Các doanh nghiệp cùng một lúc phải chịu sự chi phối của cácquy luật thị trường như quy luật cung, cầu, quy luật cạnh tranh … đứng trước những thử tháchcủa nền kinh tế thị trường “Đẩy mạn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦUNgày nay thị trường là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp Mọi hoạt động của doanh nghiệpđều phải gắn liền với thị trường Các doanh nghiệp cùng một lúc phải chịu sự chi phối của cácquy luật thị trường như quy luật cung, cầu, quy luật cạnh tranh … đứng trước những thử tháchcủa nền kinh tế thị trường “Đẩy mạnh cung ứng hàng hóa dịch vụ tức là tồn tại và phát triển”
Trong đơn vị kd thương mại, tiêu thụ hàng hoá, mang hàng hóa đi cung ứng cho các đơn vịkhác thu lợi nhuận là khâu cuối cùng và là khâu quan trọng nhất trong quá trình luân chuyểnhàng hoá.Kết quả của quá trình tiêu thụ hàng hoá phản ánh toàn bộ công sức và nỗ lực của tậpthể cán bộ công nhân viên trong công ty.Trong tình hình kinh tế năng động như ngày nay,kết quảtiêu thụ hàng hoá không đơn thuần là việc thực hiện các giao dịch để bán được hàng mà đó còn
là kết quả của việc phân tích đúng đắn các nhân tố ảnh hưởng tới cung, cầu.Điều này đã nói lênđược vai trò có ý nghĩa vô cùng quan trọng của công tác quản trị và kế toán trong việc tổ chứcquản lý hoạt động tiêu cung ứng hàng hoá, dịch vụ
Đối với Việt Nam, việc phát triển Công nghiệp phần mềm cũng đang trở thành vấn đề vô cùngcấp thiết Chính phủ cũng có chủ trương xây dựng Công nghiệp phần mềm thành một ngành kinh
tế mũi nhọn, có tốc độ tăng trưởng cao, góp phần hiện đại hoá và phát triển bền vững các ngànhkinh tế - xã hội Phát triển Công nghiệp phần mềm là một trong những cách đi tắt, đón đầu đểthực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm anninh quốc gia
Thực hiện bài tập lớn này nhằm mục đích tìm hiểu sự ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng tớicung hàng hóa và dịch vụ của công ty máy tính công nghệ Hà Nội
Bài tập gồm 3 phần:
Phần 1:Khái quát chung
Phần 2: Thực trạng cung ứng hàng hóa,dịch vụ của công ty máy tính công nghệ Hà Nội
Phần 3: Kết luận và kiến nghị
Trang 3PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG
1.1.Kinh tế học vi mô
Kinh tế học vi mô nghiên cứu hoạt động của các đơn vị kinh tế riêng lẻ, chẳng hạn hoạt động sản của một doanh nghiệp hay hoạt động tiêu dùng của một cá nhân Thí dụ, một công ty cần tuyển bao nhiêu công nhân, sản xuất ra cái gì, và bán sản phẩm với giá bao nhiêu, v.v thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế vi mô Nói cách khác, kinh tế vi mô là ngành kinh tế học nghiên cứu cách thức sử dụng nguồn tài nguyên ở phạm vi cá nhân người tiêu dùng, từng xí nghiệp, từng công ty
Kinh tế vi mô là một môn khoa học kinh tế, một môn khoa học cơ bản cung cấp kiến thức lýluận và phương pháp kinh tế cho các môn quản lý doanh nghiệp trong ngành kinh tế quốc dân
Nó là khoa học về sự lựa chọn hoạt động kinh tế vi mô trong sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp
Kinh tế học vi mô nghiên cứu tính quy luật, xu thế vận động tất yếu của các hoạt động kinh
tế vi mô, những khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của sự điều tiết Do đó kinh tế vi mô
là sự lựa chọn để giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản của một doanh nghiệp, một tế bào kinh tế:sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Để giải quyết được những yêu cầu trênkinh tế vi mô sẽ nghiên cứu tập trung vào một số nội dung quan trọng nhất như vấn đề kinh tế cơbản: cung và cầu, cạnh tranh và độc quyền, cầu về hành hoá: cung và cầu về lao động, sản xuất
và chi phí, lợi nhuận và quyết định cung cấp; hạn chế của kinh tế thị trường và sự can thiệp củachính phủ; doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hoá
Kinh tế vi mô bao gồm những phần dưới đây:
+ Những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp; việc lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quyluật khan hiếm, lợi suất giảm dần; quy luật chi phí tương đối ngày càng tăng; hiệu quả kinh tế.+ Cung và cầu: Nghiên cứu nội dung của cung và cầu, sự thay đổi cung cầu, quan hệ cung cầuảnh hưởng quyết định đến giá cả thị trường và sự thay đổi giá cả trên thị trường làm thay đổiquan hệ cung cầu và lợi nhuận
+ Lý thuyết người tiêu dùng: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung của nhu cầu và tiêu dùng,các yếu tố ảnh hưởng đến đường cầu, hàm cầu và hàm tiêu dùng, tối đa hoá lợi ích và tiêu dùngtối ưu, lợi ích cận biên và sự co dãn của cầu
+ Thị trường các yếu tố sản xuất: Nghiên cứu cung và cầu về lao động, vốn, đất đai
+ Sản xuất chi phí và lợi nhuận: Nghiên cứu các vấn đề về nội dung sản xuất và chi phí, cácyếu tố sản xuất, hàm sản xuất và năng suất, chi phí cận biên, chi phí bình quân và tổng chi phí:lợi nhuận doanh nghiệp, quy luật lãi suất giảm dần, tối đa hoá lợi nhuận, quyết định sản xuất vàđầu tư, quyết định đóng cửa doanh nghiệp
+ Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền: Nghiên cứu vềthị trường cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền: quan hệ giữa cạnhtranh và độc quyền, quan hệ giữa sản lượng, giá cả và lợi nhuận
Trang 4+ Vai trò của chính phủ: Nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường, vai trò và sự can thiệpcủa chính phủ đối với hoạt động kinh tế vi mô và vai trò của doanh nghiệp nhà nước.
Một trong những mục tiêu nghiên cứu của kinh tế học vi mô là phân tích cơ chế thị trườngthiết lập ra giá cả tương đối cho các mặt hàng và dịch vụ và sự phân phối các nguồn tàinguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau Kinh tế vi mô phân tích thất bại của thịtrường khi thị trường không vận hành hiệu quả, cũng như miêu tả cần có trong lý thuyết choviệc cạnh tranh hoàn hảo Ngoài ra còn trang bị các công cụ nâng cao trong phân tích cânbằng tổng quát
Phương pháp nghiên cứu kinh tế học vi mô
Nghiên cứu những vấn đề kinh tế lý luận, phương pháp luận và phương pháp lựa chọnkinh tế tối ưu trong các hoạt động kinh tế vi mô Vì vậy cần nắm vững khái niệm, địnhnghĩa, nội dung, công thức tính toán, cơ sở hình thành các hoạt động hình thành kinh tế vi
mô, quan trọng nhất là phải rút ra được tính tất yếu và xu thế phát triển của nó
Cần gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận và thực hành trong quá trình họctập
Gắn chặt việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực tiễn sinh động phong phú,phức tạp của các hoạt động kinh tế vi mô của doanh nghiệp ở Việt Nam và ở các nước
Cần hết sức coi trọng việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm thực tiễn về các hoạtđộng kinh tế vi mô trong các doanh nghiệp tiên tiến của Việt Nam và của các nước trênthế giới Nhờ đó chúng ta mới có thể làm phong phú thêm, sâu sắc thêm những nhận thức
lý luận về môn khoa học kinh tế vi mô
Ngoài ra còn có những phương riêng được áp dụng các phương pháp riêng như:
Áp dụng phương pháp cân bằng nội bộ, bộ phận, xem xét từng đơn vị vi mô,không xét sự tác động đến các vấn đề khác; xem xét một yếu tố thay đổi, tác độngtrong các điều kiện các yếu tố khác không đổi
Trong kinh tế vi mô cần sử dụng mô hình hoá như công cụ toán học và phương trình viphân để lượng hoá các quan hệ kinh tế
Sự tồn tại và phát triển của xã hội luôn luôn gắn liền với hoạt động sản xuất và tiêu dùng của cácnhà sản xuất và người tiêu dùng Những chủ thể này tác động và hỗ trợ lẫn nhau để cùng tồn tại
và phát triển Những mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng được biểu hiện thông qua
sự vận hành của các loại thị trường: thị trường các yếu tố sản xuất và thị trường hàng hóa, dịch
vụ Hệ thống kinh tế bao gồm những bộ phận tác động lẫn nhau trong vòng chu chuyển kinh tế
Cụ thể, hệ thống kinh tế bao gồm những bộ phận sau: · Hộ gia đình: hộ gia đình là người tiêudùng đồng thời là người cung ứng các yếu tố sản xuất cho doanh nghiệp · Doanh nghiệp: doanhnghiệp là người sử dụng các yếu tố sản xuất (đầu vào) được cung ứng bởi các hộ gia đình và
Trang 5cũng là người sản xuất ra hàng hóa - dịch vụ · Thị trường các yếu tố sản xuất: thị trường các yếu
tố sản xuất là thị trường trong đó các yếu tố sản xuất như vốn, lao động, v.v được mua bán, traođổi · Thị trường hàng hóa, dịch vụ: thị trường hàng hóa, dịch vụ là thị trường mà trong đó hànghoá, dịch vụ được mua bán, trao đổi Hệ thống kinh tế được minh họa bởi hình 1.1
3
24
1
Vòng chu chuyển kinh tế của xã hội bắt đầu bằng việc cung ứng các yếu tố sản xuất của các hộ gia đình cho các doanh nghiệp (1) Hộ gia đình cung ứng vốn, lao động và các tư liệu sản xuất cho các doanh nghiệp Doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất đó phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh (2) của mình và trả công cho hộ gia đình dưới hình thức tiền lương, tiền thuê, tiền lãi và lợi nhuận Chúng ta lưu ý rằng bản thân những người chủ doanh nghiệp cũng là bộ phận của các hộ gia đình nên lợi nhuận của các chủ doanh nghiệp cũng là phần thu nhập của các
hộ gia đình Sự cung ứng và sử dụng các yếu tố sản xuất được diễn ra trên thị trường các yếu tố sản xuất trong đó hộ gia đình là người cung ứng (người bán) và doanh nghiệp là người mua các yếu tố sản xuất Nhánh thứ (3) của vòng chu chuyển mô tả sự cung ứng hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp sau khi nhận yếu tố sản xuất từ hộ gia đình sẽ tiến hành sản xuất để tạo ra của cải vật chất, đáp ứng cho nhu cầu của xã hội (hộ gia đình) Hộ gia đình mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp (4) và trả tiền dưới dạng chi tiêu của hộ gia đình Hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ được diễn ra trên thị trường hàng hóa, dịch vụ Cùng với thời gian, nhu cầu của xã hội đối với các loại hàng hóa, dịch vụ gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng, đã thúc đẩy sự phát triển của công nghệ sản xuất và các yếu tố sản xuất Công nghệ sản xuất tiến bộ
sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội và làm phát sinh những nhu cầu mới cao hơn Những sự tương tác trên thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
1.2 Cung và các yếu tố ảnh hưởng tới cung
1.2.1.Khái niệm cung và lượng cung
Cung của một loại hàng hóa nào đó chính là số lượng của loại hàng hóa đó mà người bán muốn bán ra thị trường trong một khoảng thời gian nhất định ứng với mỗi mức giá tại một địa điểm nhất định nào đó
Hộ gia đình
Doanh nghiệp
Yếu tố sản xuấtCung ứng hàng
hóa,dịch vụ
Trang 6Bảng 2.1 Cầu và cung đối với áo quần
Giá (1.000 đồng/ bộ) Cầu (1.000 bộ/ tuần) Cung (1.000 bộ/ tuần)
Cột thứ 3 trong bảng 2.1 mô tả lượng cung của quần áo trên thị trường tại mỗi mức giá Từ bảng
này ta có thể thấy rằng, người bán càng muốn bán nhiều hơn ở những mức giá cao hơn Tại mức
giá bằng không, sẽ không có ai sản xuất và bán loại hàng hóa này vì không ai sản xuất ra để chẳng thu lợi được gì cả Thậm chí, tại mức giá 40.000 đồng/bộ vẫn chưa có ai bán ra Tại mức giá này có thể chưa có nhà sản xuất nào có thể thu được lợi nhuận hay họ có thể bị lỗ nên lượng cung vẫn bằng không Khi giá là 80.000 đồng/bộ, có thể một số nhà sản xuất đã bắt đầu thu đượclợi nhuận nên sẵn sàng bán ra thị trường một lượng là 40.000 bộ/tuần Tại những mức giá cao hơn, khả năng thu được lợi nhuận từ việc cung ứng quần áo sẽ cao hơn nên các nhà sản xuất sẽ muốn bán ra nhiều hơn Bên cạnh đó, giá cao cũng có thể là động lực để các nhà sản xuất khác gia nhập vào ngành làm số lượng doanh nghiệp trong ngành tăng lên, dẫn đến lượng cung cũng
tăng lên Vậy, giá càng cao lượng cung sẽ càng lớn và ngược lại giá càng thấp lượng cung sẽ càng giảm
1.2.2 Hàm cung và đường cung
Rõ ràng, số lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá của hànghóa dịch vụ đó Lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ nào đó cũng phụ thuộc vào một số cácnhân tố khác Giả sử ta xem các nhân tố này là không đổi thì lượng cung cũng là một hàm số củagiá, nhưng khác với cầu, lượng cung đồng biến với giá Ta có thể thiết lập được hàm cung nhưsau:
QS= f ( P) (2.3)
Q S được gọi là hàm cung Giống như đối với trường hợp cầu, các nhà kinh tế học thườngdùng hàm số tuyến tính để biểu diễn hàm cung nên hàm cung thường có dạng:
Trang 7QS (1000 bộ/ tuần)
B A
160 120
120 80
(2.4)
Trong đó: Q S là lượng cung; P là giá; a, b, và là các hằng số dương
Đường cung cũng có thể được vẽ là một đường thẳng nhưng có độ dốc đi lên Như vậy,
độ dốc của đường biểu diễn cung và cầu ngược chiều nhau
Các điểm nằm trên đường cung biểu diễn lượng cung của người bán ở các mức giá nhất
định Thí dụ, điểm A nằm trên đường cung (S) cho biết lượng cung của quần áo ở mức giá
120.000 đồng/bộ là 80.000 bộ/tuần Khi giá tăng từ 120.000 đồng/bộ lên 160.000 đồng/bộ, lượng
cung tăng lên thành 120.000 bộ/tuần Điều này được biểu diễn bởi điểm B trên đường cung Đó
là sự di chuyển dọc theo đường cung Sự di chuyển này xảy ra khi giá của quần áo thay đổi
Khi xem xét hình dạng của đường cung, ta cần lưu ý các điểm sau:
- Đường cung thường có hướng dốc lên từ trái sang phải; và
- Đường cung không nhất thiết là một đường thẳng
Hình 2.3 Đường cung
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cung
Như chúng ta đã biết, cung của một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá cả
của chính hàng hóa, dịch vụ đó Ngoài ra, cung còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác Sự thay đổi của các yếu tố này sẽ dẫn đến sự dịch chuyển của đường cung Bây giờ, chúng ta sẽ xem xét
chi tiết hơn về các yếu tố này
Trình độ công nghệ được sử dụng
Trang 8Đường cung được vẽ trong hình 2.3 ứng với một trình độ công nghệ nhất định Khi công
nghệ sản xuất được cải tiến, khả năng của nhà sản xuất được mở rộng hơn Nhà sản xuất sử dụng
ít đầu vào hơn nhưng có thể sản xuất ra sản lượng nhiều hơn trước Do vậy, nhà sản xuất sẽ cungứng nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn tại mỗi mức giá Khi đó, đường cung dịch chuyển sang phíaphải Sự dịch chuyển của đường cung sang phải cho thấy rằng tại mỗi mức giá cho trước, lượngcung cao hơn so với ban đầu
Thí dụ, sự cải tiến trong công nghệ dệt vải, giúp các nhà sản xuất chuyển từ công nghệkhung cửi sang dệt kim, đã sản xuất ra một khối lượng vải khổng lồ trong xã hội hiện nay Mỗimột sự cải tiến công nghệ mở rộng khả năng cung ứng của các nhà sản xuất Công nghệ càng tiến
bộ giúp các doanh nghiệp sử dụng yếu tố đầu vào ít hơn nhưng lại có thể tạo ra nhiều sản phẩmhơn
Hình 2.4 Sự cải tiến trong cng nghệ dệt vải
Đường cung dịch chuyển sang phải cho thấy các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa ranhiều hơn ở mỗi mức giá nhất định
Giá cả các yếu tố đầu vào
Để tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp cần mua các yếu tố đầu vào trên thị trường các yếu
tố sản xuất như lao động, xăng dầu, điện, nước, v.v Giá cả của các yếu tố đầu vào quyết định chi
phí sản xuất của các doanh nghiệp Giá cả của các yếu tố đầu vào giảm xuống (thí dụ như tiền
lương công nhân, giá nguyên liệu, v.v trở nên rẻ hơn, chẳng hạn) sẽ khiến cho các nhà sản xuất
có thể sản xuất nhiều sản phẩm tại mỗi mức giá nhất định Khi đó, đường cung sẽ dịch chuyển
Trang 9sang phải Giá cả các yếu tố đầu vào cao hơn sẽ làm chi phí sản xuất gia tăng Khi đó, các nhàsản xuất sẽ cảm thấy kém hấp dẫn hơn khi sản xuất vì có thể lợi nhuận sẽ thấp hơn và do vậy sẽcắt giảm sản lượng Chẳng hạn, khi giá bột mì tăng lên, các nhà sản xuất bánh mì sẽ cung ít bánh
mì hơn ở mỗi mức giá Sự tác động của việc tăng lên của giá cả các yếu tố đầu vào đối với sựdịch chuyển của đường cầu được minh họa trong hình 2.5
Hình 2.5 Sự dịch chuyển của đường cung
Giá xăng dầu tăng làm cho chi phí sản xuất tăng Đường cung dịch chuyển sang trái: cácdoanh nghiệp cung ít đi ở mỗi mức giá
Giá cả của mặt hàng đó trong tương lai (dự báo)
Tương tự như người tiêu dùng, các nhà sản xuất cũng dựa vào sự dự báo giá trong tương
lai để ra các quyết định về cung ứng hàng hóa Thông thường, các nhà sản xuất sẽ cung ứng nhiều hơn nếu dự báo giá hàng hóa trong tương lai sẽ giảm xuống và ngược lại sẽ cung ít đi nếu giá tăng, giả sử các yếu tố khác không đổi Khi giá trong tương lai tăng lên, các doanh nghiệp có
lẽ sẽ dự trữ lại hàng hóa và trì hoãn việc bán trong hiện tại để có thể kiếm được lợi nhuận caotrong tương lai khi giá tăng
Chính sách thuế và các quy định của chính phủ
Sông Cửu Long Chính sách thuế của chính phủ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đếncung của các nhà sản xuất Khi chính phủ tăng thuế đối với một ngành sản xuất nào đó, cácdoanh nghiệp trong ngành sẽ bị gánh nặng thêm chi phí trong sản xuất và ngành này sẽ trở nênkém hấp dẫn Do đó, các doanh nghiệp sẽ cung ứng ít hơn và một số doanh nghiệp có thể rờikhỏi ngành
Ngoài thuế, các quy định, chính sách khác của chính phủ cũng có ảnh hưởng lớn đếncung Chính sách chống ô nhiễm để bảo vệ môi trường sẽ làm giá tăng chi phí của một số ngành
công nghiệp như sản xuất xe gắn máy, xe ô tô, v.v và làm giảm lợi nhuận của các ngành này.
Những chính sách như vậy có thể làm giảm sản lượng của ngành sản xuất xe gắn máy, xe ô tô,
v.v Ngược lại, chính sách hỗ trợ ngành mía đường trong thời gian qua ở nước ta, chẳng hạn, đã
làm tăng cung của ngành này
Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khách quan khác
Trang 10Việc sản xuất của các doanh nghiệp có thể gắn liền với các điều kiện tự nhiên như đất,
nước, thời tiết, khí hậu, v.v Sự thay đổi của các điều kiện này có thể tác động đến lượng cung
của một số loại hàng hóa nào đó trên thị trường Thí dụ, điều kiện tự nhiên có thể là một yếu tốkìm hãm hay thúc đẩy việc sản xuất của các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp Đối tượngcủa sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi Đó là những cơ thể sống nên rất dễ bị tácđộng bởi điều kiện tự nhiên Các nghiên cứu về sản xuất lúa của nông dân nước ta cho thấy năngsuất lúa đạt được một phần do điều kiện tự nhiên quyết định Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ tạo
ra năng suất cao và ngược lại sẽ làm giảm năng suất Một nền sản xuất nông nghiệp càng lạc hậuthì càng dễ bị tự nhiên chi phối và ngược lại
Các yếu tố khách quan cũng có thể làm thay đổi mức cung của các doanh nghiệp Mộtthống kê vào năm 2000 cho thấy sau khi khánh thành cầu Mỹ Thuận, lượng rau quả cung ứng ởchợ Cầu Muối (thành phố Hồ Chí Minh) tăng lên Ngược lại, thiên tai (như lũ lụt chẳng hạn) cóthể làm đình trệ một số ngành sản xuất ở Đồng Bằng và làm giảm cung các mặt hàng như lúa
gạo, cây ăn trái, thịt, v.v…của
Sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến cung sẽ làm dịch chuyển đường cung Người bán sẽ thay đổi lượng cung ở mỗi mức giá khi các yếu tố này thay đổi
Các yếu tố xác định cung và hàm cung:
o Công nghệ (Te):
Công nghệ là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao sản xuất, giảm chi phí laođộng trong quá trình chế tạo sản phẩm Sự cải tiến công nghệ làm cho đường cungdịch chuyển về phía phải, nghĩa là làm tăng khả năng cung lên
o Giá của các yếu tố sản xuất đầu vào (Pi):
Giá của các yếu tố sản xuất có ảnh hưởng đến khả năng cung sản phẩm Nếu giácủa các yếu tố sản xuất giảm sẽ dẫn đến giá thành sản xuất giảm và cơ hội kiếm lợinhuận sẽ cao lên, do đó các nhà sản xuất có xu hướng sản xuất nhiều lên
o Chính sách thuế (t):
Khi thuế tăng thì cung giảm
Khi thuế giảm thì cung tăng
o Số lượng người sản xuất (N):
Số lượng người càng nhiều thì lượng cung càng lớn
o Các kỳ vọng (E):
Trang 11Mọi mong đợi về sự thay đổi giá của hàng hóa, giá của các yếu tố sản xuất, chínhsách thuế… đều có ảnh hưởng đến cung hàng hóa và dịch vụ Nếu sự mong đợi dựđoán có thuận lợi cho sản xuất thì cung sẽ được mở rộng và ngược lại
è Tóm lại:
Từ các yếu tố trên ta xác định được hàm cung theo phương trình sau:
Q S x,t = f(P x , P i , T e , t , N , E)
Trong đó :
QS
x.t : Lượng cung đối với hàng hoá x trong thời gian t
Px : Giá hàng hoá x trong thời gian t
Pi : Giá của các yếu tố đầu vào
Sự dịch chuyển đường cung:
Sự thay đổi của cung là sự dịch chuyển toàn bộ đường cung Sự thay đổi lượng cung
là sự vận động dọc theo đường cung
Hình sau đây mô tả sự khác biệt đó:
Sự thay đổI của cung và lượng cung
Trang 12Q
P1 P*
Cân bằng cung cầu
Dựa trên việc phân tích cả cung và cầu ta thấy rằng cùng một thời điểm nhất định taxác định được giao điểm của đường cung và đường cầu Tại đó lượng cung bằnglượng cầu (QD = QS) nghĩa là người bán muốn bán một lượng sản phẩm là QS vàngười mua muốn mua một lượng sản phẩm là QD thì ta gọi đó là điểm cân bằng củathị trường
Khi P* < P1 Þ QS > QD Þ Dư thừa sản lượng
Khi P* > P1 Þ QS < QD Þ Thiếu hụt sản lượng
buộc người bán ra không được đòi hỏi giá cao hơn
hụt thất thường về các hàng hóa quan trọng nhằm tránh sự tăng giá quá mức.Mức giá này thường thấp hơn mức giá cân bằng
è Bảo vệ lợi ích nười tiêu dùng
è Bảo vệ lợi ích người sản xuất
Sự thừa và thiếu trên thị trường
Trang 13PHẦN 2: THỰC TRẠNG CUNG ỨNG HÀNG HÓA,DỊCH VỤ CỦA
CÔNG TY MÁY TÍNH CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
2.1 Giới thiệu chung về công ty
Công ty Máy Tính Công nghệ Hà Nội
Tên giao dịch Việt Nam là: Công ty Máy Tính Công nghệ Hà Nội
Tên giao dịch Quốc tế là: Hanoi Tech Co.,Ltd
Địa chỉ: 14 LýNamĐế, Hoàn Kiếm, Hà Nội
từ khi thành lập đến nay Công ty đã có những thành tích rất đáng khích lệ trong thị trườngmáy tính ở Việt Nam vàđã xây dựng được những mối quan hệ chặt chẽ với các khách hàng,các nhà sản xuất và các bạn hàng trên thị trường trong và ngoài nước Kế thừa tất cả nhữngthành quả trên và với nhu cầu cần đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đã là những điều kiện để
ra đời Công ty TNHH Máy tính HaNoi Tech Chính thức đổi tên thành Công ty HaNoi TechCo.,Ltd từ tháng 10 năm 1999 với số vốn pháp định tăng lên 1,5 tỷ VNĐ Với một quá trình
ra đời và phát triển lâu đời, kế thừa những kinh nghiệm trong quá trình hoạt động và với mộtđội ngũ nhân viên có trình độ, năng lực Công ty đã tự khẳng định mình và dần trở thành mộtđơn vị kinh doanh có hiệu quả trong việc cung cấp các giải pháp mạng, các hệ thống đào tạo
đa phương tiện các thiết bị mạng và các thiết bị máy tính trên thị trường Việt Nam
2.1.2Chức năng và nhiệm vụ của công ty:
a Chức năng:
Trang 14Công ty HaNoi Tech là doanh nghiệp của tư nhân, hoạt động theo luật doanh nghiệp của Nhànước, thực hiện theo các quy định của pháp luật, điều lệ tổ chức của nhà nước Việt Nam
Chức năng kinh doanh chủ yếu của Công ty làcung cấp các giải pháp mạng, các hệ thống
đa phương tiện và các sản phẩm mạng cũng như thiết bị máy tính, thiết bị phục vụ văn phòng.Ngoài ra Công ty còn thực hiện lắp đặt và bảo trì, duy tu máy, thiết bị văn phòng theo yêu cầucủa khách hàng tại Hà Nội và một số Tỉnh, Thành phố như: Hải Phòng, NamĐịnh
b Nhiệm vụ kinh doanh của công ty:
Nhiệm vụ kinh doanh của Công ty làcung cấp các giải pháp mạng, các hệ thống đa phương tiện
và các sản phẩm mạng cũng như thiết bị máy tính, thiết bị phục vụ văn phòng; thực hiện lắp đặt
và bảo trì, duy tu máy, thiết bị văn phòng theo yêu cầu của khách hàng theo kế hoạch và quyđịnh của Công ty và tuân thủ theo các qui chế theo luật định , đáp ứng nhu cầu của khách hàngtại Hà Nội và theo nhu cầu thị trường tại các tỉnh lân cận Vì vậy, Công ty luôn cố gắng vận dụnghết khả năng của mình để mở rộng kinh doanh, mở rộng thị trường tiêu thụ Từđầu tư sản xuất,cung ứng đến tiêu thụ sản phẩm, liên doanh liên kết với doanh nghiệp trong và ngoài nước,nghiên cứu áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại tiên tiến, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý cónăng lực, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao Với những sản phẩm chủ lực mũi nhọn, cùng với
cơ sở sản xuất, kinh doanh, đại lý khang trang, Công ty HaNoi Techđã chiếm một vị thế khávững trên thị trường Hà Nội, đảm bảo cuộc sống cho hơn 50 cán bộ công nhân viên làm việctrong Công ty
2.1.3 Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của Công tyTNHHHaNoi Tech
Bộ máy quản lý của Công ty được chỉđạo thống nhất, hình thành theo cơ cấu trực tuyến.Sơđồcơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty TNHHHaNoiTech được thể hiện như sau:
Sơđồ1:
Trang 15_ Giám đốc: là người đứng đầu Công ty chịu trách nhiệm toàn diện vàđiều hành toàn bộ hoạtđộng của Công ty, là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ của toàn Công ty trước nhà nước
_ Phòng tài chính kế toán: Ghi chép phản ánh toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanhtrong đơn vị, giám đốc tình hình tài chính của công ty cũng như việc sử dụng có hiệu quả tiềnvốn, lao động, vật tư, giám sát việc chấp hành chếđộ hạch toán, các chỉ tiêu kinh tế tài chính theo
Giám đốc
P GĐốc
P.TCKT
Chi nhánh tai HP Chi nhánh tai NĐ