chỉ đạt khoảng 3-5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu)
Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu vào EU của công ty đạt 118.402USD, Năm 2000 tăng lên 302.100USD Đây là một dấu hiệu đáng mừng nó cho thấy công ty hoàn toàn có khả năng thâm nhập vào thị trường EU Tuy nhiên sang những năm tiếp theo thì kim ngạch xuất khẩu vào EU của công ty lại bị giảm xuống Năm 2001 giá trị kim ngạch xuất khẩu sang EU là 206.140USD, năm 2002 có tăng lên đôi chút, đạt 250.000USD và trong năm 2003 vừa qua kim ngạch xuất khẩu lại giảm xuống chỉ đạt ở mức 220.000USD Công ty thực hiện xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU chủ yếu thông qua một số các công ty thương mại trung gian trong nước như tổng công ty dệt may Việt Nam Vinatex, tổng công ty xuất nhập khẩu mỹ nghệ Artexport và các công ty của thương nhân Việt kiều Do vậy, công ty đã không khai thác hết được thị trường này do không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, thiếu sự hiểu biết về nhu cầu và sở thích thực sự của người tiêu dùng trong cộng đồng các nước EU Do đó, để mở rộng thị trường xuất khẩu sang EU đòi hỏi công ty phải quan tâm đến công tác nghiên cứu thị trường, xây dựng một đội ngũ cán
bộ nghiên cứu thị trường, cán bộ xuất nhập khẩu thực sự có năng lực và trình độ hiểu biết giúp công ty có những thông tin về thị trường này
Trang 33Bên cạnh hai thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất là Nhật Bản và EU, công
ty dệt Minh Khai còn thực hiện xuất khẩu sang một số nước châu á khác như: Đài Loan, Hông Kông, Hàn Quốc,… Nói chung tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường các nước này là rất thấp vì đây là những khách hàng không thường xuyên của công ty Kim ngạch xuất khẩu vào thị trường các nước này qua các năm 1999 đến 2003 được thể hiện trong bảng
Tổng KNXK 3.281.900 4.050.000 3.748.000 4.640.000 4.315.000
Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường- Công ty dệt Minh Khai
Trang 34Như vậy, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Châu á của công ty không ổn định và
có xu hướng giảm sút Công ty cần có các biện pháp nhằm bảo vệ, duy trì và mở rộng sang thị trường đầy tiềm năng này
2.1.3 Theo mặt hàng xuất khẩu
Trong những năm qua mặc dù gặp phải rất nhiều khó khăn song công ty vẫn đứng vững được trên thị trường, sản phẩm sản xuất ra đạt chất lượng tốt, màu sắc đẹp, độ bền cao Mặt hàng xuất khẩu chính của công ty gồm có: khăn ăn, khăn mặt, khăn tay, áo choàng tắm và một số sản phẩm khác như: thảm chùi chân, ga trải giường, khăn bếp Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo mặt hành của công ty được thể hiện trong bảng dưới đây:
Trang 35Nguồn: Phòng Kế hoạch Thị trường- Công ty dệt Minh Khai
Qua bảng trên, ta có thể thấy sản phẩm xuất khẩu chính của công ty là mặt hàng khăn bông các loại Hàng năm việc xuất khẩu sản phẩm này luôn mang lại cho công ty nguồn lợi nhuận xuất khẩu cao do doanh thu xuất khẩu lớn
2.2 Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu:
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu thể hiện tỉ lệ các sản phẩm đem đI xuất khẩu trong một giai đoạn phân tích
Cơ cấu sản phẩm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách nhau như:
- Máy móc thiết bị
- Trình độ công nhân viên, cán bộ quản lý
- Tổng số vốn đầu tư trong doanh nghiệp
- Nguồn và giá cả nguyên vật liệu
Trang 36thu/Chi phí/1 đơn vị sản phẩm xuất khẩu, tỷ lệ Lợi nhuận/Doanh thu, mà còn phảI xem xét tới tính khả thi của cơ cấu sản phẩm xuất khẩu hiện tại của doanh nghiệp Mỗi chủng loại sản phẩm có rất nhiều mẫu mã khác nhau Vậy, trong số rất nhiều sản phẩm đó công
ty sẽ lựa chọn sản phẩm nào để xuất khẩu và với số lượng là bao nhiêu Công ty phảI xác định một cơ cấu sản phẩm xuất khẩu ra sao vừa thoả mãn tối đa yêu cầu của khách hàng đồng thời khai thác hết năng lực sản xuất của công ty Với công ty dệt Minh Khai cơ cấu sản phẩm nói chung và cơ cấu sản phẩm xuất khẩu nói riêng có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của toàn doanh nghiệp
2.2.1 Các mặt hàng xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu theo mặt hàng: Thực tế hiện nay cơ cấu sản phẩm của công ty gồm có các sản phẩm sau:
Khăn ăn các loại : dùng cho các khách sạn, nhà hàng Chủ yếu để xuất khẩu và một phần phục vụ nhu cầu trong nước
Khăn Jacquard (khăn bông cao cấp) : dùng cho khách sạn và gia đình Chủ yếu để xuất khẩu
áo choàng tắm
Khăn dobby (khăn mặt bình thường) : dùng trong sinh hoạt gia đình
Vải màn tuyn và màn tuyn hoàn chỉnh : xuất khẩu màn tuyn thành phẩm cho các
dự án viện trợ Thị trường nội địa gồm có vảI tuyn cho các doanh nghiệp may thành thành phẩm khoảng 80% và bán ra thị trường sản phẩm màn tuyn hoàn chỉnh khoảng 20%
Trong đó các mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ lệ như sau:
Trang 375 Màn tuyn Tỷ lệ xuất khẩu và bán ra thị trường nội
địa không xác định theo tỷ lệ trước mà theo từng thời kỳ khác nhau sẽ có sự phân
bổ khác nhau
Nguồn: phòng kế hoạch – thị trường công ty dệt Minh Khai 2.2.2 Phân tích cơ cấu sản phẩm xuất khẩu
2.2.2.1 Theo kim ngạch xuất khẩu:
Doanh thu xuất khẩu của công ty luôn chiếm một tỷ lệ cao (khoảng 80% - 90%) trong tổng doanh thu của toàn công ty Trong vòng năm năm từ năm 2000 đến năm 2004 kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng của công ty có sự biến tăng tuy nhiên mức độ giảm sút là không đáng kể chủ yếu do những nguyên nhân khách quan từ bên ngoài Doanh nghiệp vẫn là một trong những doanh nghiệp đI đầu về lĩnh vực xuất khẩu trong các doanh nghiệp thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội
Biến động về kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng của công ty được thể hiện trong bảng sau:
Trang 38Nguồn: Phòng kế hoạch-thị trường, công ty dệt Minh Khai
Biểu đồ2.8 : Giá trị kim ngạchxuất khẩu theo mặt hàng của công ty dệt Minh Khai giai đoạn 2000 – 2004
Đv: 1000 USD
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500
2001 2002 2003 2004
Khan bong
Ao choang tam Man tuyn
Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu khăn bông đạt 3.037.000 USD Năm 2002 do có khó khăn về thị trường và tỷ giá hối đoái không ổn định nên kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 2.626.000 USD Trong 2 năm vừa qua giá trị xuất khẩu tăng lên với kim ngạch xuất khẩu năm 2003 là 3.312.960 USD và năm 2004 đạt 3.020.500 USD Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng của công ty năm 2004 được thể hiện qua biểu đồ dưới đây:
Trang 39
Biểu đồ 2.9: Giá trị kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng năm 2004 (%)
70 12
Cụ thể, trong cơ cấu sản phẩm khăn bông xuất khẩu lại được chia ra thành nhiều mặt hàng khác nhau như:
- Khăn Jacquard (khăn cao cấp)
- Khăn dobby (khăn thường)
- Khăn khăn
- Một số loại khác
Giá trị kim ngạch xuất khẩu của các loại khăn bông trong những năm qua như sau:
Trang 40Nguồn: Phòng kế hoạch-thị trường, công ty dệt Minh Khai
Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ các loại khăn xuất khẩu qua các năm thường biến động không nhiều Khăn mặt xuất khẩu luôn chiếm tỷ lệ cao nhất hơn 40%, tiếp đến
là khăn ăn và các loại sản phẩm khác.Năm 2002 kim ngạch xuất khẩu khăn bông giảm 413.900 USD (14%) do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó nguyên nhân chủ yêu là kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản bị giảm sút do nhu cầu sử dụng các mặt hàng cao cấp giảm
Biểu đồ 2.10: Giá trị kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khăn bông
0 500
SP khac
Sản phẩm áo choàng tắm
Đây là sản phẩm mới của công ty trong những năm gần đây Tuy mới được đưa vào sản xuất chưa lâu song giá trị kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng áo choàng tắm cũng