Khai thác vàng thủ công Khai thác vàng thủ công là một trong những nguồn thải thuỷ ngân ra môi trường lớn nhất ở các nước đang phát triển.. Những chất gây ô nhiễm chủ yếu trong nước là
Trang 1Nhìn lại 2008 – Những vấn nạn ô nhiễm trên thế giới (kỳ 1)
Viện Blacksmith phối hợp cùng tổ chức Chữ thập xanh Thụy Sỹ đã công bố bản báo cáo về 10 vấn đề ô nhiêm nghiêm trọng nhất thế giới năm
2008 Danh sách bao gồm từ những vấn đề là tâm điểm của các cuộc tranh luận gay gắt trong thời gian qua như ô nhiễm không khí đô thị cho tới những vấn đề ít khi được nói đến, như tái chế ắc quy Nhưng tất cả đều có một điểm chung là ảnh hưởng sâu sắc đến sức khoẻ hàng triệu người trên toàn thế giới.
1 Khai thác vàng thủ công
Khai thác vàng thủ công là một trong những nguồn thải thuỷ ngân ra môi trường lớn nhất ở các nước đang phát triển Khoảng ¼ tổng lượng vàng cung cấp trên thế giới bắt nguồn từ các khu mỏ này Những người thợ
mỏ thủ công trộn thuỷ ngân với bùn có chứa vàng để tạo thành một hỗn hợp cứng lấy đi phần lớn lượng vàng chứa trong bùn
Sau đó, hỗn hợp này được đun nóng lên bằng đèn hàn hoặc hơ lửa để làm bay hơi thuỷ ngân, để lại những miếng vàng nhỏ Không được bảo vệ bằng các thiết bị bảo hộ lao động, chính những nhân công đào đãi vàng
và cả gia đình, con cái họ hít hơi thủy ngân này vào Theo một nghiên cứu
về khai thác vàng thủ công ở Peru cho thấy để tinh chế được một gam vàng, có ít nhất 2 gam thuỷ ngân được thải vào khí quyển Còn lượng thuỷ ngân không bay hơi bị thải trực tiếp ra môi trường xung quanh khu
mỏ và lan rộng Chúng được vô số sinh vật hấp thụ và tích luỹ sinh học Trong môi trường, thuỷ ngân có thể bị biến thành metyl thuỷ ngân - một trong những chất độc thần kinh nguy hiểm nhất có thể gây hại cho con người thông qua chuỗi thức ăn
Nhiễm độc thuỷ ngân có thể gây ra các bệnh về thận, khớp, mất trí nhớ, sẩy thai, loạn thần kinh, hô hấp kém, tổn thương thần kinh và thậm chí
có thể dẫn đến tử vong Đặc biệt là trẻ em, nếu bị phơi nhiễm thuỷ ngân
sẽ có nguy cơ gặp nhiều vấn đề trong giai đoạn phát triển
Theo ước tính của Tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), hoạt động khai thác vàng thủ công thải ra khoảng 1.000 tấn thuỷ ngân mỗi năm, chiếm 30% sản lượng thuỷ ngân trên toàn thế giới
Có khoảng 10 đến 15 triệu công nhân khai thác vàng thủ công làm việc tại các mỏ quy mô nhỏ, trong đó có 4,5 triệu phụ nữ và khoảng 600.000 trẻ em Hầu hết các công nhân khai thác vàng thủ công đến từ những khu dân cư kém phát triển về kinh tế, xã hội
Họ buộc phải bước vào nghề khai thác vàng để thoát khỏi tình trạng đói
Trang 2nghèo, thất nghiệp và không có ruộng đất Họ phải chịu sự ngược đãi của chính phủ và đối mặt với hàng loạt nguy cơ sập hầm và hoá chất độc hại
từ quá trình khai thác và chế biến Theo UNIDO cho biết, 95% lượng thuỷ ngân sử dụng trong khai thác vàng thủ công được thải vào môi trường một cách không kiểm soát, gây nguy hiểm về mọi mặt: kinh tế, môi trường và sức khoẻ cộng đồng
2 Nguồn nước mặt
Do nhiều lý do khác nhau, các nguồn nước trên Trái đất ngày càng cạn kiệt Ước tính có khoảng 1/3 dân số thế giới đang sống trong tình trạng thiếu nước trầm trọng Trong khi đó, dân số gia tăng với tốc độ chóng mặt Quá trình đô thị hoá, hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đang khiến cho các nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng
Nguồn nước bị ô nhiễm đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ con người Gần 5 triệu người chết hàng năm ở các nước đang phát triển có liên quan đến vấn đề thiếu nước sạch
Những chất gây ô nhiễm chủ yếu trong nước là các mầm bệnh sinh ra từ chất thải của con người (vi khuẩn và vi rút), kim loại nặng và hoá chất từ chất thải công nghiệp, nông nghiệp Uống nước đã bị ô nhiễm hoặc ăn thức ăn chế biến bằng nước nhiễm độc là hình thức phơi nhiễm phổ biến nhất Ăn cá bắt từ nguồn nước bị ô nhiễm cũng có thể nguy hiểm vì
chúng có thể mang mầm bệnh và tích luỹ các chất độc hại như kim loại nặng và các chất hữu cơ bền thông qua quá trình tích luỹ sinh học Ngoài
ra, con người cũng có thể bị ảnh hưởng bởi cây trồng được tưới bằng nước ô nhiễm hoặc do đất bị nhiễm bẩn bởi các dòng sông ô nhiễm dâng lên
Các mầm bệnh trong nước ô nhiễm có thể gây ra hàng loạt các bệnh liên quan đến đường ruột, đặc biệt nguy hiểm và có thể gây tử vong đối với trẻ em và những người có thể trạng nhạy cảm Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết ô nhiễm nguồn nước là một trong những nguyên nhân gây tử vong lớn nhất trong số các vấn đề về môi trường Những chất độc tích luỹ trong cá và các loại thức phẩm khác ít có nguy cơ gây độc cấp tính nhưng lại có thể để lại hậu quả lâu dài
Vấn đề ô nhiễm nguồn nước mặt hiện đang diễn ra với hầu hết các con sông lớn ở các nước đang phát triển, điển hình như Trung Quốc và Ấn Độ Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá một cách ồ ạt đã khiến cho nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt hằng ngày của người dân trở nên tồi tệ Theo dự đoán, trong một vài thập kỷ tới, có tới 2/3 dân số thể giới sẽ phải sống trong cảnh thiếu nước
Trang 3Trong thời gian qua, các quốc gia cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm nước mặt, tuy nhiên kết quả mang lại còn hạn chế
Ấn Độ đã tốn hàng trăm triệu rupi cho kế hoạch Hành động sống Hằng thực hiện từ những 1980 nhằm giảm ô nhiễm trên dòng sông này, nhưng hầu như không mang lại kết quả
Trung Quốc mặc dù đã cải thiện đáng kể chất lượng nước ở sông Hoàng Phố chảy qua thành phố Thượng Hải bằng khoản đầu tư hàng tỉ USD trong 20 năm cùng với việc đóng cửa các cơ sở gây ô nhiễm nhưng hoạt động công nghiệp và sư ̣ phát triển đô thị lại đang gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước sông Dương Tử, con sông lớn nhất quốc gia này.
Một thực tế cho thấy, các chương trình phục hồi chất lượng nước mặt là
có thể thực hiện được nhưng rất tốn kém Và điều đó dường như đồng nghĩa với việc những người dân nghèo sống xung quanh các lưu vực bị ô nhiễm vẫn tiếp tục phải ăn uống và sinh hoạt bằng những nguồn nước chết người đó
3 Nước ngầm
Nước ngầm là nguồn nước nằm ở dưới bề mặt lớp đất sỏi và trong những tầng địa chất thấm qua được Nước ngầm là một nguồn rất quan trọng của nước sạch, chiếm 97% lượng nước ngọt trên Trái đất Khoảng 2 tỉ người, cả ở thành phố và nông thôn đang phụ thuộc vào lượng nước này cho những nhu cầu sống hằng ngày Nhưng nguồn nước này giờ đây cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều lý do khác nhau
Ở đô thị, các nguồn gây ô nhiễm nước ngầm chính là các bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh Ngoài ra nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản đều có khả năng bị rò rỉ và ngấm vào tầng chứa nước nước ngầm Hoạt động sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và phân bón cũng là nguồn đe doạ lớn đối với nguồn nước ngầm
Các quá trình hình thành địa chất tự nhiên là nguồn giải phóng kim loại nặng vào nước ngầm, trong đó phổ biến nhất là ô nhiễm Asen Một
nghiên cứu mới đây cho thấy nguồn nước ngầm của nhiều quốc gia thuộc khu vực Nam Á và Đông Nam Á có hàm lượng Asen rất cao Cao nhất là Băng-la-đét Hiện có 1/15 dân số nước này đang phải uống nước có hàm lượng Asen cao hơn 5 lần mức cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO)
Nước ngầm rất khó xử lý, do đó việc bảo vệ nguồn nước đó là cư ̣ c kỳ
Trang 4quan trọng Một số biện pháp ngăn chặn cơ bản là tăng cường kiểm soát đối với việc xả thải, xây dựng hệ thống thoát nước hợp vệ sinh Tuy nhiên, cho đến nay ở các nước đang phát triển các biện pháp này được tiến hành rất chậm chạp, trong khi hệ thống nước ngầm đang ngày càng
bị nhiễm bẩn nghiêm trọng
4 Không khí trong nhà
Sự ô nhiễm không khí trong nhà (IAP) là khái niệm để mô tả điều kiện không khí trong các không gian nhà ở, trường học, nơi làm việc… không đảm bảo Nó có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân như khói bếp lò, khói thuốc lá hoặc do hoạt động của các loại máy móc, thiết bị trong nhà Tình trạng này xảy ra rất phổ biến ở các nước đang phát triển
Nguyên nhân chủ yếu của IAP ở các nước đang phát triển là do việc đốt than và các chất đốt sinh học (gỗ, phân động vật và rơm rạ) để nấu ăn, sưởi ấm và chiếu sáng Hơn 50% dân số thế giới dùng năng lượng để đun nấu theo cách này, hầu hết họ đều sống ở các nước nghèo
Trong khi đa số người dân ở các nước có thu nhập cao đã chuyển sang dùng các sản phẩm từ dầu mỏ và điện để đun nấu, thì ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Châu Phi cận Sahara, tới 80% các gia đình ở thành phố và hơn 90% các hộ dân ở nông thôn vẫn đun nấu bằng các nguồn nhiên liệu truyền thống này
Nhiên liệu sinh học được đốt chủ yếu bằng các bếp thô sơ, do đó chúng thường không được đốt cháy hoàn toàn Điều này vừa gây ra sự lãng phí nguyên liệu vừa gây ô nhiễm không khí Cùng với hệ thống thông gió không đảm bảo đã làm cho hàm lượng bụi và khói độc trong nhà cao, rất
có hại cho sức khoẻ con người Trong đó những người bị ảnh hưởng nhiều nhất là phụ nữ - những người thường xuyên nấu ăn và trẻ nhỏ thường xuyên được địu trên lưng mẹ
Sự đốt cháy nguyên liệu sinh học tạo thành các hạt Các hạt với đương kính nhỏ hơn 10 micro (PM10) và đặc biệt nhỏ hơn 2.5 micro (PM2.5) có thể xuyên sâu vào phổi Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) đã khuyến cáo rằng hàm lượng trung bình 24giờ của PM10 không nên vượt quá 150 µg/m3 Trong khi đó, nếu đun nấu với nguyên liêu sinh học truyền thống hàm lượng PM10 trong không khí trong nhà có thể đạt từ 300 đến 3000 µg/m3, cao gấp hơn 20 lần lượng cho phép Thậm chí vào thời điểm đun nấu con số này có thể lên tới 30.000 µg/m3, gấp 200 lần hàm lượng cho phép
IAP gây ra 3 triệu ca tử vong mỗi năm và là nguyên nhân cho 4% căn
Trang 5bệnh trên toàn thế giới, tập trung chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp
Hàng trăm, nhiều chương trình đã được thực hiện trên toàn thế giới để giảm thiểu mối đe doạ bởi IAP Phần lớn chúng đều tập trung vào việc giới thiệu những loại bếp sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn Tuy nhiên, trong những năm tới những nỗ lực này cần được bổ sung bằng những cách tiếp cận toàn diện hơn bao gồm cải thiện hệ thống lưu thông gió, thay đổi cách sống và một loạt các giải pháp truyền thông khác
5 Khai thác mỏ
Các hoạt động khai thác mỏ gồm tất cả các hoạt động khai thác kim loại
và khoáng sản hiện nay Vấn đề ô nhiễm thường thấy trong các mỏ đang hoạt động là lớp đất đá bị bóc ra trong quá trình khai thác và các chất thải từ quá trình làm giàu và chế biến quặng Chúng chứa rất nhiều kim loại nặng và các loại hoá chất nguy hại không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của những người tiếp xúc mà còn làm ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng Ngoài ra chúng còn ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp, huỷ hoại đất trồng
Rất nhiều vấn đề sức khoẻ có nguyên nhân từ các mỏ hoạt động ô nhiễm, tuỳ thuộc vào từng loại chất có mặt và sự liên kết trong không khí, đất, nước và thức ăn Nếu không xảy ra sự cố gì nghiêm trọng, ảnh hưởng của hoạt động khai thác mỏ thường kéo dài trong nhiều năm, gây hại đến mắt, da, mũi họng; những bệnh tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn máu, thận, gan; thậm chí có thể gây ra các bệnh ung thư, phá huỷ hệ thần kinh trung ương, gây ra các dị dạng bẩm sinh
Một số khu vực điển hình cho tình trạng ô nhiễm do khai thác mỏ là làng Guo’an, Quảng Tây, Trung Quốc, Santa Catarina - Brazil
Trong những năm qua, chính phủ các nước cũng đã có nhiều biện pháp nhằm kiểm soát hoạt động của các khu khai thác mỏ nhằm hạn chế
những tác động tiêu cực đến môi trường và sức khoẻ nguời dân Nhưng tổng kết về các vấn đề năm 2008, khai thác mỏ vẫn là một vấn đề nhức nhối đối với môi trường thế giới Trong những năm tới, muốn giải quyết vấn đề này, chính phủ các nước cần có những chính sách và quy định pháp luật nghiêm minh hơn nũa, buộc các doanh nghiệp khai thác
khoáng sản phải thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp xử lý nước thải
và chất thải rắn, hạn chế những tác động đến môi trường và sức khoẻ nguời dân
Theo Báo cáo “The World’s worst pollution problems”/2008
Trang 6Nhìn lại 2008 – Những vấn nạn ô nhiễm trên thế giới (kỳ 2)
Nhận xét về mục đi ́ch của nghiên cứu, Rirchard Fuller, người sáng lập Viện
Blacksmith, cho biết: “Báo cáo này nhằm nâng cao nhận thức của con người về những thiệt hại khôn lường mà ô nhiễm môi trường gây ra cho sức khoẻ, đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế có hành động thiết thực để ngăn chặn và đối phó”
6 Nung chảy và gia công kim loại
Các nhà máy gia công và nung chảy kim loại là các cơ sở chế biến nhiều loại kim loại khác nhau từ quặng để tạo ra các sản phẩm kim loại tinh luyện hơn Những kim loại này thường là đồng, kẽm, chì, niken, bạc, coban, vàng…Quy trình nung chảy và luyện kim kiểu chiết là hoạt động gây ô nhiễm cao Một vài cơ sở tiến hành quy trình nung kim loại là nơi phát thải số lượng lớn các chất gây ô nhiễm không khí như HCl, SO2, NOx và các khí độc hại và gây khó chịu, hơi nước, khí và các chất độc khác
Các cơ sở này cũng phát thải ra nhiều loại kim loại nặng khác: chì, nguyên tố asen, crom, catum, niken, đồng và kẽm Bụi kim loại không chỉ gây ô nhiễm không khí
mà còn ảnh hưởng đến môi trường đất và nước mặt Thêm vào đó, quá trình tẩy rửa cũng là nguồn phát thải lượng lớn axit sunfuric Ngành sản xuất thép hàng năm tạo ra 5 đến 6% lượng phát thải CO2 nhân tạo trên thế giới Ngoài ra, quá trình nung chảy có thể tạo ra một số lượng lớn chất thải rắn dưới dạng xỉ, chứa một lượng lớn chất ô nhiễm
Con người thường bị nhiễm độc do các chất độc hại trong quá trình chế biến kim loại qua đường hô hấp và ăn uống Công nhân trong nhà máy gia công và nấu chảy kim loại thường có nguy cơ nhiễm độc cao do họ thường tiếp xúc trực tiếp với chất ô nhiễm khi làm việc với các chất chứa chất thải do nung chảy và gia công kim loại
Nhiễm các chất độc trong không khí phát sinh từ quá trình chế biến kim loại có thể dẫn tới nhiều loại bệnh cấp tính và kinh niên khác nhau Những trường hợp mới nhiễm có thể dẫn tới đau mắt, mũi và cổ họng Những trường hợp kinh niên và nghiêm trọng hơn có thể dẫn tới vấn đề về phổi và tim, thận, thần kinh… và thậm chí gây tử vong sớm Một số vùng được coi như là điển hình về ô nhiễm do gia công, chế biến kim loại như: La Oroya – Pêru, Elbassan – Albania, Tuticorin – Tamil, Nadu – Ấn Độ, Thung lũng Rudnaya – Nga, Zlanta – Romania
7 Chất thải phóng xạ và mỏ uranium
Rác thải và vật liệu phóng xạ là những nguồn phát thải phóng xạ dưới nhiều hình thức và nhiều cấp độ, có ảnh hưởng tới sức khoẻ con người Vật liệu phóng xạ được sử dụng trong các nhà máy sản xuất điện, trong quân sự, trong lĩnh vực y học, trong công nghiệp, và ngay cả trong cuộc sống hàng ngày
Trang 7Chất thải phóng xạ thường được chia thành chất thải mức độ thấp và mức độ cao Chất thải mức độ cao có nguồn gốc từ các lò phản ứng hạt nhân Chúng có thể tồn tại trong môi trường rất lâu và hầu như không thể xử lý được cho đến khi quá trình phân rã kết thúc Do đó vấn đề của chất thải phóng xã là phải có biên lưu Trên thế giới có nhiều nỗ lực để tìm ra phương pháp có thể cô lập chất thải phóng
xã khỏi sinh quyển Tuy nhiên, vấn đề này còn rất phức tạp và gây nhiều tranh cãi
Chất thải mức độ thấp là những vật liệu có khả năng phân rã kém hoặc là những vật liệu bị nhiễm phóng xạ trong quá trình sử dụng Chúng là chất thải từ ngành công nghiệp hạt nhân, y học…
Chất thải từ quá trình gia công và khai thác các mỏ urani là một ví dụ Urani chủ yếu được khai thác từ những nước có thu nhập thấp Bảy trên mười khu khai thác urani lớn nhất thế giới hiện nay không đạt tiêu chuẩn an toàn Chúng chủ yếu nằm
ở các nước đang phát triển như: Kazakhstan, Nga, Niger, Namibia, Uzbekistan, Ukraina and Trung Quốc
Thông thường hàm lượng urani trong quặng chỉ xấp xỉ mức 0,1 - 0,2%, điều đó có nghĩa là trên 99% lượng đất đá sau khai thác quặng được thải loại Sau khi khai thác, urani được làm giàu và chiết xuất thành dạng urani nguyên liệu có thể sử dụng Các quá trình này thường sử dụng đến các loại axit như H2SO4 Ngoài ra, quá trình khai thác và làm giàu quặng urani còn thải ra các chất độc như asen và chì Loại bùn thải độc hại chứa cả chất phóng xạ và các kim loại nặng này làm cho nhiều vùng khai thác mỏ bị ô nhiễm nặng nề Chúng có thể theo các dòng nước và làm ô nhiễm một vùng rộng lớn
Chất thải phóng xạ có thể thâm nhập vào cơ thể qua đường thức ăn, nước hoặc không khí Hiện tượng phóng xạ ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá năng lượng trong cơ thể người theo nhiều cách khác nhau Nó tấn công cơ quan chức năng của cơ thể, gây ra hàng loạt các bệnh ung thư, gây đột biến gen và ảnh hưởng đến nhiều thế hệ tiếp theo
Trong những năm qua, nhiều quốc gia đã chỉnh đốn ngành công nghiệp và quản lý chất thải phóng xạ Đặc biệt, có nhiều quy định trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế cho việc quản lý chất thải phóng xạ mức độ cao Tuy nhiên ở những nước kém phát triển với sự thiếu hiểu biết về sự nguy hại của chất thải do khai thác và làm giàu urani và sự yếu kém của các chính phủ trong vấn đề này nên những khu vực bị nhiễm độc do chất thải phóng xạ đang ngày càng nghiêm trọng, đe doạ sự tồn vong của nhiều dân tộc trên thế giới
8 Nước thải sinh hoạt
Trang 8Nước thải sinh hoạt là những chất thải lỏng chứa hỗn hợp phân người và nước thải
từ những hoạt động phi công nghiệp của con người như tắm, giặt và lau dọn Ở nhiều khu vực nghèo trên thế giới, chất thải được đổ trực tiếp xuống sông của địa phương bởi trên thực tế họ không còn sự lựa chọn nào khác
Chất thải không được xử lý gây ra nhiều nguy cơ cho sức khoẻ của con người vì nó chứa tác nhân gây bệnh lan truyền qua đường nước, có thể gây ra những căn bệnh nghiêm trọng ở người Chất thải sinh hoạt không được xử lý cũng làm giảm hàm lượng oxy trong môi trường nước, phá huỷ hệ sinh thái nước, đe doạ đến sinh
kế của con người
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính trong năm 2008, thế giới vẫn có 2,6 tỷ người không được tiếp cận với những điều kiện tối thiểu về vệ sinh Bên cạnh đó việc không có một hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt mà đổ thẳng ra các kênh rạch, sông ngòi làm cho nguồn nước ở nhiều khu đô thị bị nhiễm độc nặng
nề và ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước cấp sinh hoạt của chính nguời dân trong khu vực đó
Những tác nhân gây bệnh đe doạ đến cuộc sống con người chứa trong chất thải gồm có bệnh dịch tả, bệnh sốt thương hàn và bệnh kiết lị, bệnh sán máng (bệnh
do các sán lá schristosoma ký sinh trong máu gây ra), bệnh viêm gan A, bệnh nhiễm khuẩn đường ruột và một số bệnh khác Tổ chức Y tế thế giới WHO ước tính mỗi năm có 1,5 triệu người chết do sử dụng nước không an toàn, điều kiện vệ sinh không đảm bảo Hầu hết số người chết là trẻ em
Với nhiều nỗ lực của chính phủ các nước cũng như cộng đồng quốc tế, vấn đề này
đã có nhiều tiến bộ Tuy nhiên, cho đến năm 2008 đây vẫn là một vấn đề môi trường nổi cộm đáng phải quan tâm trên toàn thế giới
9 Không khí đô thị
Ô nhiễm không khí và sương khói quang hoá có thể xảy ra ở bất kỳ môi trường nào thải nhiều và liên tiếp các chất gây ô nhiễm sơ cấp (CO, NOx, SO2, bụi lơ lửng,… Tuy nhiên, do những đặc trưng về khí hậu và địa hình mà ảnh hưởng của các khí ô nhiễm ở các vùng địa lý khác nhau là khác nhau Những đô thị nằm trong các vịnh hay thung lũng có địa hình đồi núi bao quanh ngăn cản sự luân chuyển không khí thì khả năng ảnh hưởng cao hơn các khu vực khác Mỗi năm Tổ chức Y
tế thế giới WHO ước tính trên toàn thế giới có khoảng 865.000 người chết do ảnh hưởng trực tiếp của ô nhiễm không khí ngoài trời Chủ yếu tập trung ở các khu đô thị và khu công nghiệp
Phơi nhiễm với không khí ô nhiễm có thể gây ra các căn bệnh về phổi và tim mạch mãn tính, đặc biệt là trẻ em và những người có tiền sử bị bệnh thì càng bị ảnh hưởng nặng nề Các nghiên cứu chỉ ra rằng phơi nhiễm mãn tính với NO2 có thể
Trang 9làm suy yếu sự phát triển phổi ở trẻ em và gây ra sự thay đổi về cấu trúc ở phổi của người lớn
Phơi nhiễm với khí ozon ở mặt đất cũng làm bỏng và ngứa mắt, mũi và cổ họng và làm khô niêm mạc, giảm khả năng cơ thể kháng cự lại các bệnh lây nhiễm về đường hô hấp Nói chung, ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với sức khoẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chất gây ô nhiễm và nồng độ của nó trong không khí, điều kiện nhiệt độ và độ ẩm trong không khí và thời gian phơi nhiễm của một người đối với chất gây ô nhiễm
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ về việc giảm ô nhiễm không khí ngoài trời ở các nước phát triển nhưng nhiều thành phố ở những nước này vẫn thường xuyên thải ra các chất gây ô nhiễm với mức độ vượt quá giới hạn cho phép Tình hình này ở các nước đang phát triển còn tồi tệ hơn nhiều Ô nhiễm không khí ngoài trời là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi một sự tiếp cận nhiều mặt cùng lúc để giải quyết
Cần phải có sự hợp tác giữa các nhà quy hoạch đô thị, kỹ sư về giao thông, những nhà lập chính sách về năng lượng và môi trường và những nhà kinh để cùng nhau xây dựng và phát triển những giải pháp giảm ô nhiễm không khí và những ảnh hưởng của nó lên sức khoẻ của con người Có thể lấy thành phố Băng Cốc của Thái Lan là một trường hợp điển hình trong nỗ lực giảm ô nhiễm không khí Quá trình phát triển đô thị quá nhanh trong những năm 1990 đã khiến không khí ngoài trời ở Băng Cốc ô nhiễm một cách trầm trọng
Một chiến lược đa ngạch đã được Chính phủ Thái Lan đề ra để chiến đấu với vấn
đề này, bao gồm ban hành những quy định giảm chất thải, loại bỏ xăng pha chì và đưa vào sử dụng các thiết bị lọc khí thải Thêm vào đó, thành phố này cũng đã thực hiện biện pháp đơn giản và có hiệu quả như mở rộng vỉa hè để giảm bụi, giáo dục nhân dân và cung cấp các dịch vụ sửa chữa máy móc miễn phí Sau một thời gian ngắn, giờ đây Băng Cốc đã có chất lượng không khí tốt hơn cả các tiêu chuẩn của Mỹ và thành phố này cũng đang tiến đến những tiêu chuẩn của Châu Âu
Tuy nhiên, chất lượng không khí ở đa số các nước đang phát triển trên thế giới vẫn đang là một vấn đề đang phải quan tâm Và việc nó có mặt trong danh sách này cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên
10 Tái chế chì từ pin axit chì thải loại
Chì tái chế là 1 hàng hoá có giá trị cao, do đó thị trường mua bán loại hàng hoá này rất phát triển, đặc biệt là ở các nước thế giới thứ 3 Tuy nhiên, quá trình tái chế chì từ pin axit chì đã qua sử dụng thường diễn ra ở những đô thị đông đúc dân cư mà hầu như không có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nào Viện Blacksmith ước tính rằng trên 12 triệu người ở các nước đang phát triển đang gánh chịu hậu
Trang 10quả từ nhiếm độc chì
Nhiễm độc chì xảy ra khi con người tiếp xúc với 1 hàm lượng chì lớn do nuốt phải bụi, khí hoặc hơi phát tán trong không khí Nhưng nhiễm độc chì do tiếp xúc lâu ngày với 1 hàm lượng chì nhỏ còn phổ biến và tai hại hơn nhiều Các rủi ro sức khoẻ do nhiễm độc chì gồm có chứng suy giảm phát triển thể chất và trí óc, suy yếu chức năng thận, thậm chí tử vong Cụ thể hơn, nhiễm độc chì gây ra sự mệt mỏi, đau đầu, nhức xương và cơ, chứng đãng trí, ăn mất ngon và ngủ không sâu, kèm theo cả táo bón và đau dạ dày gay gắt Trẻ em và phụ nữ mang thai là hai đối tượng chịu nhiều tổn thương hơn cả khi nhiễm độc chì
Ngành công nghiệp và những người điều hành Công ước Basel đã nhận ra những nguy cơ mà hoạt động tái chế chì mang lại Ở 1 vài quốc gia, hoạt động tái chế đã được chuẩn hoá và ít nhiều được quản lý tốt hơn Nhưng ở những nuớc nghèo hơn, hoạt động này vẫn còn diễn ra tuỳ tiện và không được quan tâm đúng mức
Viện Blacksmith hiện này đang nỗ lực giảm nhẹ các trường hợp nhiễm độc chì do tái chế chì từ pin axit chì đã qua sử dụng qua một dự án có tên là: “Sáng kiến tái chế pin axit chì có trách nhiệm với cộng đồng” Dự án này bao gồm: giáo dục, tuyên truyền quy trình tái chế chì chuẩn hoá, khôi phục lại di sản đất đai đã nhiễm chì, phát triển các chính sách hiệu quả hơn để quản lý pin axit chì đã qua sử dụng,
và tạo ra những nguồn thu nhập mới cho những người không có đủ điều kiện áp dụng quy trình tái chế chuẩn hoá
Theo Báo cáo “The World’s worst pollution problems”/2008