1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Môi trường thế giới docx

60 357 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông qua việc đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm phát thải cacbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử

Trang 1

MÔI TRƯỜNG

THẾ GIỚI

TP.HCM ngày tháng năm

Trang 2

MÔI TRƯỜNG THẾ GIỚI

1 LỊCH SỬ NGÀY MÔI TRƯỜNG THẾ GIỚI 05 THÁNG 6

Đại Hội đồng Liên hợp quốc sáng lập Ngày Môi trường thế giới vào năm 1972, đánh dấu ngày khai mạc Hội nghị Stockholm về Môi trường và Con người (5/6/1972) Đây cũng là ngày Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) ra đời

Hàng năm, vào Ngày Môi trường thế giới 5/6, Đại Hội đồng Liên hợp quốc chọn một thành phố làm nơi tổ chức lễ kỷ niệm chính thức với mục đích tập trung sự chú ý của toàn thế giới vào tầm quan trọng của môi trường, khuyến khích sự quan tâm chính trị và hành động bảo vệ môi trường Chính phủ và thành phố nước chủ nhà sẽ hợp tác với UNEP để tổ chức trọng thể các hoạt động quốc tế về bảo vệ môi trường Chủ đề, khẩu hiệu và logo của Ngày Môi trường thế giới sẽ được chuyển tải thông qua các tài liệu tuyên truyền cũng như các hoạt động hưởng ứng sự kiện trên toàn cầu

Các hoạt động tổ chức Ngày Môi trường thế giới rất đa dạng, phong phú Ngày Môi trường thế giới chính là “sự kiện của người dân” tham gia các hoạt động như tuần hành, diễu hành bằng xe đạp; tổ chức các buổi hoà nhạc xanh, các cuộc thi viết, vẽ, tìm hiểu về môi trường; phát động chiến dịch trồng cây xanh, các chiến dịch khuyến khích tái chế chất thải và làm sạch môi trường; tổ chức các cuộc hội thảo, diễn đàn về chủ đề

gìn giữ sự trong lành của môi trường vì lợi ích của các thế hệ mai sau

Ngày Môi trường thế giới còn là cơ hội để ký kết hay phê chuẩn các công ước quốc tế về lĩnh vực môi trường Các công chức địa phương, vùng và chính phủ, các nguyên thủ quốc gia và các bộ trưởng môi trường sẽ đưa ra các công bố và cam kết chăm sóc trái đất của chúng ta

Việt Nam tham gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới từ năm 1982 Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức trọng thể ngày lễ này ở tất cả các tỉnh thành trên phạm vi cả nước

Chủ đề Ngày Môi trường thế giới 5/6/2012 là “Kinh tế Xanh: Có vai trò của Bạn” (Green Economy: Does it include you?) Chủ đề này nhấn mạnh rằng, để xây

dựng nền Kinh tế Xanh thì chúng ta cần suy nghĩ lại về cách phát triển kinh tế nếu muốn tạo ra một tương lai tươi sáng

Nhưng quan trọng hơn, chủ đề này nhấn mạnh một thực tế là chính “bạn” là một yếu tố quan trọng góp phần cho sự thành công của nền Kinh tế Xanh, bạn là người tham gia vào quá trình đánh giá các bước thực hiện của chính phủ, các khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng trong khu vực của bạn, tức là bao gồm

“chính bạn”

Trang 3

2 NGÀY MÔI TRƯỜNG THẾ GIỚI NĂM 2012 VỚI CHỦ ĐỀ KINH TẾ XANH

Chủ đề Ngày Môi trường thế giới 5/6/2012 là “Kinh tế Xanh: Có vai trò của Bạn” (Green Economy: Does it include you?) Chủ đề này nhấn mạnh rằng, để xây

dựng nền Kinh tế Xanh thì chúng ta cần suy nghĩ lại về cách phát triển kinh tế nếu muốn tạo ra một tương lai tươi sáng

Nhưng quan trọng hơn, chủ đề này nhấn mạnh một thực tế là chính “bạn” là một yếu tố quan trọng góp phần cho sự thành công của nền Kinh tế Xanh, bạn là người tham gia vào quá trình đánh giá các bước thực hiện của chính phủ, các khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng trong khu vực của bạn, tức là bao gồm

“chính bạn”

Kinh tế Xanh được UNEP định nghĩa là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các rủi ro về môi trường và khủng hoảng sinh thái Một nền Kinh tế Xanh được đặc trưng bởi sự tăng trưởng bền vững của các hợp phần kinh tế có khả năng duy trì và gia tăng nguồn vốn tự nhiên của trái đất Các hợp phần này bao gồm năng lượng tái tạo, giao thông ít phát thải cacbon, công nghệ sạch, hệ thống quản lý chất thải tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, nông-lâm-ngư nghiệp bền vững Nguồn lực đầu tư cho Kinh tế Xanh được thu hút, hỗ trợ bởi chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia cũng như sự phát triển các chính sách

và hạ tầng thị trường quốc tế

Hiểu một cách đơn giản, Kinh tế Xanh là nền kinh tế ít phát thải cacbon, tiết kiệm tài nguyên và tạo ra công bằng xã hội Kinh tế Xanh không thay thế phát triển bền vững mà là chiến lược kinh tế để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững Các quốc gia phát triển trên thế giới như Mỹ, Đức, Hàn Quốc đã đầu tư hàng trăm tỷ USD cho chính sách Kinh tế Xanh, coi đó là sự đầu tư tốt nhất đối với phát triển bền vững của quốc gia, vừa thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định, vừa góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và tạo việc làm Đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, Kinh tế Xanh tuy còn khá mới mẻ song bước đầu đã có sự

Trang 4

chuyển hướng đầu tư vào các công nghệ sản xuất sạch hơn, một trong các tiêu chí của nền Kinh tế Xanh

Tại sao lại chọn chủ đề Kinh tế Xanh

Năm 2012 là một năm đặc biệt kề từ sau Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất (gọi tắt là Hội nghị Rio) năm 1992, các nhà lãnh đạo thế giới sẽ một lần nữa gặp nhau tại Rio de Janeiro đề thảo luận về tương lại của sự phát triển bền vững Hội nghị Rio+20

sẽ bao gồm hai nội dung chính: Một nền Kinh tế Xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo và khuôn khổ thể chế cho phát triển bền vững

Chủ đề Ngày Môi trường thế giới năm nay cũng là một hoạt động hưởng ứng Năm Quốc tế về Năng lượng bền vững cho tất cả chúng ta 2012 do Liên hợp quốc lựa chọn

Ngày Môi trường thế giới năm 2012 hướng tới chủ đề chung là Kinh tế Xanh, tuy nhiên cũng không hạn chế các bạn tự tổ chức các hoạt động hưởng ứng cũng như kỷ niệm các thành tựu về môi trường Sau tất cả, mọi hành động tích cực vì môi trường sẽ

có tác động và một phần sẽ sáng tạo ra một số cách để liên kết hoạt động của bạn với tất cả mọi người, và từ đố sẽ có rất nhiều cách

Nước chủ Nhà Ngày Môi trường thế giới năm 2012

Các sự kiện quốc tế kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới năm 2012 sẽ được tổ chức tại Brazil và Brazil cũng là quốc gia đăng cai kỷ niệm kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới năm 1992, bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janeiro Hội nghị thượng đỉnh năm 1992 đã tập trung số lượng lớn nhất từ trước tới nay các nhà lãnh đạo toàn cầu để đưa ra những quyết định quan trọng về trương lai của Trái đất và về các vấn đề phát triển

Kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới 2012 không chỉ là hoạt động mang tính biểu tượng mà nước chủ nhà cũng hy vọng sự kiện này sẽ là hoạt động lớn nhất và được sự hưởng ứng rộng rãi nhất từ trước đến nay

Với hơn 200 triệu dân, Brazil là quốc gia đông dân thứ 5 trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ và Indonesia Quốc gia này đang phải đối mặt với nạn phá rừng ở lưu vực Amazon, ô nhiễm không khí đô thị, suy thoái các vùng đất ngập nước và không đảm bảo an ninh lương thực

Chủ đề Ngày Môi trường thế giới năm 2012 là một câu hỏi đặt ra cho tất cả mọi người về đánh giá nền kinh tế xanh phù hợp trong cuộc sống hàng ngày của họ và đánh giá việc phát triển thông qua một nền Kinh tế Xanh phục vụ cho nhu cầu cá nhân Ngày Môi trường thế giới năm nay sẽ giúp nâng cao nhận thức về những tác động nghiêm trọng của của các hoạt động sản xuất kinh doanh như cách chúng ta đang làm Thông qua sự tham gia của các chính phủ trong các hành động và sẽ có tác dụng lan tỏa trên phạm vi toàn cầu sẽ đóng góp một tầm quan trọng của một nền Kinh tế Xanh, nỗ lực tập thể này sẽ giúp bảo tồn thiên nhiên, trong khi vẫn đạt được sự tăng trưởng, và khuyến khích phát triển bền vững

Trang 5

3 NĂM 2012: NĂM QUỐC TẾ VỀ NĂNG LƯỢNG BỀN VỮNG CHO TẤT

CẢ CHÚNG TA

Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố năm 2012 là Năm Quốc tế về Năng lượng bền vững cho tất cả chúng ta, trong đó ghi nhận “việc tiếp cận với các dịch vụ năng lượng hiện đại với giá cả phải chăng ở các nước đang phát triển là điều cần thiết cho việc đạt được các mục tiêu phát triển toàn cầu, trong đó có các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và Phát triển bền vững Những mục tiêu này sẽ giúp xóa bỏ đói nghèo và cải thiện điều kiện và chất lượng cuộc sống của phần lớn dân số thế giới”

Nghị quyết số 65/151 của Đại Hội đồng

Liên hợp quốc yêu cầu Tổng thư ký Ban Ki

Moon tổ chức và phối hợp tổ chức các hoạt

động trong năm 2012 nhằm “nâng cao nhận

thức về tầm quan trọng của việc giải quyết các

vấn đề năng lượng”, bao gồm việc tiếp cận, duy

trì nguồn năng lượng với giá cả hợp lý và nâng

cao hiệu quả sử dụng năng lượng ở các cấp địa

phương, quốc gia, khu vực và quốc tế

Để đáp lại, Tổng thư ký Liên hợp quốc đã

đề xuất sáng kiến toàn cầu “Năng lượng bền

vững cho tất cả chúng ta - Subtainable Energy

for All”, được trình bày tại Đại Hội đồng vào

tháng 9 năm 2011 Sáng kiến này vận động các

chính phủ, khu vực tư nhân và các tổ chức xã

hội dân sự trên toàn cầu cùng hành động vì môi

trường Tổng thư ký đã thiết lập 3 mục tiêu liên

kết, bao gồm tiếp cận phổ cập với các dịch vụ năng lượng hiện đại, cải thiện khả năng

sử dụng năng lượng hiệu quả và mở rộng sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo

Năm Quốc tế về Năng lượng bền vững cho tất cả chúng ta sẽ cung cấp một nền tảng quan trọng để nâng cao nhận thức của mọi người về thách thức trong vấn đề năng lượng

Những mốc thời gian quan trọng của năm 2012

Ngày 16 - 18/1/2012

Khởi động “Năm Quốc tế về Năng lượng bền vững cho tất cả chúng ta” (gọi tắt

là Năm Quốc tế Năng lượng bền vững) trên toàn cầu tại Hội nghị cấp cao “Năng lượng tương lai thế giới” tại Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất

Ngày 1/2/2012

Trang 6

Khởi động Năm Quốc tế Năng lượng bền vững khu vực Châu Á tại New Delhi,

Lễ bế mạc Năm quốc tế về Năng lượng bền vững cho tất cả chúng ta

4 HỘI NGHỊ RIO+20: KINH TẾ XANH VÀ KHUÔN KHỔ THỂ CHẾ

CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Hội nghị thượng đỉnh Rio +20

Hội nghị Liên hợp quốc về Phát triển bền vững (gọi tắt là Rio+20) sẽ diễn ra từ 20 - 22 tháng 6 năm 2012 tại Rio de Janeiro, Brazil Hội nghị đánh dấu 20 năm diễn ra sự kiện Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (1992) Rio+20 sẽ là Hội nghị ở cấp độ cao nhất, với sự có mặt của người người đứng đầu các Chính phủ và các tổ chức liên quan

Mục tiêu của Hội nghị là đảm bảo cho các cam kết chính trị về phát triển bền vững đã

đề ra, đánh giá những tiến bộ và hạn chế trong việc triển khai các nội dung của các Hội nghị thượng đỉnh trước về phát triển bền vững trước đây, đặc biệt là Rio 1992, đồng thời xác định

và tìm cách giải quyết cho những thách thức mới nổi trong thời gian gần đây

Hai nội dung chính của Hội nghị là: Kinh tế Xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và

xóa đói giảm nghèo và khuôn khổ thể chế cho sự phát triển bền vững

Tại sao Rio+20 quan trọng?

Thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ công, khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng lương thực, giá dầu biến động, suy giảm đa dạng sinh học nghiêm trọng và

sự gia tăng các hình thái thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu gây ra Sự nhân rộng và tính

Trang 7

liên đới của những cuộc khủng hoảng đã và đang đặt ra một câu hỏi lớn: với tốc độ gia tăng dân số như hiện nay, liệu con người có thể chung sống một cách hòa bình và bền vững trên hành tinh này? Tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề đòi hỏi sự quan tâm của các quốc gia

và mọi người dân trên toàn thế giới

Do đó, Rio+20 là cơ hội để các vấn đề này được đưa ra thảo luận và giải quyết, trên tinh

thần đồng thuận của các cấp lãnh đạo cao nhất

Bạn có thể làm gì?

Nhiều người nghĩ Rio+20 chỉ dành cho các nhà lãnh đạo và do đó cho rằng họ nằm ngoài sự kiện này Trái ngược với quan điểm trên, Rio+20 liên quan mật thiết đến bạn và tương lai của bạn và do vậy, không gì có thể ngăn cản bạn tham gia vào quá trình ra quyết định này Bạn có thể không được mời tham dự Rio+20, nhưng bạn hoàn toàn có thể tác động đến những nhà lãnh đạo, những người đại diện cho bạn tham gia Hội nghị này

Hãy trở thành tác nhân thay đổi cộng đồng! Hãy lên tiếng bằng cách hành động cho môi trường! Hãy ảnh thể hiện sự ảnh hưởng đến các nhà lãnh đạo bằng cách tham gia vào các hoạt

động kỷ niệm Ngày Môi trường thế giới 05 tháng 6 với chủ đề “Kinh tế Xanh: Có vai trò của Bạn” và tận dụng lợi thế của sức mạnh tập thể, hoặc bắt đầu sự kiện của riêng mình và

mời những người khác cùng tham gia

5 NHỮNG CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN KINH TẾ XANH

5.1 Kinh tế Xanh là gì?

Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Kinh tế Xanh là nền kinh

tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái Nói một cách đơn giản, nền Kinh tế Xanh có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội

Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông qua việc đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm phát thải cacbon, giảm thiểu

ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái Như vậy khác với trước đây, trong

“nền kinh tế nâu”, đầu tư công cần phải có sự điều chỉnh cơ bản thông qua những chính sách mới được cải thiện của các quốc gia, ưu tiên cho duy trì và phát triển nguồn vốn tự nhiên, nhất là những nguồn tài sản thuộc sở hữu chung mang lại lợi ích cho mọi người Sự đầu tư đó cũng cần chú ý tới nhóm người nghèo, bởi sinh kế và an sinh của

họ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu

Kinh tế Xanh phải là nền kinh tế con người là trung tâm trong đó các chính sách tạo ra các nguồn lực mới về tăng trưởng kinh tế bền vững và bình đẳng Thúc đẩy nền Kinh tế Xanh và cải tổ quản lý môi trường là hai nhân tố căn bản đảm bảo tiến trình phát triển bền vững của mỗi nước nói riêng và trên phạm vi toàn cầu nói chung

5.2 Kinh tế Xanh được đo lường như thế nào?

Một loạt các chỉ số có thể giúp đo lường các quá trình chuyển đổi hướng tới một nền Kinh tế Xanh UNEP phối hợp với các đối tác như OECD và WB để phát triển

Trang 8

một bộ các chỉ tiêu mà từ đó các chính phủ có thể lựa chọn các chỉ tiêu phù hợp tùy thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia, chẳng hạn như cấu trúc của nền kinh tế hay nguồn vốn tự nhiên Các chỉ số đang được phát triển này có thể được tạm chia thành

ba nhóm sau đây:

1) Các chỉ số kinh tế: chỉ số về tỉ lệ đầu tư, tỉ lệ sản lượng và việc làm trong các lĩnh vực đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, chẳng hạn như GDP xanh 2) Các chỉ số môi trường: chỉ số sử dụng hiệu quả tài nguyên, về ô nhiễm ở mức độ ngành hoặc toàn nền kinh tế (ví dụ như hệ số sử dụng năng lượng/GDP, hoặc hệ số sử dụng nước/GDP)

3) Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã hội: ví dụ như các chỉ số tổng hợp về kinh tế vĩ mô, bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi trường, hoặc những chỉ số đem lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi, ngoài định nghĩa hẹp của GDP bình quân đầu người

5.3 Tại sao Kinh tế Xanh lại đóng vai trò quan trọng trong Phát triển bền vững?

“Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng hay làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế

hệ tương lai” Từ cuối những năm 80, thuật ngữ này đã gây được sự chú ý từ dư luận

quốc tế sau khi xuất hiện trong bản báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, một báo cáo mang tính bước ngoặt của Ủy ban Brundtland; và tiếp tục gây được tiếng vang tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất năm 1992 (Rio 1992), được coi như là một nguyên tắc quyết định về phát triển bền vững Phát triển bền vững đòi hỏi sự tiến bộ và tăng cường sức mạnh của cả ba yếu tố có tính chất phụ thuộc và tương hỗ: Kinh tế - Xã hội

- Môi trường

Chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh có thể là một động lực quan trọng trong nỗ lực này Thay vì bị coi như là nơi hấp thụ chất thải tạo ra bởi các hoạt động kinh tế một cách thụ động, thì trong nền Kinh tế Xanh môi trường được xem là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, cải thiện chuỗi giá trị, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài Nói cách khác, nhân tố môi trường thực sự đóng vai trò như là chất xúc tác cho tăng trưởng và đổi mới trong nền Kinh tế Xanh

Trong nền Kinh tế Xanh, nhân tố môi trường có khả năng tạo ra tăng trưởng kinh

tế và phúc lợi xã hội Ngoài ra, khi mà sinh kế của một bộ phận người dân có mức sống dưới mức nghèo khổ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, hơn nữa họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu, việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh cũng góp phấn cải thiện sự công bằng xã hội, và có thể được xem như là một hướng đi tốt để phát triển bền vững Cách thức để áp dụng

mô hình Kinh tế Xanh đối với một quốc gia phát triển hoặc đang phát triển có thể rất khác nhau; điều đó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chắng hạn như đặc điểm địa lý, tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực con người - xã hội và giai đoạn phát triển kinh tế Tuy nhiên, những nguyên tắc quan trọng bao gồm đảm bảo phúc lợi cao nhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội và hạn chế tối đa những rủi ro cho môi trường và hệ sinh thái thì vẫn luôn luôn không thay đổi

Trang 9

5.4 Kinh tế Xanh có thể giúp xóa đói giảm nghèo như thế nào?

Hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vẫn được sử dụng như là cách thức phổ biến nhất để đánh giá một nền kinh tế Tuy nhiên, sự tăng trưởng đó thường được tạo

ra thông qua việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên là tài sản

“chung” như tài nguyên nước, rừng, không khí là nguồn cung cấp cần thiết cho sự sống Để có tăng trưởng (theo định nghĩa này), chúng ta phải trả giá rất đắt trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội, đặc biệt là một bộ phận những người mà sinh kế của họ phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn lực môi trường Suy giảm đa dạng sinh học và suy thoái các hệ sinh thái đang ảnh hưởng rất lớn đến các ngành nông nghiệp, chăn nuôi, đánh bắt cá, lâm nghiệp - sinh kế của đa số dân nghèo trên thế giới phụ thuộc hầu hết vào các ngành này

Một điều quan trọng nữa là với mục đích tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản và cải thiện cơ sở hạ tầng Hướng tới nền Kinh tế Xanh được coi như là một trong những phương thức nhằm xóa đói giảm nghèo và cải thiện tổng thể chất lượng cuộc sống Chẳng hạn như cung cấp các nguồn năng lượng có khả năng hỗ trợ cho 1,4 tỷ người hiện đang thiếu điện và cho hơn 700 triệu người khác hiện đang không được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng hiện đại Công nghệ năng lượng tái tạo, như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các chính sách hỗ trợ năng lượng hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể cho việc cải thiện đời sống và sức khỏe cho một bộ phận người dân có thu nhập thấp, đặc biệt là cho những người hiện đang không có khả năng tiếp cận với năng lượng

Một điều khác mà chúng ta cần cân nhắc là việc ngừng hoặc chuyển hướng các khoản trợ cấp cho việc hủy hoại môi trường Trên thực tế, khoảng 700 tỷ USD được chi ra mỗi năm bởi các chính phủ trên khắp thế giới để trợ cấp cho việc sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch; khoản chi này lớn gấp năm lần tổng số tiền dành cho hỗ trợ phát triển Phần lớn nguồn trợ cấp được phân bổ đến chính phủ các nước đang phát triển, trong nỗ lực làm dịu cú sốc tăng giá nhiên liệu đối với người nghèo Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trợ cấp nhiên liệu hóa thạch là không hiệu quả đối với người nghèo, thường họ được hưởng lợi không tương xứng so với các nhóm có thu nhập cao hơn Gỡ bỏ các khoản trợ cấp gây hại môi trường hoặc thay thế bằng các loại hỗ trợ hướng đến các mục tiêu cụ thể hơn, chẳng hạn như hỗ trợ bằng hình thức chuyển tiền mặt, là cách tốt để góp phần thực hiện mục tiêu xã hội, đồng thời nới lỏng các hạn chế

về mặt tài chính và cải thiện môi trường

5.5 Kinh tế Xanh và hai quan niệm về sản xuất và tiêu dùng bền vững có liên quan đến nhau như thế nào?

Kinh tế Xanh cùng với sản xuất và tiêu dùng bền vững có thể được ví như hai mặt của một đồng xu: cả hai đều cùng hướng tới mục tiêu chung là đẩy nhanh quá trình tiến tới phát triển bền vững, áp dụng lên các chính sách công, các quy định, các hoạt động kinh doanh và hành vi xã hội trên cả hai phương diện vi mô và vĩ mô Sản xuất và tiêu dùng bền vững tập trung chủ yếu vào việc tăng hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên trong quá trình sản xuất và tiêu thụ Thêm vào đó, các hoạt động của Kinh

tế Xanh xem xét các xu hướng kinh tế vĩ mô và các công cụ điều tiết mà chính phủ có thể sử dụng, thông qua các chính sách kinh tế và các loại hình chính sách khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh hóa nền kinh tế

Trang 10

Trên thực tế, để đạt được mục tiêu trên, cần có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa một bên là nền Kinh tế Xanh và bên kia là sản xuất và tiêu dùng bền vững Sự hỗ trợ đó được thể hiện qua các hình thức can thiệp mang tính vĩ mô và vi mô, hay các yêu cầu thay đổi trong chính sách và quy định về đầu tư và hoạt động kinh doanh, cũng như thay đổi hành vi trong xã hội

Cả hai yếu tố trên đều đóng vai trò quan trọng trong chương trình nghị sự quốc

tế 10 năm Chương trình khung về sản xuất và tiêu dùng bền vững (10 YFP) là một trong những chủ đề chính của Chương trình nghị sự Ủy ban về Phát triển bền vững (CSD), được tổ chức như một thành quả của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Bền vững (Johanesburg, 2002) Xây dựng nền Kinh tế Xanh trong bối cảnh phát

triển bền vững và xóa đói giảm nghèo là một trong hai chủ đề chính của Hội nghị Liên hợp quốc về Phát triển Bền vững (Rio +20) diễn ra vào tháng 6 năm 2012 tại Rio de

Janeiro

5.6 Kinh tế Xanh có thể tạo ra việc làm như thế nào?

Nền Kinh tế Xanh có khả năng tạo ra việc làm trong một loạt các lĩnh vực mới nổi và nhiều tiềm năng, chẳng hạn như nông nghiệp hữu cơ, năng lượng tái tạo, giao thông công cộng, cải tạo các khu công nghiệp, tái chế

Một công việc tốt được hiểu như là công việc có năng suất lao động cao, cùng với hiệu quả về cải thiện môi trường sinh thái và ổn định lượng khí thải ra ở mức thấp,

sẽ góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy tăng trưởng và giúp bảo vệ môi trường - khí hậu

Đã có rất nhiều những việc làm xanh như vậy được tạo ra, đặc biệt là trong ngành năng

lượng tái tạo

Tuy nhiên, để đảm bảo một quá trình chuyển đổi nhịp nhàng sang nền Kinh tế Xanh, cần thiết phải có nỗ lực phối hợp trong việc tạo ra việc làm Các chính sách về

xã hội sẽ cần phải được phát triển cùng với các chính sách về môi trường và kinh tế

Để đảm bảo một quá trình chuyển đổi nhịp nhàng, nhà nước cần tập trung vào các vấn

đề quan trọng và cấp thiết, như đầu tư vào những kỹ năng mới, không thể thiếu cho một nền kinh tế toàn cầu, các-bon thấp; hay nghiên cứu các chính sách cần thiết để điều chỉnh việc làm trong các lĩnh vực chủ chốt như năng lượng và giao thông vận tải

5.7 Kinh tế Xanh bảo vệ sự đa dạng sinh học như thế nào?

Suy giảm đa dạng sinh học làm giảm phúc lợi của một bộ phận dân số thế giới, trong khi một bộ phận dân số khác gặp phải những vấn đề trầm trọng hơn vì đói nghèo Nếu tình trạng này tiếp tục, nó có thể gây ảnh hưởng đến sự hoạt động của các

hệ sinh thái điều hoà khí hậu trong dài hạn và có thể dẫn đến những biến đổi không thể lường trước và có thể không đảo ngược trong hệ thống trái đất và những thay đổi trong các dịch vụ hệ sinh thái Hơn nữa, hệ sinh thái là nguồn cung chủ yếu các nguyên liệu

phục vụ cho phát triển kinh tế Bởi những lý do này mà việc gìn giữ và bảo vệ các hệ sinh thái là trọng tâm của Chương trình nghị sự Kinh tế Xanh Ngoài ra, đầu tư xanh

cũng nhằm giảm những hệ quả tiêu cực do các yếu tố bên ngoài gây ra bởi việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên

Ví dụ, đầu tư vào bảo vệ rừng không những duy trì một loạt các ngành và sinh kế của con người mà còn bảo tồn 80% các loài trên cạn Bằng cách thúc đẩy đầu tư vào

lâm nghiệp xanh, Chương trình nghị sự Kinh tế Xanh sẽ góp phần ổn định đời sống

kinh tế của hơn 1 tỷ người hiện đang sinh sống bằng các sản phẩm từ gỗ, giấy và chất

xơ, với tổng thu nhập chỉ chiếm 1% GDP toàn cầu

Trang 11

5.8 Kinh tế Xanh có thể đem lại điều gì cho các nước đang phát triển?

Chính sách Kinh tế Xanh có thể giúp các nước đang phát triển đạt được các lợi ích kinh tế và xã hội về nhiều mặt, chẳng hạn như thông qua việc triển khai các công nghệ năng lượng sạch và cải thiện tiếp cận với các dịch vụ năng lượng; nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thông qua đầu tư và áo dụng sản xuất sạch hơn; đảm bảo an ninh lương thực thông qua việc sử dụng nhiều phương pháp nông nghiệp bền vững và tiếp cận với các thị trường mới nổi nhờ các hàng hóa và dịch vụ “xanh” của họ Những tiến bộ trong khai thác hiệu quả tài nguyên và đa dạng hóa các nguồn năng lượng sẽ góp phần giảm chi phí nhập khẩu và đảm bảo an ninh năng lượng cho các quốc gia, tránh những biến động của giá cả thị trường; đồng thời hạn chế các ảnh hưởng môi trường và chi phí liên quan đến sức khỏe từ những hoạt động sản xuất Tất nhiên, mỗi quốc gia phải tự đánh giá các nguồn cung cấp vốn của mình và xem xét khả năng để có thể tối ưu hóa cơ hội cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững

Trong bản báo áo cáo gần đây của UNEP có tựa đề: "Những câu chuyện thành công của các nước đang phát triển", nhờ có sự hỗ trợ từ các chính sách và các khoản đầu tư xanh, hàng loạt các sáng kiến đã đem lại những lợi ích tích cực cho các nước đang phát triển; và nếu được mở rộng và tích hợp vào chiến lược toàn diện, có thể tạo

ra một con đường phát triển bền vững, mà ở đó sự phát triển - việc làm và người nghèo đều được quan tâm và coi trọng

5.9 Liệu Kinh tế Xanh có dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ hay không?

Nhiều người cho rằng việc chuyển đổi sang một nền Kinh tế Xanh có thể dẫn đến bảo hộ thương mại và gia tăng các điều kiện về viện trợ phát triển Nhằm khuyến khích việc áp dụng các giải pháp bền vững, nhiều biện pháp thương mại đã được sử dụng như các hạn ngạch tiêu chuẩn, trợ giá, đầu tư công… thường bị cho là có khả

năng dẫn đến bảo hộ xanh Có ý kiến cho rằng, các tiêu chuẩn về môi trường – mặc dù

đem lại hiệu quả trong việc kích thích thị trường hàng hóa và dịch vụ bền vững – có thể bị coi như một rào cản cho các nhà xuất khẩu đến từ các nước đang phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa – những đối tượng thường thiếu các nguồn lực cần thiết để đáp ứng các tiêu chuẩn

Vì vậy, cần xem xét, cân nhắc để tìm ra giải pháp hợp lý, vừa đảm bảo khả năng tiếp cận thị trường, vừa bảo vệ sức khỏe và môi trường Ở cấp độ quốc tế, một trong những cách thức nhằm giảm nhẹ nguy cơ này là đảm bảo sự tham gia của các nước đang phát triển trong các cuộc đàm phán - thiết lập tiêu chuẩn và quy trình có liên quan Ở cấp độ quốc gia, cần xem xét các tác động của việc xây dựng các chính sách xanh đến hoạt động thương mại với các nước khác, đặc biệt là với các nước có thu nhập thấp

5.10 Chính phủ có thể làm gì để hỗ trợ cho việc chuyển đổi sang Kinh tế Xanh?

Để kích thích đầu tư xanh và hỗ trợ cho việc chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh, chính phủ có thể xem xét đẩy mạnh việc áp dụng một số chính sách, từ các công cụ điều tiết kinh tế, các quan hệ đối tác công - tư đến các sáng kiến tự nguyện Sự phù hợp và tính hiệu quả của việc áp dụng một chính sách lên một quốc gia thường phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn lực hiện có và năng lực của quốc gia đó

Chính phủ có thể áp dụng thông qua các chính sách tài khóa và tài chính công Ví

dụ, đầu tư công cho nghiên cứu và phát triển là một giải pháp hiệu quả nhằm khuyến

Trang 12

khích sự đổi mới cần thiết sang một nền Kinh tế Xanh Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, việc tiếp cận với nguồn vốn còn nhiều hạn chế, thì đầu tư công cho Kinh tế Xanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng Thông qua các nỗ lực về đầu tư công bền vững, chính phủ cũng có thể kích cầu cho thị trường các sản phẩm và dịch vụ xanh

Ngoài ra, chính phủ cần điều chỉnh các tác động ngoại lai tiêu cực, bằng cách đảm bảo rằng giá cả phản ánh chi phí thực tế của hàng hoá và dịch vụ, bao gồm cả chi phí môi trường – điều mà thị trường thường không nắm bắt được; sử dụng công cụ thuế – chẳng hạn như thuế về ô nhiễm – cũng là những can thiệp về chính sách quan trọng cần được chính phủ quan tâm nhiều hơn

Một khuôn khổ pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động Kinh tế Xanh

và xử lý nghiêm các hình thức sản xuất và tiêu dùng gây hại cũng rất cần thiết Nâng cao năng lực của chính phủ và các bên liên quan, cũng như kêu gọi sự hỗ trợ từ phía cộng đồng có thể đóng góp vào quá trình chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh

6 KINH TẾ XANH - CHÌA KHÓA CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Kinh tế Xanh - mục tiêu hướng tới

Phát triển Kinh tế Xanh đang trở thành mối quan tâm của cộng đồng quốc tế và lựa chọn chính sách phát triển của nhiều quốc gia hướng tới mục tiêu chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế theo hướng bền vững , đi đôi với duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Gần đây nhất , tại Hội nghị Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) bế mạc ngày 13/11 tại đảo Hawai (Mỹ), các nhà lãnh đa ̣o APEC đã xác định cần phải giải quyết các thách thức môi trường và kinh tế của khu vực bằng cách hướng đến nền kinh tế xanh , có hàm lượng carbon thấp , nâng cao an ninh năng lươ ̣ng và ta ̣o nguồn mới cho tăng trưởng kinh tế và viê ̣c là m

Trung Quốc đã dành khoảng 40% gói kích thích kinh tế vào các ngành Kinh tế Xanh, tập trung vào năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng, cam kết tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo lên 16% vào năm 2020 Một số quốc gia Đông Nam Á có quy

Trang 13

mô nền kinh tế như Việt Nam cũng đã đưa Kinh tế Xanh vào các kế hoạch và chương trình phát triển quốc gia trung và dài hạn Philippines đã ban hành Chương trình phát triển xanh, tranh thủ hỗ trợ của ADB để phát triển các dự án tái chế và phát thải CO2 thấp Malaysia đã đưa ra chính sách phát triển công nghệ xanh với bốn trụ cột chính là năng lượng, môi trường, kinh tế và xã hội

Chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế từ “nâu” sang “xanh”

Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong phát triển kinh tế nhưng Việt Nam cũng đã bộc lộ rõ những yếu tố chưa thực sự bền vững Theo bà Nguyễn Lệ Thủy, Phó Chánh văn phòng phát triển bền vững - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện Việt Nam có chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp, chưa hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu Tăng trưởng kinh tế mới chỉ dựa vào khai thác tài nguyên với cường độ cao, trong khi trình độ công nghiệp còn lạc hậu, lại chậm đổi mới nên mức độ tiêu tốn năng lượng, nước, nguyên vật liệu lớn Bên cạnh đó tình trạng suy kiệt nguồn nước đang diễn ra, nhiều loại khoáng sản đang dần dần bị cạn kiệt và chưa được quản lý tốt Đa dạng sinh học bị suy giảm và môi trường tiếp tục bị xuống cấp trong khi các thảm họa do thiên tai và những diễn biến về thay đổi khí hậu toàn cầu đang tăng nhanh Biến đổi khí hậu đang trở thành một thách thức lớn đối với Việt Nam trong thế kỷ 21 Chính vì vậy phát triển Kinh tế Xanh được xem là một chiến lược cần thiết để đạt được phát triển bền vững Phát triển Kinh tế Xanh không những giảm phát thải khí nhà kính, giảm nhẹ biến đổi khí hậu mà còn nâng cao chất lượng của tăng trưởng, thay đổi cơ cấu sản xuất

và tiêu dùng theo hướng bền vững và cải thiện đời sống con người

Tại Việt Nam, tăng trưởng xanh đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Tại Diễn đàn “Kinh tế Xanh trong bối cảnh phát triển bền vững ở Việt Nam”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra Khung Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam giai đoạn 2011 –

2020 và Tầm nhìn đến 2050 Trong Khung chiến lược, ba mục tiêu chính được nhấn mạnh như giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất và xanh hóa lối sống và tiêu dùng được đặc biệt quan tâm Trong đó, một số chỉ tiêu cụ thể như giảm chất lượng phát khí thải nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10% đến 20% cho giai đoạn

2011 – 2020 và từ 35% - 45% cho giai đoạn 2020 – 2030; giá trị sản phẩm các ngành công nghệ cao trong GDP đạt khoảng 42% - 45% trong giai đoạn 2010 – 2020 và 80% trong giai đoạn 2020 – 2030 Ngoài ra, 100% các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất

Để thực hiện các mục tiêu trên, ông Phạm Hoàng Mai, Vụ trưởng Vụ Khoa học Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho rằng cần thực hiện đồng bộ và hiệu quả một số giải pháp Đó là xây dựng và hoàn thiện thể chế; tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước; tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân; nghiên cứu ban hành và sử dụng các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật và xây dựng hệ thống thông tin tư liệu về tăng trưởng xanh Việc huy động nguồn vốn và cơ

Trang 14

chế tài chính; chủ động tiếp cận các nguồn tài chính khí hậu; đào tạo và phát triển nhân lực; tăng cường nghiên cứu khoa học và công nghệ cũng là giải pháp được ông Phạm Hoàng Mai đề cập

Những thách thức phía trước

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tài, Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách tài nguyên và môi trường - Bộ Nông nghiệp và Nông thôn, xây dựng chiến lược phát triển Kinh tế Xanh ở Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức Đó là ngành sản xuất năng lượng sạch chưa phát triển; thiếu vắng những ngành kinh tế hỗ trợ, giải quyết hậu quả về môi trường; đa dạng sinh học bị suy giảm mạnh, diện tích các hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp

Ông Chung Heuk-Jin, chuyên gia Viện Chiến lược Chính sách, Tài nguyên và Môi trường Hàn Quốc, cho rằng một trong những thách thức đối với Hàn Quốc cũng như Việt Nam trong việc phát triển Kinh tế Xanh hiện nay là cần phải có sự ủng hộ và tham gia của công chúng cũng như sự tham gia của các ngành công nghiệp Giáo sư Nguyễn Quang Thái, Hội Khoa học kinh tế Việt Nam, chia sẻ cần phải nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vấn đề này, đặc biệt là nhận thức của các doanh nghiệp vì các doanh nghiệp là những nhân tố chính đóng góp vào quá trình tăng trưởng xanh

Đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cũng cho rằng vai trò của doanh nghiệp trong phát triển Kinh tế Xanh là rất quan trọng tuy nhiên cần có cơ chế

rõ ràng để các doanh nghiệp tham gia hiệu quả hơn Theo vị đại diện này, hiện một số ngành kinh tế thân thiện với môi trường nhưng khó khăn về vốn, đầu ra của sản phẩm thiếu ổn định, lợi thế cạnh tranh thấp

Một thách thức không nhỏ trong việc thực hiện Kinh tế Xanh ở Việt Nam hiện nay là vấn đề huy động nguồn vốn Mặc dù Việt Nam đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích lũy quốc gia so với các nước đã phát triển còn quá thấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình triển khai hướng tới “Nền Kinh tế Xanh” Hiện, mức thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam còn thấp (hơn 1.000 USD), chỉ bằng 1/10 so với mức trung bình của thế giới (10.000 USD) Bà Setsuko Yamazaki, Giám đốc quốc gia UNDP Việt Nam, cho rằng, vai trò và sự đóng góp của các tổ chức quốc

tế trong việc tăng cường năng lực thực hiện Kinh tế Xanh cho Việt Nam là rất cần thiết Theo bà, “tăng trưởng xanh cần có một khung tài chính/tài khóa xanh để xây dựng cơ chế chung cho các nguồn tài chính khác nhau và giúp triển khai thực hiện cơ chế đối tác công tư”

Ngoài ra, theo nhiều chuyên gia, thực tế công nghệ sản xuất ở Việt nam hiện nay

so với thế giới phần lớn là công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng lớn Việc thay đổi công nghệ mới phù hợp với nền Kinh tế Xanh là thách thức không nhỏ nếu không có trợ giúp của các nước có công nghệ cao trên thế giới Nhiều vùng nông thôn và khu vực

Trang 15

miền núi, sinh kế người dân còn gặp nhiều khó khăn cũng là những trở ngại với Việt Nam trong việc hướng tới nền Kinh tế Xanh

7 KINH TẾ XANH: NHỮNG CÂU CHUYỆN THÀNH CÔNG TRÊN THẾ GIỚI

Kinh tế Xanh có thể được định nghĩa là một trong những biện pháp giúp nâng cao đời sống của con người và thúc đẩy công bằng xã hội, trong khi làm giảm thiểu đáng kể rủi ro cho môi trường và cạn kiệt tài nguyên

Nền Kinh tế Xanh đặc trưng bởi mức tăng đáng kể đầu tư vào các lĩnh vực kinh

tế, chú trọng xây dựng và bảo tồn các nguồn vốn tự nhiên của Trái Đất hoặc giảm thiểu các rủi ro môi trường và cạn kiệt tài nguyên Những lĩnh vực này bao gồm năng lượng tái tạo, các phương tiện giao thông, các tòa nhà thân thiện với môi trường, công nghệ sạch, cải thiện phương pháp xử lý chất thải, cung cấp nước sạch, phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản bền vững Những khoản đầu tư này được thực hiện dưới sự hỗ trợ, thúc đẩy của việc cải cách chính sách quốc gia và phát triển hệ thống chính sách quốc tế cũng như cơ sở hạ tầng

Sáng kiến Kinh tế Xanh của UNEP, được đưa ra vào cuối năm 2008 mục tiêu chính là cung cấp các phân tích và hỗ trợ về xây dựng chính sách đầu tư phát triển các lĩnh vực xanh cũng như chính sách giúp “xanh hóa” nền kinh tế Sáng kiến sẽ phân tích, đánh giá xem làm cách nào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghệ sạch

và nông nghiệp bền vững lại có thể góp phần vào tăng trưởng kinh tế, tạo ra công ăn việc làm, công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo trong khi giải quyết những thách thức khí hậu và sinh thái

Sáng kiến Kinh tế Xanh bao gồm bộ ba các hoạt động:

1 Xuất bản Báo cáo Kinh tế Xanh và những tài liệu nghiên cứu liên quan trong đó phân tích những tác động của đầu tư xanh trong các lĩnh vực từ năng lượng tái tạo đến nông nghiệp bền vững đến kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo; đồng thời cung cấp các hướng dẫn về xây dựng chính sách để thúc đẩy đầu tư trong các lĩnh vực đó

2 Cung cấp dịch vụ tư vấn về cách thức tiến tới xây dựng nền Kinh tế Xnh tại những quốc gia cụ thể

3 Kết nối một hệ thống lớn bao gồm các cơ quan nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ, các đối tác kinh doanh và đối tác của Liên hợp quốc vào quá trình thực hiện Sáng kiến Kinh tế Xanh

Trang 16

Những câu chuyện thành công

Các phân tích kinh tế trong Báo cáo Kinh tế Xanh được xây dựng dựa trên kết quả của những sáng kiến trên toàn thế giới Một số đến từ các nước đang phát triển, bao gồm cả các nền kinh tế mới nổi, cho thấy những tác động tích cực của các khoản đầu tư và chính sách xanh; cho thấy nếu được mở rộng và tích hợp thành một chiến lược toàn diện thì sẽ tạo ra một con đường phát triển mới, vì sự phát triển, việc làm và

vì người nghèo

Dưới đây là những câu chuyện được lựa chọn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau Tất cả các câu chuyện đều cho thấy lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường của Kinh tế Xanh Cho dù ở mức độ quốc gia hay địa phương, chỉ cần có sự lãnh đạo đúng đắn và tầm nhìn, chúng ta có thể tạo nên sự thay đổi Tám câu chuyện là những minh chứng cho sự quan tâm ngày càng tăng của các nước đang phát triển đối với Kinh tế Xanh

1 Năng lượng tái tạo ở Trung Quốc

2 Thuế tái tạo ở Kenya

3 Nông nghiệp hữu cơ ở Uganda

4 Quy hoạch đô thị bền vững tại Brazil

5 Cơ sở hạ tầng sinh thái ở nông thôn Ấn Độ

6 Quản lý rừng tại Nepal

7 Dịch vụ sinh thái ở Ecuador

8 Năng lượng mặt trời tại Tunisia

1 NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO Ở TRUNG QUỐC

Trung Quốc đang thực hiện những bước tiến đáng kể để chuyển sang một chiến lược tăng trưởng sạch dựa trên sự phát triển các nguồn năng lượng tái tạo Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 cho thấy một sự tăng đáng kể đầu tư vào các lĩnh vực Kinh tế Xanh, đặc biệt là năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng Kế hoạch cũng đề xuất tới năm

2010 giảm lượng tiêu thụ năng lượng xuống 20% GDP so với năm 2005 Thêm vào

đó, chính phủ Trung Quốc cam kết, đến năm 2012 năng lượng tái tạo sẽ chiếm 16% tổng năng lượng tiêu thụ

Luật Năng lượng tái tạo của Trung Quốc (thông qua năm 2005) được coi là bộ luật định hướng cho sự phát triển của ngành này Bộ Luật này cung cấp một loạt các

ưu đã tài chính, chẳng hạn như một quỹ quốc gia để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, cho vay, ưu đãi về thuế cho các dự án năng lượng tái tạo; yêu cầu các nhà khai thác lưới điện mua các nguyên liệu từ các nhà sản xuất năng lượng tái tạo đã đăng ký

Sự kết hợp giữa đầu tư và các chính sách ưu đãi tạo điều kiện cho những bước tiến lớn trong việc phát triển năng lượng gió và năng lượng mặt trời của Trung Quốc

Năng lượng gió

Từ năm 2005 - 2009, tốc độ tăng trưởng hàng năm công suất phát điện từ năng lượng gió đều hơn 100% Cùng với việc lắp đặt thêm (năm 2009) nâng tổng công suất thêm 13,8 GW, Trung Quốc đã trở thành nước dẫn đầu thế giới về công suất bổ sung

và thứ 2 thế giới (sau Mỹ) về công suất lắp đặt Tham vọng phát triển ngành này còn

Trang 17

thể hiện ở mục tiêu tăng công suất lắp đặt từ 30 GW lên 100 GW năm 2020 của chính phủ

Để trực tiếp khuyến khích sản xuất tua-bin gió ở các địa phương, Trung Quốc đã thực hiện chính sách khuyến khích liên doanh và chuyển giao công nghệ trong công nghệ tua-bin gió lớn và bắt buộc sử dụng các sản phẩm tua-bin gió của địa phương trong các công trình Bộ Khoa học và Công nghệ cũng trợ cấp chi phí R&D (nghiên cứu và phát triển) cho việc sản xuất năng lượng gió, đặc biệt năm 1996 đã thành lập Quỹ năng lượng tái tạo Các nhà sản xuất tua-bin gió địa phương như Sinovel Wind, Goldwind Science và Technology, and Dongfang Electric, tới năm

2008, đã chiếm hơn một nửa thị trường, vốn bị chi phối bởi các nhà cung cấp nước ngoài

Năm 2006, Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia Trung Quốc đã ban hành các biện pháp tạm thời về quản lý thuế và phân bố phí năng lượng tái tạo Cùng với Luật Năng lượng tái tạo, các quy định khuyến khích giảm giá năng lượng gió quy định rằng một mô hình giá cả cạnh tranh đấu thầu được sử dụng cho thị trường điện gió ở Trung Quốc

Điện mặt trời

Trung Quốc là nhà sản xuất pin (PV) năng lượng mặt trời lớn nhất của thế giới, đáp ứng 45% nhu cầu PV năng lượng mặt trời toàn cầu (năm 2009) Thị trường trong nước về năng lượng mặt trời đã bắt đầu phát triển những năm gần đây, với khoảng 160

MW PV năng lượng mặt trời được cài đặt và kết nối với lưới điện trong năm 2009 Nhưng cùng với 12GW ở các dự án lớn, Trung Quốc có thể nhanh chóng trở thành một thị trường lớn ở châu Á và trên thế giới Đối với pin mặt trời, Chính phủ cũng đã chỉ ra rằng các mục tiêu cho công suất lắp đặt vào năm 2020 có thể được tăng

từ 1,8GW đến 20GW

Trung Quốc hiện là thị trường lớn nhất thế giới về năng lượng nước nóng mặt trời, chiếm gần hai phần ba tổng lượng tiêu thụ toàn cầu Hơn 10% hộ gia đình ở Trung Quốc sử dụng thiết bị đun nước nóng mặt trời với hơn 160 triệu m2 diện tích lắp đặt Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp sản xuất bình nước nóng năng lượng mặt trời mang lại lợi nguận cho cả các nhà sản xuất lẫn các hộ gia đình Nhiều hộ gia đình được sử dụng nước nóng hơn, kéo theo các lợi ích về sức khỏe và vệ sinh

Trong chính sach pháp triển, việc lắp đặt các hệ thống năng lượng nước nóng mặt trời được ưu tiêu cho các lĩnh vực tiêu dùng, chẳng hạn như bệnh viện, trường học, nhà hàng, hồ bơi…

Việc làm

Đến hết năm 2009, lĩnh vực năng lượng tái tạo tại ra sản phẩm trị giá 17 tỷ USD

và sử dụng khoảng 1,5 triệu lao động, trong đó 600 nghìn lao động trong ngành nhiệt mặt trời, 266 nghìn trong ngành năng lượng sinh học, 55 nghìn trong ngành điện mặt trời và hơn 22 nghìn trong ngành năng lượng gió Chỉ trong năm 2009, ước tính có trên 300,000 việc làm mới đã được tạo ra

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy một ví dụ về tăng trưởng trong lĩnh vực năng lượng tái tại, có thể tạo ra công ăn, việc làm và tạp thu nhập trong ngành công nghiệp xanh

Trang 18

2 THUẾ TÁI TẠO Ở KENYA

Tình trạng sử dụng năng lượng của Kenya vốn được biết đến phụ thuộc nặng nề vào xăng dầu nhập khẩu; chính vì vậy đất nước này đang phải đối mặt với những thách thức liên quan tới việc sử dụng không bền vững năng lượng Tháng 3 năm 2008, Bộ Năng lượng Kenya đã thông qua Thuế tái tạo đồng thời nhận định “Các nguồn năng lượng tái tạo bao gồm mặt trời, gió, nước, sinh học và chất thải có đầy đủ tiềm năng tạo ra lợi nhuận và công việc; và hơn hết cả, góp phần vào việc đa dạng hóa các nguồn cung năng lượng”

Thuế tái tạo (Feed in Tariff - FIT) là một công cụ chính sách bắt buộc các công ty năng lượng hoặc các bộ phận chịu trách nhiệm vận hành lưới điện quốc gia mua điện từ các nguồn năng lượng tái tạo tại một mức giá được xác định trước đó là đủ hấp dẫn để kích thích đầu tư mới trong tái sản xuất ngành năng lượng tái tạo Điều này đảm bảo cho những người sản xuất điện từ các nguồn năng lượng tái tạo như mặt trời, gió có một thị trường và nguồn thu cố định để tiếp tục sản xuất Các quy định khác của FIT bao gồm đấu nối vào mạng lưới điện, thỏa thuận mua bán điện dài hạn và giá cả thiết lập cho mỗi kilowatt giờ (kWh)

Chính sách FIT của Kenya hướng đến những mục tiêu:

a Kích thích đầu tư vào ngành sản xuất điện từ các nguồn năng lượng tái tạo bằng cách tạo ra thị trường ổn định và an ninh đầu tư;

b Giảm giao dịch và chi phí hành chính bằng cách loại bỏ quá trình đấu thầu thông thường

c Khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân vận hành các nhà máy điện hiệu để tối

đa hóa lại nhuận, Bằng chác tại ra một cam kết lâu dài về phát triển các nguồn năng lượng tái tạo và quy định độ dài tối thiểu của một thỏa thuận mua điện là 20 năm, Chính phủ Kenya đã thực hiện một bước quan trọng trong việc phát triển tiềm năng đáng kể của đất nước về sản xuất năng lượng tái tạo, trong khi vẫn theo đuổi các lợi ích kinh tế quan trọng, các mục tiêu chính sách môi trường và xã hội

c Tăng cường khả năng cạnh tranh kinh tế và tạo việc làm

Tiềm năng năng lượng tái tạo lớn nhất tại Kenya là ở vùng nông thôn nên ảnh hưởng của chính sách FIT sẽ làm giảm giá thành điện cho người tiêu dùng đồng thời kích thích lao động nông thôn Điều này không chỉ xảy ra thông qua việc xây dựng các nhà máy điện, mà còn trong sản xuất nông-công nghiệp, đặc biệt trong ngành công nghiệp mía đường, vốn là ngành công nghiệp mũi nhọn trong nước

Trang 19

Có thể thấy Kenya đã cung cấp một ví dụ về phát triển hướng tới tương lai thông qua chính sách năng lượng, cải thiện dòng lợi nhuận cho nhà sản xuất nhỏ ở nông thôn, và tăng cường phát triển địa phương

3 NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ Ở UGANDA

Uganda đã có những bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi sản xuất nông nghiệp thông thường thành một hệ thống canh tác hữu cơ, với những lợi ích đáng

kể cho kinh tế, xã hội và môi trường Nông nghiệp hữu cơ (Organic Agriculture - OA) thúc đẩy và tăng cường sức khỏe, hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm cả đa dạng sinh học, chu kỳ sinh học và hoạt động sinh học đất Ngăn cấm việc sử dụng các yếu tố đầu vào tổng hợp, chẳng hạn phân bón và thuốc trừ sâu Uganda là một trông số những nước sử dụng phân bón nhân tạo ít nhất thế giới, ước tính ít hơn 2% (hoặc 1kg/ha) Việc không sử dụng phân bón như là cơ hội để theo đuổi hình thức sản xuất nông nghiệp hữu cơ, một hướng chính sách được chấp nhận rộng rãi bởi Uganda

Lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường của nông nghiệp hữu cơ ở Uganda

Tại Uganda 85% dân số tham gia sản xuất nông nghiệp, đóng góp 42% vào GDP của cả nước và 80% thu nhập xuất khẩu trong năm 2005/2006 Ngay từ năm 1994 một

số ít các công ty thương mại đã bắt đầu tham gia nông nghiệp hữu cơ Cùng thời gian

đó xuất hiện một phong trào phát triển hướng tới nông nghiệp bền vững để nâng cao đời sống của người dân

Năm 2003, Uganda đứng thứ 13 thế giới và đứng đầu châu Phi về diện tích đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ Đến năm 2004, Uganda đã có khoảng 185 nghìn ha đất thuộc phạm vi canh tác hữu cơ, chiếm hơn 2% đất nông nghiệp, với 45 nghìn nông dân được chứng nhận Đến năm 2007, là 296,203ha đất sản xuất nông nghiệp hữu cơ với 206.803 nông dân được chứng nhận

Là một nhà sản xuất lớn các sản phẩm hữu cơ, Uganda thu được lợi ích quan trọng từ kim ngạch xuất khẩu và doanh thu cho nông dân Xuất khẩu các sản xuất hữu

cơ tăng từ 3,7 triệu USD năm 2003/2004, 6,2 triệu USD năm 2004/2005, trước khi tăng lên 22,8 triệu USD năm 2007/2008

Thông qua canh tác hữu cơ, Uganda không chỉ thu lợi ích về kinh tế, mà nó cũng góp phần giảm nhẹ biến đổi khí hậu, giảm lượng khí thải nhà kính (ước tính lượng khí thải ra từ các trang trại hữu cơ ít hơn 64% so với lượng khí thải ra từ các trang trại thông thường) Các nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra rằng nông nghiệp truyền thống thải ra nhiều hơn so với nông nghiệp hữu cơ mỗi năm là 3 - 8 tấn carbon mỗi ha

Chính sách và thay đổi hệ thống góp phần thay đổi nông nghiệp của Uganda

Tháng 7 năm 2009, chính phủ phát hành một dự thảo về chính sách nông nghiệp hữu cơi của Uganda Dự thảo chính sách mô tả tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu và chiến lược để hỗ trợ sự phát triển nông nghiệp hữu cơ, mô tả đây là “một trong những con đường cho sự tự phát triển vì nó cung cấp cơ chế cho từng hộ nông dân để nâng cao năng suất, tăng lợi nhuận, góp phần đạt được các mục tiêu trong Kế hoạch hành động xoá đói giảm nghèo” Dự thảo được đưa ra dựa trên các biện pháp can thiệp ở 9 lĩnh vực:

- Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất nông nghiệp bổ sung;

- Phát triển một hệ thống chứng nhận, tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ;

Trang 20

- Xúc tiến nghiên cứu và phổ biến các công nghệ phát triển;

- Hỗ trợ phát triển thị trường địa phương, khu vực và quốc tế cho các sản hữu cơ

- Phổ biến thông tin, kiến thức và kĩ năng thông qua giáo dục và đào tạo;

- Cải thiện việc xử lý sau thu hoạch, bảo quản, lưu trữ;

- Sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự tham gia của các nhóm lợi ích đặc biệt như phụ nữ, thanh niên và người nghèo

Tóm lại, Uganda đã biến việc sử dụng ít hóa chất trong nông nghiệp đã trở thành một lợi thế so sánh để phát triển nông nghiệp hữu cơ, tạo ra doanh thu và thu nhập cho nông dân sản xuất nhỏ

4 QUY HOẠCH ĐÔ THỊ BỀN VỮNG TẠI BRAZIL

Sự gia tăng nhanh chóng của các khu đô thị đã đặt ra nhiều thách thức về môi trường và kinh tế - xã hội cho người dân, doanh nghiệp và đô thị Kế hoạch quy hoạch không đầy đủ cùng với sự gia tăng của dân số thành thị kéo theo sự mở rộng khu vực thành phố và ngoại ô, làm tăng lượng phương tiện cá nhân tham gia giao thông

Brazil có số dân số đô thị lớn thứ tư thế giới (sau Trung Quốc, Ấn Độ, và Hoa Kỳ), với tốc độ gia tăng hàng năm là 1,8% (từ năm 2005 tới 2010) Thành phố Curitiba, thủ phủ vùng Parana ở Brazil đã giải quyết thành công thách thức nói trên bằng cách thực hiện hệ thống sáng tạo trong những thập kỷ gần đây; tạo cảm hứng cho nhiều thành phố khác ở Brazil Đặc biệt nổi tiếng với hệ thống Xe buýt nhanh, Curitiba cũng cung cấp một ví dụ về quy hoạch đô thị và công nghiệp tích hợp cho phép ra đời nhiều ngành công nghiệp mới và tạo ra công ăn việc làm

Quy hoạch bền vững cho sự tăng trưởng ở Curitiba

Thông qua phương pháp tiếp cận sáng tạo của mình trong quy hoạch đô thị, quản

lý thành phố và quy hoạch giao thông đi lại, từ những năm 60, Curitiba đã có thể phát triển dân số từ 361.000 (năm 1960) lên 1,828 triệu (năm 2008), mà không phải chịu tác động của ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông và suy giảm không gian công cộng Mật độ dân số trong thành phố đã tăng gấp ba lần từ 1970 đến 2008 Nhưng cùng thời gian đó, diện tích không gian xanh trung bình cho mỗi người cũng tăng từ 1km2 trên 50km2

Một trong những yếu tố chính của việc quy hoạch thành phố Curitiba là việc xây dựng hệ thống giao thông làm sao để giải quyết được cả hai vấn đề mật độ và không gian xanh Hệ thống giao thông sẽ được xây dựng - bằng cách tạo ra các vùng giao thông và đưa các cơ sở hạ tầng giao thông công cộng vào sử dụng - đảm bảo cho các luồng phương tiện tập trung quá nhiều ở trung tâm thành phố đồng thời phát triển nhà

ở, dịch vụ và các địa điểm công nghiệp dọc theo các tuyền đường quan trọng

Lợi ích kinh tế và môi trường

Thành phố tạo ra các biện pháp hiệu quả để giảm lượng khí thải CO2 đặc biệt trong giao thông vận tải và trong các tòa nhà, vốn là hai trong số các nguồn thải ra nhiều khí nhất Như một kết quả của quy hoạch đô thị tích hợp, Curitiba có tỷ lệ cao nhất về sử dụng phương tiện giao thông công cộng ở Brazil (45%), và một trong những tỷ lệ thấp nhất về ô nhiễm không khí đô thị của đất nước

Trang 21

Những hiệu quả về kinh tế cũng rất đáng kể Sử dụng nhiên liệu của Curitiba là 30% thấp hơn so với ở các thành phố lớn khác của Brazil Tổn thất nhiên liệu do tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng tại Curitiba năm 2002 là khoảng 1 triệu USD, chỉ bằng 1/13 của Sao Paolo và 1/4 của Rio de Janeiro

Chính sách và quy hoạch thành phố cho cơ sở hạ tầng sinh thái và hoạt công nghiệp

Bằng cách biến các khu vực dễ bị lũ lụt thành các khu công viên cây xanh, và tạo

ra các hồ nhân tạo để giữ nước lũ, Curitiba đã giải quyết vấn đề lũ lụt, kiểm soát lũ lụt và thoát nước của mình Chi phí của chiến lược này, bao gồm cả chi phí di dời cư dân khu ổ chuột, được ước tính ít hơn 5 lần so với việc xây dựng kênh mương bê tông Ngoài ra, như là một kết quả của quá trình này, giá trị tài sản của các khu vực lân cận được đánh giá cao hơn và doanh thu thuế cũng tăng

Chính quyền địa phương đã thành lập Thành phố Công nghiệp Curitiba ở phía Tây của thành phố nhằm tránh gây ô nhiễm ảnh hưởng vùng trung tâm Khu vực này

có quy định nghiêm ngặt về môi trường và các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường không được phép hoạt động tại đây Sau ba thập kỷ, tại đây hiện nay có hơn

700 công ty, bao gồm cả hãng sản xuất hệ thống xe bus nhanh của thành phố và nhiều công ty công nghệ thông tin khác Nơi đây đã tạo ra khoảng 50.000 việc làm trực tiếp và 150.000 việc làm gián tiếp, đóng góp vào 20% tổng sản phẩm xuất khẩu của Brazil

Curitiba cũng tích cực thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng quản lý chất thải và nâng cao nhận thức công chúng về phân loại và tái chế rác thải Với 70% cư dân của thành phố tích cực tái chế, 13% chất thải rắn được tái chế ở Curitiba, trong khi tỷ lệ này ở Sao Paulo chỉ là 1%

Tóm lại, Curitiba đã cho chúng ta một ví dụ về làm thế nào quy hoạch đô thị thông minh có thể giúp tránh được chi phí lớn trong tương lai và nâng cao hiệu quả, năng suất và chất lượng cuộc sống cho các cư dân của nó

5 CƠ SỞ HẠ TẦNG SINH THÁI Ở NÔNG THÔN ẤN ĐỘ

Đạo luật quốc gia về đảm bảo việc làm ở nông thôn Ấn Độ năm 2005 (NREGA)

là chương trình việc làm với mức lương đảm bảo nhằm tăng cường an ninh sinh kế cho các hộ gia đình bị thiệt thòi ở các vùng nông thôn Được thực hiện bởi Bộ Phát triển nông thôn, NREGA trực tiếp tác động tới cuộc sống của người nghèo, thúc đẩy tăng trưởng toàn diện, và cũng góp phần vào việc khôi phục và duy trì cơ sở hạ tầng sinh thái

Ngoài việc bổ sung lao động làm công ăn lương, mục tiêu thứ cấp của NREGA là tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên nông thôn Điều này được thực hiện bằng cách hỗ trợ các công trình nông thôn vốn là nạn nhân của hạn hán, phá rừng và xói mòn đất, từ đó khôi phục lại cơ sở hạ tầng tự nhiên

Là một trong những nhà sản xuất nông nghiệp hàng đầu của thế giới, Ấn Độ đã nhận thấy một sự đột biến về lượng nước tiêu thụ cho lĩnh vực nông nghiệp trong những năm qua Ước tính lượng nước tiêu thụ sẽ tăng gấp bốn lần từ năm 2000 đến năm 2050, lượng nước dự trữ tại 4 con sông lớn có khả năng sẽ cạn kiệt vào giữa năm

2050 Tình trạng khan hiếm nước là một hạn chế lớn đối với sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, ảnh hưởng đến sinh kế của người dân và an ninh lương thực Chính vì thế, chiếm một nửa các dự án do NREGA hỗ trợ chính là các dự án về nước (850.000 dự

Trang 22

án được tài trợ từ năm 2006 đến 2008) NREGA đào tạo và cung cấp việc làm cho các dân làng để họ tự phát triển các giải pháp xử lý nước, giải quyết tình trạng khan hiếm nước tại nơi họ sống Năm 2007 - 2008, hơn 3.000 giếng nước cùng với máy bơm tay

đã được xây dựng NREGA cũng hỗ trợ phục hồi một mạng lưới các bể chứa nước có niên đại hơn 500 năm tại một khu vực khô cằn chủ yếu Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc sản xuất cây trồng, vật nuôi, mà còn đã đóng góp vào bổ sung lượng nước ngầm

Chỉ trong một thời gian ngắn, NREGA đã thành công trên khắp đất nước Trong việc thúc đẩy tăng trưởng toàn diện và phục hồi cơ sở hạ tầng sinh thái, chương trình còn có một tác động mạnh đối với việc trao quyền cho nhóm người nghèo hoặc bị thiệt thòi Trong vòng 3 năm, chương trình đã góp phần tăng mức lương trung bình cho người lao động nông nghiệp hơn 25%

6 QUẢN LÝ RỪNG Ở NEPAL

Cộng đồng lâm nghiệp ở Nepal đã đóng góp vào việc khôi phục tài nguyên rừng

ở đây Rừng chiếm 40% diện tích đất Mặc dù diện tích này bị giảm đi 1,9% hằng năm trong những năm 90, tình thế này đã được đảo ngược thành 1,35% tăng hằng năm trong các năm 2000 - 2005

Cộng đồng lâm nghiệp là mấu chốt trong việc quản lí rừng ở Nepal Những người sử dụng tài nguyên rừng ở đây hợp lại thành 1 cộng đồng ( CFUGs) để quản lí tài nguyên, còn chính phủ thì ủng hộ và tạo điều kiện Quản lí rừng là hoạt động cộng đồng và cần rất ít hỗ trợ ngân sách từ chính phủ

Từ năm 1980, khoảng hơn 14.000 CFUGs đã được thành lập Khoảng một phần

tư diện tích rừng được bảo vệ bởi 35% dân số Hiện nay, cộng đồng lâm nghiệp chỉ đứng thứ 2 sau chính phủ về việc bảo vệ rừng

Các nhóm sử dụng rừng lập ra kế hoạch riêng của họ, đề ra qui định thu hoạch, giá thành sản phẩm và mục đích sử dụng của những khoản lợi nhuận đạt được Tăng trưởng rõ rệt trong việc bảo vệ rừng được nhận thấy qua các dẫn chứng, nguồn nước

và đất đai cũng được quản lý

Lợi ích của cộng đồng lâm nghiệp

Bảo vệ rừng tăng cơ hội việc làm và thu nhập Các lợi ích kinh tế khác gồm có năng lượng bền từ gỗ Quản lí rừng còn đóng góp vào việc bảo tồn thiên nhiên Cộng đồng lâm nghiệp phát triển còn đưa ra chương trình học bổng cho các hộ gia đình khó khăn và cho vay để phát triển thu nhập

Các chính sách bảo vệ và ngăn chặn phá rừng

Bộ bảo vệ rừng và đất đai đưa ra 2 chính sách Chính sách thứ nhất giúp Nepal gặt hái nhiều thành công trong việc bảo vệ rừng và môi trường Chính sách thứ 2 được đưa ra để giúp đỡ các cộng đồng lâm nghiệp Chính sách này cung cấp giấy tờ cho

CFUGs công nhận là họ có quyền sử dụng và quản lý rừng

Điều ấn tượng trong việc quản lí rừng ở Nepal là rất nhiều những lợi ích được mang lại cho các cộng đồng như bảo vệ môi trường, dịch vụ môi trường và sự phát

triển phúc lợi

7 DỊCH VỤ SINH THÁI Ở ECUADOR

Trang 23

Thành phố Quito là ví dụ tiên phong trong thị trường các nước đang phát triển về việc chuyển nước lên vùng cao Lượng nước cung cấp cho 1,5 triệu người ở Quito phụ thuộc vào lượng nước được cung cấp từ 2 vùng bảo tồn thiên nhiên Cayambe-Coca và Antisana Quỹ bảo tồn nguồn nước (FONAG) được thiết lập năm 2000 bởi chính quyền địa phương kết hợp cùng một tổ chức phi chính phủ, là quỹ tín thác do người sử dụng nước đóng góp FONAG dùng ngân sách để cấp vốn cho những dịch vụ sinh thái cần thiết, bao gồm cả việc mua lại đất để phục vụ cho các chức năng thủy điện

Cung và cầu

Người sử dụng bao gồm nông dân, các công ty thủy điện, các ngành công nghiệp

và hộ gia đình Họ trả số tiền khác nhau, phụ thuộc vào mục đich sử dụng, trong đó EMMAP-Q đóng góp nhiều nhất với 1% lượng tiền nước hàng tháng Các công ty thủy điện và Cerveceria Andiana trả 1 số tiền nhất định hàng tháng Quỹ này có hơn 7 triệu USD (cuối năm 2009) Phí quản lí được giữ khoảng 10 - 20% tổng chi FONAG cấp vốn cho chương trình quản lí nước đầu nguồn ở thung lũng có sông nhỏ và các chương trình dài hạn (ít nhất 20 năm) hướng đến thông tin, giáo dục về môi trường, rừng và huấn luyện quản lí sông ngòi Nhiều cơ quan và tổ chức tham gia vào các kế hoạch và chương trình này

Lợi ích

FONAG đang đóng góp vào việc bảo vệ nguồn nước hiện tại và tương lai cho Quito Hơn 65.000 ha nước đầu nguồn được bảo vệ Nông dân thượng nguồn nhận hỗ trợ về việc bảo vệ nguồn nước thượng nguồn thay vì tiền mặt Hơn 1800 người sẽ nhận được nhiều lợi ích kinh tế đi đôi với việc quản lí và bảo vệ nguồn nước thượng nguồn FONAG phát động việc phát triển các chương trình tương tự ở Châu Mỹ La tinh

và nhiều nơi khác Nam Phi, nơi mà nước là cản trở lớn nhất trong việc phát triển của đất nước, mới đây cho ra đời Maloti Drakensberg Mountains để cấp vốn cho chương trình bảo vệ nước thượng nguồn, với sự hỗ trợ từ UNEP và BASF Chương trình này nhằm giảm lượng nước lắng đọng và tăng chất lượng nước Nó cũng tạo công ăn việc làm cho nhiều hộ gia đình

Tóm lại, FONAG là một trong những sáng kiến lớn liên kết nhiều thành viên lại cùng giúp sức gây dựng nên cơ chế thông minh để mang nguồn nước đến vùng quan trọng cho việc phát triển kinh tế, và cùng lúc đó cung cấp việc làm và đầu tư vào dịch

vụ sinh thái

8 NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI Ở TUNISIA

Để giảm thiểu sự phụ thuộc vào gas và dầu, Tunisia đã và đang áp dụng nhiều biện pháp để khuyến khích sự phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo Một điều luật về quản lí năng lượng năm 2005 được theo sau bởi sự ra đời của cơ chế tài trợ và nguồn tài trợ quốc gia cho quản lí năng lượng, qua đó ủng hộ việc sử dụng nhiều hơn nguồn năng lượng tái tạo và tăng năng suất Nguồn tài trợ này được lấy ra từ tiền đăng ký lần đầu của xe cá nhân, xe chạy bằng xăng, dầu và thuế nhập khẩu hoặc thuế sản xuất trong nước của các thiết bị điều hòa (trừ những thiết bị sản xuất phục vụ xuất khẩu)

Từ 2005 đến 2008, Tunisia đã tiết kiệm được 1,1 tỷ USD nhờ vào các nhà máy năng lượng sạch khi đầu tư chỉ 200 triệu USD Năng lượng sạch này ước tính chiếm 20% tổng năng lượng tiêu thụ trong năm 2011

Trang 24

Tháng 12/2009, chính phủ đã cho ra đời nhà máy năng lượng mặt trời đầu tiên cùng với nhiều nhà máy khác phục vụ cho mục đích tăng năng lượng sạch từ 1% lên 4,3% trong năm 2014 Kế hoạch này bao gồm việc sử dụng hệ thống quang điện mặt trời, bình nước nóng mặt trời và máy phát điện năng lượng mặt trời

Tổng chi phí của kế hoạch này được ước tính là 2,5 tỷ USD, bao gồm 175 triệu

từ nguồn tài trợ chính phủ, 530 triệu từ nhân dân, 1,660 triệu từ các tổ chức - cá nhân,

24 triệu từ các tổ chức quốc tế và sẽ được chi đến năm 2016 cho 40 dự án

Năng lượng tiết kiệm có thể lên tới 22% trong năm 2016 với lượng CO2 giảm 1,3 triệu tấn mỗi năm

Chương trình năng lượng mặt trời Tunisia cung cấp một ví dụ về sự phát triển của thị trường năng lượng nhiệt Sự ủng hộ về tài chính bảo đảm việc cắt giảm thuế giá trị gia tăng, cắt giảm thuế và lãi suất thấp

Chính phủ cung cấp 20% vốn hoặc là 75 USD/m2

và khách hàng phải trả 10% giá thành bình nước nóng năng lượng mặt trời Hơn 50.000 hộ gia đình ở Tunisia đang dùng bình nước nóng năng lượng mặt trời với chính sách khuyến khích được áp dụng khi mà diện tích của chương trình đã tăng lên đến 400.000m2, chính phủ đưa ra mục tiêu mới là 750.000m2 trong năm 2010 - 2014 trong năm 2008, Tunisia cắt giảm 214.000 tấn CO2 Chương trình này ở Tunisia đã mở ra nhiều công việc mới cho người dân và đã khuyến khích việc phát triển năng lượng tái tạo cũng như giảm sự phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu

8 10 LĨNH VỰC VÌ MỘT HÀNH TINH XANH HƠN

Xây dựng

Việc xây dựng gây ảnh hưởng rất lớn đế tài nguyên và khí hậu toàn cầu - chúng

ta hãy cùng nhau xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn!

• Kiểm toán năng lượng của các tòa nhà hoặc cơ sở kinh doanh có thể làm giảm thiểu dấu vết các-bon gây ra bởi công việc xây dựng và nhờ đó bạn có thể tiết kiệm đáng kể các chi phí về năng lượng

• Bạn muốn đầu tư cho việc cải thiện cảnh quan ngôi nhà của mình? Hãy góp phần giảm tác động của bạn lên môi trường bằng cách tìm kiếm các công ty xây dựng

ít gây tác động đến môi trường

• Bạn có thể hỗ trợ nền Kinh tế Xanh bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn tài

nguyên, tham gia vào việc quản lý năng lượng của tòa nhà nơi bạn sống Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

Thủy sản

Hải sản là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe - nhưng đừng làm suy giảm trữ lượng cá!

Trang 25

- Việc đánh bắt quá mức ở nhiều nơi trên thế giới làm tăng nguy cơ cạn kiệt

nguồn cá trong tương lai Chúng ta có thể tránh điều này bằng các hình thức tuyên truyền, vận động và giáo dục để thúc đẩy các hoạt động khai thác bền vững

- Nghiên cứu về nhãn sinh thái tại địa phương, hãy mua những sản phẩm thủy sản được chứng nhận khai thác một cách bền vững

- Bằng cách chọn sản phẩm thủy sản bền vững, bạn đã gửi một thông điệp đến

nhà sản xuất rằng bạn ủng hộ một nền Kinh tế Xanh cho ngành thủy sản Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

- Sử dụng thư điện tử để giảm nhu cầu sử dụng giấy hoặc sử dụng các sản phẩm

từ gỗ và giấy lấy từ rừng đã được chứng nhận thân thiện môi trường

- Khi bạn hỗ trợ các sản phẩm rừng được chứng nhận bền vững là bạn đã ủng hộ

việc phát triển một môi trường lành mạnh và sinh kế bền vững Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

Giao thông vận tải

Tắc nghẽn, ô nhiễm, tai nạn giao thông cần có một giải pháp tốt hơn!

- Đi một mình một xe không chỉ ảnh hưởng đến môi trường và kinh tế mà còn rất

cô đơn! Dùng chung xe với bạn bè hoặc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng sẽ góp phần làm giảm tác động đến môi trường và các chi phí kinh tế, đồng thời làm tăng tính cộng đồng

- Đi bộ hoặc dùng xe đạp cho các chuyến đi ngắn vừa tốt cho sức khỏe vừa bảo

vệ môi trường

- Khi bạn chọn các phương tiện giao thông thay thế, bạn đang hỗ trợ một nền

Kinh tế Xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

Nước

Sử dụng nước một cách hợp lý!

- Hàng tỷ người trên toàn thế giới không được tiếp cận với nước sạch hoặc các dịch vụ vệ sinh tiên tiến, gia tăng dân số sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề Từng bước hướng tới việc sử dụng nước hợp lý có thể giúp gìn giữ tài nguyên quý giá này

Trang 26

- Vặn chặt vòi nước khi bạn không sử dụng, chỉ chạy máy giặt hay máy rửa bát khi có đủ số lượng; tiết kiệm nước bằng cách tắm nhanh hơn; và không tưới nước cho bãi cỏ trước nhà ngay sau khi mưa

- Sử dụng tài nguyên hiệu quả là chìa khóa cho một nền Kinh tế Xanh và nước là

một trong những tài nguyên quan trọng nhất của chúng ta Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

- Tự tạo vườn rau riêng, ăn rau theo mùa hoặc mua tại các chợ địa phương

- Khi bạn mua các thực phẩm hữu cơ và bền vững tại địa phương, bạn đã gửi một thông điệp đến nhà sản xuất rằng bạn ủng hộ một nền Kinh tế Xanh cho nông nghiệp

Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

Công nghiệp năng lượng

Dường như nhu cầu năng lượng từ lối sống của chúng ta đã vượt quá khả năng của các nguồn tài nguyên!

- Các nguồn năng lượng chính như dầu mỏ, than đá, khí đốt, không chỉ có hại cho sức khỏe và môi trường, mà chúng còn không bền vững trong một thế giới mà nhu cầu năng lượng ngày càng tăng

- Bạn có thể hỗ trợ cho sự phát triển các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo bằng cách lựa chọn sử dụng các thiết bị sử dụng các nguồn năng lượng này - hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm như vậy

- Trong khi hướng tới một quá trình chuyển đổi sang sử dụng năng lượng tái tạo,

cá nhân bạn hãy cải thiện việc sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng Tắt đèn và rút phích cắm các thiết bị khi bạn không sử dụng Không điều hòa khi không ai ở nhà

- Bạn có thể giúp xây dựng một nền Kinh tế Xanh bằng cách hỗ trợ các nguồn năng lượng sạch và bền vững, trở thành một mô hình sử dụng năng lượng hiệu quả

Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

Du lịch

Nhẹ bước đến điểm du lịch của bạn

- Phát triển du lịch có thể là mối nguy hại tiềm tàng đối với các địa phương nếu

nó đem đến những tác động tiêu cực về môi trường và xã hội

Trang 27

- Áp dụng các nguyên tắc tương tự khi ở nhà để hỗ trợ nền Kinh tế Xanh khi đi

du lịch: mua các sản phẩm địa phương, du lịch cùng bạn bè, sử dụng nước và năng lượng một cách hợp lý và tiết kiệm…

- Trước khi đi, hãy tìm các khách sạn và các công ty lữ hành có phục vụ các tour

du lịch sinh thái; tìm hiểu các phương thức nhằm hạn chế tác động lên môi trường và

- Khi bạn hỗ trợ du lịch sinh thái, bạn sẽ giúp cộng đồng tại các điểm du lịch đạt tăng

trưởng kinh tế mà không phải đánh đổi bằng môi trường và phúc lợi xã hội Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

Lãng phí

Nếu tất cả mọi thứ bạn mua sẽ trở thành rác thải, chúng ta sẽ đưa nó vào đâu?

- Khi vứt đi một thứ gì đó, bạn mất đi cơ hội để tái sử dụng và làm tăng lượng khí mêtan (khí gây ra hiệu ứng nhà kính mạnh nhất) thải ra từ các bãi chôn lấp

- Chỉ 15% các đồ dùng điện tử được tái chế trên toàn cầu

- Tái chế một cách hợp lý các loại vật liệu và sử dụng chất thải hữu cơ làm phân bón sẽ góp phần làm giảm tác động của bãi chôn lấp cũng như giảm nhu cầu về sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu cho sản xuất

- Tìm hiểu về khả năng tái chế tại địa phương và hỗ trợ một nền Kinh tế Xanh sử

dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

Công nghiệp và Sản xuất

Một điều chắc chắn là các ngành công nghiệp và sản xuất đã gây tác động xấu đến môi trường - nhưng mọi thứ có thể thay đổi, và bạn có thể giúp thực hiện điều đó!

- Các ngành công nghiệp và sản xuất tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước, nhưng chúng ta cũng phải trả giá bằng sự ô nhiễm

- Hãy là một người tiêu dùng thông minh: hỗ trợ các doanh nghiệp có kế hoạch phát triển bền vững; sử dụng những nhãn hàng tại địa phương được chứng nhận hạn chế các ảnh hưởng lên môi trường sinh thái trong quá trình sản xuất và thân thiện với môi trường khi sử dụng; đầu tư vào năng lượng tái tạo

- Tìm hiểu và lựa chọn sản phẩm từ những công ty đạt cam kết về bền vững (thông qua nhãn môi trường, nhãn sinh thái…)

- Khi bạn chọn kinh doanh theo cách bền vững, bạn đã gửi một thông điệp rằng

đã đến lúc để công nghiệp và sản xuất chuyển đổi sang nền Kinh tế Xanh Cùng chung tay vì một hành tinh xanh!

Trang 28

9 CHUYỂN ĐỔI PHƯƠNG THỨC PHÁT TRIỂN KINH TẾ HƯỚNG TỚI

NỀN KINH TẾ XANH Ở VIỆT NAM

Chuyển đổi phương thức phát triển, hướng tới xây dựng “Nền Kinh tế Xanh” là hướng tiếp cận mới, tuy nhiên xét về dài hạn đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển chung của hệ thống kinh tế toàn cầu

Với xu hướng hội nhập và chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế trong thời gian vừa qua, nhất là từ năm 1945 đến nay, mặc dù kinh tế thế giới đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng các mô hình phát triển kinh tế trong giai đoạn này theo kiểu nền kinh tế

“nâu”, đó là một nền kinh tế khai thác và sử dụng quá nhiều năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ra những tổn hại to lớn cho môi trường như ô nhiễm không khí, nguồn nước và đại dương, suy thoái đất, mất rừng và suy giảm đa dạng sinh học

Người ta đang cho rằng với phương thức phát triển cũ đã phát thải quá nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính như CO2, SO2, CH4… là nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu diễn ra với quy mô toàn cầu đe dọa cuộc sống con người và gây ra tổn thất cho hoạt động kinh tế Nhằm thay đổi tình trạng này, Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã đưa ra một hướng tiếp cận mới cho phát triển kinh tế được nhiều quốc gia đồng tình hưởng ứng, đó là phát triển “nền Kinh tế Xanh” (Green Economy)

Việt Nam là quốc gia đang phát triển, kể từ khi “Đổi mới” và mở cửa với kinh tế thế giới (1986), nhất là từ sau Đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã chuyển sang phương thức phát triển mới “Xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước”, kể từ đó đến nay đã đạt được nhiều thành tựu trong tăng trưởng kinh tế, đời sống người dân không ngừng được nâng cao, hiện nay Kinh tế Việt nam đã đạt đến mức phát triển trung bình Tuy nhiên trong 25 phát triển đó, Việt Nam đã phải trả giá cho sự suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường là không nhỏ Để khắc phục tình trạng này và rút ngắn khoảng cách trong phát triển có tính dài hạn nhằm phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới, mang lại phúc lợi tốt nhất cho người dân, yêu cầu chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế là tất yếu nhằm “Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng đảm bảo phúc lợi và bảo vệ Tài nguyên

mô trường”, muốn vậy nên tiếp cận theo hướng “nền Kinh tế Xanh”

I Nội hàm phát triển của nền Kinh tế Xanh

UNEP đã đưa ra khái niệm ban đầu cho rằng: “Nền Kinh tế Xanh mang lại phúc lợi cho con người và công bằng xã hội, nó có ý nghĩa giảm những rủi ro môi trường và khan hiếm sinh thái” Từ khái niệm đó cho thấy, phát triển một nền Kinh tế Xanh thực chất là vì con người, đảm bảo phúc lợi cao nhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội

và hạn chế tối đa những rủi ro cho môi trường và hệ sinh thái, tôn tạo và phát triển hệ sinh thái tự nhiên

Một nền Kinh tế Xanh đơn giản là một nền kinh tế có mức phát thải thấp, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo tính công bằng về mặt xã hội Trong nền Kinh tế Xanh, sự tăng trưởng về thu nhập và việc làm thông qua việc đầu tư của Nhà nước và tư nhân cho nền kinh tế làm giảm thiểu phát thải cacbon, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và dịch vụ của hệ sinh thái Như vậy khác với trước đây,

Trang 29

trong “nền kinh tế nâu”, đầu tư công cần phải có sự điều chỉnh cơ bản thông qua những chính sách mới được cải thiện của các quốc gia, ưu tiên cho duy trì và phát triển nguồn vốn tự nhiên, nhất là những nguồn tài sản thuộc sở hữu chung mang lại lợi ích cho mọi người Sự đầu tư đó cũng cần chú ý tới nhóm người nghèo, bởi sinh kế và an sinh của họ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và họ là những đối tượng dễ bị tổn thương

do tác động của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu

Xét về mặt học thuật, “Nền Kinh tế Xanh” là sự nâng cấp của “Kinh tế Môi trường”, trong kinh tế môi trường về bản chất đó là “Nghiên cứu mối quan hệ tương tác, phụ thuộc và quy định lẫn nhau giữa kinh tế và môi trường (hệ thống hỗ trợ cuộc sống của trái đất) nhằm bảo đảm một sự phát triển ổn định, hiệu quả, liên tục và bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường và lấy con người làm trung tâm”, Kinh tế Xanh nhấn mạnh hơn đầu tư cho phát triển chú trọng tới giảm thiểu ô nhiễm, nhất là giảm phát thải cacbon và duy trì, phát triển nguồn vốn của tự nhiên, mang lại quyền hưởng lợi của mọi người do đầu tư đó mang lại

Theo kết qủa nghiên cứu của các tác giả trong tài liệu “Hướng tới nền Kinh tế Xanh” do chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố năm 2011, mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu (Khoảng 1300 tỷ USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5% GDP) tương đương với số tiền

350 tỷ USD được đầu tư cho các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, nước sạch và thủy sản Trong mô hình kinh tế vĩ mô, các tác giả cũng đã tính toán và chỉ ra rằng, xét trong dài hạn, đầu tư vào nền Kinh tế Xanh sẽ cải thiện hiệu quả kinh tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu Mặt khác sự đầu tư

đó sẽ đem lại hiệu quả trong việc phục hồi các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, giảm thiểu những rủi ro môi trường và tái thiết sự thịnh vượng cho tương lai Như vậy xây dựng một nền Kinh tế Xanh cũng không thay thế và mâu thuẫn với “Phát triển bền vững”, vì phát triển bền vững thực chất là “sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”, phát triển bền vững nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn (mục tiêu thiên niên kỷ), còn xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa chúng ta tới đích của phát triển bền vững

2 Nền Kinh tế Xanh là mục tiêu hướng tới của kinh tế toàn cầu

Mặc dù khái niệm Kinh tế Xanh (Green Economy) mới được UNEP đề xuất, nhưng nội hàm của nó như đã đề cập ở trên thực chất là sự nâng cấp của khái niệm truyền thống trước đây là Kinh tế môi trường “Environmental Economy”, tuy nhiên

“Kinh tế Xanh đã mở ra một hướng tiếp cận rộng hơn cho cả những điều chỉnh từ chính sách kinh tế vĩ mô và điều hành thực hiện trong kinh tế vi mô, nhất là đối với chính sách công trong đầu tư cho khôi phục tài nguyên và môi trường Khái niệm mới

ra đời nhưng trong thực tế đã có nhiều quốc gia đã và đang thực hiện theo hướng xanh hóa nền kinh tế, thậm chí các chỉ tiêu đo lường đã được một số quốc gia áp dụng như GDP xanh (Green GDP) cho chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Đối với hoạt đông của doanh nghiệp, những sản phẩm có chất lượng cao và có sức cạnh tranh trên thế giới trong thời gian vừa qua cũng là những sản phẩm không chỉ đạt về mặt chất lượng mà còn đảm bảo yêu cầu về môi trường, đó là những sản phẩm đã đăng ký và được cấp chứng chỉ ISO-14000, những sản phẩm xanh được cấp nhãn sinh thái (Eco-label), những sản phẩm đó chính là sự lựa chọn của người tiêu dùng Tại Hội nghị của các quan chức cấp

Bộ trưởng do UNEP tổ chức ở Nairobi, Kenya tháng 02-2011 nhằm chuẩn bị nội dung

và thảo luận những vấn đề cần đưa ra bàn thảo và thống nhất để chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển bền vững năm 2012 ở Rio de Janerio, Brazin

Trang 30

Các quốc gia cơ bản nhất trí mục tiêu hướng tới của các nền kinh tế toàn cầu là “Kinh

tế Xanh”, trong đó cần chú trọng tới “Sản xuất và tiêu dùng bền vững”

Từ khởi xướng của UNEP về “Kinh tế Xanh”, để thực hiện nền Kinh tế Xanh, đòi hỏi các quốc gia căn cứ vào thực tiễn của mỗi nước tiến hành chuyển đổi mô hình

và phương thức phát triển kinh tế cho phù hợp với xu thế phát triển mới, phải có sự điều chỉnh kết cấu kinh tế Trong thực tế đã có một số nước mặc dù không nói rõ phát triển “nền Kinh tế Xanh”, nhưng họ đã có những điều chỉnh và chuyển đổi phương thức phát triển không theo phương thức phát triển cũ nữa-“Kinh tế nâu”

3 Đề xuất hướng tiếp cận nền “Kinh tế Xanh” ở Việt Nam

Trải qua 24 năm đổi mới và mở cửa phát triển Kinh tế, Việt Nam cũng đã phải trả giá cho suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường Nằm trong xu thế phát triển chung của kinh tế thế giới với sự điều chỉnh về mô hình phát triển và thay đổi cơ cấu ngành nghề Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), do vậy phát triển kinh tế của Việt nam phải tuân theo những nguyên tắc chung của những cam kết với WTO trong xu thế phát triển Hội nhập toàn cầu Hơn nữa Việt nam được xếp vào danh sách một trong năm nước chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, do vậy hướng tới nền “Kinh tế Xanh” là lựa chọn hợp lý Tuy nhiên sự lựa chọn này cần phải nhìn nhận rõ những cơ hội và thách thức để định hướng cho phát triển

3.1 Về cơ hội

- Hiện nay sự quan tâm lớn nhất của cộng đồng thế giới là “Biến đổi khí hậu” Nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, các quốc gia đang có nhiều nỗ lực, trong đó phát triển kinh tế cac bon thấp, tăng trưởng xanh đang là những xu hướng mới trong lộ trình tiến tới “Nền Kinh tế Xanh” Việt nam sẽ đón nhận được sự ủng hộ

và giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới trong nỗ lực chung giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới “Nền Kinh tế Xanh”

- Việt nam đang có những thay đổi cơ bản sau 24 năm “Đổi mới và mở cửa”, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một sự phát triển vì con người, những yếu tố đó được thực hiện trong một môi trường chính trị ổn định là cơ hội tốt cho triển khai thực hiện “Nền Kinh tế Xanh”

- Tiếp tục triển khai, thực hiện chiến lược phát triển Kinh tế-Xã hội giai đoạn 2011-2015 Hội nghị lần thứ 3 BCHTW Đảng Cộng Sản Việt nam đã khẳng định: đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường Như vậy Việt nam sẽ đẩy mạnh “Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng” trong thời gian sắp tới Đây là cơ hội để Việt Nam hướng tới “Nền Kinh tế Kanh” và “Tăng trưởng xanh”

- Kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng trong những năm vừa qua tạo ra nội lực bên trong cho một xu thế phát triển mới Những vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên trong thời gian phát triển vừa qua đối với đất nước Hướng tới một nền Kinh tế Xanh sẽ được sự đồng thuận cao của xã hội Sau một thời gian phát triển từ khi đổi mới và mở cửa, người dân đã nhận thức được sự trả giá của

mô hình phát triển của nền “kinh tế nâu”

- Với lợi thế nằm trong khu vực nhiệt đới, gió mùa Đông Nam Á, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào, năng lượng gió phong phú, sinh vật tăng trưởng nhanh là cơ

Ngày đăng: 27/06/2014, 14:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w