1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI " ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DICH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM PHẦN " ppt

60 1K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Cung Ứng Dịch Vụ Công Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn (HUS)
Chuyên ngành Quản lý nhà nước / Dịch vụ công
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 112,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụcông là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hànhchính nhà nước v

Trang 1

Luận văn

ĐỀ TÀI: ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DICH VỤ CÔNG Ở

VIỆT NAM PHẦN

Trang 2

Mục lục

PHẦN I 4

NHỮNG TIẾN TRIỂN 20 NĂM QUA TRÊN THẾ GIỚI 4

TRONG QUAN NIỆM VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CÔNG 4

VÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG 4

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUAN NIỆM VỀ DỊCH VỤ CÔNG 4

I.1 Khái niệm dịch vụ công 4

I.2 Các loại dịch vụ công, phương thức cung ứng và các đặc điểm chính của dịch vụ công 6

I.3 Tác dụng của dịch vụ công trong tiến trình phát triển và vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công 10

II ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG 13

II.1 Những chuyển biến trong chủ trương của nhà nước về cung ứng dịch vụ công 13

II.2 Đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung ứng dịch vụ công 17

II.3 Cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công trong khu vực nhà nước 21

II.4 Tăng cường sự tham gia và giám sát của cộng đồng đối với việc hoạch định chính sách và đảm bảo chất lượng dịch vụ công 25

PHẦN II 27

THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỦA 27

KHU VỰC NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM 27

I MỘT SỐ THÀNH TỰU TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỦA NHÀ NƯỚC TA 27

I.1 Dịch vụ sự nghiệp công 27

I.2 Dịch vụ công ích 30

I.3 Dịch vụ hành chính công 31

II NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG 31

II.1 Hiệu quả cung ứng dịch vụ công thấp 31

II.2 Bộ máy hành chính nhà nước còn nhiều bất cập 35

II.3 Thiếu hụt ngân sách trong cung ứng dịch vụ công 37

PHẦN III 46

QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HOÁ CUNG ỨNG 46

DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM 46

I QUAN NIỆM VỀ “XÃ HỘI HÓA” CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG 47

I.1 Quan niệm về “xã hội hoá” 47

I.2 “Xã hội hoá” cung ứng dịch vụ công 48

Trang 3

II CHỦ TRƯƠNG XÃ HỘI HÓA CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG 49 III NHỮNG NHẬN THỨC KHÔNG ĐÚNG VỀ CƠ CHẾ XÃ HỘI HÓA CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG 54 III.1 Coi xã hội hoá là tư nhân hoá 54 III.2 Coi xã hội hoá chỉ là sự đóng góp tiền của, vật chất của nhân dân trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp 55 III.3 Coi xã hội hoá chỉ được thực hiện trong các tổ chức ngoài nhà nước cung ứng dịch vụ công, còn các tổ chức của nhà nước cung ứng dịch vụ công thì không cần thực hiện xã hội hoá 56

IV TÌNH HÌNH THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG 57 IV.1 Đánh giá thành tựu 57

Trang 4

ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DICH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM PHẦN I

NHỮNG TIẾN TRIỂN 20 NĂM QUA TRÊN THẾ GIỚI TRONG QUAN NIỆM VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CÔNG

VÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUAN NIỆM VỀ DỊCH VỤ CÔNG

I.1 Khái niệm dịch vụ công

Dịch vụ công (từ tiếng Anh là “public service”) có quan hệ chặt chẽ với phạm trù hànghóa công cộng Theo ý nghĩa kinh tế học, hàng hóa công cộng có một số đặc tính cơ bản như:

1 là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; 2.việc tiêu dùng của người này không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác; 3 và khôngthể vứt bỏ được, tức là ngay khi không được tiêu dùng thì hàng hóa công cộng vẫn tồn tại Nóimột cách giản đơn, thì những hàng hóa nào thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi là hàng hóacông cộng thuần túy, và những hàng hóa nào không thỏa mãn cả ba đặc tính trên được gọi làhàng hóa công cộng không thuần túy

Khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranhthế giới lần thứ hai Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò củanhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này

Từ giác độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụcông là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hànhchính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiếtyếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với nhữnghoạt động cung cấp hàng hóa công cộng Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng đượchưởng hàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứngnhu cầu thiết yếu của xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhànước hoặc tư nhân đảm nhiệm Từ điển Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã địnhnghĩa: “dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảmnhiệm”

Khái niệm và phạm vi dịch vụ công có sự biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh của mỗiquốc gia Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công, từ quốcphòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế- xã hội (tạo việc

Trang 5

làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá, bảo hiểm xã hội,

…) Trong khi đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhucầu thiết yếu của người dân do các cơ quan nhà nước đảm nhiệm hoặc do các tổ chức tư nhânthực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của nhà nước Tuy vậy, ở mỗi nước lại có nhậnthức khác nhau về phạm vi của dịch vụ công Ở Pháp, khái niệm dịch vụ công được hiểu rộng,bao gồm không chỉ các hoạt động phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khoẻ của người dân(như giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao…, thường được gọi là hoạt động sự nghiệp), các hoạtđộng phục vụ đời sống dân cư mang tính công nghiệp (điện, nước, giao thông công cộng, vệsinh môi trường, thường được gọi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công,bao gồm hoạt động của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch,… mà cả hoạt độngthuế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng…; còn ở Italia dịch vụ công được giới hạn chủ yếu ởhoạt động sự nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch, vệ sinhmôi trường) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ quan hành chính thực hiện

Ở Việt Nam, nên tập trung nhiều hơn vào chức năng phục vụ xã hội của nhà nước, màkhông bao gồm các chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao, qua đó nhấn mạnh vai trò chủ thể của nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ cho cộngđồng Điều quan trọng là chúng ta phải sớm tách hoạt

2

Trang 6

động dịch vụ công (lâu nay gọi là hoạt động sự nghiệp) ra khỏi hoạt động hành chínhcông quyền như chủ trương của Chính phủ đã đề ra, nhằm xoá bỏ cơ chế bao cấp, giảm tải cho

bộ máy nhà nước, khai thác mọi nguồn lực tiềm tàng trong xã hội, và nâng cao chất lượng củadịch vụ công phục vụ người dân Điều 22 của Luật Tổ chức chính phủ (2001) quy định: “Bộ,

cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối vớingành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộcngành, lĩnh vực;…” Điều này không có nghĩa là nhà nước độc quyền cung cấp các dịch vụcông mà trái lại nhà nước hoàn toàn có thể xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó trao một phầnviệc cung ứng một phần của một số dịch vụ, như y tế, giáo dục, cấp thoát nước,… cho khuvực phi nhà nước thực hiện

Có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiềugóc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chungthiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụnày cho xã hội Ngay cả khi nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công chokhu vực tư nhân thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phânphối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường

Từ những tính chất trên đây, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt động phục

vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện

I.2 Các loại dịch vụ công, phương thức cung ứng và các đặc điểm chính của dịch vụ công

I.2.1 Các loại dịch vụ công

Cần thiết phải có sự phân loại đúng đắn các hình thức dịch vụ công để hình thành cơ chế quản

lý phù hợp Thí dụ, đối với các loại hình dịch vụ công quan trọng nhất, thiết yếu nhất như y tế,giáo dục, cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo…, nhà nước có trách nhiệm dành cho chúngnhững nguồn lực ưu tiên Dịch vụ công có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, xéttheo tính chất của dịch vụ, hoặc theo các hình thức dịch vụ cụ thể,… Thí dụ, xét theo tiêu chíchủ thể cung ứng, dịch vụ công được chia thành ba loại, như sau:

- Dịch vụ công do cơ quan nhà nước trực tiếp cung cấp: Đó là những dịch vụ công

cộng cơ bản do các cơ quan của nhà nước cung cấp Thí dụ, an ninh, giáo dục phổ thông,chăm sóc y tế công cộng, bảo trợ xã hội,…

3

Trang 7

-Dịch vụ công do các tổ chức phi chính phủ và khu vực tư nhân cung cấp, gồm những

dịch vụ mà Nhà nước có trách nhiệm cung cấp, nhưng không trực tiếp thực hiện mà uỷ nhiệmcho tổ chức phi chính phủ và tư nhân thực hiện, dưới sự đôn đốc, giám sát của nhà nước Thí

dụ, các công trình công cộng do chính phủ gọi thầu có thể do các công ty tư nhân đấu thầu xâydựng

- Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tư nhân phối hợp thực hiện Loại hình cung ứng dịch vụ này ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều nước Như ở

Trung quốc, việc thiết lập hệ thống bảo vệ trật tự ở các khu dân cư là do cơ quan công an, tổchức dịch vụ khu phố và ủy ban khu phố phối hợp thực hiện

Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch vụ côngthành các loại như sau:

- Dịch vụ hành chính công: Đây là loại dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà

nước nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân Do vậy, cho đến nay, đối tượng cung ứng duynhất các dịch vụ công này là cơ quan công quyền hay các cơ quan do nhà nước thành lập được

ủy quyền thực hiện cung ứng dịch vụ hành chính công Đây là một phần trong chức năng quản

lý nhà nước Để thực hiện chức năng này, nhà nước phải tiến hành những hoạt động phục vụtrực tiếp như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch,… (Ởmột số nước, dịch vụ hành chính công được coi là một loại hoạt động riêng, không nằm trongphạm vi dịch vụ công Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu cũng có quan điểm như vậy) Ngườidân được hưởng những dịch vụ này không theo quan hệ cung cầu, ngang giá trên thị trường,

mà thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí cho các cơ quan hành chính nhà nước Phần lệ phí nàymang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước

- Dịch vụ sự nghiệp công: Bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu

cho người dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khoẻ, thể dục thể thao, bảohiểm, an sinh xã hội,…( Sự nghiệp là một từ gốc Trung quốc, được dùng theo nhiều nghĩa.Theo nghĩa hẹp, từ ‘sự nghiệp” dùng để chỉ những hoạt động chuyên môn nhằm đáp ứngnhững nhu cầu của xã hội và cá nhân con người, chủ yếu là về những lĩnh vực liên quan đến

sự phát triển con người về văn hoá, tinh thần và thể chất) Xu hướng chung hiện nay trên thếgiới là nhà nước chỉ thực hiện những dịch vụ công nào mà xã hội không thể làm được hoặckhông muốn làm, nên nhà nước đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại dịch vụ công nàycho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội

- Dịch vụ công ích: Là các hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ cơ bản, thiết yếu

cho người dân và cộng đồng như: vệ sinh môi trường, xử lý rác thải, cấp nước sạch, vận tảicông cộng đô thị, phòng chống thiên tai…chủ yếu do các doanh

Trang 8

nghiệp nhà nước thực hiện Có một số hoạt động ở địa bàn cơ sở do khu vực tư nhânđứng ra đảm nhiệm như vệ sinh môi trường, thu gom vận chuyển rác thải ở một số đô thị nhỏ,cung ứng nước sạch ở một số vùng nông thôn…

I.2.2 Các hình thức cung ứng dịch vụ công

Trên thực tế, có những loại dịch vụ rất quan trọng phục vụ nhu cầu chung của cả cộngđồng, nhưng tư nhân không muốn hoặc chưa đủ điều kiện tham gia, vì nó không mang lại lợinhuận, hoặc do tư nhân không đủ quyền lực và vốn để tổ chức việc cung ứng, thí dụ như cácdịch vụ phải đầu tư lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng, dịch vụ tiêm chủng, cứu hỏa, thoát nước,

… Đối với những loại dịch vụ này, hơn ai hết nhà nước có khả năng và trách nhiệm cung ứngcho người dân Bên cạnh đó, cũng có những loại dịch vụ mà thị trường có thể cung cấp nhưngcung cấp không đầy đủ, hoặc dễ tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội, làm ảnh hưởng đến lợiích của người tiêu dùng nói riêng và toàn thể xã hội nói chung, chẳng hạn như dịch vụ y tế,giáo dục, điện, nước sinh hoạt, … Trong trường hợp đó, nhà nước có trách nhiệm trực tiếpcung ứng hoặc kiểm soát thị trường tư nhân để đáp ứng những quyền lợi cơ bản của ngườidân Tuy nhiên, trên thực tế, nhà nước không phải là tác nhân duy nhất cung ứng dịch vụcông Tuỳ theo tính chất và loại hình, dịch vụ công có thể do các cơ quan nhà nước trực tiếpthực hiện hoặc có thể được chuyển giao cho khu vực phi nhà nước Có thể thấy rõ rằng, theothời gian, vai trò của nhà nước và các tác nhân khác trong cung ứng dịch vụ công có sự biếnđổi đáng kể dẫn đến các dạng thức cung ứng dịch vụ công khác nhau Hiện nay, việc cung ứngdịch vụ công ở hầu hết các nước thông thường được tiến hành theo các hình thức sau:

- Các cơ quan nhà nước trực tiếp cung ứng dịch vụ công Theo hình thức này, nhà

nước chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng dịch vụ công đối với các dịch vụ liên quan đến anninh quốc gia và lợi ích chung của đất nước (như quốc phòng, an ninh, hộ tịch…) mà chỉ có

cơ quan công quyền mới có đủ tư cách pháp lý để làm Nhà nước với vai trò chủ đạo củamình, cũng trực tiếp cung ứng các loại dịch vụ thuộc các lĩnh vực và địa bàn không thuận lợiđầu tư (ví dụ vùng sâu, vùng xa) mà thị trường không thể hoặc không muốn tham gia do chiphí quá lớn hay không có lợi nhuận Các đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập để cung ứngnhư các bệnh viện và trường học công, các cơ sở cung cấp điện nước…hoạt động tương tự cáccông ty nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận Ban đầu, nhà nước đầu tư cho các đơn vị đó, sau

đó họ sẽ tự trang trải và khi cần thiết có thể nhận được sự hỗ trợ bù đắp của nhà nước

- Nhà nước chuyển một phần hoạt động cung ứng dịch vụ công cho thị trường dưới các hình thức:

5

Trang 9

+ Uỷ quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ cung ứng một sốdịch vụ công mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường có nguồn kinh phí từ ngân sáchnhà nước như vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý rác thải, xây dựng và xử lý hệ thống cốngthoát nước v.v…Công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ được uỷ quyền phải tuân thủnhững điều kiện do nhà nước quy định và được nhà nước cấp kinh phí ( loại dịch vụ nào cóthu tiền của người thụ hưởng thì chỉ được nhà nước cấp một phần kinh phí)

+ Liên doanh cung ứng dịch vụ công giữa nhà nước và một số đối tác trên cơ sở đónggóp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận Hình thức này cho phép nhà nướcgiảm phần đầu tư từ ngân sách cho dịch vụ công mà vẫn tham gia quản lý trực tiếp và thườngxuyên các dịch vụ này nhằm đảm bảo lợi ích chung

+ Chuyển giao trách nhiệm cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức khác đối với các dịch

vụ mà các tổ chức này có điều kiện thực hiện có hiệu quả như đào tạo, khám chữa bệnh, tưvấn, giám định…(bao gồm các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội…), đặc biệt là, các tổchức này tuy là đơn vị tư nhân hoặc phi chính phủ nhưng được khuyến kích hoạt động theo cơchế không vì lợi nhuận, chỉ thu phí để tự trang trải

+ Tư nhân hoá dịch vụ công, trong đó nhà nước bán phương tiện và quyền chi phốicủa mình đối với dịch vụ nào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảm bảo lợi ích công bằngpháp luật

+ Mua dịch vụ công từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân có thể làm tốt

và giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan nhà nước, như bảo dưỡng phương tiệnphòng cháy, chữa cháy, các phương tiện tin học, đáp ứng nhu cầu về phương tiện đi lại, làm

vệ sinh và công việc phục vụ trong cơ quan…

I.2.3 Các đặc điểm của dịch vụ công

Các loại dịch vụ công và các hình thức cung ứng dịch vụ công tuy có đặc điểm, tínhchất khác nhau, song chúng có những đặc điểm chung cơ bản như sau:

- Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng đáp ứng nhucầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội và bảo đảm công bằng và ổnđịnh xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việctiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của nhà nước Từ đó có thể thấytính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công

- Dịch vụ công cung ứng loại “hàng hóa” không phải bình thường mà là hàng hóa đặc biệt donhà nước cung ứng hoặc ủy nhiệm cho tổ chức, cá nhân thực hiện,

Trang 10

đáp ứng nhu cầu toàn xã hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phihiện vật

- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ Thôngthường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay đúng hơn là đã trả tiền dướihình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những dịch vụ công mà người sử dụngvẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; song nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo cungứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận

- Từ góc độ kinh tế học, dịch vụ công là các hoạt động cung ứng cho xã hội một loạihàng hoá công cộng Loại hàng hóa này mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó,

mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này Ví dụ giáo dục đào tạo khôngchỉ đáp ứng nhu cầu của người đi học mà còn góp phần nâng cao mặt bằng dân trí và văn hoácủa xã hội Đó là nguyên nhân khiến cho chính phủ có vai trò và trách nhiệm quan trọng trongviệc sản xuất hoặc bảo đảm cung ứng các loại hàng hóa công cộng

Với sự đa dạng của các loại dịch vụ công, của các hình thức cung ứng dịch vụ công, vànhững đặc điểm của dịch vụ công, có thể thấy rằng cung ứng loại dịch vụ này một cách cóhiệu quả không phải là một vấn đề đơn giản Nhà nước phải xác định rõ loại dịch vụ nào nhànước cần giữ vai trò cung ứng chủ đạo, loại dịch vụ nào cần chuyển giao cho khu vực tư nhân

và các tổ chức xã hội, loại dịch vụ nào nhà nước và khu vực tư nhân có thể phối hợp cung ứng

và vai trò điều tiết, quản lý của nhà nước về vấn đề này như thế nào Kinh nghiệm của nhiềunước những năm qua cho thấy rằng, trong cung ứng dịch vụ công, nhà nước chỉ trực tiếp thựchiện những loại dịch vụ công mà khu vực phi nhà nước không thể làm được và không muốnlàm Nếu nhà nước không chuyển giao việc cung ứng dịch vụ công ở các lĩnh vực thích hợpcho khu vực phi nhà nước và cải cách việc cung ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà nước,thì hiệu quả cung ứng dịch vụ công về tổng thể sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng tiêu cực đến đờisống của người dân và sự phát triển chung của toàn xã hội

I.3 Tác dụng của dịch vụ công trong tiến trình phát triển và vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công

I.3.1 Tác dụng của dịch vụ công trong phát triển kinh tế- xã hội

Tính ưu việt của một xã hội được phản chiếu một cách rõ ràng qua chất lượng cung ứngdịch vụ công, bởi vì dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xãhội, đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững và có kỷ cương, trật tự Mọi xã hội đều có nhữngvấn đề chung, liên quan đến cuộc sống của tất cả mọi người Đó là các vấn đề như trật tự trị

an, phân hóa giàu nghèo, giáo dục, y tế, dân

7

Trang 11

số, môi trường, tài nguyên,… Để giải quyết thành công các vấn đề này, cần có sự góp sứccủa cả nhà nước, cộng đồng và các tổ chức xã hội thông qua việc cung ứng các dịch vụ công.Nếu các dịch vụ công bị ngừng cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, chất lượng thấp thì sẽdẫn đến những rối loạn trong xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của mỗi ngườidân, đồng thời tác động tiêu cực đến sự phát triển của mỗi quốc gia

Nhìn chung, dịch vụ công đáp ứng những nhu cầu chung của xã hội về các lĩnh vực sauđây:

- duy trì trật tự công cộng và an toàn xã hội như quốc phòng, an ninh, ngoại giao

- bảo vệ trật tự kinh tế, trật tự mua bán trên thị trường thông qua việc xây dựng và thực thithể chế kinh tế thị trường

- cung cấp các tiện ích công cộng cho toàn thể thành viên trong xã hội như bảo vệ sứckhỏe, giáo dục đào tạo, giao thông công cộng, thông tin, thư viện công cộng

- quản lý tài nguyên và tài sản công cộng như: quản lý tài sản nhà nước, bảo vệ môitrường, tài nguyên thiên nhiên

- bảo vệ quyền công dân, quyền con người

Đề cập sâu hơn tới tác dụng của việc cung ứng dịch vụ công, chúng ta có thể lấy thí dụtrong lĩnh vực hành chính công Hành chính công có liên quan đến mức độ thoả mãn các nhucầu công cộng của xã hội, liên quan đến tiến bộ kinh tế, xã hội của một quốc gia Theo các nhànghiên cứu Trung quốc1, tác dụng của hành chính công chủ yếu là tác dụng dẫn đường, tácdụng quản chế, tác dụng phục vụ và tác dụng giúp đỡ Nói về tác dụng quản chế, tức là nhànước phát huy năng lực quản lý công cộng mang tính quyền uy, cưỡng chế để xử lý, điều hòacác quan hệ xã hội và lợi ích xã hội, đảm bảo cho xã hội vận hành tốt; còn về tác dụng giúp

đỡ, đó chính là sự giúp đỡ của nhà nước đối với các địa phương nghèo, những người có hoàncảnh khó khăn, như giúp đỡ người nghèo, cứu tế xã hội, phúc lợi xã hội, bảo hiểm xã hội, y tế,

… Việc cung ứng dịch vụ hành chính công còn có tác dụng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế

-xã hội của đất nước Khi cung cấp các dịch vụ này, nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo radịch vụ như cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng thực, thị thực Tuy xét về mặt hình thức,sản phẩm của các dịch vụ này chỉ là các loại văn bản giấy tờ, nhưng chúng lại có tác dụng chiphối quan trọng đến các hoạt động kinh tế- xã hội của đất nước Chẳng hạn, giấy đăng ký kinhdoanh của doanh

Hành chính công và quản lý hiệu quả chính phủ.- H.: NXB Lao động xã hội, 2005

Trang 12

nghiệp thể hiện việc nhà nước công nhận doanh nghiệp đó ra đời và đi vào hoạt động, điềunày dẫn đến những tác động và kết quả đáng kể về mặt kinh tế - xã hội Ngoài ra, thông quaviệc cung ứng dịch vụ công, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để đảm bảo quyền dân chủ

và các quyền hợp pháp khác của công dân

Nguyên tắc nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất và cũng là trách nhiệm cuối cùngđối với việc cung ứng đầy đủ về số lượng, chất lượng, có hiệu quả dịch vụ công cho dù là nhànước tiến hành thực hiện trực tiếp hay thông qua các tổ chức và cá nhân khác là một lá chắnbảo vệ an toàn cho cuộc sống của mỗi người dân Với việc nhà nước bảo đảm sự công bằng,bình đẳng cho công dân, nhất là nhóm dân cư dễ bị tổn thương, trong việc tiếp cận và hưởngthụ các dịch vụ công thiết yếu liên quan trực tiếp tới đời sống như y tế, giáo dục, an sinh xãhội…, người dân được hưởng các quyền sống cơ bản của mình, trên cơ sở đó học tập, làmviệc nâng cao mức sống của bản thân và đóng góp nhiều hơn cho xã hội Như vậy, dịch vụcông có tác dụng cực kỳ to lớn đối với sự phát triển của đất nước và từng người dân, và là yếu

tố quan trọng góp phần ổn định xã hội

I.3.2 Vai trò quản lý và điều tiết của nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công

Chúng ta đều biết rằng, nhà nước của bất kỳ chế độ nào cũng bao gồm hai chức năng

cơ bản: chức năng quản lý (hay còn gọi là chức năng cai trị) và chức năng phục vụ (hay còngọi là chức năng cung cấp dịch vụ cho xã hội) Hai chức năng này thâm nhập vào nhau, trong

đó chức năng phục vụ là chủ yếu, chức năng quản lý xét đến cùng cũng nhằm phục vụ Vớichức năng phục vụ, như đã phân tích ở các phần trên, nhà nước có trách nhiệm cung ứng cácdịch vụ công thiết yếu cho xã hội Bên cạnh đó, với chức năng quản lý, nhà nước phải thựchiện vai trò quản lý và điều tiết xã hội nói chung, trong đó có vấn đề dịch vụ công Nhà nướcbằng quyền lực của mình, thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, quy hoạch, kếhoạch, chính sách, để quản lý và điều tiết hoạt động cung ứng dịch vụ công, qua đó làm tănghiệu quả cung ứng dịch vụ công trong toàn xã hội

- Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tự quản của cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụ công

Vai trò này vượt ra khỏi phạm vi quản lý nhà nước thuần túy, xuất phát từ việc xácđịnh trách nhiệm cao nhất và đến cùng của nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ công không cónghĩa là nhà nước phải trực tiếp cung ứng toàn bộ các dịch vụ này Thực hiện vai trò này, nhànước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích tư nhân, các doanh nghiệp và các tổchức xã hội của người dân tham gia cung ứng dịch vụ công Cơ chế, chính sách ấy bao gồm:vạch rõ những lĩnh vực dịch vụ cần khuyến khích sự tham gia của khu vực phi nhà nước,chính sách hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, các điều kiện vật chất, các chính sách đào tạo,kiểm tra và kiểm

9

Trang 13

soát, Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý chung cho tất cả các đơn vị cungứng dịch vụ công, đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà cung ứng dịch vụ công

- Nhà nước quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở ngoài nhà nước cung ứng dịch vụ công

Xét cho cùng, nhà nước vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng trước xã hội về sốlượng cũng như chất lượng dịch vụ công, kể cả các dịch vụ công được thực hiện bởi các công

ty tư nhân hay các tổ chức kinh tế-xã hội Trong khi đó, đối với các công ty tư nhân, các tổchức, cá nhân đảm nhận các dịch vụ công, lợi ích của chính bản thân họ không phải bao giờcũng thống nhất với lợi ích của nhà nước, của xã hội Vì vậy, nhà nước phải tạo ra cơ chế đểcác tác nhân bên ngoài nhà nước khi đảm nhận các dịch vụ công thực hiện mục tiêu xã hội.Xây dựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng dịch vụ công để đánh giá hoạt động của các đơn vịcung cấp, giám sát và kiểm tra hoạt động của các cơ sở này Nhà nước cần định hướng pháttriển đối với khu vực tư nhân, hướng khu vực tư nhân vào những lĩnh vực mà tư nhân hoạtđộng hiệu quả, đồng thời tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm không ngừng cải tiếnviệc cung ứng dịch vụ công cho xã hội Điều cốt lõi là nhà nước phải cân nhắc, tính toán vàgiải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội với lợi ích của tổ chức

và cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ công

II ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG

II.1 Những chuyển biến trong chủ trương của nhà nước về cung ứng dịch vụ công

Ở nhiều nước trên thế giới, khu vực nhà nước đã từng nắm độc quyền trong lĩnh vựccung ứng dịch vụ công và nhìn chung chất lượng cung ứng là vấn đề gây nhiều bức xúc.Những thập kỷ qua đã chứng kiến việc nhà nước trực tiếp tiến hành quá nhiều hoạt động,trong đó có hoạt động cung ứng dịch vụ công, mà lẽ ra có thể chuyển giao ở một mức độ nhấtđịnh cho thị trường và xã hội dân sự đảm nhiệm Kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấymột chính phủ ôm đồm quá mức sẽ không đưa đến một xã hội phát triển Do vậy, một trongnhững mục tiêu cải cách đã được các nhà nước xác định rõ là chuyển một phần khá lớn chứcnăng quản lý xã hội của chính phủ sang cho các tác nhân khác, và xã hội hóa dịch vụ công làmột xu thế lớn trong trào lưu cải cách nhà nước hiện nay ở phần lớn các nước trên thế giới.Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng nhất trong đảm bảo cung cấp dịch vụ công, nhưng khôngnhất thiết phải là người trực tiếp cung cấp tất cả các dịch vụ đó Vai trò của nhà nước cần thểhiện rõ hơn trong đẩy mạnh quản lý cung ứng dịch vụ công bằng luật pháp, chính sách và cácbiện pháp mang tính hỗ trợ, kích thích Các nhà nước tiên tiến hiện nay đang tìm cách sử dụng

Trang 14

vực cung cấp dịch vụ công Phần lớn dịch vụ công được toàn xã hội tiến hành, nhà

nước chỉ giữ lại những dịch vụ cần thiết nhất theo hướng “nhà nước nhỏ như cần thiết, xã hội lớn như có thể”

Hộp 2: Những biến chuyển trong chủ trương cung ứng dịch vụ công của Chính phủ

Anh

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của người dân, và trước áp lực của Liên minh Châu Âu, Chính phủ Anh đang tập trung chú ý vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả cung ứng dịch vụ công mà trước hết là giáo dục, y tế, giao thông, môi trường Cụ thể là:

- Trong tổ chức và quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ công có sự tách bạch khá rõ ràng giữa những lĩnh vực hoạt động do nhà nước tài trợ hoàn toàn như y tế, giáo dục với những dịch vụ được tư nhân hóa như vệ sinh môi trường, cấp nước sạch, giao thông công cộng

- Phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm giữa chính phủ và chính quyền địa phương trong việc quản

lý các dịch vụ công khá rõ ràng, rành mạch Có những lĩnh vực chỉ có cấp trung ương chịu trách nhiệm thực hiện (như y tế, giáo dục bậc đại học, cung cấp nước sạch), có lĩnh vực cả cấp trung ương và địa phương quản lý (dịch vụ môi trường) Nhìn chung, trong việc tổ chức và quản lý các hoạt động dịch vụ công, chính phủ đề ra chiến lược, chính sách, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ và phân bổ ngân sách,… còn chính quyền địa phương thực hiện ký kết hợp đồng với các công ty tư nhân và giám sát, kiểm tra việc thực hiện

- Nghĩa vụ và trách nhiệm cung ứng dịch vụ công của các cơ quan, tổ chức nhà nước và tư nhân cũng như của các cá nhân, tổ chức hưởng thụ dịch vụ được luật hóa một cách đầy đủ, chi tiết

- Chính phủ tích cực tạo hành lang pháp lý và thúc đẩy cơ chế cạnh tranh giữa khu vực công và khu vực tư cũng như giữa các tổ chức thuộc khu vực công để nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch

vụ công

- Quyền tự chủ về tài chính và nhân lực của các đơn vị trực tiếp cung ứng dịch vụ công được bảo đảm, đồng thời chính phủ và các chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát và có biện pháp xử lý kịp thời để bảo đảm tính liên tục của các dịch vụ

Bốn nguyên tắc cải cách dịch vụ công của Thủ tướng Anh Tony Blair

- Xây dựng các chuẩn mực chung có tính quốc gia đáp ứng nhu cầu của người dân và thoả mãn các đòi hỏi của EU; xác định rõ trách nhiệm thực hiện để đảm bảo người dân dù là ai, ở đâu đều có quyền nhận được các dịch vụ có chất lượng cao

- Thực hiện nguyên tắc phân cấp, phân quyền và uỷ quyền để nâng cao tính chủ động sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của các bộ phận trực tiếp tiếp xúc với dân

11

Trang 15

và cho các cơ quan chính quyền địa phương trong cung cấp dịch vụ công Theo đó, chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm một phần đáng kể chi phí cho việc cung ứng các dịch vụ công như giáo dục, các dịch vụ xã hội, chăm sóc người tàn tật và giao thông công cộng

- Tạo điều kiện cho các cơ sở cung ứng dịch vụ như y tế, giáo dục có khả năng trả thêm lương cho công chức; thực hiện nguyên tắc khuyến khích tính năng động và tự chủ của các cơ sở.

Từ năm 1998 gần một nửa giáo viên phổ thông được tăng 25% lương do gắn với kết quả giảng dạy, lương cho y tá mới nâng cao trình độ tăng1/3, các bệnh viện công đang thử nghiệm trả lương gắn với kết quả hoạt động Theo dự kiến bệnh viện sẽ trả thêm 6000 bảng/năm cho mỗi nhân viên nếu hoàn thành nhiệm vụ

- Thực hiện nguyên tắc mở rộng khả năng lựa chọn cho khách hàng, đảm bảo cho người dân

có quyền lựa chọn và yêu cầu chất lượng dịch vụ cao hơn không chỉ từ khu vực tư nhân mà cả từ khu vực công Ví dụ như việc chọn trường học cho trẻ em, bệnh viện điều trị khi ốm đau, hoặc hệ thống cung cấp nước sạch tốt hơn và rẻ hơn Từ tháng 7/2002, bệnh nhân đợi mổ tim nếu quá 6 tháng sẽ được giới thiệu đến mổ ở một bệnh viện khác tránh tình trạng đợi quá lâu

Nguồn: Theo Báo cáo của Đoàn Công tác Bộ Nội vụ khảo sát, nghiên cứu hành chính công, dịch

vụ công ở Anh, 2004

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi nhận thức từ phía các cơ quan công quyền và

từ chính những người dân về sự cần thiết phải có sự chuyển biến trong cung ứng dịch vụ công

Đó là, thứ nhất, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khu vực tư nhân về phương

diện kinh tế, những thành tựu khoa học công nghệ đã làm cho khu vực tư nhân có thể tiếpnhận một số dịch vụ trước đây chỉ thuộc về nhà nước Thí dụ, kỹ thuật truyền hình cáp pháttriển cho phép nắm được thời gian sử dụng của từng máy thu hình, hoặc qua thiết bị tự ghi có

thể đo chính xác lượng sử dụng khí ga, điện, nước của từng hộ tiêu thụ ( để thu tiền) Thứ hai,

sự thay đổi về mức sống tạo điều kiện cho cá nhân có thể tự mua sắm cho mình những phươngtiện mà trước đây chỉ có thể sử dụng công cộng Có thể thấy rõ điều này trong cung ứng dịch

vụ công về lĩnh vực văn hóa; nếu như trước đây, người dân chỉ có thể xem phim ảnh tại cácrạp chiếu công cộng, thì nay người ta có thể xem tại nhà qua đầu máy VCD, DVD Ngoài ra,

sự thay đổi về mức sống của người dân theo hướng chất lượng cuộc sống ngày một nâng caođòi hỏi số lượng các loại hình và chất lượng dịch vụ cũng cần phải ngày càng tăng để đáp ứng

yêu cầu của đời sống xã hội Thứ ba, lý do quan trọng khiến nhà nước cần đổi mới cơ chế

cung ứng dịch vụ công thông qua cải cách và chuyển giao dần việc cung ứng dịch vụ công chokhu vực tư nhân là sự kém hiệu quả của khu vực công so với khu vực tư nhân trong lĩnh vực

12

Trang 16

này Theo J E Stiglitz, thì các dự án nhà ở công cộng thường tốn kém hơn nhà ở của khuvực tư nhân khoảng 20%; chi phí thu gom rác thải do khu vực công cộng thực hiện thường caohơn khu vực tư nhân 20%; chi phí phòng cháy, chữa cháy của khu vực tư nhân (nhưng do nhànước cấp tiền) thấp hơn của khu vực công cộng 47% Khảo sát ở 58 quốc gia đang phát triểncho thấy chỉ có 6% số người được hỏi đánh giá dịch vụ công do nhà nước cung cấp là có hiệuquả còn 36% trả lời là không hiệu quả Đặc biệt, dịch vụ xây dựng đường sá và dịch vụ y tế bịđánh giá là kém hiệu quả nhất2 Lý do cuối cùng buộc nhà nước phải có những chuyển biến đểgiao một số lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cho khu vực ngoài nhà nước là vì điều đó sẽ giúpnhà nước giảm nhẹ được gánh nặng ngân sách, huy động được các nguồn lực tiềm tàng của xãhội Lấy ví dụ trong lĩnh vực y tế, mặc dù ở hầu hết các nước, nhà nước đều đảm nhận vai trò

to lớn trong cung ứng dịch vụ y tế vì đây là một loại hàng hóa công cộng rất đặc biệt, song nhànước không thể là người cung ứng duy nhất các dịch vụ này do mức độ chi phí lớn của nó.Theo một tài liệu khảo sát, chi tiêu cho chăm sóc y tế trong GDP nói chung đã tăng lên đáng

kể trong giai đoạn từ 1965 đến 1983 với mức tăng ít nhất là 50%, trong đó có năm nước đạtmức tăng trên 70% Với mức tăng như vậy, ngân sách nhà nước khó mà chịu nổi và sự thamgia của khu vực tư nhân là tất yếu Ở Mỹ, tỷ lệ chi của nhà nước trong tổng chi tiêu chăm sócsức khỏe đạt khoảng 40% mỗi năm kể từ 1974 đến nay3 Phần chi còn lại đến từ các nguồnkinh phí của tư nhân, các tổ chức xã hội hoặc tiền bảo hiểm

Để thực thi có hiệu quả các chức năng của nhà nước, các cơ quan công quyền phải linhhoạt, mềm dẻo để thích ứng với các điều kiện phức tạp và thay đổi nhanh Kinh nghiệm từnhiều nước cho thấy, nếu nhà nước tự thân thực thi toàn bộ các chức năng của mình mà bỏqua các nhân tố thị trường và xã hội thì sẽ dẫn tới một nhà nước yếu và một xã hội kém pháttriển Cũng vậy, trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, nếu nhà nước chỉ sử dụng bộ máy củamình để cung ứng dịch vụ thì chắc chắn sẽ dẫn tới những bất cập cả về khối lượng và chấtlượng cung ứng Do đó, cùng với việc phải đổi mới hiệu quả cung ứng dịch vụ công ngaytrong khu vực nhà nước, điều quan trọng là nhà nước phải chuyển giao các loại dịch vụ công

mà xã hội có thể đảm nhiệm đi đôi với việc kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo chất lượng vàhiệu quả cung ứng dịch vụ công

Hộp 3: Các hình thức chuyển giao dịch vụ công trên thế giới

1- Nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch vụ công cho tư nhân hoặc một tập thể;

2 Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo thường niên

năm 1997, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

3 J E Stiglitz (1995), Kinh tế học công cộng, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội

13

Trang 17

2- Nhà nước bán một phần cổ phần của doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch vụ công ra ngoài xã hội;

3- Nhà nước cho thuê doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công đối với tư nhân hoặc tập thể;

4- Khoán kinh doanh cung ứng dịch vụ công cho tư nhân hoặc tập thể;

5- Ký hợp đồng hoặc đơn đặt hàng với các doanh nghiệp hoặc tổ chức trong việc cung ứng dịch vụ công theo yêu cầu của nhà nước;

6- Cho phép các doanh nghiệp hoặc tổ chức tư nhân tham gia vào các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công và chịu sự quản lý của nhà nước thông qua luật lệ và quy chế

Nguồn: Lê Chi Mai (2003)

II.2 Đẩy mạnh sự tham gia của khu vực phi nhà nước trong cung ứng dịch vụ công

Thực ra, việc khu vực phi nhà nước cung ứng dịch vụ công đã có từ thời xa xưa Lịch

sử cho thấy rằng, hầu hết các dịch vụ y tế đều được thực hiện trên cơ sở tư nhân bởi những bà

đỡ, các thầy lang Tại các nước đang phát triển, đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ đãdẫn đến việc thành lập các nhóm lao động và họ đã tự tổ chức để cung ứng dịch vụ bảo hiểm y

tế thông qua “những quỹ đề phòng ốm đau” hoặc đề nghị thành lập các hệ thống bảo hiểm xãhội được nhà nước cấp kinh phí Chỉ đến thế kỷ XX nhà nước mới giữ vai trò quan trọng trongviệc cung cấp các dịch vụ xã hội như giáo dục và y tế, và ngày nay, trong trào lưu cải cách nhànước trên khắp thế giới, việc cung ứng dịch vụ công lại được chuyển từng phần thích hợp chokhu vực phi nhà nước, và đang trở thành một xu thế phát triển Thực tế cho thấy, khu vực phinhà nước đã ngày càng thâm nhập vào các hoạt động cung ứng dịch vụ công, chẳng hạn nhưtrong lĩnh vực làm sạch môi trường, cung cấp điện, nước,… Ngay cả ở những lĩnh vực màtheo truyền thống chỉ do nhà nước quản lý và thực hiện, thì nay cũng trở thành địa bàn hoạtđộng của khu vực tư nhân Ở Mỹ hiện nay, nhiều nhà tù tại các bang đã được giao cho khuvực tư nhân quản lý, nhiều loại dịch vụ cảnh sát đã được giao cho các công ty tư nhân đảmnhiệm Ngoài ra, khu vực tư nhân cũng được phép tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục và y tế,

là loại dịch vụ mà nhà nước giữ vai trò cơ bản vì chúng liên quan trực tiếp đến mục tiêu pháttriển của mỗi quốc gia Ở phần lớn các nước trên thế giới tồn tại song song hai hệ thống giáodục công lập và giáo dục dân lập Sự phát triển hệ thống trường tư thục đã tạo điều kiện cạnhtranh về chất lượng giảng dạy giữa hai hệ thống Tất nhiên, các trường tư phải chịu sự quản lýcủa nhà nước về nội dung giảng dạy, bảo đảm theo một chương trình chuẩn, thống nhất Việcchuyển dần mô hình trường công lập sống nhờ bao cấp nhà nước với sức ỳ quán tính sangđịnh chế hội đồng quản trị tư doanh đã thúc đẩy tính năng động, sáng tạo và cạnh tranh củacác cơ sở giáo dục

14

Trang 18

Hộp 4: “Thị trường hóa” giáo dục ở Anh

Theo sách trắng của Chính phủ Anh, việc cải cách giáo dục nước này bao gồm việc tiến đến

“thị trường hoá” giáo dục ở từng địa phương Qua mô hình này, các trường được “thị trường hoá” có quyền cạnh tranh với hệ trường tiểu – trung học nhà nước hiện hưũ Nội dung thị trường hoá được thể hiện như sau:

-Phụ huynh, các cơ quan phúc lợi xã hội, kể cả doanh nghiệp được khuyến khích hình thành và điều hành các trường định chế tư thực;Nhóm đối tác vừa nêu có quyền xây dựng “thương hiệu riêng”, xây dựng giáo trình thích hợp, miễn không ra ngoài các chỉ tiêu vĩ mô của chính phủ liên quan đến phát triển kinh tế- xã hội Đặc biệt khuyến khích nội dung giảng dạy đổi mới khoa học- kỹ thuật;

-Chấm dứt sự can thiệp của các cấp chính quyền địa phương vào việc tuyển sinh, chọn giáo viên, kể cả thuê mướn ban giám hiệu Chính quyền địa phương không được ngăn trở các kế hoạch phát triển cơ sở trường ốc;

-Hiệu trưởng hành xử chức năng như một giám đốc điều hành Hiệu trưởng giỏi và có năng lực quản lý được khuyến khích tiếp nhận điều hành các trường kém Từ đó hình thành chuỗi trường dưới quyền một hội đồng quản trị mà hiệu trưởng thực tài trở thành chủ tịch;

-Các trường có quyền ký hợp đồng thuê mướn, thải hồi và ấn định quy chế lương bổng cho các đối tượng nhân sự phục vụ tại trường

Nguồn: Thời báo kinh tế Sài gòn, ngày 24/11/2005

Bằng việc chuyển hoạt động cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân, nhà nước cóthể sử dụng cạnh tranh giữa các nhà cung ứng dịch vụ với nhau để có được nhà cung ứng dịch

vụ có hiệu quả nhất Chính vì thế, thúc đẩy cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ giữa khu vựccông và tư đang là một mục tiêu được nhiều nước hướng tới nhằm nâng cao chất lượng dịch

vụ cung ứng Sử dụng thị trường để cung ứng những dịch vụ cạnh tranh sẽ giảm bớt chi phí vàcải tiến chất lượng dịch vụ, san sẻ gánh nặng của nhà nước và tiến tới xây dựng mối quan hệhợp tác nhà nước- thị trường Theo E.X Xavat, một chuyên gia hàng đầu của Mỹ về cạnhtranh trong dịch vụ công cộng, thì ưu thế rõ ràng nhất của cạnh tranh là nó đem lại hiệu quảlớn hơn, nhiều hiệu quả hơn cho đồng vốn4 Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, ởBraxin, việc ký hợp đồng với các chủ đầu tư tư nhân về bảo dưỡng

4 David Osborne, Ted Gaebler, Đổi mới hoạt động của chính phủ - H NXB Chính trị quốc gia,

1997

15

Trang 19

đường sá đã tiết kiệm được 25% chi phí so với việc sử dụng các công ty nhà nước.Cũng vậy, bằng cách áp dụng cơ chế cạnh tranh vào việc sản xuất và cung ứng dịch vụ công,nhà nước tạo ra môi trường ganh đua tích cực giữa khu vực công và tư Chẳng hạn, với việccho phép các công ty tư nhân tham gia tổ chức cung ứng dịch vụ vận tải nội địa, Chính phủNiu Dilân đã tạo ra được sự cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ vận tải, qua đó nângcao chất lượng phục vụ khách hàng, làm giảm cước phí vận chuyển Ngay cả ở các nhà nướcphúc lợi như Đan Mạch, Phần Lan và Thụy Điển, hiện nay, việc thúc đẩy cạnh tranh giữa khuvực công và tư đang là một tiêu điểm của các nhà hoạch định chính sách Ở Đan Mạch, hầuhết các dịch vụ xã hội là do nhà nước cung cấp, được tài trợ thông qua hệ thống thuế với mứcthuế thu nhập cá nhân rất cao, song nước này chỉ đạt chỉ số cạnh tranh về sản xuất dịch vụcông ở dưới mức trung bình Vì vậy, từ năm 2002, mục tiêu tăng cạnh tranh, tăng hiệu quả,chất lượng, đổi mới và tăng sự lựa chọn đối với dịch vụ công đã trở thành mối quan tâm củachính phủ Đan Mạch Chính phủ đã có sáng kiến về tăng cạnh tranh và khuyến khích quan hệhợp tác công- tư Điều này cũng được thể hiện rõ trong trường hợp Phần Lan Là một nhànước phúc lợi, song Phần Lan là nước có truyền thống duy trì hệ thống bệnh viện tư từ nhiềuthập kỷ Sự tồn tại của hệ thống bệnh viện tư một mặt gây sức ép về nâng cao chất lượng y tếtại các cơ sở công, mặt khác là nguồn cung ứng thêm dịch vụ cho người sử dụng, tạo cho họquyền lựa chọn dịch vụ rộng rãi hơn Chính sách cạnh tranh giữa các bệnh viện tư (về chấtlượng dịch vụ, về mức phí và nhằm tăng thị phần) đã tác động tới hệ thống y tế công và đặtkhu vực này vào tình thế phải cải cách

Như vậy, trong việc thúc đẩy cạnh tranh, hoạt động của nhà nước không đơn thuần làđiều tiết, mà còn khuyến khích và tạo động lực thị trường Chính phủ tạo ra một sân chơi bìnhđẳng cho mọi đối tượng có khả năng cung cấp dịch vụ công để tạo ra sự cạnh tranh lành mạnhgiữa các nhà cung cấp dịch vụ, và người tiêu dùng các dịch vụ công được quyền tự do lựachọn nhà cung cấp dịch vụ Nhiều bằng chứng thực tế cho thấy khi các tổ chức cung ứng dịch

vụ công bước vào cuộc cạnh tranh thì mọi việc đều thay đổi Những tổ chức nào cung ứngdịch vụ chất lượng kém với giá cả cao thì dần bị xóa bỏ, trong khi những tổ chức cung ứngdịch vụ chất lượng cao với giá cả phải chăng thì ngày càng phát triển Chính sự cạnh tranh đãbuộc các tổ chức cung ứng dịch vụ phải luôn luôn tự đổi mới và điều đó mang lại lợi ích cho

cả người dân, nhà nước và nhà cung ứng dịch vụ

Một trong những chuyển biến quan trọng trong cung ứng dịch vụ công trong nhữngnăm gần đây là sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của các tổ chức xã hội dân sự, bao gồm các tổchức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các cánhân…Việc mở rộng sự tham gia của các lực lượng xã hội này cùng nhà nước vào cung ứngdịch vụ công đã tạo ra một môi trường cạnh

Trang 20

tranh lành mạnh, phá vỡ sự bất bình đẳng, phi thị trường do độc quyền gây ra trong lĩnhvực này, huy động được các nguồn lực cộng đồng và phát huy vai trò của các đối tác xã hộitrong quản lý xã hội Vai trò của các tác nhân này trong cung ứng các dịch vụ công cho xã hộithể hiện cụ thể ở các mặt sau đây:

- Là cánh tay nối dài của nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cá nhân, của cả cộngđồng xã hội để tăng thêm nguồn lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội về các dịch vụ công;

- Là một trong những chức năng cơ bản của tổ chức dân sự trong hoạt động vận độngquần chúng và gắn bó với lợi ích cơ bản của người dân, là cầu nối giữa nhà nước và nhân dântrong cung cấp dịch vụ công;

- Thực hiện vai trò đại diện và bảo vệ lợi ích của người hưởng thụ dịch vụ công, đảmbảo công bằng và đúng với chính sách của nhà nước;

- Tham gia bổ sung, hoàn thiện chính sách của nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ côngđáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và phù hợp với khả năng của nền kinh tế

Thực tế cho thấy ngày càng nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ công được mở rộng chonhiều nhóm lợi ích trong xã hội có khả năng cung ứng Đó là các hiệp hội nghề nghiệp, cácnhóm cộng đồng, các hợp tác xã, các hội từ thiện, các tổ chức của phụ nữ, thanh niên, và các

tổ chức phi chính phủ khác,… Các tổ chức này đã tham gia tích cực vào việc cung ứng dịch

vụ trực tiếp cho các cá nhân và cộng đồng, từ dịch vụ y tế, giáo dục cho tới những dịch vụ chovay tín dụng nhỏ, hoặc đào tạo hướng nghiệp Ở các nước phát triển và đang phát triển, nhiều

tổ chức xã hội hoạt động song song với những cơ quan cung ứng dịch vụ công của nhà nước

Ví dụ, một số nước đã giao cho các nhóm cộng đồng tự quản xây dựng và khai thác các côngtrình phúc lợi xã hội trong địa phận sinh sống của họ Ở một số nước khác, chính phủ lại ủyquyền cho các hiệp hội nghề nghiệp cấp giấy phép hành nghề, điều hành và kiểm soát các hộiviên Nhiều bằng chứng cho thấy các tổ chức như vậy thường có nhiều lợi thế khi thực hiệncung ứng dịch vụ công vì họ có cơ chế hoạt động rất linh hoạt và gần gũi hơn với người dân

Việc cho phép khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội tham gia cung ứng các dịch vụcông ích mang lại lợi ích đáng kể Với việc huy động các nguồn vốn xã hội cho sự phát triểnkết cấu hạ tầng, như hệ thống đường sá, giao thông vận tải, thông tin, vệ sinh môi trường…,hiệu quả cung ứng các dịch vụ công trong những lĩnh vực này đã tăng mạnh, đi đôi với việctiết kiệm một tỷ lệ lớn ngân sách nhà nước Đối với các dịch vụ đường phố như quét dọn, sửachữa, xây dựng, duy tu và bảo dưỡng, chi phí cũng giảm đi khi thực hiện phương thức ký hợpđồng với các thành phần

17

Trang 21

kinh tế khác Cũng vậy, sự tham gia của khu vực phi nhà nước vào cung ứng dịch vụcông tạo điều kiện cho nhiều người tham gia vào hoạt động này, phát huy được khả năng vànguồn lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy tính sáng tạo và chủ động của người dân, qua đó đadạng hóa và tăng cường nguồn cung ứng các dịch vụ công cho xã hội

Tóm lại, ngày nay phạm vi các dịch vụ công được chuyển giao cho khu vực tư nhân vàcác tổ chức xã hội ngày càng mở rộng Hầu hết các quốc gia áp dụng nguyên tắc lĩnh vực nàothị trường và xã hội có thể đảm nhiệm được thì nhà nước chuyển giao dần ở một mức độ nhấtđịnh trách nhiệm cung ứng dịch vụ công ở lĩnh vực đó Ở những lĩnh vực dịch vụ không thểchuyển giao được cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội, thì nhà nước phải giữ vai tròcung ứng nòng cốt và phải tiến hành cải cách ở trong chính khu vực nhà nước để cải thiện chấtlượng cung ứng các loại dịch vụ này Tuy nhiên, cần nhấn mạnh một lần nữa rằng, dù nhànước trực tiếp cung ứng dịch vụ hay chuyển giao cho các khu vực khác, thì với vai trò làngười đảm bảo công bằng xã hội, nhà nước vẫn có nghĩa vụ quan tâm đến việc đạt đượcnhững mục tiêu chính của hoạt động cung ứng dịch vụ công thông qua kiểm soát, điều tiết vàbảo hộ để thị trường và xã hội cung ứng các dịch vụ đó một cách thuận lợi

II.3 Cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công trong khu vực nhà nước

Cho dù khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội ngày càng tham gia nhiều hơn vào cungứng dịch vụ công, song khu vực nhà nước vẫn tất yếu là người cung ứng một số lớn dịch vụ.Chính vì vậy, trong đổi mới cung ứng dịch vụ công, việc cải thiện chất lượng cung ứng dịch

vụ ở ngay chính khu vực nhà nước là hết sức quan trọng Bên cạnh chức năng quản lý nhà nước, chức năng phục vụ của nhà nước nhằm cung cấp những dịch vụ cần thiết cho người dân

để họ thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của mình giờ đây cần được chú trọng hơn bao giờhết

Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công không phải là một vấn đề mới mẻ Ngay từgiữa những năm 80 của thế kỷ trước, Pháp đã đưa ra các chu trình chất lượng thử nghiệmtrong các cơ quan nhà nước Trước yêu cầu của người dân hiện đã trở thành “người tiêu dùngđòi hỏi cao”, vấn đề chất lượng trong cung ứng dịch vụ công của nhà nước ngày càng trở nêncấp bách Nguyên tắc chất lượng trong cung ứng dịch vụ công của các cơ quan nhà nước đãchính thức được đề cập tới trong Hiến chương dịch vụ công của Pháp ngày 18 tháng 3 năm

1992 và văn bản ngày 26/7/1996 về cải cách Nhà nước Pháp Hiến chương đưa ra một loạt cácbiện pháp nhằm đảm bảo cung ứng dịch vụ thiết yếu như trường học, bệnh viện, cảnh sát, bưuđiện cho những nơi xa xôi Điều quan trọng là Hiến chương đã yêu cầu các cơ quan xây dựngchỉ số hiệu suất và chú trọng sự hợp tác giữa cơ quan nhà nước cung cấp

Trang 22

dịch vụ và người sử dụng Theo đó mỗi cơ quan nhà nước phải “cố gắng làm cho ngườidân biết rõ mục tiêu của mình, điều chỉnh các chỉ số chất lượng theo nhu cầu của người sửdụng dịch vụ”

Các nhà nước cũng đang tiến hành nhiều cải cách khác nhau nhằm mục đích nâng caohiệu quả cung ứng dịch vụ công thông qua các đơn vị nhà nước Một số nước phát triển nhưAnh, Mỹ hiện đang thử nghiệm một số phương pháp để tăng cạnh tranh trong nội bộ khu vựcnhà nước nhằm cải thiện việc cung ứng các dịch vụ công không thể chuyển giao được cho khuvực phi nhà nước

Ngoài ra, việc phi tập trung hóa cung ứng dịch vụ công thông qua phân cấp, phânquyền, cũng là một biện pháp có hiệu quả để gây sức ép cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quảcung ứng dịch vụ công của khu vực nhà nước Lý do căn bản mang tính nội tại của phi tậptrung hóa cung ứng dịch vụ công là quyền quyết định sản xuất và cung ứng dịch vụ công phảiđược trả lại cho những đơn vị thấp nhất, có khả năng nắm bắt được tình hình một cách rõ ràngnhất Việc phi tập trung hóa tạo điều kiện cho các chính quyền địa phương linh hoạt hơn trongcung ứng các dịch vụ công phù hợp với hoàn cảnh của địa phương mình, đồng thời buộc họtrở nên có trách nhiệm hơn Việc phân cấp này làm tăng hiệu quả và hiệu lực cung ứng dịch

vụ công, qua đó người tiêu dùng sẽ được hưởng những dịch vụ chất lượng cao với giá cả hợp

Hộp 5: Phi tập trung hóa trách nhiệm: kinh nghiệm của Pháp, Anh, Tây Ban Nha và

Thụy điển

- Pháp: Theo các luật về phi tập trung hóa năm 1982, Nhà nước Pháp đã trao thẩm quyền cho các

khu vực và các ban, ngành trong nhiều lĩnh vực như phát triển đô thị, các biện pháp hỗ trợ kinh tế

và giao thông địa phương Các luật này cũng phân cấp cho chính quyền khu vực trách nhiệm về xây dựng và bảo dưỡng các trường phổ thông trung học (tương tự như trách nhiệm của các xã đối với các trường tiểu học vốn đã tồn tại hàng thế kỷ), trong khi vẫn giữ trách nhiệm về hầu hết các chính sách giáo dục khác ở cấp trung ương

- Tây Ban Nha: Tại đây, việc thành lập các cộng đồng tự quản đã dẫn đến việc chuyển giao đáng

kể các trách nhiệm, kể cả việc phi tập trung hóa hệ thống giáo dục, y tế cũng như các công trình công cộng, nông nghiệp, bảo vệ môi trường, phát triển vùng và trợ giúp xã hội

- Anh: việc phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm giữa chính phủ và chính quyền địa phương ở Anh

trong việc quản lý dịch vụ công khá rõ ràng, rành mạch, trong đó chính phủ tập trung đề ra chiến lược, chính sách, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ và phân bổ ngân sách, thực hiện kiểm toán, còn chính quyền địa phương thực hiện ký kết hợp đồng với các công ty tư nhân và giám sát, kiểm tra việc thực hiện

19

Trang 23

- Thuỵ Điển: Có sự phân cấp rõ những dịch vụ công mà từng cấp chính quyền phải đảm nhiệm,

trong đó đặc biệt chú ý các dịch vụ công về phúc lợi công cộng hoàn toàn miễn phí (như bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp xã hội,…)

Nguồn: Phục vụ và duy trì: cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh/ Ngân

hàng phát triển châu Á.- H CTQG, 2003; và các nguồn khác

Về cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công trong khu vực nhà nước, vấn đề kiểmsoát tài chính và quản lý đóng một vai trò quan trọng Trong nhiều trường hợp, do rất khó đolường những sản phẩm đầu ra của khu vực nhà nước, nên cần có chế độ kiểm tra tài chính vàđặt chế độ chịu trách nhiệm cá nhân, nhằm buộc cán bộ quản lý phải làm việc hết mình đểtránh tình trạng sử dụng không hiệu quả các nguồn lực công cộng và nhằm cải thiện việc cungứng dịch vụ Khảo sát nhiều nước cho thấy một phần đáng kể công quỹ quốc gia được phân bổcho các dịch vụ xã hội cơ bản đã không đến được các bệnh viện và trường học như dự kiến,nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa5 Với tình trạng như vậy, cho dù nhà nước códành một phần ngân sách rất lớn cho cung ứng dịch vụ công, thì hiệu quả cũng rất thấp Điều

đó dẫn đến sự méo mó trong bức tranh cung ứng dịch vụ công, vì nhà nước đã đầu tư rất nhiềuvào hoạt động này, song hậu quả là người dân không được hưởng ở mức xứng đáng nhữngphúc lợi đó Vì vậy, tăng cường việc kiểm soát tài chính và quản lý là giải pháp không thểthiếu nhằm cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công trong khu vực nhà nước

Một vấn đề quan trọng cần lưu ý trong việc cải cách nhằm nâng cao chất lượng dịch vụcông trong khu vực nhà nước chính là yếu tố con người Ở bất kỳ lĩnh vực nào, con ngườiluôn đóng vai trò then chốt quyết định sự thành, bại của cải cách, và trong lĩnh vực cung ứngdịch vụ công cũng vậy Chính vì thế, nhiều nước đã tập trung nhiều biện pháp để nâng caonăng lực chuyên môn của công chức thông qua việc cải tiến công tác cán bộ và khuyến khích

sự tham gia của công chức vào hoạt động quản lý, tăng cường uỷ quyền và trách nhiệm cánhân Phương thức tuyển dụng và đề bạt theo phẩm chất mà nhiều nước sử dụng đã làm cho

bộ máy viên chức có được lực lượng cán bộ, nhân viên chất lượng cao Bên cạnh việc nângcao năng lực chuyên môn, đối với đội ngũ viên chức trực tiếp thực hiện cung ứng dịch vụcông, cần đặc biệt chú ý nâng cao phẩm chất, đạo đức phục vụ khách hàng Kinh nghiệm củanhiều nước chỉ ra rằng một khi người viên chức có ý thức trong công việc, có thái độ tận tụyphục vụ khách hàng thì hiệu quả công việc sẽ tăng lên rất nhiều Có thể thấy rõ vấn đề này quatrường hợp Bang Ceara của Brazin trong hộp dưới đây:

5 Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo thường niên năm 1997, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Trang 24

Hộp 6: Xây dựng tinh thần tận tụy của nhân viên: chính quyền tốt tại Bang Ceara

của Braxin

Năm 1987, ngoài hoạt động hành chính kém cỏi, chính quyền bang Ceara ở Đông Bắc Braxin còn phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính gay go Tuy nhiên, chỉ trong vòng 4 năm, cuộc khủng hoảng tài chính đã được khắc phục, và chất lượng của các dịch vụ đã được cải thiện đáng

kể Diện được tiêm chủng văcxin phòng bệnh sởi và bệnh bại liệt đã tăng gấp ba, từ 25% lên tới 90% tổng số trẻ em Chương trình công chính của bang này đã tạo việc làm cho hơn một triệu nông dân không có việc làm trong thời kỳ hạn hán…

Sự thành công này phần lớn là do công lao của bộ máy viên chức Bằng việc khen thưởng cho những người làm việc tốt, công khai xét tuyển nhân viên mới, thi hành các chương trình định hướng và loan tin trên các phương tiện thông tin đại chúng về thành công của mình, chính quyền bang đã tạo nên một ý thức mạnh mẽ về sứ mạng trong các chương trình chủ chốt và những người thực hiện chương trình Những viên chức có động cơ tốt đã đảm đương nhiều phần việc hơn bình thường, và nhiều khi với thái độ tự nguyện Được trao quyền quyết định rộng hơn, các viên chức cung ứng được nhiều dịch vụ theo đúng yêu cầu riêng của các khách hàng Khác với ở những nơi khác, tuy cho quyền rộng hơn, nhưng cơ hội để làm điều tiêu cực không tăng vì đã có những áp lực đòi hỏi nhân viên phải chịu trách nhiệm Nhân viên muốn làm việc tốt hơn để xứng đáng với niềm tin mới của khách hàng đối với họ Và bản thân điều này là kết quả của việc sắp xếp công việc theo hướng phục vụ đúng các yêu cầu của khách hàng và chính quyền bang công khai tỏ ra tôn trọng họ…

Những cơ chế này đã tạo ra một vòng luân hồi mà trong đó nhân viên cảm thấy được quý trọng và thừa nhận, không nhất thiết là bởi cấp trên, mà bởi những khách hàng của họ và những cộng đồng

ở nơi họ làm việc Và điều này đã củng cố tinh thần tận tụy của họ đối với công việc

Nguồn: Ngân hàng Thế giới (1998), Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo thường

niên năm 1997, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

21

Trang 25

II.4 Tăng cường sự tham gia và giám sát của cộng đồng đối với việc hoạch định chính sách và đảm bảo chất lượng dịch vụ công

Sự tham gia của người dân vào quá trình hoạch định chính sách và đảm bảo chất lượngdịch vụ công sẽ giúp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ của nhà nước thông qua việc cải tiếnquản lý dịch vụ công và tăng cường sự minh bạch trong quyết định chính sách Quá trình thamgia này thể hiện qua nhiều cách khác nhau, có thể từ tham khảo ý kiến, trao đổi thông tin, chotới những hành động trực tiếp tham gia của công dân, chủ động đề xuất sáng kiến hoặc góp ývào chính sách Nhất là ở những nơi việc cung ứng dịch vụ công không hiệu quả thì người dân

có thể thông báo cho các cấp chính quyền về vấn đề này và thúc ép họ phải cải tiến Do đó,các cơ quan công quyền buộc phải có trách nhiệm hơn trong việc lắng nghe tiếng nói củangười dân và phản hồi kịp thời, đầy đủ trước các yêu cầu đó Cơ chế phản hồi này giúp chocác thông tin hai chiều luôn thông suốt và được chia sẻ Thông qua đó, người dân và các nhàcung cấp dịch vụ có cơ hội cùng đánh giá và trao đổi ý kiến nhằm nâng cao chất lượng dịch

vụ Kinh nghiệm các nước cho thấy rằng sự tương tác ngày càng tăng giữa người sử dụng vànhà cung ứng dịch vụ công đã đem lại những kết quả tích cực Một đánh giá gần đây củangười dân về hệ thống cung cấp nước ở Bacu, Adebaigian đã cho thấy không chỉ những vấn

đề nghiêm trọng về thất thoát nước và chất lượng nước có hại cho sức khỏe mà cả những chiphí cao do bộ máy cung cấp nước không đáng tin cậy của thành phố áp đặt cho những ngườitiêu dùng có thu nhập thấp Ngoài ra, những người tiêu dùng này cũng cho biết thêm là họ sẵnsàng trả nhiều hơn từ 2 đến 5 lần số tiền thực tế mà họ đang trả cho việc cung cấp nước sạch

và đáng tin cậy Những thông tin như vậy ở một mức độ nhất định đã buộc nhà cung cấp phảixem xét lại chất lượng dịch vụ của mình, điều có thể dẫn tới những thay đổi tích cực trongviệc cung cấp nước ở thành phố này Ở Singapore, Cục thông tin phản hồi của công chúng tậphợp một cách có hệ thống những bình luận của công dân về nhiều loại chính sách quốc gia,trong đó có cung ứng dịch vụ công, và mời những nhóm có quan tâm tới dự những cuộc họpbáo cáo với các bộ trưởng và quan chức cao cấp Điều này làm tăng tinh thần trách nhiệm của

cơ quan nhà nước cung ứng dịch vụ công thông qua việc đòi hỏi các cơ quan này phải công bố

và tuân thủ những định mức và tiêu chuẩn dịch vụ, cung cấp thông tin công cộng và trả lờikhiếu nại của người dân Ở các thành phố của Mỹ, chính quyền các thành phố đã thiết lập một

cơ chế đồng bộ, động viên công chúng tham gia vào toàn bộ quá trình quản lý đô thị Donhững người có lợi ích liên quan được tham gia một cách rộng rãi vào quá trình quyết địnhchính sách, nên quá trình thực thi chính sách được thực hiện một cách tương đối thuận lợi

Một lý do nữa khiến cho sự tham gia của cộng đồng vào việc hoạch định chính sách vàđảm bảo chất lượng dịch vụ công trở nên cần thiết; đó là thực tế cho

Trang 26

thấy cơ quan cung ứng dịch vụ công của nhà nước không thể dự kiến trước và đáp ứngđược tất cả các dịch vụ công mà người dân muốn có Việc xuất hiện những biện pháp thay thếcủa các tổ chức xã hội và khu vực tư nhân có thể giúp lấp đi những khoảng trống trong cungứng dịch vụ công Do vậy, các tổ chức xã hội có thể vừa là những cộng sự, đồng thời là nhữngđối thủ cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ công Và một khi được người dân ủng hộ, các tổchức này có thể gây áp lực với chính quyền để cải thiện việc cung ứng và nâng cao chất lượngcác dịch vụ công

Trong cung ứng dịch vụ công, các nhà nước đang tạo ra những cơ chế thuận lợi để mọingười dân đều có thể đóng góp, san sẻ gánh nặng tài chính với nhà nước, và qua đó cải thiệnđược chất lượng dịch vụ mà chính họ được hưởng Có thể thấy rõ xu hướng này qua hệ thốngbảo hiểm y tế xã hội dựa vào cộng đồng Đây là một hình thức lựa chọn để tăng độ bao phủcủa hệ thống bảo hiểm y tế, đặc biệt mang lại lợi ích cho người dân vùng nông thôn, và cácvùng sâu, vùng xa Xu hướng xây dựng hệ thống bảo hiểm y tế như vậy được nhiều nước chútrọng Thí dụ, Đài loan và Hàn quốc đã rất quan tâm đến việc xây dựng hệ thống bảo hiểm y tếtheo hướng phục vụ người dân ngày càng có hiệu quả dựa trên sự đóng góp tài chính từ phíangười dân cùng với sự hỗ trợ của nhà nước Chương trình bảo hiểm y tế quốc gia của ĐàiLoan, sau 3 năm thực hiện (1998), đã thu hút được 97% dân số tham gia Đến cuối năm 2003,con số này đã lên tới 99%6 Chương trình bảo hiểm y tế đã làm cho người dân hiểu rõ đượcquyền và nghĩa vụ hợp pháp của họ trong việc cùng nhà nước và những người dân khác chia

sẻ nghĩa vụ đóng góp và cùng hưởng những lợi ích từ Bảo hiểm y tế quốc gia Thực tế chothấy rằng Chương trình Bảo hiểm y tế quốc gia của Đài loan đã bảo vệ người dân khỏi nhữngrủi ro tài chính và có sự tiếp cận công bằng tới các dịch vụ y tế Bên cạnh đó, Chương trình đãtăng cường cung cấp các dịch vụ y tế ở vùng sâu vùng xa, đảm bảo lợi ích cho người dân sống

ở các vùng khó khăn Điều đó cho thấy rằng chủ trương tăng cường sự tham gia của người dânvào cung ứng dịch vụ công qua đó mang lại lợi ích cho cả hai phía người dân và nhà nước làhoàn toàn đúng đắn và cần được nhân rộng ra nhiều lĩnh vực cung ứng khác

6 “Bảo hiểm y tế quốc gia của Đài Loan”/ Hong-jen, Tài liệu trình bày tại Hội nghị quốc tế: Hướng tới

bảo hiểm y tế quốc gia bình đẳng, hiệu quả và chất lượng cao- Đài Loan, 2005

23

Trang 27

PHẦN II THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CễNG CỦA KHU VỰC NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG YấU CẦU ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DỊCH

VỤ CễNG Ở VIỆT NAM

I MỘT SỐ THÀNH TỰU TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CễNG CỦA NHÀ NƯỚC

TA

Ở nước ta, trước thời kỳ đổi mới, Nhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt n ớc nắm giữ hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtầu hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtết các hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtoạt động, từ hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtoạtμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt

động kinhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt tế đến dịchμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt vụ văn hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtoá xã hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtội, từ quản lý hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt nhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt chμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtínhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt đến giáo dục, y tế, ngân hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ng,μ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt μ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt

b u điện, giao thμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtông vận tải, du lịchμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt … Nói chung, Nhμ nước “bao sân” tất cả Nói chμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtung, Nhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt n ớc “bao sân” tất cảμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt Một số hoạtđộng kinh tế, xó hội được tiến hành dưới hỡnh thức tập thể, chịu sự chi phối của nhà nước Cũnhoạt động của tư nhõn chỉ tồn tại trong một số lĩnh vực, chủ yếu là buụn bỏn và dịch vụ nhỏ lẻ,khụng cú điều kiện phỏt triển Nhà nước đó đầu tư khụng nhỏ vào việc xõy dựng trường học,bệnh viện, mua trang thiết bị và tổ chức cung cấp miễn phớ những dịch vụ này, đồng thời cúnhững chớnh sỏch và biện phỏp trợ giỳp cho người nghốo được cung ứng dịch vụ cụng, trướchết là trong học tập và khỏm chữa bệnh Hệ thống giỏo dục và chăm súc sức khỏe ban đầu củaViệt Nam đó được cộng đồng quốc tế đỏnh giỏ cao Cỏc dịch vụ cụng khỏc như văn húa, thụngtin, chiếu sỏng cụng cộng, dịch vụ nhà ở, cung cấp điện, nước, thu gom rỏc thải,… đều do Nhànước trực tiếp tổ chức cung ứng cho xó hội Mọi người dõn đều cú cơ hội gần như nhau trongviệc hưởng thụ cỏc dịch vụ cụng do Nhà nước cung ứng B ớc v o thμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtời kỳ đổi mới, Nhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt μ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt μ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt

n ớc đã mở cửa một số lĩnhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt vực dịchμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt vụ sự nghiệp ( như giỏo dục, y tế, văn hoỏ, thể thao…)

và dịch vụ cụng ớch ( như vận tải cụng cộng, vệ sinh mụi trường…) cho sự tham gia của cácthμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt nhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt phμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtần kinhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt tế μ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt … Nói chung, Nhμ nước “bao sân” tất cả Tuy nhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtiên, do sự tham gia của khu vực tư nhõn và cỏc tổ chức xó hộitrong cung ứng cỏc loại dịch vụ cụng vẫn cũn ở giai đoạn bước đầu với những kết quả cũnkhiờm tốn, nờn Nhà nước ta vẫn đảm nhận việc cung ứng phần lớn cỏc dịch vụ cụng Phần nàytập trung giới thiệu và đỏnh giỏ những kết quả cung ứng dịch vụ cụng của Nhà nước trong một

số lĩnh vực tiờu biểu trong cung ứng dịch vụ sự nghiệp cụng, dịch vụ cụng ớch và hành chớnhcụng

I.1 Dịch vụ sự nghiệp cụng

Trong những năm qua, cựng với sự tham gia của nhiều chủ thể khỏc nhau trong cungứng dịch vụ cụng, Nhà nước ta luụn đặc biệt quan tõm đầu tư cho cỏc lĩnh vực sự nghiệp vớingõn sỏch chi tiờu được duy trỡ ở mức 30% tổng chi tiờu của Chớnh phủ Trong hoàn cảnhngõn sỏch nhà nước luụn phải chịu sức ộp từ nhiều

Trang 28

phớa, cú thể thấy rằng chớnh phủ đó thực sự quan tõm đến việc cung cấp cho người dõncỏc dịch vụ cụng thiết yếu như giỏo dục, y tế và an sinh xó hội Nhỡn chung, người dõn đóđược hưởng thụ những điều kiện giỏo dục, y tế và văn húa,… tốt hơn Điều đú được chứngminh qua bằng chứng chỉ số phỏt triển con người (HDI) của nước ta đó đạt được mức cao hơn

so với trỡnh độ phỏt triển kinh tế Chỉ số HDI bao gồm một số yếu tố cơ bản của cuộc sống conngười như tuổi thọ, trỡnh độ văn hoỏ và thu nhập thực tế theo đầu người Nếu như trong năm

2004, xếp hạng về GDP bỡnh quõn đầu người của Việt Nam chỉ ở mức 124, thỡ chỉ số HDI củaViệt Nam được xếp thứ 112 trong số gần 200 nước trờn thế giới7

Trong lĩnh vực giỏo dục, với sự đầu tư của Nhà nước và truyền thống hiếu học của dõntộc, chỳng ta đó hoàn thành việc xoỏ mự chữ và phổ cập giỏo dục tiểu học, đang thực hiện phổcập trung học cơ sở và phỏt triển mạnh cỏc trường dạy nghề, giỏo dục đại học và chuyờnnghiệp Số trẻ em trong độ tuổi từng cấp học được đi học đạt tỷ lệ cao Năm 2005 tỷ lệ này ởcấp tiểu học là 97%, trung học cơ sở là 80%, trung học phổ thụng là 45% Cả nước cú 17 triệuhọc sinh phổ thụng, trong đú 48% là học sinh nữ Cỏc trường phổ thụng hầu hết là cụng lập.Trường ngoài cụng lập cũn ớt, phần lớn ở bậc trung học phổ thụng và tập trung ở đụ thị Cỏctrường cụng lập khụng thu học phớ ở bậc tiểu học, cỏc bậc học cao hơn cú thu học phớ nhưngkinh phớ đầu tư và hoạt động vẫn dựa chủ yếu vào ngõn sỏch nhà nước Trong lĩnh vực đào tạo(dạy nghề, giỏo dục đại học, cao đẳng và chuyện nghiệp), số trường dõn lập ngày càng tăng,nhưng tỷ trọng chưa cao Năm 2004 cú 1,32 triệu sinh viờn đại học, cao đẳng, 465 nghỡn họcviờn trung học chuyờn nghiệp, trong đú 10,5% học ở cỏc trường ngoài cụng lập Số học sinhhọc nghề mới tuyển năm 2005 là 1,18 triệu người Sinh viờn, học sinh nghốo được nhà nướctrợ giỳp thụng qua chớnh sỏch học phớ và cho vay dài hạn; nhiều địa phương đó vận động nhõndõn lập quỹ khuyến học để giỳp cho học sinh nghốo và khuyến khớch học sinh giỏi Bờn cạnhviệc khụng ngừng tăng tỷ lệ chi ngõn sỏch cho giỏo dục, ( từ 8,6% năm 1985 tăng lờn 12,3%năm 2003) Nhà nước ta đó tớch cực vận động, thu hỳt vốn ODA, tài trợ của cỏc tổ chức quốc

tế và chớnh phủ cỏc nước dưới hỡnh thức viện trợ khụng hoàn lại và cho vay dài hạn với lóisuất ưu đói Đầu tư cho lĩnh vực giỏo dục nhằm thực hiện cỏc mục tiờu về phổ cập giỏo dục,bồi dưỡng giỏo viờn và cỏn bộ quản lý giỏo dục; phỏt triển dạy nghề và củng cố chất lượng đạihọc

Trong lĩnhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt vực y tế, hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtệ thμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtống y tế nhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt n ớc đã đ ợc xây dựng v phμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtát triển t ơngμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt μ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt

đối rộng khμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtắp Từ cấp Trung ơng, Bộ Y tế v các bệnhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt viên Trung ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt μ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtơng, đến các tỉnhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt,

hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtuyện, xã đều có một mạng l ới các tổ chμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtức về các dịchμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt vụ phμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtòng v chμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtữa ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt μ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt

25

Trang 29

bệnhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt Nhà nước đó cú quy hoạch tổng thể phỏt triển sự nghiệp chăm súc, bảo vệ vànõng cao sức khỏe người dõn Ngõn sỏch nhà nước dành cho ngành y tế (năm 2003 chiếm3,1% tổng chi ngõn sỏch) được phõn bổ theo hướng ưu tiờn cho y tế dự phũng, hoàn thiệnmạng lưới cơ sở, phỏt triển bảo hiểm y tế cho cỏc đối tượng chớnh sỏch, hiện đại hoỏ cỏc trungtõm y tế chuyờn sõu và phỏt triển y học cổ truyền, …Cỏc chớnh sỏch trợ giỳp của nhà nướccựng với cỏc hỡnh thức hỗ trợ của cộng đồng qua cỏc quỹ từ thiện, làm việc nghĩa thể hiện

sự quan tõm và cố gắng của cả nhà nước và xó hội trong việc chăm súc sức khỏe người nghốo,người già cụ đơn, người tàn tật,…Cỏc chương trỡnh mục tiờu y tế quốc gia đó được thực hiện

cú hiệu quả Cú thể thấy rừ thành cụng này thụng qua việc thực hiện tốt cỏc dự ỏn tiờm chủng

mở rộng, phũng chống dịch bệnh Nhờ vậy, nhiều dịch bệnh nguy hiểm đó được khống chế; sốngười mắc và chết do cỏc bệnh truyền nhiễm ngày càng giảm Tuổi thọ bỡnh quõn của ngườiViệt nam năm 2005 đạt 71,3 tuổi, thuộc loại cao ở Đụng Nam Á

Nhà nước cũng cú cỏc chớnh sỏch nhằm mở rộng và nõng cao chất lượng hệ thốngkhỏm chữa bệnh bằng y học cổ truyền từ trung ương đến cơ sở, tăng cường đầu tư nhằm đẩymạnh nghiờn cứu khoa học, đặc biệt là cụng nghệ sinh học, cụng nghệ thụng tin trong hoạtđộng y tế; đẩy mạnh sản xuất thuốc chữa bệnh và cải tiến quản lý thị trường dược phẩm Việcđổi mới chớnh sỏch viện phớ được thực hiện đi đụi với chớnh sỏch trợ cấp cho người nghốo,khỏm chữa bệnh miễn phớ cho trẻ em dưới 6 tuổi, phỏt triển bảo hiểm y tế Nguồn nhõn lựccho ngành y tế được quan tõm đầu tư phỏt triển, kể cả việc gửi cỏn bộ y tế ra nước ngoài đàotạo Đội ngũ cỏn bộ ngành y được hưởng cỏc chớnh sỏch đói ngộ, phụ cấp đặc thự (như phụcấp phũng chống dịch; phụ cấp chăm súc bệnh nhõn lao, tõm thần, phong, HIV/AIDS…)

Nhμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt n ớc cũng đóng vai trò nòng cốt trong việc cung ứng các dịchμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt vụ văn hμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtoá- thμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạtôngμ nước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạt ước nắm giữ hầu hết các hoạt động, từ hoạttin và đó đạt được nhiều thành tớch đỏng kể Bản sắc văn húa dõn tộc được giữ gỡn, đồng thờinhững tinh hoa văn húa của nhõn loại được tiếp thu Mức độ tiếp nhận, hưởng thụ văn húa củangười dõn qua cỏc kờnh khỏc nhau được cải thiện rừ rệt Đó cú nhiều cụng trỡnh văn húa đượccỏc ngành, cỏc cấp quan tõm đầu tư giữ gỡn, tụn tạo, cỏc di sản văn húa phi vật thể được bảotồn và phỏt huy Tại cỏc địa phương, cỏc cụng trỡnh, thiết chế văn húa được xõy dựng rộngkhắp, nhất là phong trào xõy dựng nhà văn húa thụn, bản Tớnh đến năm 2004, cả nước đó cú5.126 nhà văn húa, trung tõm văn húa Mạng lưới thư viện từ cấp tỉnh, huyện, cho tới xó, thụn

đó được xõy dựng mới và nõng cấp, tạo điều kiện cho người dõn tiếp cận nguồn tri thức quasỏch, bỏo, tài liệu Những thành tựu đú đó gúp phần nõng cao đời sống tinh thần cho ngườidõn

26

Trang 30

I.2 Dịch vụ công ích

Đối với việc cung ứng các dịch vụ công ích, cho đến nay, Nhà nước vẫn là người chịutrách nhiệm cung ứng hầu như toàn bộ các dịch vụ điện, nước, vệ sinh môi trường Đối vớidịch vụ điện và chiếu sáng công cộng, trong cả ba quá trình của việc cung ứng điện, các công

ty nhà nước nắm hầu hết khâu phát điện, truyền tải và phân phối điện Nhà nước đã đầu tưnhiều vào việc nâng cấp và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng Trong 5 năm (2001-2005) đãxây dựng mới và nâng cấp 69.600 Km đường ô tô; hầu hết các xã trong cả nước đã có đường ô

tô đến trung tâm xã, có điện tới các gia đình, có trường học, trạm xá y tế, 62% dân số nôngthôn được dùng nước sạch và 90% được xem truyền hình

Lĩnh vực cung ứng dịch vụ vận tải thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế, chủyếu là vận tải đường ô tô và đường sông, còn vận tải đường hàng không và vận tải biển vẫntập trung chủ yếu trong tay các công ty của nhà nước Trong tổng khối lượng luân chuyểnhàng hoá năm 2003 của cả nước, các công ty nhà nước chiếm 64% về hàng hoá và 37,3% vềhành khách Nhìn chung, nhu cầu đi lại và kinh doanh của người dân được đáp ứng tốt hơn;song chất lượng dịch vụ chưa cao Tình trạng tắc nghẽn giao thông ở các đô thị lớn chưa đượckhắc phục Tai nạn giao thông tiếp diễn nghiêm trọng

Việc cung ứng dịch vụ bưu chính viễn thông có bước phát triển mạnh Trước thời kỳđổi mới, dịch vụ viễn thông chủ yếu nhằm phục vụ cho các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước

và một số cơ sở sản xuất Đối với người dân, máy điện thoại khi đó còn là một thứ xa xỉ Đếnnăm 1990, cả nước mới có 114 nghìn máy điện thoại, với mật độ 0,17 máy/100 dân Cùng vớichính sách cải cách kinh tế và mở cửa, ngành bưu chính viễn thông trong một thời gian ngắn

đã thay đổi căn bản từ một hệ thống lạc hậu sang mạng kỹ thuật số hiện đại mở rộng cả chocác vùng nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo, đảm bảo thông tin nội địa và quốc tế thôngsuốt Tính đến cuối năm 2005, trong cả nước có 14 triệu máy điện thoại (17 máy/100 dân), 2,4triệu thuê bao Internet8 Mạng điện thoại di động phát triển nhanh với sự xuất hiện của một sốcông ty thay cho tình trạng độc quyền kinh doanh trước đây Việt Nam là nước có tốc độ pháttriển viễn thông đứng thứ hai trên thế giới mấy năm qua, góp phần tích cực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh- quốc phòng, phục vụ dân sinh và nâng cao dân trí

8 Các số liệu lấy trong báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tháng 10-2005 về kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội 5 năm 2006 -2010

27

Ngày đăng: 27/06/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Tỷ lệ các cơ sở giáo dục và - ĐỀ TÀI " ĐỔI MỚI CUNG ỨNG DICH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM PHẦN " ppt
Bảng 2. Tỷ lệ các cơ sở giáo dục và (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w