Từ những nội dung trên thị trường được định nghĩa như sau: Thị trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể hiện các quyết định của người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ cũng như c
Trang 1Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Hiện nay,nền kinh tế thế giới đang phát triển mạnh mẽ,cơ chế thị trườngngày càng rộng khắp,bản thân mỗi doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh tếđộc lập phải biết nắm bắt thời cơ, tận dụng mọi cơ hội và phát huy năng lực hiện
có để đưa ra các sách lược, chiến lược kinh doanh đối phó với thị trường, tăngkhả năng cạnh tranh
Trong kinh doanh, lợi nhuận không phải là để chia đều cho tất cả những aimuốn có Sự cạnh tranh nghiệt ngã của thị trường, đặc biệt sau khi Việt Namphát triển nên kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,vấn đề
về đẩy mạnh,mở rộng thị trường tiêu thụ trở nên quan trọng.Tiêu thụ là giai đoạncuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại củadoanh nghiệp Việc hình thành một sản phẩm hoàn thiện đã khó, đưa sản phẩmđến tay người tiêu dùng lại càng khó hơn, nó phụ thuộc rất nhiều vào khâu tiêuthụ.Thực tế cho thấy, không thiếu một số doanh nghiệp sản xuất sản phẩm rất tốtnhưng vẫn không tiêu thụ được bởi vì không biết cách phân phối và tiêu thụ,không đáp ứng được nhu cầu thị trường tiêu dùng của xã hội Hơn nữa hiện naykhi nền kinh tế sản xuất hàng hóa đang bước sang giai đoạn phát triển vượt bậccùng với khoa học công nghệ kỹ thuật hiện đại thì vấn đề tiêu thụ sản phẩm lạicàng trở thành mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào
Công ty TNHH Bia Huế cho ra đời sản phẩm bia Festival từ năm 2000,quahàng năm sản lượng bán ngày càng tăng lên,nhưng đứng trước sự cạnh tranhkhốc liệt của nền kinh tế thị trường liệu sản phẩm này có đứng vững được,việcxuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường cho thấy việc mở rộng thịtrường tiêu thụ là một yêu cầu cấp thiết đới với sản phẩm bia Festival của công ty
Bia Huế.Đó là lý do tại sao tôi chọn “ Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ đối với sản phẩm bia Festival của công ty TNHH Huế Bia trên địa bàn tỉnh TT Huế “.
2 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài giúp tôi hệ thống hoá kiến thức,lý luận về những gì đã được học ởtrường
Trang 3- Thực trạng tiêu thụ sản phẩm Festival bia của Công ty bia Huế trong thờigian qua
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kênh phân phối, tổ chứctốt công tác tiêu thụ sản phẩm Festival bia của Công ty bia Huế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm Festival biaqua các năm từ 2007 đến 2009,và xác định cảm nhận một cách tổng quát củakhách hàng về sản phẩm
4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Số liệu thứ cấp được cung cấp từ phía công ty TNHH Huế Bia thông quacác phòng ban như phòng tiếp thị,bán hàng,bộ phận nhân sự,bộ phận tàichính kế toán
Phương pháp phân tích so sánh số liệu về tình hình tiêu thụ giữa cácnăm của sản phẩm Festival
- Điều tra số liệu sơ cấp: căn cứ vào nội dung nghiên cứu,tôi thực hiệnphỏng vấn trên đối tượng là khách hàng cá nhân người tiêu dùng
Khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng: tiến hành điều tra 100 kháchhàng được chọn mẫu ngẫu nhiên trên địa bàn Tỉnh TT Huế thông qua bảnghỏi,phỏng vấn trực tiếp
Phương pháp thu thập,xử lý số liệu thống kê
- Các phương pháp khác
Trang 4
PHẦN 2 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 5CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ TIÊU THỤ
SẢN PHẨM
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niêm cơ bản về thị trường
1.1.1 Khái niệm về thị trường
Theo Philip Kotler thì Thị trường (trong nghĩa đơn giản của nó)là tập hợp
những người mua hàng hiện có và sẽ có
Theo C.Mác ,hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải cho ngườisản xuất tiêu dùng mà người sản xuất ra để bán Thị trường xuất hiện đồng thờivới sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá và được hình thành tronglĩnh vực lưu thông Người có hàng hoá hoặc dịch vụ đem ra trao đổi gọi là bênbán, người mua có nhu cầu chưa thoả mãn và có khả năng thanh toán được gọi làbên mua
Trong quá trình trao đổi giữa bên bán và bên mua đã hình thành những mốiquan hệ nhất định Đó là quan hệ giữa người bán và người mua, quan hệ giữangười bán với nhau và quan hệ giữa người mua với nhau
Vì vậy, theo nghĩa đen, thị trường là nơi mua bán hàng hoá, là nơi gặp gỡ đểtiến hành hoạt động mua bán bằng tiền tệ giữa người bán và người mua Tuynhiên, không thể coi thị trường là các cửa hàng, các chợ, mặc dù những nơi đó lànơi mua bán hàng hoá
Sự hình thành thị trường đòi hỏi phải có:
- Đối tượng trao đổi: sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ
- Đối tượng tham gia trao đổi : bên bán và bên mua
- Điều kiện thực hiện trao đổi : khả năng thanh toán
Như vậy, điều quan tâm nhất của doanh nghiệp là tìm ra nơi trao đổi,tìm nhucầu và khả năng thanh toán của các sản phẩm, dịch vụ mà nhà sản xuất dự địnhcung ứng hay không Còn đối với người tiêu dùng, họ lại quan tâm tới việc sosánh những sản phẩm dịch vụ mà nhà sản xuất cung ứng thoả mãn đúng yêu cầu
và thích hợp với khả năng thanh toán của mình đến đâu
Trang 6Từ những nội dung trên thị trường được định nghĩa như sau:
Thị trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể hiện các quyết định của người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ cũng như các quyết định của các doanh nghiệp về số lượng, chất lượng, mẫu mã của hàng hoá.Đó chính là mối quan hệ giữa tổng số cung và tổng số cầu của từng loại hàng hoá cụ thể.
Tuy nhiên thị trường được nhiều nhà kinh tế định nghĩa khác nhau Hội quảntrị Hoa Kỳ cho rằng :“Thị trường là tổng hợp các lực lượng và các điều kiện,trong đó người mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá vàdịch vụ từ người bán sang người mua ’’ Có nhiều quan niệm lại cho rằng “ thịtrường là lĩnh vực trao đổi mà ở đó người mua và người bán cạnh tranh với nhau
để xác định giá cả hàng hoá dịch vụ ”, hoặc đơn giản hơn “ thị trường là tổng hợpcác số cộng của người mua về một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ ”
Hiểu một cách tổng quát, thị trường là nơi mà người mua và người bán tựtìm đến với nhau qua trao đổi, thăm dò, tiếp xúc để nhận lời giải đáp mà mỗi bêncần biết
Còn hiểu theo góc độ Marketing, thuật ngữ thị trường được dùng để ám chỉmột nhóm khách hàng có nhu cầu và mong muốn nhất định Bởi mặc dù tham giathị trường phải có cả người bán và người mua nhưng những người làm Marketinglại coi người bán hợp thành ngành sản xuất cung ứng, còn người mua mới hợpthành thị trường
Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầuhay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãnnhu cầu và mong muốn đó
Như vậy, theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tuỳ thuộc số người cónhu cầu và mong muốn vào lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà họ sẵn sàng bỏ ra
để mua hàng hoá thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó Quy mô thị trường khôngphụ thuộc vào số người đã mua hàng và cũng không phụ thuộc vào số người cónhu cầu và mong muốn khác nhau
Trang 7Tuy nhiên, dù hiểu thị trường theo cách nào thì mục tiêu lựa chọn duy nhấtcủa doanh nghiệp vẫn là lợi nhuận các doanh nghiệp đều thông qua thị trường màtìm cách giải quyết các vấn đề :
Phải phân loại hàng gì? Cho ai?
- Số lượng bao nhiêu ?
- Mẫu mã , kiểu cách , chất lượng như thế nào?
Và cũng qua đó người tiêu dùng biết được :
- Ai sẽ đáp ứng được nhu cầu của mình ?
- Nhu cầu được thoả mãn đến mức nào ?
- Khả năng thanh toán ra sao?
Tất cả những câu trả lời trên chỉ có thể trả lời chính xác trên thị trường Sựnhận thức phiến diện về thị trường cũng như sự điều tiết thị trường theo ý muốnchủ quan duy ý chí trong quản lý và chỉ đạo kinh tế đều đồng nghĩa với việc đingược lại các hệ thống quy luật kinh tế vốn có trong thị trường và hậu quả sẽlàm cho nền kinh tế khó phát triển
1.1.2 Chức năng của thị trường
1.1.2.1 Chức năng thực hiện :
Hoạt động mua bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm cả thị trường Thực hiệnhoạt động này là cơ sở quan trọng có tính chất quyết định đối với việc thực hiệncác quan hệ và hoạt động khác
Thị trường thực hiện : hành vi trao đổi hàng hoá ; thực hiện tổng số cung vàcầu trên thị trường ; thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ hàng hoá ; thực hiệngiá trị ( thông qua giá cả ); thực hiện việc trao đổi giá trị …Thông qua chức năngcủa mình Giá trị trao đổi là cơ sở vô cùng quan trọng để hình thành nên cơ cấusản phẩm, các quan hệ tỷ lệ về kinh tế trên thị trường
1.1.2.2 Chức năng thừa nhận :
Hàng hoá được sản xuất ra, người sản xuất phải bán nó Việc bán hàng đượcthực hiện thông qua chức năng thừa nhận của thị trường Thị trường thừa nhậnchính là người mua chấp nhận thì cũng có nghĩa là về cơ bản quá trình tái sảnxuất xã hội của hàng hoá đã hoàn thành Bởi vì bản thân việc tiêu dùng sản phẩm
Trang 8và các chi phí tiêu dùng cũng đã khẳng định trên thị trường khi hàng hoá đượcbán.
Thị trường thừa nhận : tổng khối lượng hàng hoá ( tổng giá trị sử dụng )đưa ra thị trường ; cơ cấu của cung và cầu, quan hệ cung cầu với từng hàng hoá ;thừa nhận giá thị sử dụng và giá cả hàng hoá, chuyển giá trị sử dụng và giá trị cábiệt thành giá trị sử dụng và giá trị xã hội ; thừa nhận các hoạt động mua và bánvv…Thị trường không phải chỉ thừa nhận thụ động các kết quả của quá trình táisản xuất , quá trình mua bán mà thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tếtrên thị trường mà thị trường còn kiểm tra, kiểm nghiệm quá trình tái sản xuấtquá trình mua bán đó
1.1.2.3 Chức năng điều tiết, kích thích :
Nhu cầu thị trường là mục đích của quá trình sản xuất Thị trường là tậphợp các hoạt động của các quy luật kinh tế cả thị trường Do đó, thị trường vừa
là mục tiêu vừa tạo động lực để thực hiện các mục tiêu đó Đó là cơ sở quantrọng để chức năng điều tiết và kích thích của thị trường phát huy vai trò củamình
Chức năng điều tiết và kích thích thể hiện ở chỗ:
Thông qua nhu cầu thị trường, người sản xuất chủ động di chuyển tư liệusản xuất, vốn và lao động từ ngành này qua ngành khác từ sản phẩm này sang sảnphẩm khác để có lợi nhuận cao
Thông qua các hoạt động của các quy luật kinh tế của thị trường, người sảnxuất có lợi thế trong cạnh tranh sẽ tận dụng khả năng của mình để phát triển sảnxuất ngược lại những người sản xuất chưa tạo ra được lợi thế trên thị trường cũngphải vươn lên để thoát khỏi nguy cơ phá sản Đó là những động lực mà thị trườngtạo ra đối với sản xuất
Thông qua sự hoạt dộng của các quy luật kinh tế trên thị trường người tiêudùng buộc phải cân nhắc, tính toán quá trình tiêu dùng của mình Do đó thịtrường có vai trò to lớn đối với việc hướng dẫn tiêu dùng
Trong quá trình tái sản xuất, không phải người sản xuất, lưu thông… chỉ racách chi phí như thế nào cũng được xã hội thừa nhận Thị trường chỉ thừa nhận ở
Trang 9mức thấp hơn hoặc bằng mức xã hội cần thiết ( trung bình) Do đó thị trường cóvai trò vô cùng quan trọng đối với kích thích tiết kiệm chi phí, tiết kiệm lao động.
1.1.2.4 Chức năng thông tin :
Trong tất cả các khâu ( các giai đoạn ) của quá trình tái sản xuất hàng hoá,chỉ có thị trường mới có chức năng thông tin.Trên thị trường có nhiều mối quan
hệ : kinh tế, chính trị, xã hội …Song thông tin kinh tế là quan trọng nhất
Thị trường thông tin về : tổng số cung và tổng số cầu ; cơ cấu của cung vàcầu ; quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hoá ; giá cả thị trường ; các yếu tốảnh hưởng tới thị trường, đến mua và bán, chất lượng sản phẩm, hướng vận độngcủa hàng hoá; các điều kiện dịch vụ cho mua và bán hàng hoá, các quan hệ tỷ lệ
về sản phẩm vv…
Thông tin thị trường có vai trò quan trọng đối với quản lý kinh tế Trongquản lý kinh tế, một trong những nội dung quan trọng nhất là ra quyết định Raquyết định cần có thông tin.Các dữ liệu thông tin quan trọng nhất là thông tin từthị trường Bởi vì các dữ kiện đó khách quan , được xã hội thừa nhận
Bốn chức năng của thị trường có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗihiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường đều thể hiện bốn chức năng này Vì lànhững tác dụng vốn có bắt nguồn tư bản chất thị trường, do đó không nên đặt vấn
đề chức năng nào quan trọng nhất hoặc chức năng nào quan trọng hơn chức năngnào Song cũng cần thấy rằng chỉ khi chức năng thừa nhận được thực hiện thì cácchức năng khác mới phát huy tác dụng
Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh
là sự hiểu biết cặn kẽ tính chất của thị trường Nhận biết được đặc điểm và sựhoạt động của từng loại thị trường, các yếu tố tham gia vào hoạt động của thịtrường, từ đó thấy rõ đặc điểm hình thành và vận động của giá cả thị trường do
đó cần phải nghiên cứu, phân loại các hình thái thị trường
1.1.3 Phân loại thị trường
Một trong những yếu tố quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh là
sự hiểu biết cặn kẽ tính chất của từng hình thái thị trường Phân định các hình
Trang 10thái thị trường là chia thị trường theo góc độ khách quan khác nhau Phân địnhhình thái thị trường là cần thiết, khách quan để nhận thức cặn kẽ về thị trường Hiện nay trong kinh doanh người ta dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau đểphân định hình thái thị trường Mỗi cách phân định có một hình thái thị trườngriêng đối với quá trình kinh doanh Sau đây là một số cách phân định chủ yếu vềnội dung, tính chất của từng hình thái thị trường tương ứng với các phân định đó.
1.1.3.1 Căn cứ vào quan hệ mua bán giữa các quốc gia, thị trường chia
thành thị trường quốc nội và thị trường quốc tế:
Thị trường quốc nội là thị trường mà ở đó diễn ra hoạt động mua bán hànghoá của những người trong phạm vi hoạt động một quốc gia và các quan hệ kinh
tế diễn ra trong mua bán qua đồng tiền quốc gia, chỉ có liên quan đến các vấn đềkinh tế, chính trị trong một nước
Thị trường quốc tế là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hoá giữa cácnước với nhau thông qua tiền tệ quốc tế Các quan hệ kinh tế diễn ra trên thịtrường thế giới ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển kinh tế ở mỗi nước
Phân biệt thị trường quốc nội và thị trường quốc tế không ở phạm vi biêngiới mỗi nước mà chủ yếu ở người mua và người bán với phương thức thanh toán
và loại giá áp dụng, các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường Với sự phát triểncủa kinh tế, của khoa học kỹ thuật và sự phân công lao động thế giới, kinh tế mỗinước trở thành một mắt xích của hệ thống kinh tế thế giới, do đó thị trường quốcnội có quan hệ mật thiết với thị trường quốc tế Việc dự báo đúng sự tác động củathị trường quốc tế đối với thị trường quốc nội là sự cần thiết và cũng là nhữngnhân tố tạo ra sự thành công đối với mỗi nhà kinh doanh trên thương trường quốcnội
1.1.3.2 Căn cứ vào vai trò và vị thế của người mua và người bán trên thị
trường , thị trường chia thành thị trường người bán và thị trường người mua :
Trên thị trường người bán, vai trò quyết định thuộc về người bán hàng,thường xảy ra trên hai tình thế cung cầu hoặc độc quyền bán Các quan hệ kinh
tế hình thành trên thị trường ( quan hệ cung cầu, quan hệ giá cả tiền tệ, quan hệcạnh tranh ) hình thành không khách quan, giá thường bị áp đặt, cạnh tranh bị thủ
Trang 11tiêu hoặc không có điều kiện hoạt động, các kênh phân phối và lưu thông khônghợp lý …vai trò của người mua bị thủ tiêu Việc hình thành thị trường của ngườibán một mặt là do sản phẩm hàng hoá chưa phát triển, mặt khác là do sự tác độngchi phối của cả hệ thống quản lý kinh tế hành chính bao cấp Việc xoá bỏ cơ chếhành chính bao cấp là yếu tố cực kỳ quan trọng để chuyển từ thị trường ngườibán sang thị trường người mua.
Trên thị trường người mua, vai trò quyết định trong quan hệ mua bán thuộc vềngười mua Các quan hệ kinh tế trên thị trường ( quan hệ sản phẩm, quan hệ giá
cả và cung cầu …) được hình thành một cách khách quan Với thị trường ngườimua, vai trò của các quy luật kinh tế của thị trường được phát huy tác dụng và do
đó vai trò, chức năng của thị trường người mua không phải chỉ là công cụ điềutiết sản xuất xã hội mà nó còn trở thành công cụ để bổ sung cho kế hoạch.Đốivới thị trường này thì thái độ khôn khéo của các nhà kinh doanh để đạt đượcthành công là nhận thức, tiếp cận, xâm nhập và khai thác thị trường
1.1.3.3 Căn cứ vào mối quan hệ cung cầu và khả năng biến nhu cầu
thành hiện thực, thị trường chia thành thị trường thực tế, thị trường tiềm năng và thị trường lý thuyết :
Thị trường thực tế là một bộ phận của thị trường mà trong đó yêu cầu tiêudùng đã được đáp ứng thông qua việc cung ứng hàng hoá và dịch vụ
Thị trường tiềm năng bao gồm thị trường thực tế và một bộ phận thị trường
mà trong đó khách hàng có yêu cầu tiêu dùng nhưng chưa được đáp ứng
Thị trường lý thuyết bao gồm tất cả các nhóm dân cư trên thị trường kể cảngười chưa có yêu cầu tiêu dùng hoặc không có khả năng thanh toán
1.1.3.4 Căn cứ vào hình thái vật chất của đối tượng trao đổi, thị trường
thành thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ :
Thị trường hàng hoá là thị trường trong đó đối tượng trao đổi là hàng hoá,vật phẩm tiêu dùng với mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất Thị trường hàng hoábao gồm nhiều bộ phận thị trường khác nhau, điển hình là thị trường tư liệu sảnxuất và thị trường tư liệu tiêu dùng Trên thị trường tư liệu sản xuất thường cócác nhà kinh doanh lớn, cạnh tranh diễn ra mạnh hơn, quy mô thị trường lớn hơn
Trang 12nhưng nhu cầu thị trường không phong phú, đa dạng như nhu cầu thị trường hàngtiêu dùng, thị trường tư liêu sản xuất bị phụ thuộc vào thị trường hàng tiêu dùng.Còn trên thị trường hàng tiêu dùng số lượng người mua và người bán nhiều, mức
độ cạnh tranh của thị trường này không gay gắt như trên thị trường tư liệu sảnxuất Khả năng hình thành các cửa hàng đường phố, siêu thị của thị trường tiêudùng rất lớn, hình thức mua bán trên thị trường cũng rất phong phú (bán buôn,bán lẻ , đại lý …) Thị trường bán lẻ là thị trường chủ yếu của hàng tiêu dùng Thị trường dịch vụ là thị trường trao đổi các chủng loại dịch vụ như sửachữa, lắp đặt, bảo hành và các dịch vụ khác, không có sản phẩm tồn tại dưới hìnhthái vật chất, không có các trung gian phân phối mà sử dụng kênh phân phối trựctiếp, mạng lưới phân phối của doanh nghiệp dịch vụ thường tuỳ thuộc vào nhucầu của thị trường và từng hoạt động kinh doanh
1.1.3.5 Căn cứ vào vai trò và số lượng người mua và người bán trên thị
trường, thị trường chia thành thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và thị trường độc quyền :
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó số người tham giavào thị trường tương đối lớn không có ưu thế để cung ứng hay mua một sốlượng sản phẩm khả dĩ ảnh hưởng đến giá cả Người mua và người bán không aiquyết định giá và chỉ chấp nhận giá mà thôi Các sản phẩm mua bán trên thịtrường này là đồng nhất Đều kiện tham gia vào thị trường và rời khỏi thị trườngnói chung dễ dàng Người bán chỉ có cách giảm thấp chi phí sản xuất và sản xuấtmột sản lượng đến giới hạn mà chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là thị trường mà phần lớn các doanhnghiệp đều ở hình thái thị trường vừa có cạnh tranh vừa có độc quyền Ở hìnhthái các doanh nghiệp vừa phải tuân theo các yêu cầu của quy luật cạnh tranh vừaphải đi tìm các giải pháp hòng trở thành độc quyền chi phối thị trường
Thị trường độc quyền có nghĩa là các nhà độc quyền có khả năng chi phối cácquan hệ kinh tế và giá cả thị trường Trên thị trường độc quyền có thị trường độcquyền bán và thị trường độc quyền mua Thị trường độc quyền bán là trong đóvai trò quyết định thuộc về người bán, các quan hệ kinh tế trên thị trường ( quan
Trang 13hệ cung cầu ,giá cả , ) hình thành không khách quan : giá cả bị áp đặt, bán vớigiá cao, cạnh tranh bị thủ tiêu hoặc không đủ điều kiện để hoạt động trên cáckênh phân phối, vai trò của người mua bị thủ tiêu Còn thị trường độc quyền muathì vai trò quyết định trong mua bán hàng hoá thuộc về người mua, các quan hệkinh tế phát huy tác dụng.
1.2 Các quan niệm cơ bản về tiêu thụ
1.2.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Triết lý kinh doanh của sản xuất hàng hoá là sản phẩm đựơc sản xuất ra đểbán nhằm thu lợi nhuận.Do đó,tiêu thụ sản phẩm là một trong những nội dungquan trọng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thực hiệntriết lý đó.Theo nghĩa hẹp quá trình tiêu thụ sản phẩm gắn liền với sư thanh toángiữa người mua và người bán và sự chuyển quyền sở hữu hàng hoá.Thực tế chothấy,thích ứng với mỗi cơ chế quản lý khác nhau,công tác tiêu thụ đựơc thực hiệnbằng nhiều hình thức khác nhau.Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,hoạtđộng tiêu thụ của doanh nghiệp được thực hiện theo kế hoạch giao nộp sản phẩmvới giá cả và địa chỉ do nhà nước quy định
Còn trong nền kinh tế thị trường,các doanh nghiệp phải tự mình giải quyết bavấn đề cơ bản :sản xuất cái gì,bằng cách nào và cho ai.Do vậy,tiêu thụ sản phẩmtrở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá,quá trình chuyểnhoá hình thái giá trị của hàng hoá từ hàng sang tiền,sản phẩm được coi là tiêu thụkhi được khách hàng chấp nhận thanh toán tiền hàng.Tiêu thụ sản phẩm là giaiđoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,là yếu tố quyết định đến sụ tồntại và phát triển của doanh nghiệp.Tiêu thụ sản phẩm nhằm thực hiện mục đíchcủa sản xuất hàng hoá là sản phẩm để bán và thu lợi nhuận
Qua tiêu thụ,hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị
và đồng thời vòng chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hoànthành.Tiêu thụ giúp cho quá trình tái sản xuất được giữ vững và phát triển.Sảnphẩm làm ra được tiêu thụ thì tính chất hữu ích của sản phẩm mới được xácđịnh,khi đó,giá trị,giá trị sử dụng mới được thực hiện,lao động của người sản
Trang 14xuất hàng hoá nói riêng,và của toàn xã hội nói chung mới được thừa nhận.Sảnphẩm được tiêu thụ thể hiên sự thừa nhận của thị trường,của xã hội và khi đó laođộng của doanh nghiệp mới thực sự là lao động có ích.Tiêu thụ sản phẩm là khâuquan trọng quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận của doanhnghiệp,quyết định sự mở rộng và thu hẹp sản xuất của doanh nghiệp và là cơ sở
để xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường.Là cầu nối giữa sản xuất vàtiêu dùng,tiêu thụ giúp cho người tiêu dùng có được giá trị sử dụng mà mìnhmong muốn và người sản xuất đạt được mục đích của mình trong kinhdoanh.Nhà sản xuất,thông qua tiêu thụ có thể nắm bắt thị hiếu,xu hướng tiêudùng,yêu cầu về sản phẩm,để từ đó mở rộng hướng kinh doanh,tạo ra những sảnphẩm mới,tìm kiếm khả năng và biện pháp thu hút khách hàng.Doanh nghiệp cóđiều kiện sử dụng tốt hơn mọi nguồn lực của mình,tạo dựng một bộ máy kinhdoanh hiệu quả và hợp lý
Tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng tổng thể các biện pháp
về tổ chức,kinh tế và kế hoạch nhằm thực hiên các nghiệp vụ liên quan đến tiêuthụ sản phẩm như nắm bắt nhu cầu thị trường,tổ chức sản xuất,tiếp cận sảnphẩm,chuẩn bị hàng hoá và xuất bán theo yêu cầu của khác hàng với chi phí kinhdoanh nhỏ nhất.Như vậy,tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp là một hoạt độngmang tính nghiệp vụ cao,bao gồm nhiều loại công việc khác nhau liên quan đếncác nghiệp vụ sản xuất và các nghiệp vụ tổ chức quản lý quá trình tiêu thụ.Mụctiêu của quá trình này bao gồm mục tiêu số lượng :Thị phần,doanh số,đa dạnghoá doanh số,lợi nhuận và mục tiêu chất lượng,cải thiện hình ảnh của doanhnghiệp cải thiên dịch vụ khách hàng
1.2.2 Các nội dung chủ yếu của công tác tiêu thụ sản phẩm:
a Nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm:
Nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm là việc phải tìm tòi, xác định xem đâu làthị trường then chốt, chủ yếu của doanh nghiệp: Khách hàng của doanh nghiệp lànhững người như thế nào? Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp là những ai?Từ
đó có thể ước lượng thị phần mà doanh nghiệp có thể khai thác được, đề ra các
Trang 15giải pháp về chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chính sách phân phối, chínhsách giao tiếp, khuyếch trương
b Chiến lược sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm:
Trong chiến lược thị trường của một doanh nghiệp, chiến lược sản phẩm và tiêuthụ sản phẩm là chiến lược cực kỳ quan trọng Điều này bắt nguồn từ những lý
do sau:
Cùng với sự phát triển nhanh về khoa học kỹ thuật, cơ cấu nhu cầu và cơcấu người tiêu dùng cũng có những thay đổi đáng kể Các doanh nghiệp đềumong muốn trên cơ sở cách mạng khoa học kỹ thuật làm ra nhiều sản phẩm mới
để thu lợi nhuận cao Do vậy chiến lược sản phẩm là một vũ khí sắc bén nhấttrong cạnh tranh, đồng thời là phương pháp có hiệu quả tạo ra nhu cầu mới giúpích cho tiêu thụ sản phẩm
Sản xuất đại công nghiệp và sản xuất tự động, bán tự động đã tạo ra sựđồng nhất cao và ngày càng tăng tính chất sử dụng của sản phẩm Vì vậy yếu tốquyết định thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp là ở chỗ:
Liệu sản phẩm của họ có vượt qua được sản phẩm cạnh tranh hay không? Vượtnhư thế nào? Và làm thế nào để khách hàng tập trung mua hàng của mình màkhông mua của người khác?
Điều này chỉ thực hiện được nếu họ có một chiến lược sản phẩm đúng đắn, tạo ranhững sản phẩm với chất lượng tốt hơn
Điều cốt lõi của chiến lược sản phẩm là phải linh hoạt, nhạy bén, quyết địnhkịp thời để thực hiện bán cái người ta cần chứ không phải chỉ bán cái mà ta có.Muốn vậy các doanh nghiệp cần phải đầu tư thích đáng vào công tác nghiên cứu
và phải sử dụng những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, đồng thời vận dụng nhữngcông cụ sắc bén để xây dựng chiến lược và thực hiện các mục tiêu đã đề ra nhằmtriển khai có hiệu quả công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
c Hoạch định chương trình tiêu thụ sản phẩm :
Phương châm hành động phổ biến của các doanh nghiệp thị trường làthông qua việc thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng để đạt được những mụctiêu lợi ích của mình Làm thế nào để nhà sản xuất đưa sản phẩm của mình đến
Trang 16người tiêu dùng một cách tốt nhất? Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trườngđóng vai trò quyết định đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong mỗigiai đoạn hoạt động Nhiệm vụ của những người hoạch định chương trình tiêuthụ sản phẩm là thể chế hoá dưới dạng chính sách về các chiến thuật ứng xử chotừng yếu tố “Làm thị trường” của Marketing Mix trong mỗi giai đoạn thị trường Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là việc thiết lập và vận hành các kênh tiêu thụ, được
cụ thể hoá bằng việc tổ chức và điều hành quá trình chuyển giao hàng hoá, dịch
vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Đối với doanh nghiệp mới thành lậphoặc doanh nghiệp hiện hữu nhưng có sản phẩm mới hay xâm nhập vào thịtrường mới, quá trình hoạch định chương trình tiêu thụ sản phẩm bao gồm cácnội dung sau đây:
- Xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm với hai trọng tâm là lựa chọn vàthiết lập hệ thống kênh tiêu thụ và định hình các chính sách hỗ trợ đồng bộ chotiêu thụ như: về giá cả, về chiêu thị, về sản phẩm
- Lập kế hoạch triển khai tạo dựng mạng lưới tiêu thụ và xúc tiến bánhàng
Đối với doanh nghiệp hiện hữu có sản phẩm đang tiêu thụ trên thị trường, trướcmỗi kỳ kế hoạch, nhà quản lý tiêu thụ tuy không phải thực hiện từ đầu các nộidung trên, nhưng cũng cần phải xem xét khả năng điều chỉnh và hoàn thiện sự
hoạt động của mạng lưới tiêu thụ hiện có
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
Khi phân tích và đánh giá kết quả và hiệu quả tiêu thụ sản phẩm,cần phântích đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu,phản ánh cả về mặt chất và lượng của quá trìnhtiêu thụ sản phẩm.Đặc biệt chú ý đến mặt hiệu quả của hoạt động tiêu thụ cần đềcập đến một số chỉ tiêu sau :
1.2.3.1 Khối lượng tiêu thụ
Khối lượng tiêu thụ là chỉ tiêu phản ánh kết quả tiêu thụ sản phẩm về mặtlượng,chỉ tiêu này cho phép xác định được chính xác trong thời kỳ kinhdoanh,doanh nghiệp đã tiêu thụ được bao nhiêu?Với mức tiêu thụ như vậy,doanh
Trang 17nghiệp có thể so sánh với thời kỳ trước và dự báo cho kế hoạch mức tiêuthụ.Khối lượng tiêu thụ trong kỳ được tính theo công thức :
O = Ođk + Osx – Ock
Trong đó :
O là khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
Ođk là khối lượng sản phẩm tồn đầu kỳ
Osx là khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ
Ock là khối lượng sản phẩm tồn cuối kỳ
Nếu doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm tiêu thụ thì chỉ tiêu này cần đượcphân loại
1.2.3.2 Doanh thu tiêu thụ và mức tăng doanh thu
Doanh thu tiêu thụ là một chỉ tiêu quan trong được sử dụng và phân tíchđánh giá hoạt động tiêu thụ.Chỉ tiêu này phản ánh giá trị tiêu thụ trong kỳ kinhdoanh.Đây là chỉ tiêu quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với
cả nền kinh tế quốc dân
Doanh thu tiêu thụ phản ánh quy mô quá trình kinh doanh,phản ánh quátrình tổ chức chỉ đạo quá trình kinh doanh,tổ chức công tác thanh toán.Có doanhthu chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp kinh doanh được người tiêu dùng chấpnhận,phù hợp với nhu cầu,thị hiếu của họ.Doanh thu tiêu thụ giúp doanh nghiệptrang trải các khoản kinh phí,góp phần thúc đẩy tăng nhanh quá trình chu chuyểnvốn,tạo điều kiện cho tái sản xuất kinh doanh ở các chu kỳ tiếp theo.Ngoài radoanh thu còn phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở trạngthái nào : lỗ ,lãi hay hoà vốn
Chỉ tiêu đánh giá doanh thu thường được xác định
- Số tuyệt đối : TR = P*Q
- Số tương đối :
MTR = DT1 DTo DT0* 100%
Trong đó :
Trang 18TR là doanh thu
P: giá
Q : số lượng sản phẩm tiêu thụ
MTR mức tăng doanh thu kỳ thực hiện so với kỳ gốc
DT1 doanh thu kỳ thực hiện
DT0 doanh thu kỳ gốc
1.2.3.3 Lợi nhuận tiêu thụ
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cở bản nhất của các công ty và doanhnghiệp.Kinh doanh mà không nhằm mục tiêu lợi nhuận thì không phải là kinhdoanh.Do vậy,công ty,doanh nghiệp nào cũng lấy lợi nhuận làm mục đích hoạtđộng và sự tồn tại của mình.Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu,thường xuyên,cơbản.Tuy vậy không phải lúc nào lợi nhuận cũng được đặt lên hàng đầu mà nó cònphụ thuộc vào từng thời kỳ,từng trường hợp,từng giá đoạn cụ thể
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng và quyết định mức lợi nhuận tiêu thụ củadoanh nghiệp như giá bán,chất lượng sản phẩm,khối lượng sản phẩm tiêu thụ,chiphí tiêu thụ…Những yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ mà quyết định đến mứclợi nhuận mà công ty đạt được.Người ta đánh giá lợi nhuận tiêu thụ trên các chỉtiêu như :tổng lợi nhuận,mức doanh thu,mức doanh lợi theo vốn,mức doanh lợitheo chi phí.Cụ thể :
Tổng lợi nhuận :là chênh lệch giữa tổng doanh thu tiêu thụ với tổng chi phítiêu thụ
LN =DT -CP
Trong đó :
LN tổng lợi nhuân tiêu thụ
DT tổng doanh thu tiêu thụ
CP tổng chi phí tiêu thụ
1.2.4 Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp phản ánh phạm vi và quy mô thị trường màdoanh nghiệp đã chiếm lĩnh.Thị phần của doanh nghiệp cũng là một chỉ tiêu quan
Trang 19trọng để đánh giá hoạt động tiêu thụ.Khi sử dụng chỉ tiêu này thường phải sosánh với đối thủ cạnh tranh về tỷ lệ thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh.Để xácđịnh được thị phần của mình các doanh nghiệp thường căn cứ vào các con sốthống kê kinh tế và tổng mức tiêu thụ mặt hàng cùng loại trong năm của toàn bộnền kinh tế,dựa vào mức tiêu thụ thực tế của đơn vị mình để xác định thị phầnchiếm bao nhiêu phần trăm,ở mức cao trung bình hay thấp.Nếu thị phần củadoanh nghiệp càng lớn,mức độ phân bố rộng khắp thì đó là dấu hiệu về sự đứngvững trên thị trường của sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh.Điều đócũng có nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp được nhiều khách hàng biết đến vàchấp nhận tiêu dùng.
So với cùng thời điểm năm 2007 thì giá bia năm nay tăng rất mạnh - có loạichênh lệch 30.000 - 50.000 đồng/két so với cùng kỳ Phố Hàng Buồm (Hà Nội) -một trong những điểm bán buôn mặt hàng đồ uống nhiều nhất Hà Nội đã trở lêntấp nập Theo đánh giá của các chủ cửa hàng tại đây thì việc tăng giá này là bình
Trang 20thường khi các nguyên liệu đầu vào để sản xuất bia đang tăng cao; đặc biệt làmalt, cao hoa, đường, gạo, bao bì nhãn mác… đều tăng từ 30% - 70% Thị trường bia được dự báo sẽ tăng trưởng trong năm 2009 Hiện tại mức tiêu thụbia bình quân đầu người của Việt Nam là 18 lít/năm, bằng 1/2 so với Hàn Quốc
và bằng 1/6-1/7 so với Ireland, Đức, Séc Tuy nhiên, với mức thu nhập của ngườidân tăng lên cộng với sự thay đổi tập quán uống (chuyển từ uống rượu tự nấusang uống bia) của người dân ở nhiều vùng nông thôn… thì vào năm 2010, mứctiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam ước sẽ tăng tới 28 lít/năm Đây là
“miếng bánh lớn” cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất, thực hiệncác chiến lược marketing nhằm giành giật thị phần về tay mình
Các sản phẩm bia được chia theo 3 phân khúc thị trường chính gồm: biahơi(chưa tiệt trùng), bia tiệt trùng đóng chai, bia thượng hạng gồm các thươnghiệu quốc tế hoặc thương hiệu nội địa cao cấp
Phân khúc thị trường bia hơi chiếm khoảng 40% khối lượng tiêu thụ vàkhoảng gần 27% giá trị tiêu thụ.Việc bia hơi có được vị thế này chủ yếu tập trungvào tầng lớp bình dân với mức giá phải chăng khoảng 10000đ/lít.Loại bia nàyđược sản suất chủ yếu tại các cơ sở nhỏ lẻ tại địa phương,thường ít có thươnghiệu,và nhãn mác cụ thể
Phân khúc bia tiệt trùng đóng lon hoặc chai chiếm vị trí số 1 trên thị trườngvới mức tiêu thụ 46% về khối lượng tiêu thụ và chiếm 50 % về giá trị tiêuthụ.Các sản phẩm này chủ yếu tập trung vào các đối tượng có thu nhập trungbình khá,hiện đang mở rộng theo sự tăng trưởng kinh tế có giá khoảng 15000đ/lít.Dẫn đầu phân khúc này là Sabeco,Habeco và nhà máy bia Huế
Phân khúc nhỏ nhất là bia thượng hạng với mức giá tương đối cao khoảng30000đ/lít,chiếm 14% về khối lượng và 23% giá trị.Dòng sản phẩm này tập trungvào tầng lớp có thu nhập khá và tầng lớp thượng lưu.Dẫn đầu phân khúc thịtrường này là các sản phẩm bia Tiger,Heineken được nhà máy Bia Việt Namphân phối.Carlibergs của nhà máy Đông Nam Á ngoài ra còn có thương hiệuViệt là Sài Gòn Đỏ và 333 của Sabeco
Trang 21Tập trung vào tầng lớp trung bình khá hiện tại bia nội địa vẫn được tiêu thụmạnh nhất chiếm đa số thị phần,trong tương lai khi thu nhập và mức sống củangười dân Việt Nam ngày càng cao,thi dòng sản phẩm cao cấp sẽ càng được ưuchuộng hơn.
Sabeco Liên doanh nhà máy bia Việt Nam
Habeco Bia Thanh Hoá Sanmiguel Việt Nam Liên doanh bia Đông Á Bia Huế
LD Vinamilk vad SAB Miller
Một số Nhà sx Bia khác
( Nguồn : Vatgia.com)
Biểu đồ 1 : Thị phần một số nhà sản xuất bia Việt Nam
Công ty Bia Huế chiếm thị phần khá lớn trong thị trường Bia Việt Nam.Đặc biệtsản phẩm Bia FESTIVAL ra đời để phục vụ cho các Festival quốc tế tại Huế vàonăm 2000, 2002, 2004, 2006 và được người tiêu dùng rất hoan nghênh Hiện naynhãn hiệu FESTIVAL đang được khuyếch trương rộng rãi trên khắp cả nước Bia FESTIVAL được đóng chai trong chai 330ml màu ô liu, trang nhã có chấtlượng cao và là nhãn hiệu bia cao cấp của Công ty Bia Huế Trong tương lai, khiHuế trở thành thành phố Festival, nhãn hiệu bia FESTIVAL cũng sẽ trở thànhloại bia lễ hội độc đáo, cao cấp của Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM FESTIVAL BEER TRÊN ĐỊA BÀNG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 2.1 Tổng quan về công ty Bia Huế
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngày 20/10/1990, Nhà máy Bia Huế được thành lập theo Quyết định số 402QĐ/UB của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế với hình thức xí nghiệp liên doanh cóvốn góp từ các đơn vị quốc doanh và ngoài quốc doanh trong tỉnh và vay vốnngân hàng Số vốn đầu tư ban đầu của Nhà máy là 2,4 triệu USD
Ngay sau khi được thành lập, sản phẩm đầu tiên của Nhà máy là Bia Hudađược sản xuất theo công nghệ tiên tiến nhất của hãng DANBREW CONSULT,Đan Mạch đã nhanh chóng có mặt trên thị trường, đáp ứng được nhu cầu củangười tiêu dùng trong cả nước
Năm 1994, Nhà máy tiến hành liên doanh với hãng bia Tuborg International(TIAS) và quỹ công nghiệp Đan Mạch dành cho các nước phát triển (IFU) tạigiấy phép số 835/GP ngày 6/4/1994 với tỷ lệ góp vốn Việt Nam 50%, Đan Mạch50% Đây thực sự là một bước ngoặt trọng đại trong quá trình phát triển của đơn
vị Từ đây, Nhà máy Bia Huế chính thức mang tên Công ty Bia Huế
Do chất lượng sản phẩm luôn đảm bảo, giá thành hợp lý, được khách hàng
ưa chuộng nên mặc dù sản lượng cung ứng của Công ty Bia Huế luôn tăng mạnhnhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường Từ công suất ban đầu là 3triệu lít/năm, đến năm 2003 công suất đưa lên 50 triệu lít/năm, năm 2007 côngsuất đã lên đến gần 110 triệu lít/năm Vì vậy, ngay từ năm 2005, dự báo đượcnhu cầu ngày càng gia tăng của khách hàng, nhất là trong những thời điểm
"nóng" như: lễ hội Festival, mùa hè, mùa tết, ngày lễ, mùa bóng đá , Công ty đãtiến hành xây dựng thêm một nhà máy bia tại Khu công nghiệp Phú Bài với côngsuất 100 triệu lít/năm Ngày 29/4/2008, Nhà máy chính thức được khánh thành
và những mẻ bia đầu tiên đậm đà phong vị Huế đã ra đời trong sự đón chào củatất cả người tiêu dùng
Trang 23Bên cạnh việc không ngừng nâng cao chất lượng và đổi mới mẫu mã cácnhãn hiệu bia, Công ty Bia Huế luôn chú trọng đến công tác quảng bá, giới thiệusản phẩm Nhờ vậy, sản phẩm của Công ty được khách hàng rất tin dùng và gắn
bó, không chỉ tại miền Trung mà còn vươn xa đến các tỉnh thành phía Nam, phíaBắc và Tây Nguyên.Không chỉ tập trung vào việc chiếm lĩnh thị trường trongnước, công tác xuất khẩu cũng được Công ty quan tâm ngay từ những năm đầutiên thành lập Sản phẩm Bia Huda đã có mặt tại thị trường Mỹ từ năm 1994 Đếnnay, thị trường xuất khẩu của Công ty đã được mở rộng ra nhiều nước khác trênthế giới như: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Úc, Canada, Indonesia, Malaysia,CHDCND Lào, Campuchia Năm 2007, Công ty Bia Huế đã có những thành tíchxuất sắc với sản lượng đạt 108 triệu lít, tăng 25,13% so với năm trước; doanh thuđạt 1.059 tỷ đồng, tăng 31%; nộp ngân sách 529 tỷ đồng, tăng 14,75%, chiếmhơn 1/3 tổng thu ngân sách của tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất của công ty
a Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của công ty Bia Huế
Công ty bia Huế là một công ty liên doanh,hạch toán độc lập,có tư cáchpháp nhân,chức năng chủ yếu của công ty là sản xuất và tiêu thụ các loạibia.Những thành tựu mà công ty đạt được trong thời gian qua là nhờ công ty có
sự đổi mới,sáng tạo trong công tác quản lý.Bộ máy quản lý của công ty tổ chứctheo kiểu trực tuyến chức năng
Trong công ty đứng đầu là hội đồng quản trị do các bên cử ra với nhiệm vụ làhoạch định các chính sách,chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn của côngty,đề cử các chức danh chủ chốt trong công ty.Nhiệm kỳ hoạt động quản trị tuỳthuộc vào quy định trong điều lệ liên doanh: Đối với công ty bia Huế nhiệm kỳhoạt động là 3 năm.Chủ tịch hội đồng quản trị hiện nay là người nước ngoài Tổng giám đốc :do hội đồng quản trị bầu ra để điều hành công ty,tổnggiám đốc chịu trách nhiệm trước HDQT về kết quả kinh doanh của công ty vàchịu trách nhiệm trước nhà nước về vấn đề liên quan đến pháp luật hiện hành
Trang 24Trong tổng công ty mức độ phân cấp quản lý cho các phòng ban tương đốicao,bảo đảm tính tự chủ,linh hoạt cho các bộ phận,cho phép nâng cao tínhchuyên môn của từng bộ phận và gắn trách nhiệm với kết quả cuối cùng đạtđược.Cơ cấu tổ chức bộ máy này mặc dù mỗi bộ phận điều có chức năng riêngbiệt,tuy nhiên chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau,hỗ trợ nhau cùng thammưu cho tổng giám đốc ra quyết định đúng đắn nhằm thúc đẩy hoạt động kinhdoanh phát triển mang lại lợi nhuận cho công ty.
Sơ đồ 1 Cơ cấu tổ chức của công ty Bia Huế
: Quan hệ chức năng : Quan hệ trực tuyến
GĐ Nhân sự
Phòng
tài
chính
P.X lên men
P.X nấu
Phòng
kế hoạch vật tư
Phòng thí nghiệm
KhoP.X
điện
Bộ phận tổng hợp
Phòngtiếp thị và tiêu thụ
Bộ phận văn thư
Trang 25b.Đặc điểm và chủng loại sản phẩm của công ty TNHH Huế Bia
Hiện nay công ty bia Huế đang tiến hành sản xuất và tiêu thụ tại thị trườngtrong nước và nước ngoài một số sản phẩm mang nhãn hiệu khác nhau.Đặc điểmchủng loại sản phẩm của công ty bia Huế được thể hiện qua bảng sau :
Bảng 1 : Đặc điểm sản phẩm của công ty bia Huế
thức
Quycách(lít)
Số lượng(chai,lon/thùng)
(Phòng bán hàng của công ty Bia Huế)
Chủng loại sản phẩm của công ty rất đa dạng và phong phú nhằm đáp ứng đầy đủ
và kịp thời nhu cầu cũng như thị hiếu của người tiêu dùng.Hiện tại sản phẩm củacông ty rất được khách hàng ưa chuộng nhất là Huda chai,lon và bia Festival.BiaHuda chiếm 80% và Festival chiếm 16% tổng sản lượng tiêu thụ còn lại là cácloại khác
Năm 1998 tình hình thị trường có nhiều biến động,các hãng bia lớn đầu tưvào thị trường Huế như SaiGon beer,Larue.Thị trường Huế đứng trước nguy cơ
bị thu hẹp.trước tình hình đó thì ban lãnh đạo công ty lập tức nghiên cứu cho rađời sản phẩm phù hợp với thị hiếu thưởng thức bia cao cấp của người dân và đó
là nguyên nhân cho ra đời sản phẩm bia Festival vào dịp lẽ hội Festiva lần đầutiên tổ chức ở Huế (năm2000) Chỉ sau một thời gian ngắn bia này đã được thịtrường chấp nhận và sau 9 năm,hiện nay sản lượng bia này chiếm 16% tổng sảnlượng tiêu thụ toàn công ty và nhãn hiệu Festival đã đi vào nhận thức của ngườitiêu dùng ở Huế như là một nhãn hiệu bia cao cấp của địa phương.Tuy nhiên đốivới thị trường khác thì thương hiệu bia Festival vẫn chưa được quảng bá rộng
Trang 26rãi.Người tiêu dùng ở ngoài Tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ biết nhiều đến sản phẩmHuda beer mà thôi.
c, Đặc điểm,quy trình công nghệ và tổ chức dây chuyền sản xuất
Toàn bộ dây chuyền sản xuất bia là do đối tác nước ngoài chuyển giao,ngoài
ra còn có các thiết bị nhỏ lẽ nhập từ các nước khác đạt tiêu chuẩn quốc tế
Toàn bộ dây chuyền sản xuất bia đước chia thành 3 giai đoạn thực hiện nốitiếp và khép kín từ đầu cho đến ra thành phẩm
Giai đoạn nghiền nấu :nguyên liệu chính là Malt và gạo.Được đưa vào
máy nghiền thành bột.Sau khi nghiền xong cả hai lại được trộn với nhau theo tỷ
lệ 4 gạo 1 Malt theo một số hoá chất và nước rồi nấu hỗn hợp bằng nồi nấu,nhiệt
độ nấu cùng các thông số kỹ thuật được định sẵn.Sau 8 giờ sẽ cho dịch nha,dịchnha được đưa qua bình lọc gồm 2 bước
Bước 1 : Lọc thuỷ phân cho ra nước nha đầu,sau đó dùng nước
nóng rửa lại bã cho nước nha cuối cùng
Bước 2 : Nấu nước nha với hoa Hoplon cho thật sôi đến khi có vị
đặc trưng,sau đó dịch này được đưa qua thùng lọc ly tâm lắng trong và giữ lạnh
để lên men
Giai đoạn lên men : Dùng men để lên men dịch nấu,điều chỉnh dịch nấu
theo nhiệt độ tiêu chuẩn kỹ thuật trong quá trình lên men.Lúc này đường và các chất được ngấm men thành bia,đồng thời được cacbonit hoá để tăng vị và tạo bọt.Thời gian lên men là 12 ngày,bia được giữ trong thùng lạnh 8h sau đó qua hệ thống lọc,bia trong sẽ được đưa đến dây chuyền chiết
Giai đoạn chiết bia thành sản phẩm : Dây chuyền được bố trí thành
hình chữ U (tuỳ diện tích),một đầu bốc vỏ bia lên bằng tải dẫn đến máy rữa chaisau đó đến máy chiết rồi đến máy thanh trùng có nhiệt độ 60-700 C và đến máyđóng nắp,dán nhãn và ra bia thành phẩm
Sơ đồ 2 : Quy trình sản xuất bia của công ty TNHH Bia Huế
Nồi Gạo
Trang 27
2.1.3 Tình hình nguồn lực của công ty Bia Huế
a Tình hình lao động
Nồi HupblonHỗn hợp
Thùng lắngThùng gạo
Võ chai,két
Máy
nghiền
Máy chiếc bia
Máy nghiền
Thùng biaMáy lọcThùng xã
Trang 28Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng đối với một DN, đặcbiệt là DN sản xuất Tình hình lao động của Công ty TNHH Bia Huế được thểhiện qua bảng sau:
Bảng 2 Tình hình lao động của Công Ty Bia Huế qua ba năm 2007-2009
2009/200 8
Giá
Giá trị %
Giá trị % +/- %
+ /- %
tiếp 211 42,5 236 44,2 244 44,6 25 11,9 8 3,39
Phân theo trình độ văn hóa
Đại học, trên đại
học 162 32,6 178 33,3 180 34,4 16 9,88 2 1,12Cao đẳng, trung
cấp 131 26,4 142 26,6 145 27,6 11 8,40 3 2,11Công nhân 204 41,0 214 40,1 222 38,0 10 4,90 8 3,74
(Nguồn: Phòng nhân sự Công ty TNHH Bia Huế)
Xét bảng 2 ta thấy tổng số lao động của công ty Bia Huế tăng dần qua banăm Cụ thể năm 2008 tăng 37 người (tương ứng tăng 7,44% so với năm 2006),năm 2009 tăng 13 người (tương ứng tăng 2,43%) so với năm 2008 Sở dĩ có sựgia tăng này là do quy mô sản xuất của công ty ngày càng được mở rộng, đặc biệt
là nhà máy bia ở Phú Bài vừa mới được đưa vào hoạt động đầu năm 2008 nêncông ty phải bổ sung thêm số lượng lao động để tiếp tục đáp ứng được yêu cầusản xuất kinh doanh của công ty
Xét theo giới tính: lao động nam luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với laođộng nữ Tỷ lệ giữa lao động nam so với lao động nữ qua thường xuyên ở mức là8/2 Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
là sản xuất tiêu thụ các loại bia nên đòi hỏi những người lao động phải có sức
Trang 29khỏe tốt mới có thể dễ dàng vận chuyển, lưu thông hàng hóa Tuy nhiên lại cómột số công việc đòi hỏi tính cẩn thận và kỹ càng phù hợp với phụ nữ như côngviệc văn phòng, kế toán, nên tỷ lệ lao động nữ cũng tăng qua ba năm Cụ thể,năm 2008 lao động nữ tăng 13,9% so với năm 2007 (lao động nam tăng 5,66%),năm 2009 lao động nữ tiếp tục tăng 3,25% so với năm 2008 (lao động nam tăng2,19%).
Xét theo tính chất công việc,số lao động trực tiếp năm 2008 tăng 12người,và lao động gián tiếp 2008 tăng 25 người,trong khi số lao động trực tiếpnăm 2009 tăng 5 người và số lao động gián tiếp tăng 8 người,như vậy số laođộng năm 2009 tăng lên không đáng kể trong đó chủ yếu là số lao động giántiếp.Tỷ lệ lao động trực tiếp và lao động gián tiếp là tương đương nhau Tuynhiên qua ba năm trở lại đây, do công ty đã đầu tư thêm nhiều loại máy móc, ápdụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất nên tỷ lệ lao động giántiếp có xu hướng tăng nhanh hơn so với lao động trực tiếp
Xét theo trình độ văn hóa, tỷ lệ lao động phổ thông có xu hướng giảmdần qua ba năm Bên cạnh đó tỷ lệ các lao động có bằng trung cấp, cao đẳng trởlên có xu hướng tăng dần.So vói năm 2008 nhân viên co trình độ cao đẳng ,đạihọc tăng 5 người tương đương với 3,23%Mặc dù biến động không nhiều, nhưngcũng cho thấy công ty đang chú trọng đến công tác đào tạo, tuyển dụng nhân viên
có trình độ nghiệp vụ để giúp cho nhà quản lý
Qua 3 năm ta thấy đội ngũ lao động của công ty có sụ biến động tăng do quy
mô sản xuất của công ty ngày càng đựơc mở rộng và nhu cầu tiêu thụ bia trên thịtrường ngày càng cao.Đây là một tín hiệu đáng mừng,phần nào cho thấy việckinh doanh cảu công ty đang tiến triển về quy mô và hiệu quả kinh doanh ngàycàng tăng lên
b Tình hình vốn kinh doanh của công ty qua 3 năm 2007-2009
Vốn kinh doanh là yếu tố đầu tiên then chốt đối với mỗi công ty,mục tiêuquan trọng nhất của việc sử dụng vốn và tài sản là đảm bảo cho quá trình sảnxuất kinh doanh được tiến hành bình thường và hiệu quả cao.Trong những nămqua,công ty Bia Huế đã không ngừng tăng vốn để đáp ứng mục tiêu mở rộng sảnxuất kinh doanh.Công ty Carlsberlg đóng góp 50% cổ phẩn còn lại 50% vốn doViệt Nam đóng góp.Từ bản 3 ta thấy rằng, nợ phải trả của công ty năm 2008 so
Trang 30với năm 2007 giảm 22,05% và năm 2009 so với năm 2008 tăng 21,07 %, điềunày cho ta thấy rằng qua 3 năm mức tăng nợ phải trả vẫn ở mức ổn định,chứng tỏcông ty vẫn duy trì mức hoạt động ổn định trước những biến động của thịtrường,đây là dâu hiệu tốt thể hiên bộ máy làm việc đang hoạt động có hiệu quả Vốn kinh doanh của công ty năm 2008 giảm 5,97 %so với năm 2007 ,nhưngbước sang năm 2009 thì tăng 31.62 % so với năm 2008.Như vậy qua 3 năm tuymức tăng vốn không điều qua các năm,có sự sụt giảm vào năm 2008, nhưng vàonăm 2009 đã thấy rõ nguồn vốn kinh doanh của công ty đã tăng mạnh, công ty đã
mở rông quy mô,nâng cao sản xuất,đây là một dấu hiệu đáng mừng,cho thấycông ty đang có những chiến lược phát triển công ty về cả chiều rộng lẫn chiềusâu
Trong đó nguồn vốn chủ sở hữu năm 2008 tăng 22,05 % so với năm 2007,vànăm 2009 giảm 21,07 % so với năm 2008,chứng tỏ công ty đã đẩy mạnh liêndoanh,xoay vốn từ các nguồn từ bên ngoài,bán cổ phần,đưa cổ phiếu của công tylên sàn giao dịch,đây là một bước nhảy để hoà nhập với nền kinh tế theo cơ chếthị trường,vốn được huy động nhanh,đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển củacông ty.Đây là kết quả tốt,công ty ngày càng tiến bộ trong công tác huy độngvốn đầu tư sản xuất kinh doanh.(Xem bảng 3)
Việc phân tích tình hình nguồn vốn của công ty cho ta thấy rõ rằng,năm
2007-2008 trước nhưng thách thức từ bên ngoài,nên kinh tế thế giới đang rơi vào suythoái nghiêm trọng,Công Ty Bia Huế là một công ty lớn chịu ảnh hưởng khôngnhỏ,bằng chứng là trong 2 năm 2007-2008 công ty đã kinh doanh thực sự chưađạt hiệu quả mong muốn,nguồn vốn kinh doanh giảm sút,nợ phải trả thấphơn,trong khi đó vốn chủ sỏ hửu tăng.Bước sang năm 2009 khi nền kinh tế thếgiới dần dần ổn định trở lại,thì công ty với những chính sách,chiến lược phùhợp,đã nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh,mang lại hiệu quả cao.Đây làmột tín hiệu tích cực,và nột bài học kinh nghiệm cho công ty sau này,để chủđộng ứng phó trước những thách thức từ thị trường
:
Trang 31Bảng 3 Tình hình vốn của công ty TNHH Bia Huế qua 3 năm 2007-2009
SO SÁNH (%) 2008/2007 2009/2008
Thuế và các khoản phải nộp NN 118.410 16,09 19.793 2,86 79.620 8,74 -13,23 5,88
Vốn đầu tư của chủ sở hữu 216.788 29,45 216.788 31,32 216.788 23,8 1,87 -7,52
Lợi nhuận chưa phân phối 239.171 32,5 364.561 52,67 117.298 12,88 20,17 -39,79
(Nguồn: Phòng kế toán Công ty TNHH Bia Huế)
Trang 322.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua 3 năm 2004 đến 2006
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp tuỳ từng thời kì phát triển
mà có những mục tiêu khác nhau Tuy nhiên, mục tiêu hàng đầu và mang tínhsống còn trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận
Vì vậy, các doanh nghiệp rất quan tâm đến vấn đề và nhân tố ảnh hưởng đến lợinhuận của doanh nghiệp mình Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh là côngviệc được tiến hành theo định kỳ giúp cho các nhà quản trị thấy rõ hơn sự biếnđộng của lợi nhuận và nguyên nhân của nó, đồng thời đánh giá hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp
Doanh thu của công ty năm 2008 tăng 21,72 % tương ứng 230.164 triệuđồng.Điều này cho chúng ta thấy tuy vào thời điểm 2007-2008 tuy nền kinh tếthế giới đang rơi vào suy thoái,nhưng doanh thu của công ty vẫn tăng mạnh,docông ty đã có những chính sách hợp lý,ứng phó với rủi ro từ thị trường.đẩy mạnhcác hoạt động xúc tiến bán hàng,các chương trình hoạt động xã hội,nâng cao hoạtđộng sản xuất kinh doanh
Doanh thu tiêu thụ của công ty tăng đáng kể đặc biệt vào năm 2009 cụ thể làtăng 29,15% so với năm 2008 tương ứng với mức tăng 375.906 triệu đồng.Docác nguyên nhân,nền kinh tế thê giới đã phát triển trở lại,mức tăng trưởng kinh tếcủa Việt Nam vẫn phát triển bình thường,mức sống,nhu cầu của người dân ngàycàng cao,người tiêu dùng dần dần chuyển sang nhu cầu cao hơn,thoả mãng cuộcsống ngày càng phát triển.Trước những cơ hội từ bên ngoài,công ty đã biết tậndụng nguồn lực của mình,nâng cao,mở rộng sản xuất kinh doanh,đẩy mạnh hoạtđộng xúc tiến,phân phối sản phẩm
Đặc biệt vào năm 2009 cầu về nhiều loại sản phẩm tăng mạnh,là một sảnphẩm tiêu dùng tất yếu,công ty đã nhận thức rõ vấn đề và có những chiến lượcđẩy mạnh tiêu thụ,đặt biệt là sản phẩm Festival vào năm 2009 doanh thu tiêu thụ
đã tăng trưởng 170%.Việc kết hợp những cơ hội từ bên ngoài với nội lực sẵn cóbên trong,doanh thu tăng lên là một dấu hiệu cho thấy công ty kinh doanh hiệu
quả
Trang 33Bảng 4 : Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua 3 năm
Chi phí quản lý doanh nghiệp 27.758 32.560 42.297 4.802 17,3 9.737 29,9
Lợi nhuận thuần từ HĐKD 237.312 199.828 241.362 -37.484 -15,8 41.534 20,78
Lợi nhuận trước thuế 232.876 161.939 237.739 -70.937 -30,46 75.800 46,81
Chi phí thuế TNDN hiện hành 67.346 36.549 40.441 -30.797 -45,73 3.892 10,65
Lợi nhuận sau thuế TNDN 165.530 125.390 197.298 -40.140 -24,25 71.908 57,35
(Nguồn: Phòng kế toán Công ty TNHH Bia Huế)
Trang 34Chi phí có chiều hướng tăng lên qua 3 năm,cụ thể năm 2008 so với năm
2007 chi phí bán hàng tăng 28,21% tương ứng với 25.210 triệu đồng,chi phí quản
lý doanh nghiệp tăng 17.3% tương ứng với 4.802 triệu đồng,năm 2009 so vớinăm 2008,chi phí bán hàng tăng 34,38 % tương ứng với 39.299 triệu đồng,chi phíquản lý doanh nghiệp tăng 29.9 % tương ứng với 9.737 triệu đồng,chi phí thuếcũng tăng 10,65 % tương ứng với 3.892 triệu đồng.Với mức tăng này cho thấydoanh thu vẫn cao,doanh nghiệp đã có đầu tư bỏ chi phí đúng chỗ,làm ăn có hiệuquả cao,chi phí tăng nhưng doanh thu cũng tăng mạnh,như vậy đây là một dấuhiệu cho thấy công ty đang có những chiến lược trong quản lý chi phí hợp lý
Do nền kinh tế đang được phục hồi và đi vào phát triển sau thời gian chịuảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới,nên giá vốn bán hàng qua 3năm đã có những biến động không nhỏ.Năm 2008 tăng 26,66 % tương ứng với87.344 triệu đồng năm 2009 tăng 30,43 % tương ứng với126.698 triệu đồng,nhưvậy ta thấy rằng qua 3 năm có sự biến động lớn về giá vốn bán hàng do cuộckhủng hoảng xăng dầu thế giới khiến giá nguyên vật liệu và các chi phí khác tănglên đáng kể
Tổng lợi nhuận sau thuế cũng có biến động rõ rệt qua từng năm,cụ thể là năm
2008 giảm 24,25 % tương ứng với 40.140 triệu đồng so với năm 200 7,nhưngbước sang năm 2009 lợi nhuận sau thuế lại tăng vượt bậc là 57,35 % tương ứngvới 71.908 triệu đồng,chứng tỏ rằng công ty chịu ảnh hưởng rất lớn của cuộc suythoái nền kinh tế thế giới vào năm 2008,và sau khi nền kinh tế được dần dầnphục hồi vào năm 2009 công ty lại làm ăn có hiệu quả,đây là dấu hiệu tốt và công
ty nên rút kinh nghiệm có nhưng chiến lược tốt hơn để đối phó với tình trạng nềnkinh tế bị suy thoái
Nhìn tổng quát ta thấy rằng qua 3 năm tình hình kinh doanh của công ty đã cónhững thay đổi đáng kể,do chịu ảnh hưởng của sự suy thoái nên kinh tế thế giớivào năm 2008,ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty,nên vàonăm này công ty kinh doanh chưa đạt hiệu quả cao,bước sang năm 2009,công ty
đã có những tiến bộ vượt bậc,kinh doanh có hiệu quả,thúc đẩy sản xuất mở rộngkinh doanh
Trang 352.2 Phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm bia Festival trên địa bàn tỉnh
Công ty TNHH bia Huế ra đời từ năm 1990,và sản phẩm của công ty đã dầndần chiếm lĩnh được thị trường miền trung và Tây Nguyên đồng thời khôngngừng mở rộng thị trường ra các vùng khác trên đất nước Việt Nam,đặc biệt đãxuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài.Khi xã hội ngày càng phát triển,mức sống củangười tiêu dùng ngày càng cao,nhằm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng công ty đãkhông ngừng đổi mới công nghệ và cho ra đời 2 dòng sản phẩm được xem là caocấp là Hue Beer và Festival bia,tới đây công ty dự định cho ra mắt loại bia dànhcho phụ nữ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
Là loại bia ra đời để phục vụ cho dịp Festival quốc tế tại Huế vào năm 2000,
2002, 2004, 2006,2008 được thị trường rất hoan nghênh, và hiện nay nhãn hiệuđang được khuyếch trương rộng rãi Bia FESTIVAL được đóng chai trong chai330ml màu ô liu, trang nhã có chất lượng cao và là nhãn hiệu cao cấp của Công
ty Khi Huế trở thành thành phố Festival của Việt Nam, nhãn hiệu bia Festivalcũng sẽ trở thành loại bia lễ hội độc đáo, cao cấp nhất
Sản phẩm Festival bia là loại sản phẩm hướng vào đối tượng khách hàng cóthu nhập khá,và đặc biệt được dùng trong các dịp lễ hội,các hoạt động vuichơi.Đặc biệt vào mùa lễ hội Festival thì thương hiệu của loại sản phẩm này càngđược nâng cao.Với hình dáng và thể tích nhỏ gọn phù hợp để cầm và uống bằngchai,thể hiện sự năng động đẳng cấp khi sử dụng sản phẩm
Có thể thấy sản phẩm bia Festival gắn với hoạt động lế hội Festival củaHuế,nhưng không phải vì vậy mà chỉ đến mùa lễ hội mới tiêu thụ sản phẩm
Trang 36này,mà hầu như sản phẩm bia Festival đang được sử dùng rộng rãi vào hầu hếtcác thờ gian trong năm.
Bảng 5 Phân khúc thị trường bia Việt Nam năm 2009
Phân khúc bia % Khối lượng tiêu
Bảng 6 Giá bán của Festival bia
Tên sản phẩm Dung tích Giá bán/chai Giá bán VND /lít
(Nguồn: Phòng tiếp thị Công ty TNHH Bia Huế) Qua việc so sánh 2 bảng ta nhận thấy rằng giá bia Festival nằm trongkhoảng 15000 VND< 19696 VND < 30000 VND
Yếu tố kêt hợp trên cho ta thấy rằng khách hàng mục tiêu của sản phẩm biaFestival là những người có thu nhập trung bình khá trở lên,với mức sống ngàycàng cao,liệu sản phẩm bia Festival có trở thành đối thủ cạnh tranh của Huda biakhông.Chúng ta sẽ đi vào phân tích cụ thể tình hình tiêu thụ sản phẩm củaFestival bia trong 3 năm 2007,2008,2009