1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Bài giảng an toàn và môi trường docx

87 959 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng An Toàn & Môi Trường
Tác giả Lê Đăng Hoành
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa
Chuyên ngành An Toàn Lao Động
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 592,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

§1-1- Mục đích, ý nghĩa và tính chất của công tác bảo hộ lao động 1- Mục đích-Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về

Trang 1

Bài giảng

AN TOÀN & MÔI TRƯỜNG

W X

Trang 2

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHOA HỌC

BẢO HỘ LAO ĐỘNG

Bảo hộ lao động là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và thực nghiệm nhằm cải thiện điều kiện lao động và bảo đảm an toàn lao động

§1-1- Mục đích, ý nghĩa và tính chất của công tác bảo hộ lao động

1- Mục đích-Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động

Mục đích của công tác bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về khoa học kĩ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại

phát sinh trong xản xuất, tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện tốt hơn, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau và giảm sức khỏe cũng như những thiệt hại khác đối với người lao động, nhằm bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất tăng năng suất lao động

Bảo hộ lao động trước hết là một phạm trù sản xuất, nhằm bảo vệ yếu tố năng động nhất của lực lượng sản xuất là người lao động Mặt khác việc chăm

lo sức khỏe cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình họ còn có ý nghĩa nhân đạo

2- Tính chất của công tác bảo hộ lao động

-Tính chất pháp lý: Để bảo đảm thực hiện tốt việc bảo vệ tính mạng và sức

khỏe cho người lao động, công tác bảo hộ lao động được thể hiện trong bộ luật lao động Căn cứ vào quy định của điều 26 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam : “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương… ” Bộ luật lao động của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 Luật lao động đã quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động

-Tính chất khoa học kỹ thuật: Nguyên nhân cơ bản gây ra tai nạn lao động

và bệnh nghề nghiệp cho người lao động là điều kiện kỹ thuật không đảm bảo

an toàn lao động, điều kiện vệ sinh, môi trường lao động Muốn sản xuất được

an toàn và hợp vệ sinh, phải tiến hành nghiên cứu cải tiến máy móc thiết bị; công cụ lao động; diện tích sản xuất; hợp lý hóa dây chuyền và phương pháp sản xuất; trang bị phòng hộ lao động; cơ khí hoá và tự động hoá quá trình sản xuất đòi hỏi phải vân dụng các kiến thức khoa học kỹ thuật, không những để

Trang 3

nâng cao năng suất lao động, mà còn là một yếu tố quan trọng nhằm bảo vệ người lao động tránh những nguy cơ tai nạn và bệnh nghề nghiệp

-Tính chất quần chúng: Công tác bảo hộ lao động không chỉ riêng của

những cán bộ quản lý mà nó còn là trách nhiệm chung của người lao động và toàn xã hội Trong đó người lao động đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác bảo hộ lao động Kinh nghiệm thực tiển cho thấy ở nơi nào mà người lao động cũng như cán bộ quản lý nắm vững được quy tắc bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động thì nơi đó ít xẩy ra tai nạn lao động

§1-2 Đối tượng và nội dung nghiên cứu của môn học an toàn lao động

- An toàn lao động là một môn học nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và

thực nghiệm cải thiện điều kiện lao động và đảm bảo an toàn lao động mang tính khoa học kỹ thuật cũng như khoa học xã hội

- Phương pháp nghiên cứu của môn học chủ yếu tập trung vào điều kiện lao động; các mối nguy hiểm có thể xẩy ra trong quá trình sản xuất và các biện pháp phòng chống Đối tượng nghiên cứu là quy trình công nghệ; cấu tạo và hình dáng của thiết bị; đặc tính, tính chất của nguyên vật liệu dùng trong sản xuất

-Nhiệm vụ của môn học an toàn lao động nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về luật pháp bảo hộ lao động, các biện pháp phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp, phòng chống cháy nổ Nghiên cứu phân tích hệ thống, sắp xếp, thể hiện những điều kiện kỹ thuật, tổ chức và xã hội của quá trình lao động với mục đích đạt hiệu quả cao

§1-3 Phạm vi thực tiễn của khoa học lao động

- Biện pháp bảo hộ lao động là những biện pháp phòng tránh hay xoá bỏ

những nguy hiểm cho con người trong quá trình lao động

- Tổ chức thực hiện lao động là những biện pháp để đảm bảo những lời giải đúng đắn thông qua việc ứng dụng những tri thức về khoa học an toàn cũng như đảm bảo phát huy hiệu quả của hệ thống lao động

- Kinh tế lao động là những biện pháp để khai thác và đánh giá năng suất về phương diện kinh tế, chuyên môn, con người và thời gian

- Quản lý lao động là những biện pháp chung của xí nghiệp để phát triển, thực hiện và đánh giá sự liên quan của hệ thống lao động

Khi đưa kỹ thuật vào trong các hệ thống sản xuất hiện đại sẽ làm thay đổi những động thái của con người, chẳng hạn như về mặt tâm lý

Sự phát triển của kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt do nó tác động trực tiếp đến lao động và kết quả dẫn đến là:

+ Chuyển đổi những giá trị trong xã hội

+ Tăng trưởng tính toàn cầu của các cấu trúc hoạt động

+ Những quy định về luật

Trang 4

§1-4 Tính nhân đạo và sự thể hiện nó là mục đích chủ yếu

của khoa học lao động Tương quan thay đổi giữa con người và kỹ thuật không bao giờ dừng lại,

chính nó là động lực cho sự phát triển,đặc biệt qua các yếu tố:

- Sự chuyển đổi các giá trị trong xã hội

- Sự phát triển dân số

- Công nghệ mới

- Cấu trúc sản xuất thay đổi

- Những bệnh tật mới phát sinh

Khoa học lao động có nhiệm vụ:

- Trang bị kỹ thuật, thiết bị cho phù hợp với việc sử dụng của người lao động

- Nghiên cứu sự liên quan giữa con người trong những điều kiện lao động về tổ chức và kỹ thuật

Để giải quyết những nhiệm vụ có liên quan với nhau, khoa học lao động có một phạm vi rộng bao gồm nhiều ngành khoa học kỹ thuật; các ngành khoa học

cơ bản, y học, tâm lý học, toán học, thông tin, kinh tế cũng như các phương pháp nghiên cứu của nó

§1-5 Phân tích điều kiện lao động

I- Khái niệm về tai nạn lao động, chấn thương và bệnh nghề nghiệp

1- Tai nạn lao động: Tai nạn lao động là trường hợp không may xẩy ra trong

sản xuất, do kết quả tác động đột ngột từ bên ngoài dưới dạng cơ, điện, nhiệt, hoá năng, hoặc các yếu tố môi trường bên ngoài gây hủy hoại cơ thể con người hoặc phá hủy chức năng hoạt động bình thường của các cơ quan trong cơ thể con người

2- Phân loại tai nạn lao động: Tai nạn lao động được phân thành chấn

thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp

a- Chấn thương: là trường hợp tai nạn, gây ra vết thương, dập thương hoặc sự

hủy hoại khác cho cơ thể con người Hậu quả của chấn thương có thể làm tạm thời hay vĩnh viển mất khả năng lao động, có thể là chết người

b- Nhiễm độc nghề nghiệp: là sự huỷ hoại sức khoẻ do kết quả tác động của

các chất độc khi chúng xâm nhập vào cơ thể con người trong các điều kiện sản xuất Nhiễm độc nghề nghiệp bao gồm:

- Nhiễm độc mãn tính

- Nhiễm độc cấp tính

Trường hợp nhiễm độc cấp tính cũng được coi là chấn thương

c- Bệnh nghề nghiệp: là sự suy yếu dần dần sức khoẻ của người lao động gây

ra do những điều kiện bất lợi tạo ra trong sản xuất hoặc do tác dụng thường xuyên của các chất độc hại lên cơ thể con người trong sản xuất

II- Điều kiện lao động, nguyên nhân chấn thương và bệnh nghề nghiệp

Trang 5

1- Điều kiện lao động: Điều kiện lao động được đánh giá bằng quá trình lao

động và tình trạng vệ sinh của môi trường lao động

Trong quá trình lao động tâm trí và thể lực con người luôn ở tình trạng căng thẳng Sự căng thẳng phụ thuộc vào tính chất và cường độ lao động, tư thế khi làm việc Tình trạng vệ sinh của môi trường sản xuất

2- Nguyên nhân tai nạn lao động:

a- Nguyên nhân kỹ thuật

- Sự hư hỏng của các thiết bị máy móc;

- Sự hư hỏng của dụng cụ phụ tùng;

- Sự hư hỏng của các đường ống;

- Các kết cấu thiết bị, dụng cụ, phụ tùng không hoàn chỉnh;

- khoảng cách cần thiết giữa các thiết bị bố trí không hợp lý;

- Thiếu che chắn

- Giám sát kỹ thuật không đầy đủ

b- Những nguyên nhân về tổ chức:

- Vi phạm quy tắc, quy trình kỹ thuật;

- Tổ chức lao động cũng như chỗ làm việc không đáp ứng yêu cầu;

- Thiếu hoặc giám sát kỹ thuật không đầy đủ;

- Vi phạm chế độ lao động;

- Sử dụng công nhân không đúng ngành nghề và trinh độ chuyên môn;

- Công nhân không được huấn luyện quy tắc và kỹ thuật an toàn lao động

c- Những nguyên nhân về vệ sinh:

- Môi trường làm việc bị ô nhiễm;

- Điều kiện vi khí hậu không thích hợp;

- Chiếu sáng và thông gió không đầy đủ;

- Tiếng ồn và chấn động mạnh;

- Có các tia phóng xạ;

- Tình trạng vệ sinh của các phòng phục vụ sinh hoạt kém;

- Vi phạm điều lệ vệ sinh cá nhân;

- Thiếu hoặc kiểm tra vệ sinh của y tế không đầy đủ, v v

3- Đánh giá tai nạn lao động:

Để đánh giá đúng đắn về tình hình tai nạn, chấn thương và bệnh nghề nghiệp phải dựa vào các hệ số chấn thương:

- Hệ số tần số chấn thương ( Kt.s ) là tỷ số số lượng tai nạn xẩy ra trong một khoảng thời gian nhất định với số người làm việc bình quân trung bình trong xí nghịêp hay phân xưởng trong thời gian đó

Trong thực tế hệ số tần số chấn thương thường được tính với 1000 người làm việc và được xác định theo công thức:

1000

×

= S

K

Trang 6

Trong đó :

S – Số tai nạn xẩy ra phải nghỉ việc trên 3 ngày theo thống kê trong một thời gian xác định

N – Số người làm việc trung bình trong khoảng thời gian đó

- Hệ số nặng nhẹ ( Kn ) là số ngày phải nghỉ việc trung bình tính cho mỗi trường hợp tai nạn xẩy ra

III- Các biện pháp đề phòng tai nạn lao động

1- Biện pháp kỹ thuật:

- Cơ khí hóa và tự động hóa qúa trình sản xuất;

- Dùng chất không độc hoặc ít độc thay thế chất độc tính cao;

- Đổi mới quy trình công nghệ, v.v

2- Biện pháp kỹ thuật vệ sinh:

- Giải quyết thông gió và chiếu sáng tốt nơi sản xuất;

- Cải thiện điều kiện làm việc

3- Biện pháp phòng hộ cá nhân:

- Dựa theo tính chất độc hại trong sản xuất, mỗi người công nhân sẽ được

trang bị dụng cụ phòng hộ thích hợp

4- Biện pháp tổ chức lao động khoa học:

- Phân công lao động hợp lý;

- Tìm ra những biện pháp cải tiến làm cho lao động bớt nặng nhọc, bớt tiêu hao năng lượng;

- Làm cho lao động thích nghi với con người và con người thích nghi với công cụ sản xuất mới, vừa có năng suất lao động cao lại an toàn hơn

5- Các biện pháp y tế:

- Kiểm tra sức khoẻ công nhân, khám tuyển để bố trí lao động phù hợp;

- Khám định kỳ cho công nhân tiếp xúc với các yếu tố độc hại nhằm phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp và những bệnh mãn tính khác để kịp thời có biện pháp giải quyết

- Tiến hành giám định khả năng lao động,hướng dẫn luyện tập, phục hồi lại khả năng lao động

- Có chế độ ăn uống hợp lý

Trang 7

Chương 2

VI KHÍ HẬU TRONG SẢN XUẤT

§2-1 Khái niệm và định nghĩa

Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp,

gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ chuyển động của không khí

Điều kiện của vi khi hậu trong sản xuất phụ thuộc vào tính chất của quá trình công nghệ và khí hậu địa phương

Về mặt vệ sinh, vi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân

§2-2 Điều kiện vi khí hậu

- Nhiệt độ là yếu tố khí tượng quan trọng trong sản xuất, phụ thuộc vào hiện

tượng phát nhiệt của quá trình sản xuất Nhiệt độ nơi làm việc của công nhân không vượt quá 35oC

- Bức xạ nhiệt là những hạt năng lượng truyền trong không khí dưới dạng

dao động sóng điện từ, gồm tia hồng ngoại, tia tử ngoại và tia sáng thường Khi nung nóng kim loại đến 500oC sẽ phát sinh tia hồng ngoại, nung tới 1800-

2000oC sẽ phát sinh tia sáng thường và tia tử ngoại, nung tiếp tới 3000oC lượng tia tử ngoại phát ra càng nhiều Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là 1kcal/m2.phút

- Độ ẩm là lượng hơi nước có trong không khí biểu thị bằng gam trong một mét khối không khí, hoặc bằng sức trương hơi nước tính bằng mm cột thủy ngân

Nơi sản xuất độ ẩm cho phép khoảng 75-85%

- Tốc độ chuyển động không khí được biểu thị bằng m/s Tại nơi làm việc tốc

độ chuyển động không khí không vượt quá 3m/s, trên 5m/s có thể gây kích thích bất lợi cho cơ thể

- Nhiệt độ hiệu quả tương đương Để đánh giá tác dụng tổng hợp của các yếu

tố nhiệt độ, độ ẩm và vận tốc gió của môi trường không khí đối với cảm giác nhiệt độ của cơ thể con người, người ta đưa ra khái niệm về “nhiệt độ hiệu quả tương đương”, ký hiệu thqtđ

Nhiệt độ hiệu quả tương đương của không khí có nhiệt độ t, độ ẩm ϕ và vận tốc chuyển động v là nhiệt độ của không khí bảo hòa hơi nước có φ=100% và không có gió v = 0 mà gây ra cảm giác nhiệt giống hệt như cảm giác gây ra bởi không khí với t, ϕ, v đã cho

§2-3 Điều hòa thân nhiệt ở người

điều nhiệt do trung tâm chỉ huy điều nhiệt điều khiển Để duy trì cân bằng thân nhiệt trong điều kiện vi khí hậu nóng, cơ thể thải nhiệt thừa bằng giản mạch ngoại biên và tăng cường tiết mồ hôi Chuyển một lít máu từ nội tạng ra ngoài

Trang 8

da thải được 2,5 kcal và nhiệt độ hạ được 3oC Một lít mồ hôi bay hơi hoàn toàn thải ra chừng 580 kcal Trong điều kiện vi khí hậu lạnh cơ thể tăng cường quá trình sinh nhiệt và hạn chế quá trình thải nhiệt để duy trì sự thăng bằng nhiệt Thăng bằng nhiệt chỉ có thể thực hiện được trong phạm vi trường điều nhiệt, gồm hai vùng: vùng điều nhiệt hóa học và vùng điều nhiệt lý học Vượt quá giới hạn này về phía dưới cơ thể sẽ bị nhiễm lạnh, ngược lại về phía trên sẽ bị quá nóng

1-Điều nhiệt hóa học là quá trình biến đổi sinh nhiệt do sự oxi hóa các chất

dinh dưỡng Biến đổi chuyển hóa thay đổi theo nhiệt độ không khí bên ngoài và trạng thái lao động hay nghỉ ngơi của cơ thể Quá trình chuyển hóa tăng khi nhiệt độ bên ngoài thấp và lao động nặng, ngược lại quá trình giảm khi nhiệt độ môi trường cao và cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi

2- Điều nhiệt lý học là tất cả các quá trình biến đổi thải nhiệt của cơ thể gồm

truyền nhiệt, đối lưu, bức xạ và bay hơi mồ hôi vv Thải nhiệt bằng truyền nhiệt là hình thức mất nhiệt của cơ thể khi nhiệt độ của không khí và các vật thể mà ta tiếp xúc có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ ở da Khi da có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ môi trường sẽ xẩy ra quá trình truyền nhiệt ngược lại,

Do có sự thay đổi đó cơ thể có cảm giác mát mẻ hoặc nóng bức về mùa hè hoặc có thể cảm thấy lạnh hay ấm áp về mùa đông

Cơ thể người cũng như các bề mặt vật thể quanh người có thể phát ra tia bức xạ nhiệt Trường hợp da người có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ trên bề mặt vật thể sẽ thu nhận tia bức xạ đến và ngược lại

Khi nhiệt độ không khí cao hơn 34oC (lớn hơn nhiệt độ da) cơ thể sẽ thải nhiệt bằng bay hơi mồ hôi

§2-4 Aûnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể người

1- Aûnh hưởng của vi khí hậu nóng

a- Biến đổi sinh lý

- Làm việc trong điều kiện vi khí hậu nóng để duy trì cân bằng nhiệt, cơ thể phải tiết nhiều nồ hôi, có khi lên tới 5-7 lít, làm giảm thể trọng

- Kèm theo mồ hôi, cơ thể còn mất một lượng muối ăn đáng kể, một số muối khoáng đặc biệt là ion K, Na, Ca, I, Fe và một số sinh tố C, B1, B2 PP

- Do mất nhiều nước, làm cho khối lượng máu, tỷ trọng, độ nhớt của máu thay đổi, tim phải làm việc nhiều hơn để cung cấp năng lượng và thải hết nhiệt thừa cho cơ thể

- Do mất nước, phải uống nước nhiều làm cho dịch vị bị loảng, làm mất cảm giác thèm ăn và ăn mất ngon

- Chức năng diệt trùng của dịch vị bị hạn chế, làm cho dạ dày, ruột bị viêm nhiễm; chức năng gan cũng bị ảnh hưởng

- Hoạt động của hệ thần kinh trung ương cũng bị ảnh hưởng, dễ gây tai nạn lao động

Trang 9

b- Rối loạn bệnh lý

- Thường gặp là chứng say nóng và chứng co giật Chứng say nóng do mất cân bằng nhiệt với các triệu chứng chóng mặt, đau đầu, đau thắt ngực, buồn nôn, nhịp thở và mạch nhanh với trạng thái suy nhược rõ rệt vv

Để cấp cứu nạn nhân, trong cả hai trường hợp cần đưa ngay ra nơi thoáng, cho thuốc trợ hô hấp, trợ tim mạch và các thuốc trợ lực cấp cứu khác

2- Aûnh hưởng của vi khí hậu lạnh

- Do ảnh hưởng của nhiệt độ thấp, da trở nên xanh lạnh, nhiệt độ da còn dưới 33oC

- Lạnh còn làm giảm nhịp tim và nhịp thở, nhưng mức tiêu thụ oxi lại tăng lên nhiều do cơ và gan phải làm việc nhiều dể chuyển hóa sinh nhiều nhiệt

- Lạnh sinh cảm giác tê cóng khó vận động, mất dần cảm giác, sinh chứng đau cơ, viêm cơ, viêm dây thần kinh ngoại biên vv

- Lạnh còn gây ra bệnh dị ứng hen phế quản, làm giảm sức đề kháng miển dịch, gây ra các bệnh đường hô hấp, bệnh thấp khớpvv

3-Aûnh hưởng của bức xạ nhiệt

- Tia hồng ngoại Tùy theo cường độ bức xạ hồng ngoại có thể sinh mức tác

dụng nhiệt Tia hồng ngoại có bước sóng ngắn có sức rọi sâu vào dưới da tới 3cm, gây bỏng da, gây cảm giác nóng bỏng, gây say nóng, gây đục nhân mắt, giảm thị lực có thể bị mù

- Tia tử ngoại gồm các bức xạ có bước sóng từ 400- 7,6 nm, chia làm 3 loại:

+ Tia tử ngoại A có bước sóng dài từ 400-315nm sinh ra từ ánh nắng mặt trời, đèn dây tóc, đèn huỳnh quang, tia lữa hàn

+ Tia tử ngoại B có bước sóng trung bình từ 315-280nm sinh ra từ đèn hơi thủy ngân, lò nấu thép hồ quang

+ Tia tử ngoại C có bước sóng ngắn dưới 280nm

Tia tử ngoại có thể gây ra bỏng da Tia tử ngoại có bước sóng dài gây ban đỏ sau một thời gian tiềm tàng 6-8 giờ, duy trì từ 24-30 giờ rồi mất dần và để lại một vùng xạm da bền vững Với tia tử ngoại bước sóng ngắn, ban đỏ xuất hiện và biến mất nhanh hơn, có cảm giác đau hơn và để lại vùng xám da yếu hơn Tia tử ngoại gây ra viêm màng tiếp hợp cấp tính, giảm thị lực và thu hẹp thị trường Nếu tác dụng nhẹ và lâu ngày có thể gây mỏi mệt, suy nhược, đau đầu, chóng mặt, kém ăn

- Tia lase Làm việc với tia lase có thể bị bỏng da, bỏng màng võng mạc

§2-5 Biện pháp phòng chống tác hại của vi khí hậu xấu

1- Vi khí hậu nóng

a- Biện pháp kỹ thuật

- Cơ khí hóa và tự động hóa quá trình sản xuất ở nơi có nhiệt độ cao

- Cách ly nguồn nhiệt đối lưu và bức xạ ở nơi làm việc

Trang 10

- Sắp xếp mặt bằng các phân xưởng hợp lý khi thiết kế

b- Biện pháp vệ sinh y tế

- Cần quy định chế độ lao động thích hợp cho các ngành nghề thực hiện

trong điều kiện vi khí hậu xấu

- Tổ chức tốt nơi nghỉ cho công nhân, phòng nghỉ phải được cách ly tốt với nguồn nhiệt

- Có chế độ ăn, uống hợp lý

- Công nhân được trang bị dụng cụ, quần áo bảo hộ phù hợp với tính chất công việc

- Cần tổ chức khám tuyển định kỳ cho công nhân

2- Vi khí hậu lạnh

- Mùa đông cần đề phòng lạnh cho công nhân bằng cách che chắn tốt

- Dùng biện pháp thông gió sưởi ấm Có chế độ ăn chống rét

- Trang bị quần áo bảo hộ và dụng cụ thích hợp cho công nhân

Trang 11

Chương 3

PHÒNG CHỐNG NHIỄM ĐỘC TRONG SẢN XUẤT

§3-1 Khái niệm về tác dụng của chất độc

1- Khái niệm

Chất độc công nghiệp là những chất dùng trong sản xuất, khi xâm nhập vào cơ

thể dù chỉ một lượng nhỏ cũng gây nên tình trạng bệnh lý Bệnh do chất độc gây ra trong sản xuất gọi là nhiễm độc nghề nghiệp

Aûnh hưởng của chất độc đối với cơ thể người lao động là do hai yếu tố quyết định:

- Ngoại tố do tác hại của chất độc

- Nội tố do trạng thái của cơ thể

Tùy theo hai yếu tố này mà mức độ tác dụng có khác nhau

Khi nồng độ vượt quá giới hạn cho phép, sức đề kháng của cơ thể yếu, chất độc sẽ gây ra nhiễm độc nghề nghiệp Nồng độ chất độc cao, tuy thời gian tiếp xúc không lâu và cơ thể luôn mạnh khỏe vẫn bị nhiễm độc cấp tính, thậm chí có thể chết

2- Đường xâm nhập của chất độc

-Theo đường hô hấp : các chất độc ở thể khí thể hơi, bụi đều có thể xâm

nhập qua đường hô hấp, xâm nhập qua các phế quản, phế bào đi thẳng vào máu đến khắp cơ thể gây ra nhiễm độc

- Đường tiêu hóa : thường do ăn uống, hút thuốc trong khi làm việc Ở đây

chất độc qua gan và được giải độc bằng các phản ứng phức tạp nên ít gây nguy hiểm hơn

- Các chất độc thấm qua da: chủ yếu là các chất hòa tan trong nước, thấm

qua da đi vào máu như bezen, rượu êtilic Các chất độc khác có thể qua lỗ chân lông, tuyến mồ hôi đi vào máu

3- Chuyển hóa, tích chứa và đào thải

- Chuyển hóa: các chất độc trong cơ thể tham gia vào các quá trình sinh hóa

phức tạp trong các tổ chức của cơ thể và sẽ chịu các biến đổi như phản ứng oxi hóa khử, thủy phân vv phần lớn biến thành chất ít độc hoặc hoàn toàn không độc Trong quá trình này gan, thận có vai trò rất quan trọng, đó là những cơ quan tham gia giải độc

- Tích chứa chất độc: Có một số chất độc không gấy tác dụng độc ngay khi

xâm nhập vào cơ thể, mà nó tích chứa ở một số cơ quan dưới dạng các hợp chất không độc như chì, plo tập trung vào trong xương hoặc lắng đọng vào gan thận Đến một lúc nào đó dưới ảnh hưởng của nội ngoại môi thay đổi, các chất này được huy động một cách nhanh chóng đưa vào máu gây nhiễm độc

Trang 12

- Đào thải chất độc: Chất độc hóa học hoặc sản phẩm chuyển hóa sinh học

của nó được đưa ra ngoài cơ thể bằng đường phổi, thận, ruột và các tuyến nội tiết

+ Các chất kim loại nặng như chì, thủy ngân, mangan thải qua đường ruột, đường thận

+ Các chất tan trong mỡ như thủy ngân, chì, brôm được thải qua da, qua sữa mẹ, theo nước bọt

+ các chất có tính bay hơi như rượu, ete Xăng theo hơi thở thải ra ngoài

§3-2 Tác hại của các chất độc và nhiễm độc nghề nghiệp

1- Phân loại Dựa vào tác dụng chủ yếu của chất độc ta chia thành các nhóm

sau :

- Nhóm một: Chất gây bỏng, kích thích da và niêm mạc như axít đặc, kiềm

đặc và loảng ( vôi tôi, NH3 )

+ Gây bỏng da: mức độ nặng nhẹ tùy theo nồng độ hóa chất; Bao gồm một số loại axít như axít sunfuric, axít nitric, axít clohidric, bồ tạt, amôniắc Nếu bỏng nặng có thể gây ra choáng, khó thở, nôn mữa, hôn mê, sốt cao

+ Bỏng niêm mạc: tổn thương màng tiếp hợp, gây mù hoặc giảm thị lực

- Nhóm hai: Chất kích thích đường hô hấp, phế quản, phế bào như : clo,

NH3, SO3, NO, SO2, HCL, hơi flo, hơi brôm, NO3

- Nhóm ba: Chất gây ngạt bao gồm gây ngạt đơn thuần và gây ngạt hóa học

như: CO2, êtan, mêtan, CO làm loãng dưỡng khí, làm mất khả năng vận chuyển oxi của hồng cầu gây rối loạn hô hấp

- Nhóm bốn: Tác dụng chủ yếu lên hệ thần kinh trung ương gây mê, gây tê,

các hợp chất như hidrocacbua, các loại rượu, H2S, CS2, xăng

2- Một số chất độc và nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp

a- Chì Pb và các hợp chất của chí như Têtraêtin chi- Pb(C 2 H 5 ) 4 và têtramêtin chì- Pb(CH 3 ) 4

- Chì có thể vào cơ thể qua đường hô hấp, đừng tiêu hóa và gây độc chủ yếu cho hệ thần kinh, hệ tạo máu, gây rối loạn tiêu hóa, ung thư vv gây nhiễm độc cấp tính va nhiễm độc mãn tính

- Các hợp chất của chì dùng pha trong xăng và một số sản phẩm công nghiệp Xâm nhập vào cơ thể chủ yếu bằng đường hô hấp, đường da gây ra nhiễm độc cấp tính cho hệ thần kinh trung ương: gây hưng phấn mạnh, gây rối loạn giấc ngủ với ảo giác ghê sợ với nồng độ cao 0,182mg/lít không khí có thể gây ra chết súc vật sau 18 giờ Têtraêtin chì độc gấp 5 lần so với têtramêtin chì

b- Thủy ngân (Hg) là một kim loại nặng, sôi ở nhiệt độ 357oC, bay hơi ở nhiệt độ thường dùng chế tạo muối thủy ngân, làm thuốc trừ sâu, diệt nấm trong nông nghiệp Hơi thủy ngân có độc tính cao, xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, đường da Thường gây nhiễm độc mãn tính : tổn thương hệ thần kinh, giảm

Trang 13

trí nhớ, rối loạn tiêu hóa, viêm răng lợi, rối loạn chức năng gan Đối với nữ gây rối loạn kinh nguyệt, sẩy thai

c-Cacbon oxít (CO) là thứ khí không màu, không mùi Được tạo ra do sự cháy

không hoàn toàn Khi hít thở do có tính chất ái tính với hêmôglôbin gấp 250 lần

so với oxi, nó sẽ cướp oxi của hêmôglôbin và tạo thành cacbôxihêmôglôbin, làm mất khả năng vận chuyển oxi của máu đến các tổ chức và gây ra ngạt Nhiễm độc cấp thường gây ra đau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn, co giật, mệt mõi, hôn mê

Nhiễm độc mãn tính gây đau đầu, mệt mõi, sụt cân

d- Benzen (C6H6) Được sử dụng rộng rãi trong kỹ nghệ nhuộm, làm nước hoa, làm dung môi hòa tan dầu mỡ, sơn, cao su

Benzen vào cơ thể qua đường hô hấp và gây ra hội chứng thiếu máu nặng, gây suy tủy, nhiễm trùng huyết có thể dẫn đến tử vong Nhiễm độc cấp tính gây ra say, kích thích mạnh hệ thần kinh trung ương

e- Thuốc trừ sâu hữu cơ như : 666, DDT, Toxaphen (C10H10Cl8) do cấu trúc chúng bền vững, tích lũy lâu dài trong cơ thể và khó phân giải trong môi trường Hợp chất hữu cơ hay dùng như parathion (C8H10NO5PS), wofatox, diptex, DDVP (đimêtyl điclorovinyl photphat), TEEP (têtraêtyl pirôphôtphat) thường gây nhiễm độc cấp tính do chất độc thấm qua da, đường hô hấp, suy nhược thần kinh liệt cơ

§3-3 Biện pháp phòng chống nhiễm độc nghề nghiệp

1- Biện pháp kỹ thuật

- Loại trừ nguyên liệu độc trong sản xuất hoặc dùng chất ít độc để thay thế

- Cơ khí hóa và tự động quá trình sản xuất

- Bọc kín máy móc, thường xuyên kiểm tra sữa chữa máy móc thiết bị

- Tổ chức hợp lý quá trình sản xuất

- Tổ chức thông gió hút bụi tốt

- Xây dựng chế độ công tác an toàn lao động

2- Biện pháp cá nhân

- Trang bị mặt nạ phòng độc

- Quần áo bảo vệ chống hơi độc, bụi, chất lỏng độc; ủng cao su, găng tay

3- Biện pháp y tế

- Phải được khám tuyển theo định kỳ

- Có chế độ bồi dưỡng thích hợp

4- Cấp cứu

- Đưa ngay nạn nhân ra khỏi nơi nhiễm độc, thay bỏ quần áo, ủ ấm cho nạn

nhân

- Cho ngay thuốc trợ tim, trợ hô hấp hoặc hô hấp nhân tạo

- Rửa da bằng nước xà phòng nơi bị thấm chất độc

Trang 14

Chương 4

PHÒNG CHỐNG BỤI TRONG SẢN XUẤT

§4-1 Định nghĩa, phân loại và tính chất lý hóa của bụi

- Bụi lắng có kích thước lớn hơn 10μm, thường rơi nhanh xuống đất Bụi này thường gây tác hại cho da và mắt, gây nhiễm trùng, gây dị ứng vv

2- Phân loại bụi

a- Theo nguồn gốc được phân ra:

Bụi hữu cơ như bụi tự nhiên, bụi thực vật (gỗ, bông); bụi động vật (lông, len, tóc ); bụi nhân tạo (nhựa hóa học, cao su vv ); bụi vô cơ như bụi khoáng chất (thạch anh ); bụi kim loại (sắt, đồng, chì )

b- Theo kích thước hạt bụi phân ra:

Bụi lớn hơn 10μm là bụi thực sự; bụi từ 10-0,1 μm như sương mù; dưới 0,1μm

như bụi khói

c- Theo tác hại của bụi phân ra:

Bụi gây nhiễm độc chung (chì, thủy ngân, benzen); bụi gây dị ứng viêm mũi,

hen, nổi ban vv (bụi bông gai, phân hóa học, một số tinh dầu gỗ vv ); Bụi gây nhiễm trùng (lông, len, tóc, xương ); bụi gây xơ hóa phổi (thạch anh, bụi amiăng )

3- Tính chất hóa lý của bụi

a- Độ phân tán: là trạng thái của bụi trong không khí phụ thuộc vào trọng

lượng hạt bụi và sức cản không khí Hạt bụi càng lớn càng dễ rơi tự do, hạt càng mịn rơi chậm và hạt nhỏ hơn 0,1 μm thì chuyển động Brao trong không khí Những hạt bụi mịn gây hại cho phổi nhiều hơn

b- Sự nhiễm điện của bụi: Dưới tác dụng của một điện trường mạnh các hạt bụi

bị nhiễm điện và sẽ bị cực của điện trường hút với những vận tốc khác nhau tùy thuộc kích thước hạt bụi Tính chất này của bụi được ứng dụng để lọc bụi bằng điện

c- Tính cháy nổ của bụi: Các hạt bụi càng nhỏ mịn diện tích tiếp xúc với oxi

càng lớn, hoạt tính hóa học càng mạnh, dễ bốc cháy trong không khí Ví dụ như bột sắt, bột cacbon, bột côban, bông vải có thể tự bốc cháy trong không khí Nếu có mồi lữa như tia lữa điện, các loại đèn không có bảo vệ lại càng nguy hiểm hơn

Trang 15

d- Tính lắng trầm nhiệt của bụi: Cho một luồng khói đi qua một ống dẫn từ

vùng nóng sang vùng lạnh hơn, phần lớn khói bị lắng trên bề mặt ống lạnh, hiện tượng này là do các phần tử khí giảm vận tốc từ vùng nóng sang vùng lạnh Sự lắng trầm của bụi được ứng dụng để lọc bụi

§4-2 Tác hại của bụi Bụi gây nhiều tác hại cho con người và trước hết là đường hô hấp, bệnh ngoài

da, bệnh trên đường tiêu hóa vv

Khi chúng ta thở nhờ có lông mũi và màng niêm dịch của đường hô hấp mà những hạt bụi có kích thước lớn hơn 5 μm bị giữ lại ở hóc mũi tơi 90% Các hạt bụi nhỏ hơn theo không khí vào tận phế nang, ở đây bụi được các lớp thực bào vây và tiêu diệt khoảng 90%, số còn lại đọng ở phổi gây ra một số bệnh bụi phổi và các bệnh khác

1- Bệnh phổi nhiễm bụi thường gặp ở những công nhân khai thác, chế biến,

vận chuyển quặng, kim loại, than vv

2- Bệnh silicose là bệnh do phổi bị nhiễm bụi silic ở thợ khoan đá, thợ mỏ, thợ

làm gốm sứ vv Bệnh này chiếm 40-70% trong tổng số bệnh về phổi

3- Bệnh đường hô hấp: Viêm mũi, họng, phế quản, viêm teo mũi do bụi crom,

asen

4- Bệnh ngoài da: bụi gây kích thích da, bệnh mụn nhọt, lở loét như bụi vôi,

thiếc, thuốc trừ sâu Bụi đồng gây nhiễm trùng da rất khó chữa, bụi nhựa than gây sưng tấy

5- Chấn thương mắt: bụi vào mắt gây kích thích màng tiếp hợp, viêm mi mắt,

mộng thịt Bụi axit hoặc kiềm gây bỏng mắt và có thể dẫn tới mù mắt

6- Bệnh ở đường tiêu hóa: bụi đường, bột đọng lại ở răng gây sâu răng, kim

loại sắc nhọn vào dạ dày gây tổn thương niêm mạc, rối loạn tiêu hóa

§4-3 Các biện pháp phòng chống bụi

1- Biện pháp kỹ thuật

- Cơ khí hóa và tự động hóa quá trình sản xuất đó là khâu quan trọng nhất

nhằm cách ly công nhân ra khỏi nơi phát sinh ra bụi như tự động hóa quá trình đóng gói bao xi măng Aùp dụng những biện pháp vận chuyển bằng hơi, máy hút vv

- Thay đồi phương pháp công nghệ như trong xưởng đúc làm sạch bằng nước thay làm sạch bằng cát, dùng phương pháp ướt thay cho phương pháp khô trong công nghiệp sản xuất xi măng

- Thay vật liệu có nhiều bụi độc bằng vật liệu ít độc

- Thông gió và hút bụi trong các xưởng có nhiều bụi

- Theo dõi nồng độ bụi ở giới hạn nổ, đặc biệt chú ý tới các ống dẫn và máy lọc bụi, chú ý cách ly mồi lữa

Trang 16

2-Biện pháp y tế và vệ sinh cá nhân

- Khám tuyển định kỳ cho công nhân làm việc trong môi trường nhiều bụi

- Trang bị áo quần bảo hộ lao động, mặt nạ, khẩu trang theo yêu cầu vệ sinh

- Có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi đúng mức cho công nhân

Trang 17

Chương 5

TIẾNG ỒN VÀ CHẤN ĐỘNG TRONG XẢN XUẤT

§5-1 Khái niệm về tiếng ồn và chấn động

1 giây (erg/cm2.s hoặc w/cm2)

Cường độ âm và áp suất liên hệ với nhau theo biểu thức:

c

P I

ρ

2

= (erg/cm2)

ρ- là mật độ của môi trường (g/cm3)

Trong không gian tự do, cường độ âm tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách r đến nguồn âm

Ir là cường độ âm ở cách nguồn điểm một khoảng r

Tai chúng ta tiếp nhận âm nhờ dao động của áp suất âm Aùp suất âm tỷ lệ với biến đổi cường độ âm nhưng trong khi cường độ âm biến đổi n lần thì áp suất âm biến đổi n lần Để đánh giá cảm giác nghe, chỉ những đặc trưng vật lý của âm là chưa đủ vì tai chúng ta phân biệt cảm giác nghe không theo sự tăng tuyệt đối của cường độ âm hay áp suất âm mà theo sự tăng tương đối của nó Cũng vì thế người ta không đánh giá cưởng độ âm và áp suất âm theo đơn vị tuyệt đối mà theo đơn vị tương đối và dùng thang logarit thay cho thang thập phân để thu hẹp phạm vi trị số đo Khi đó ta có mức cường độ âm do bằng đêxiben (dB)

0 lg 10

I

I

Trong đó : I – Cường độ âm

Io – Cường độ âm ở ngưỡng nghe được hay còn gọi là mức không Mức không (Io) là mức đo cường độ âm tối thiểu mà tai người có khả năng cảm nhận được, tuy nhiên ngưỡng nghe được thay đổi theo tần số

Trang 18

o p

P

P

L = 20 lg (dB)

Po- ngưỡng quy ước 2.10-5 (N/m2)

Mức công suất âm:

o w

W

W

L = 10 lg (dB) Trong đó :

Wo – ngưỡng không hay ngưỡng quy ước Wo = 10-12

Như vậy khi âm thanh có áp lực bằng 2.10-5 (N/cm2) hay cường độ

Io = 10-12 (W/m2) thì nó có mức âm bằng 0 (dB)

Dao động âm mà tai nghe được có tần số từ 16 ÷ 20 HZ Giới hạn này ở mỗi người không giống nhau, tùy theo lứa tuổi và cơ quan thính giác

Dao động âm có tần số dưới 16 ÷ 20 HZ tai ngưới không thể nghe được gọi là hạ âm, còn dao động âm có tần số trên 16 ÷ 20 kHZ cũng không nghe được gọi là siêu âm

2-Các loại tiếng ồn

Trong sản xuất công nghiệp, nguồn âm là các vật thể rắn, lỏng và hơi dao động Tổ hợp hỗn loạn các âm khác nhau về cường độ và tần số trong phạm vi từ 16 đến 20.000 HZ gọi là tiếng ồn thống kê Tiếng ồn có âm sắc rõ rệt gọi là tiếng ồn có âm sắc

A-Theo đặc tính của nguồn ồn có thể phân ra:

a- Tiếng ồn cơ học: sinh ra do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận

máy móc có khối lượng không cân bằng

b- Tiếng ồn va chạm: sinh ra do một quá trình công nghệ như rèn, dập, tán c- Tiếng ồn khí động: sinh ra khi hơi chuyển động với vận tốc cao như máy nén

khí, động cơ phản lực

d- Tiếng nổ hoặc xung: sinh ra khi động cơ đốt trong, động cơ diezen làm

việc

B-Theo dải tần số phân ra:

a- Tiếng ồn tần số cao khi f > 1000 HZ

b- Tiếng ồn tần số trung bình khi f = 300 ÷ 1000 HZ

c- Tiếng ồn tần số thấp khi f < 300 HZ

Trong các phân xưởng có nhiều nguồn ồn thì mức ồn không phải là tổng số mức ồn từng nguồn lại

Mức ồn tổng cộng ở một điểm cách đều nhiều nguồn có thể xác định theo công thức sau:

Nếu có n nguồn ồn có cường độ như nhau(Li) thì mức ồn tổng cộng sẽ là:

n L

LΣ = i + 10 lg (dB)

Trang 19

§5-2 Aûnh hưởng của tiếng ồn và chấn động đến cơ thể con người

1- Tiếng ồn

a- Aûnh hưởng của tiếng ồn nói chung:

Tiếng ồn trước hết ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, sau đó đến hệ thống tim mạch và nhiều cơ quan khác, còn sự thay đổi trong cơ quan thính giác phát triển muộn hơn nhiều

Tác dụng gây khó chụi của tiếng ồn phụ thuộc vào các tính chất vật lý của nó Tuy nhiên tần số lặp lại của tiếng ồn, đặc điểm của nó cũng ảnh hưởng lớn Tiéng ồn phổ liên tục gây tác dụng khó chịu ít hơn tiếng ồn gián đoạn Tiếng ồn có các thành phần tần số cao khó chịu hơn tiếng ồn có tần số thâp Khó chịu nhất là tiếng ồn thay đổi cả về tần số và cường độ

Aûnh hưởng của tiếng ồn đối với cơ thể còn phụ thuộc vào hướng của năng lượng âm tới, thời gian tác dụng của nó trong một ngày làm việc, vào quá trình lâu dài người công nhân làm việc trong phân xưởng ồn, vào độ nhạy cảm riêng của từng người cũng như vào lứa tuổi, nam hay nữ và trạng thái cơ thể của người công nhân

b- Aûnh hưởng của tiếng ồn đến cơ quan thính giác:

Khi chịu tác dụng của tiếng ồn, độ nhạy cảm thính giác giảm xuống, ngưỡng nghe tăng lên Hiện tượng đó gọi là sự thích nghi của thính giác.Nhưng sự thích nghi của thính giác chỉ có một giới hạn nhất định Dưới tác dụng kéo dài của tiếng ồn, thính lực giảm sút, độ nhạy cảm thính giác giảm đi rõ rệt, nhất là ở tần số cao (giảm quá 15 dB, có khi tới 30 ÷ 50 dB); sau khi rời khỏi nơi ồn phải một thời gian dài (vài giờ hoặc vài ngày) thính giác mới phục hồi được, đồng thời có cảm giác mệt mỏi ở cơ quan thính giác Nếu tác dụng của tiếng ồn lặp lại nhiều lần, hiện tượng mệt mỏi thính giác không có khả năng hồi phục hoàn toàn về trạng thái bình thường Sau một thời gian dài sẽ phát triển thành những biến đổi cío tính chất bệnh lý, dẫn tới các biến đổi thoái hóa trong tai, gây các bệnh nặng tai và điếc Đối với âm tần số 2000 ÷ 4000 HZ, tác dụng mệt mỏi sẽ bắt đầu từ 80 dB, đối với âm 5000 ÷ 6000 HZ từ 60 dB

Độ giảm thính của tai tỷ lệ thuận với thời gian làm việc trong tiếng ồn Mức ồn càng cao tốc độ giảm thính càng nhanh Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc độ nhạy cảm riêng từng người

c- Tiếng ồn ảnh hưởng đến các cơ quan khác:

- Dưới tác dụng của tiếng của tiếng ồn trong cơ thể con người xẩy ra một loạt các thay đổi, biểu hiện qua sự rối loạn trạng thái bình thường của hệ thần kinh

- Tiếng ồn ngay cả khi mức không đáng kể (ở mức 50 ÷ 70 dB) cũng tạo ra một tải trọng đáng kể lên hệ thống thần kinh, đặc biệt đối với người lao động trí óc

Trang 20

- Tiếng ồn cũng gây ra những thay đổi trong hệ thống tim mạch kèm theo sự rối loạn trương lực bình thường của mạch máu và rối loạn tim Những người làm việc trong môi trường ồn thường bị đau dạ giày và cao huyết áp

2- Chấn động

Phạm vi dao động mà ta thu nhận như chấn động âm nằm trong giới hạn từ 12

÷ 8000 HZ Theo hình thức tác động, người ta chia ra chấn động chung và chấn động cục bộ Chấn động chung gây ra dao động của cả cơ thể, còn chấn động cục bộ chỉ làm cho từng bộ phận của cơ thể dao động Aûnh hưởng của chấn động cục bộ không chỉ giới hạn trong phạm vi tác động của nó, mà ảnh hưỏng đến hệ thống thần kinh trung ương và có thể làm thay đổi chức năng của các cơ quan và bộ phận khác, gây ra phản ứng bệnh lý tương ứng Tác dụng của chấn động cục bộ lên cơ thể khác tác dụng của chấn động chung về mặt định lượng và định tính Đặc biệt ảnh hưởng tới cơ thể khi tần số rung động xấp xỉ tần số dao động riêng của cơ thể và các cơ quan bên trong

Người ta thấy rằng hiện tượng cộng hưỡng xẩy ra mạnh ở tư thế đứng thẳng của người công nhân, lúc đó dao động của máy móc dễ truyền vào cơ thể và làm cho công nhân chống mệt mỏi Trái lại nếu đứng hơi cong đầu gối các dao động của máy móc bị cắt nhiều ở bàn chân và khớp xương nên dễ chịu hơn Khi xẩy ra hiện tượng cộng hưỡng của dao động với các bộ phận cơ thể, người ta có cảm giác ngứa ngáy, tê chân, tê vùng thắt lưng

Rung động cũng ảnh hưởng đến hệ thống tim mạch, rối loạn chức năng tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục nam, nữ Rung động còn gây viêm khớp, vôi hóa các khớp

§5-3 Các biện pháp phòng chống tiếng ồn và rung động

Công tác chống tiếng ồn và rung động phải được nghiên cứu kỷ từ khi lập quy

hoạch tổng mặt bằng nhà máy tới khi xây dựng các xưởng sản xuất, từ khi thiết kế quá trình công nghệ máy đến chế tạo các máy móc cụ thể, đồng thời phải thực hiện ngay cả trong quá trình sản xuất của nhà máy

1- Biện pháp chung

Từ lúc lập tổng mặt bằng nhà máy đã phải bắt đầu nghiên cứu các biện pháp quy hoạch – xây dựng chống tiếng ồn và chấn động Chính nhờ giai đoạn đầu tiên này mới tạo được các tiền đề cơ bản để các bước tiếp theo thu được kết quả Cần hạn chế sự lan truyền tiếng ồn ngay trong phạm vi của xí nghiệp và ngăn chặn tiếng ồn ra các vùng xung quanh, giữa các khu nhà ở và khu sản xuất có tiếng ồn phai trồng các dải cây xanh bảo vệ để chống ồn và làm sạch môi trường, giữa xí nghiệp và các khu nhà có khoảng cách tối thiểu để tiếng ồn không vượt mức cho phép

2- Giảm tiếng ồn và chấn động nơi sản xuất

- Tự động hóa quá trình công nghệ và áp dụng hệ thống điều khiển từ xa

- Lắp ráp các máy móc thiết bị có chất lượng cao

Trang 21

- Thay đổi tính đàn hồi và các bộ phận máy móc để thay đổi tần số riêng của chúng, tránh hiện tượng cộng hưởng

- Thay vật liệu kim loại bằng vật liệu phi kim loại, mạ crôm hoặc quét các chi tiết bằng sơn hoặc dùng các hợp kim ít vang hơn khi bị va chạm

- Bọc các mặt thiết bị chịu rung động bằng các vật liệu hút hoặc giảm rung động như cao su, amiăng, chất dẻo, matít đặc biệt

- Bố trí các xưởng ồn làm việc vào những buổi ít người làm việc

- Lập đồ thị làm việc cho công nhân để họ có điều kiện nghỉ ngơi hợp lý, giảm thời gian có mặt của công nhân ở những xưởng có mức ồn cao

Trang 22

§6-1 Khái niện về ánh sáng và các đơn vị đo ánh sáng cơ bản

Aùnh sáng không những là một nhu cầu cần thiết trong sinh hoạt, đời sống của

con người mà còn rất cần thiết đối với sản xuất Mức độ sáng và chất lượng ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và an toàn lao động

1- Aùnh sáng thấy được: là những bức xạ photon có bước sóng từ 380 nm đến

760 nm

Mặt trời và những vật thể được nung nóng đến nhiệt độ cao hơn 500oC đều có khả năng phát sáng Bức xạ đơn sắc (là những chùm tia sáng chỉ chứa một độ dài bước sóng λ) khác nhau cho ta cảm giác sáng khác nhau Cùng một công suất bức xạ như nhau, bức xạ màu vàng lục có bước sóng λ= 555nm cho ta thấy rõ nhất Để đánh giá độ sáng tỏ của các loại tia khác nhau, người ta lấy độ sáng tỏ của tia vàng lục làm tiêu chuẩn so sánh (hình 3-3)

2- Quang thông (Φ) là đại lượng để đánh giá khả năng phát sáng của vật

Quang thông là phần công suất bức xạ có khả năng gây ra cảm giác sáng cho

thị giác của con người

Nếu gọi công suất bức xạ ánh sáng đơn sắc λ của vật là Fλ, quang thông do chùm tia đơn sắc đó gây ra là:

λ λ

λ =C.F .V

Φ

Trong đó:

Vλ – là độ sáng tỏ tương đối của ánh sáng đơn sắc λ

C – hằng số phụ thuộc vào đơn vị đo, nếu quang thông Φλ được đo bằng lumen (lm)

Fλ – công suất bức xạ được đo bằng Watt thì hằng số C =683

Với chùm tia sáng đa sắc không liên tục ta có:

i i i

λ λ λ λ

λ λ λ

1

683

Quang thông của một vài nguồn sáng:

Đèn dây tóc nung 60W≅ 850 lm

Đèn dây tóc nung 100W ≅ 1600 lm

Trang 23

Đèn parafin trung bình ≅ 15 lm

3- Cường độ ánh sáng (I) Quang thông của một nguồn sáng bất kỳ phát ra

thường phân bố không đều trong không gian, do đó để đặc trưng cho khả năng phát sáng theo các phương của nguồn người ta dùng đại lượng là cường độ sáng

Cường độ sáng theo phương n là một quang thông bức xạ phân bố theo phương

n đó

Cường độ sáng In là tỷ số giữa quang

thông bức xạ dΦ trên vi phân góc khối

dω theo phương n (hình vẽ)

steradian

lumen candela

Độ rọi EM tại điểm M là tỷ số

giữa lượng quang thông chiếu

đến dΦ trên vi phân diện tích dS

được chiếu sáng tại điểm đó

(hình vẽ)

S M

d

d

Đơn vị đo độ rọi là lux (lx) Lux là độ rọi gây ra do luồng sáng có quang thông

1 lumen chiếu sáng đều trên diện tích 1m2

metvuong

lumen lux

1

1

5- Độ chói (B) là đại lượng để đánh giá độ sáng của bề mặt,một nguồn sáng

Độ chói nhìn theo phương n tới một điểm

trên một mặt sáng là cường độ sáng phát ra

theo phương n của một đơn vị diện tích mặt

sáng thẳng góc với phương nhìn tại điểm đó

Độ chói nhìn theo phương n là tỷ số giữa

cường độ phát ra theo phương nào đó trên

diện tích hình chiếu mặt chiếu sáng xuống phương thẳng góc với phương n

d Φ

S

d Φ M

γ

dI n

Trang 24

Đơn vị đo độ chói là nit (nt)

Nit là độ chói của một nguồn sáng diện tích 1m2 có cường độ 1cd khi ta nhìn thẳng góc với nó

2 1

1 1

m

candela nit=

Hoặc đo độ chói bằng Stilb 1Stilb = 104 nit

§6-2 Chiếu sáng và sự nhìn của mắt

1- Sự nhạy cảm của mắt

a- Độ nhạy cảm tổng hợp của mắt Độ nhạy cảm của mắt được đánh giá bằng

ngưỡng độ chói

Ngưỡng độ chói là độ chói tối thiểu của một chấm sáng mà người ta bắt đầu

thấy được nó trên nền tối có độ chói bằng không

Ngưỡng độ chói phụ thuộc vào kích thước vật nhìn Kích thước góc của chấm sáng khá bé thì ngưỡng độ chói khá cao và khi tăng dần kích thước góc của chấm sáng thì trị số ngưỡng độ chói giảm dần xuống, đến khi góc nhìn α /50othì trị số ngưỡng độ chói hầu như không giảm nữa Trị số nghịch đảo của ngưỡng độ chói khi α = 50o được gọi là độ nhạy cảm tuyệt đối của mắt về ánh sáng

b- Độ nhạy cảm tương phản về độ chói của mắt

Độ tương phản về độ chói giữa vật và nền nhìn được xác định:

% 100

n

v n

B

B B

=

Bn – độ chói của nền; Bv – độ chói của vật

Chỉ khi nào sự tương phản về độ chói giữa vật và nền nhìn (vật và nền có cùng màu sắc như nhau) cao hơn một trị số nhất định Kng thì mắt mới bắt đầu nhìn thấy vật đó Trị số Kng được gọi là độ tương phản ở ngưỡng thấy, nó là một đại lượng phụ thuộc rất nhiều vào kích thước góc của vật nhìn Cùng độ chói như nhau, kích thước góc của vật nhìn lớn thì sự nhìn của mắt đòi hỏi độ tương phản không cao Ngược lại kích thước góc của vật nhìn nhỏ thì sự nhìn của mắt đòi hỏi độ tương phản lớn

Trị số nghịch đảo của độ tương phản ở ngưỡng thấy ng

ng

A

K1 = gọi là độ nhạy cảm tương phản của mắt Độ nhạy cảm tương phản Ang của mắt phụ thuộc vào độ chói của nền, độ chói của nền tăng thì độ nhạy cảm tương phản của mắt tăng và đạt giá trị cực đại khi độ chói của nền Bn = 350 nit Nếu tăng độ chói của nền lên nữa thì độ nhạy cảm tương phản của mắt không tăng nữa và nó lại giảm

đi khi độ chói của nền Bn > 600 nit, vì độ chói quá mức của nền đã gây ra hiện tượng lóa mắt

Trang 25

2- Khả năng phân giải của mắt

Người ta đánh giá khả năng phân giải của mắt bằng góc nhìn tối thiểu αng mà mắt có thể nhìn thấy được vật Mắt có khả năng phân giải trung bình nghĩa là có khả năng nhận biết được hai vật nhỏ nhất dưới góc nhìn αng=1’ trong điều kiện chiếu sáng tốt

3- Tốc độ phân giải của mắt

Quá trình nhận biết một vật của mắt không xẩy ra ngay lập tức mà phải qua một thời gian nào đó Thời gian này càng nhỏ thì tốc độ phân giải của mắt càng lớn Tốc độ phân giải phụ thuộc vào độ chói và độ rọi sáng trên vật quan sát Tốc độ phân giải tăng nhanh từ độ rọi bằng 0 đến 1200 lux sau đó tăng không đáng kể

Vì vậy muốn cho mắt phân giải nhanh thì ánh sáng trong trường nhìn phải đủ lớn và phân bố đều trên bề mặt nhìn Trong các công trình kiến trúc chiếu sáng trong sản xuất, chiếu sáng giao thông, nhất là ở các đường hầm phải đảm bảo sao cho dộ sáng từ trường này sang trường nhìn kia không thay đổi quá đột ngột làm cho mắt phân giải không kịp và dễ gây ra tai nạn

§6-3 Kỹ thuật chiếu sáng

Trong sản xuất người ta thường dùng hai nguồn sáng: ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo Aùnh sáng tự nhiên là ánh sáng ban ngày do mặt trời và bầu trời sinh ra Nó là nguồn sáng sẵn có, thích hợp và có tác dụng tốt đối với sinh lý con người

1- Chiếu sáng tự nhiên

a- Nguồn sáng

Aùnh sáng mặt trời chiếu xuống mặt đất khi xuyên qua lớp khí quyển bị các hạt trong tầng không khí hấp thụ nên các tia truyền thẳng (trực xạ) một mặt bị yếu

đi, mặt khác bị các hạt khuếch tán sinh ra ánh sáng tản xạ làm cho bầu trời

sáng lên Do đó ánh sáng tự nhiên có hai nguồn chính là ánh sáng trực xạ của

mặt trời và ánh sáng phản xạ của bầu trời Ngoài ra ánh sáng tự nhiên trong các phòng còn có ánh sáng phản xạ từ các mặt phản xạ mằn trong hoặc ngoài phòng

b- Tiêu chuẩn chiếu sáng tự nhiên

Aùnh sáng tự nhiên chiếu xuống mặt đất có trị số luôn thay đổi, nó phụ thuộc vào từng giờ trong ngày, từng ngày trong tháng, từng tháng trong năm và vào từng vĩ độ địa phương, vào đặc điểm khí hậu từng vùng Chế độ chiếu sáng trong phòng cũng luôn luôn biến đổi theo, cho nên khoa học chiếu sáng tự nhiên quy định tiêu chuẩn chiếu sáng tự nhiên không phải là độ rọi hay độ chói trên mặt phẳng lao động mà theo một đại lượng quy ước là hệ số chiếu sáng tự

nhiên (HSTN) Hệ số chiếu sáng tự nhiên tại một điểm M trong phòng là tỷ số

giữa độ rọi tại điểm đó (E M ) với độ rọi sáng ngoài nhà (e ng ) (độ rọi sáng ngoài

Trang 26

nhà là độ rọi do ánh sáng tản xạ của bầu trời tại một điểm trên mặt phẳng nằm ngang ở chỗ quang đảng) trong cùng một thời điểm tính theo tỷ lệ phần trăm

% 100

×

=

ng

M M

E

E HSTNe

Trong tiêu chuẩn chiếu sáng tự nhiên có quy định hai hệ số tiêu chuẩn chiếu sáng tự nhiên để đánh giá hai phương pháp chiếu sáng tự nhiên khác nhau Dùng chiếu sáng tự nhiên bằng cửa trời, cửa sổ tằng cao được đánh giá bằng hệ số chiếu sáng tự nhiên trung bình (Ftb); dùng chiếu sáng tự nhiên bằng cửa sổ bên cạnh được đánh giá bằng hệ số chiếu sáng tự nhiên tối thiểu (emin)

c- Thiết kế chiếu sáng tự nhiên

Nhiệm vụ cơ bản của việc thiết kế chiếu sáng tự nhiên cho nhà là chọn hình dáng, kích thước và vị trí của các cửa, để tạo được điều kiện tiện nghi về ánh sáng trong phòng, bảo đảm cho mắt người làm việc trong điều kiện thích hợp nhất

Khi thiết kế chiếu sáng cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Đảm bảo tản xạ trong phòng không quá lớn, nếu không sẽ làm cho các vật nhìn mất tính lập thể (không rõ hình khối) dẫn đến sự nhìn của mắt rất căng thẳng và mau mệt mỏi

- Độ rọi ánh sáng trong phòng phải được đảm bảo đầy đủ theo tiêu chuẩn chiếu sáng tự nhiên quy định

- Hướng của ánh sáng phải bố trí sao cho không gây ra đổ bóng của người, của thiết bị và các kết cấu nhà lên trường nhìn của công nhân

- Phải tránh hiện tượng loá do các cửa lấy ánh sáng có độ chói quá lớn nằm trong trường nhìn của công nhân

- Bề mặt làm việc của công nhân trong quá trình lao động phải có độ sáng cao hơn các bề mặt khác ở trong phòng

- Thiết kế các cửa chiếu sáng tự nhiên cho nhà sản xuất chỉ nên vừa đủ tiêu chuẩn chiếu sáng tự nhiên quy định, không nên vượt quá, để đảm bảo chế độ vi khí hậu trong nhà được tốt hơn

- Cửa chiếu sáng trong nhà công nghiệp phải đơn giản và thống nhất trong nhà máy

Mỗi hệ thống chiếu sáng có nhiều hình thức phong phú Mỗi loại cửa chiếu sáng cho ta những đặc điểm ánh sáng tự nhiên trong phòng khác nhau và thích hợp với một điều kiện vi khí hậu nhất định

Trang 27

Thiết kế chiếu sáng tự nhiên cho phòng phải dựa vào đặc điểm và tính chất của nó, yêu cầu thông gió thoát nhiệt với những giải pháp che mưa nắng và chọn hình thức cửa mưa nắng thích hợp

Để tránh nắng chiếu vào phòng thì các nhà công nghiệp thường đặt theo hướng bắc nam; cửa chiếu sáng đặt về hướng bắc, cửa thông gió mở rộng về phía nam

Chiếu sáng tự nhiên thích hợp với tâm sinh lí của con người, quang phổ của nó rộng và trùm hết toàn bộ miền bức xạ khả kiến, nó rất có lợi cho cảm nhận chính xác về màu sắc các vật

Tuy nhiên chiếu sáng tự nhiên có những mặt hạn chế của nó và nổi bật nhất là nó phụ thuộc vào tự nhiên rất nhiều, do đó không ổn định, khó kiểm soát, vì thế để khắc phục những hạn chế này ta cũng cần phải kết hợp với chiếu sáng nhân tạo

2- Chiếu sáng nhân tạo

Cho đến nay, nguồn sáng điện chủ yếu vẫn dùng đèn dây tóc và đèn huỳnh quang

a-Nguồn sáng điện

Đèn điện chiếu sáng thường dùng hiện nay là đèn dây tóc và đèn huỳnh quang

* Đèn dây tóc được chế tạo dựa trên hiệu ứng nhiệt quang của một số vật rắn Các loại đèn dây tóc có đặc điểm phát sáng khác nhau dùng để phục vụ cho công tác chiếu sáng theo các yêu cầu khác nhau

Sử dụng đèn dây tóc chiếu sáng trong sản xuất có những ưu điểm sau:

- Giá thành rẻ, cấu tạo đơn giản và dễ sử dụng

- Aùnh sáng của đèn dây tóc phát ra có nhiều ánh sáng màu đỏ, màu vàng và bức xạ hồng ngoại gần với ánh sáng của lửa nên nó phù hợp với tâm sinh lí con người

- Phát sáng ổn định không phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm và môi trường Thích hợp với chiếu sáng cục bộ

Nhược điểm của đèn dây tóc:

- Hiệu suất phát sáng thấp và thời gian sử dụng ngắn

* Đèn huỳnh quang được chế tạo dựa trên hiệu ứng huỳnh quang điện

Bắc Bắc

Mẫu cửa chiếu sáng tốt Chiếu sáng và thông gió tốt

Trang 28

- Hiệu suất phát sáng cao, thời gian sử dụng dài hơn nhiều so với đèn dây tóc, hiệu quả kinh tế cao

Đèn huỳnh quang cũng có một số hạn chế sau:

- Chỉ phát quang ổn định khi nhiệt độ không khí dao động trong khoảng 15

35oC, điện áp thay đổi khoảng 10% đã làm đèn không làm việc được

- Giá thành cao, sử dụng phức tạp hơn

- Aùnh sáng đèn huỳnh quang không thuận lợi với tâm sinh lí con người

- Đèn huỳnh quang có hiện tượng quang thông dao động theo tần số của điện áp xoay chiều làm khó chịu khi nhìn, có hại cho mắt

Làm việc dưới ánh sáng đèn huỳnh quang, năng suất lao động thường thấp hơn

so với làm việc dưới ánh sáng đèn dây tóc khi cùng một tiêu chuẩn chiếu sáng

b- Thiết bị chiếu sáng:

Thiết bị chiếu sáng có những nhiệm vụ sau:

- Phân bố ánh sáng phù hợp với mục đích chiếu sáng

- Bảo vệ cho mắt trong khi làm việc không bị quá chói do độ chói quá cao của nguồn sáng

- Bảo vệ nguồn sáng tránh va chạm, bị gió, mưa, nắng, bụi vv…

- Để cố định và đưa điện vào nguồn sáng

- Chao, chụp đèn có thể thay đổi quang phổ của đèn khi cần thiết

Thiết bị chiếu sáng có nhiều loại, hình dạng và công dụng khác nhau, tuỳ theo nhiệm vụ mà mỗi loại trang bị có một hay nhiều bộ phận sau đây:

- Bộ phận phản xạ để phản chiếu các luồng sáng của đèn phát ra vào những hướng nhất định làm tăng hiệu quả chiếu sáng của đèn

- Bộ phận khuếch tán có nhiệm vụ làm giảm độ chói của nguồn sáng, biến ánh sáng trực tiếp của đèn thành ánh sáng khuếch tán có cường độ nhỏ hơn để hạn chế khả năng gây loá của đèn Bộ phận khuếch tán có nhiều loại như xuyên qua khuếch tán định hướng, xuyên qua khuếch tán hoàn toàn làm bằng chất dẻo hay thủy tinh đặc biệt

- Bộ phận khúc xạ nhằm phân bố lại ánh sáng của đèn, bộ phận che tối ngăn ánh sáng để mắt không bị loá vv…

c- Thiết kế chiếu sáng điện

Thiết kế chiếu sáng điện cho nhà là tìm ra những phương thức và giải pháp chiếu sáng đảm bảo những yêu cầu ánh sáng cho lao động trong phòng tốt nhất mà lại kinh tế nhất Có ba phương thức cơ bản sau đây:

* Phương thức chiếu sáng chung: Trong toàn phòng có một hệ thống chiếu

sáng từ trên xuống gây ra một độ chói không gian nhất định và một độ rọi nhất định trên toàn bộ các mặt phẳng lao động

* Phương thức chiếu sáng cục bộ: Chia không gian lớn của phòng ra nhiều

không gian nhỏ, mỗi không gian nhỏ của phòng có một chế độ chiếu sáng khác nhau

Trang 29

* Phương thức chiếu sáng hỗn hợp: Là phương thức chiếu sáng chung được

bổ sung thêm những đèn cần thiết đảm bảo độ rọi lớn tại những chổ làm việc của công nhân

Phương thức chiếu sáng chung trong phòng ngoài việc đảm bảo cho sản xuất, nó còn tạo ra trong phòng một độ sáng không gian nhất định có tác dụng trực tiếp đến tâm sinh lí của con người làm việc trong môi trường có độ sáng không gian lớn con người cảm thấy thoải mái dễ chịu, tinh thần sảng khoái, trí óc minh mẫn và hoạt động nhanh nhẹn, mang lại khả năng làm việc với năng suất cao Ngược lại làm việc lâu dài trong môi trường làm việc có độ sáng không gian nhỏ gây cho con người ở trạng thái tinh thần bị ức chế, tính tình trầm lặng, hoạt động chậm chạp, khả năng làm việc bị sút kém và là nguyên nhân dễ gây ra bệnh nghề nghiệp

Trong các phương thức chiếu sáng trên có thể dùng các giải pháp chiếu sáng sau:

- Chiếu sáng bằng những ngọn đèn bố trí đơn độc hay thành những cụm lớn

- Chiếu sáng bằng nhiều đèn lớn bố trí thành các tấm sáng hoặc trần sáng

Trang 30

Chương 7

PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA CHẤT PHÓNG XẠ

§7-1 Khái niệm chung về chất phóng xạ và tia phóng xạ

Tia phóng xạ là những tia mắt thường không nhìn thấy được, phát ra do sự

biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và có khả năng ion hóa vật chất Những nguyên tố có hạt nhân nguyên tử phát ra từ các tia này gọi là nguyên tố phóng xạ

Hiện nay người ta biết được chừng 50 nguyên tố phóng xạ tự nhiên và 1000 đồng vị phóng xạ nhân tạo Dưới đây là một số chất phóng xạ thường gặp:

Chất phóng xạ Chu kỳ bán hủy Tia phóng xạ

Trong nông nghiệp, chăn nuôi, ngư nghiệp dùng P32 để nghiên cứu quá trình dinh dưỡng của cây trồng, chiếu tia phóng xạ để xử lí hạt giống, bảo quản thực phẩm, diệt trừ sâu bọ Dùng các đồng vị phóng xạ để biết các nguyên tố vi lượng P, S, Cu, Fe… trong thành phần của thức ăn Trong ngư nghiệp giúp thăm dò chính xác khối lượng cá, tình trạng di chuyển và đièu kiện sống tốt nhất của chúng

Trong y học, tia rơn ghen, tia γ được sử dụng để chẩn đoán bệnh và điều trị bệnh ung thư Một số đồng vị phóng xạ được sử dụng để nghiên cứu quá trình chuyển hoá chất trong cơ thể, phát hiện các dấu hiệu bất thường các bộ phận trong cơ thể, theo dõi sự phân bố và bài xuất một số loại thuốc Loại trừ một số chất độc công nghiệp khi chúng xâm nhập vào cơ thể

Trang 31

Các chất đồng vị phóng xạ được dùng trong kỹ thuật bảo hộ lao động, dùng tia phóng xạ Po210, TI204 để ion hóa không khí và trung hòa các điện tích tĩnh điện xuất hiện bên trong phân xưởng nóng và nhiễm bụi để chống cháy nổ Dùng khí phóng xạ Ar để xác định hiệu quả của hệ thống thông gió

Đơn vị đo: Để xác định hoạt tính, liều lượng của tia phóng xạ người ta dùng

các đơn vị đo:

- Curi ( Ci ) là hoạt tính của một chất nào đó trong một giây có 3,7.1010

nguyên tử phân huỷ, 1Ci = 1000 mCi, 1 micro Curi ( μCi ) = 10-6 Curi

- Rơnghen ( R ) là liều lượng tia Rơnghen hoặc tia γ khi chiếu vào 1cm3không khí ở điều kiện tiêu chuẩn ( 0oC, 760mmHg )thì tạo được 2,08.109 cặp ion, tương đương với một đơn vị tĩnh điện cho mỗi dấu, 1R=1000 milirơnghen

(mR)= 1000.000 microrơnghen (μR)

- Rad (Radiaton absorbed dose) là liều lượng hấp thụ vật lí, tương đương với năng lượng hấp thụ 100 erg/gam vật chất bị chiếu xạ Khi chiếu vào 1g không khí 1R cho một năng lượng hấp thụ là 84erg hay 0,8 rad

- Rem (Roentgen equivalent man): là liều tác dụng sinh học gây nên ở tổ chức sinh vật bị chiếu phóng xạ, khi trong tổ chức này hấp thụ một năng lượng

100 erg hay 1Rad của tia Rơnghen

Rem = Rad

Hệ số sinh vật học tia X = 1

tiaγ = 10 ( nơtron nhanh )

tia nơtron chậm = 3

tia

Để đo hoạt tính phóng xạ người ta dùng máy Radiomet, còn đo liều lượng phóng xạ dùng máy Dosimetre Đối với từng người thường dùng bút hoặc dùng phim để đo liều lượng phóng xạ

§7-2 Tác hại của tia phóng xạ và các phương pháp phòng ngừa

Làm việc với các chất phóng xạ có thể bị nhiễm xạ Nhiễm xạ do các nguồn bức xạ từ ngoài cơ thể gọi là ngoại chiếu Nhiễm xạ do các chất phóng xạ xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hoá gọi là nội chiếu Có trường hợp là tác dụng hỗn hợp cả ngoại chiếu và nội chiếu Nhiễm xạ do nội chiếu nguy hiểm hơn vì sự đào thải chất phóng xạ ra khỏi cơ thể không dễ dàng, thời gian

bị chiếu xạ lâu hơn

1- Tác hại của nhiễm xạ

Nhiễm phóng xạ cấp tính xẩy ra sớm sau vài giờ hoặc vài ngày khi toàn thân nhiễm xạ một liều lượng trên 200 Rem Khi nhiễm xạ cấp tính thường có những triệu chứng sau:

- Chức phận thần kinh trung ương bị rối loạn

- Da bị bỏng, tấy đỏ ở chỗ tia phóng xạ chiếu vào

Trang 32

- Cơ quan tạo máu bị tổn thương nặng

- Gầy, sút cân, chết dần chết mòn trong tình trạng suy nhược

Trường hợp nhiễm xạ cấp tính thường ít gặp trong sản xuất và nghiên cứu mà chủ yếu xẩy ra trong các vụ nổ hạt nhân và tai nạn các lò phản ứng nguyên tử Nhiễm xạ mãn tính xẩy ra khi liều lượng khoảng 200Rem hoặc ít hơn trong một thời gian dài và thường có các triệu chứng sau:

- Thần kinh bị suy nhược

- Rối loạn các chức năng tạo máu

- Có hiện tượng đục nhân mắt, ung thư da, ung thư xương

Có một đặc điểm là các cơ quan cảm giác không thể phát hiện được các tác động của phóng xạ lên cơ thể, chỉ khi nào có hậu quả mới biết được

Các tia phóng xạ có khả năng ion hoá, có hoạt tính hoá học cao, chúng có thể làm đứt bất cứ một liên kết nào

Ví dụ dưới tác dụng của các tia phóng xạ vào phân tử nước sẽ tạo ra H và OH Các sản phẩm phân rã phân tử nước có hoạt tính hoá học rất lớn và tương tác với các phân tử của các mô, dẫn đến tạo ra những hợp chất hoá học mới không có những thuộc tính của tế bào cũ Do đó các quá trình sinh hoá và sự trao đổi chất bị mất cân bằng dẫn đến các bệnh về nhiễm xạ trong cơ thể

2- Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu ứng chiếu xạ

- Tổng liều chiếu xạ và liều chiếu xạ mỗi lần: Tổng liều chiếu xạ càng lớn

thì càng nguy hiểm Nếu nhiễm xạ trên 600 Rem trở lên thì có thể tử vong, nếu

bị nhiễm xạ khoảng 300 Rem thì có thể cứu chữa được Cùng một tổng liều chiếu xạ, nhưng chia làm nhiều lần thì đỡ nguy hiểm hơn là gộp lại một lần, như vậy quan trọng là ở công suất của liều chiếu xạ Tuy nhiên nhỏ cũng có thể gây những biến đổi không thuận nghịch trong cơ thể, cho nên khó nói đến một liều chiếu xạ (trên mức phóng xạ có trong tự nhiên gọi là nền phóng xạ tự nhiên) hoàn toàn không nguy hiểm

Về tác hại đối với gen thì những liều chiếu xạ dù nhỏ nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần vẫn nguy hiểm Cũng cần nói là trong tự nhiên luôn luôn tồn tại một mức phóng xạ gọi là nền phóng xạ tự nhiên do tia vũ trụ và do trên mặt đất có các chất phóng xạ Liều phóng xạ tự nhiên càng tăng khi lên cao so với mặt đất và gần nơi có mỏ quặng phóng xạ

- Diện tích cơ thể bị chiếu xạ càng lớn thì càng nặng Mức độ nặng hay nhẹ còn tuỳ thuộc vào vùng bị chiếu, nguy hiểm nhất là vùng đầu và vùng bụng

- Các tế bào non như tế bào ung thư và tế bào của thai nhi mẫn cảm với tia phóng xạ hơn là tế bào già Vì vậy sức chịu đựng của trẻ con đối với chiếu xạ kém hơn người lớn và người ta sử dụng để điều trị bệnh ung thư bằng tia xạ rất có hiệu quả, vì các tế bào trong cơ thể tồn tại được sau khi chiếu xạ, còn tế bào ung thư là những tế bào trẻ bị tiêu diệt

Trang 33

- Sự mẫn cảm của từng người đối với phóng xạ cũng khác nhau, đặc biệt là những liều nhiễm xạ thấp Người ở lứa tuổi 25÷50 chịu đựng phóng xạ tốt hơn trẻ con

- Ngoài ra còn phụ thuộc vào trạng thái cơ thể, nếu cơ thể đã có bệnh, đói, nhiễm độc, nhiễm trùng thì sức chống đỡ đối với chiếu xạ kém hơn

- Bản chất vật lí của từng loại chiếu xạ khác nhau, ảnh hưởng khác nhau đối với cơ thể

- Về tác dụng nội chiếu phụ thuộc vào tính phóng xạ của từng chất, tính phóng xạ của các chất càng lớn càng nguy hiểm

- Phụ thuộc vào bản chất hóa học của chất phóng xạ Những chất như nước,

Na, Cl quay vòng trong cơ thể nhanh và mau bị đào thải

- Những chất trơ hoá học argon, xenon,… khi vào phổi không ở lại đó lâu và không tạo các hợp chất ở đó nên cũng đỡ nguy hiểm Một số chất động lại trong tế bào như stronxi, uran, radi, itri, rutexi,…

Nhóm chất như niobi, rutexi, poloni… phân bố đều trong cơ thể

- Ngoài ra tác dụng nội chiếu còn phụ thuộc vào tốc độ phân rã của chất phóng xạ và tốc độ đào thải chất đó ra khỏi cơ thể

- Một số chất phóng xạ còn có độc tính hoá học như uran và các muối của nó rất có hại cho cơ thể

3- Các biện pháp phòng chống phóng xạ

Một trong những con đường xâm nhập của các chất phóng xạ vào cơ thể là hô

hấp Vì thế cần khống chế nồng độ các chất phóng xạ trong không khí ở giới hạn cho phép gọi là nồng độ giới hạn cho phép Nồng độ này tuỳ thuộc vào độc tính phóng xạ của các chất

Nguồn phóng xạ được chia nguồn phóng xạ kín và nguồn phóng xạ hở

Nguồn phóng xạ kín là nguồn mà chất phóng xạ được bọc kín trong một vỏ bọc nào đấy hoặc trong một trạng thái vật lí đảm bảo cho chất đó không thoát

ra môi trường ngoài trong điều kiện sử dụng nó Ngược lại, nguồn phóng xạ hở là nguồn mà chất phóng xạ nằm trong vỏ bọc, trong một trạng thái vật lí mà chất đó có thể thoát ra ngoài

- Làm việc với nguồn phóng xạ kín

Đây là những công việc không phải tiếp xúc trực tiếp đến các chất phóng xạ, mà chỉ sử dụng các thiết bị chứa nguồn phóng xạ Ví dụ như dùng tia phóng xạ để điều trị bệnh ung thư trong các bệnh viện, dùng tia γ của Co60 kiểm tra vết nứt, các khuyết tật trong kim loại, hoặc dùng tia X để chẩn đoán bệnh, nghiên cứu cấu trúc của tinh thể vật chất

Khi làm việc với nguồn phóng xạ kín, trong điều kiện bình thường không xuất hiện phóng xạ cũng như khói bụi phóng xạ khác, chỉ cần đề phòng tia phóng xạ mà thôi

Trang 34

Khi sử dụng các nguồn phóng xạ với hoạt tính trên 10 đương lượng gam radi thì phải thông gió bắt buộc, những thiết bị có nguồn γ, nơtơron kín, phải để một chỗ riêng biệt hoặc để ở chái nhà một tầng Trong mọi trường hợp phải đảm bảo mức nhiễm xạ ở những luồng lân cận dưới mức cho phép

Khi sử dụng những thiết bị có chùm tia định hướng, thì chỉ cần tránh chùm tia Còn với những thiết bị mà chùm tia không định hướng, thì cảnh giác không những với tia xạ truyền thẳng mà còn với cả những chùm tia nhiễu xạ

- Làm việc với nguồn phóng xạ hở

Đây là những công việc của những cán bộ phòng thí nghiệm nghiên cứu, chế biến các chất phóng xạ, các công nhân khai thác quặng phóng xạ, công nhân luyện kim loại và hợp kim có chất phóng xạ Do thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với các chất phóng xạ, quặng, bụi quặng, hơi khí, dung dịch chất phóng xạ,

do đó những người này vừa bị tác dụng của ngoại chiếu vừa bị tác dụng của nội chiếu

Các biện pháp ngăn ngừa các chất phóng xạ vào cơ thể gần giống như phòng chống nhiễm độc hoá chất, bụi trong công nghiệp

4- An toàn cá nhân

Các phương tiện bảo vệ cá nhân là để phòng chống chất phóng xạ dây vào da

hay xâm nhập vào cơ thể, phòng chống tia phóng xạ α và có thể cả tia không thể ngăn tia γ, nơtron

Ngoài quần áo bảo hộ lao động ra thì còn phải có áo choàng đặc biệt, giày và những dụng cụ đặc biệt để tránh nhiễm xạ

Quần áo, găng tay tốt nhất là bằng sợi bông nhưng phải đảm bảo trơn bóng, ít bắt bụi, giày, ủng cao su vv… Cần phải gia công theo công nghệ hàn để đảm bảo không đọng các tạp chất phóng xạ, dễ tẩy rửa

Chấp hành một cách nghiêm ngặt những quy định về vệ sinh cá nhân, không ăn uống, hút thuốc nơi làm việc Aên phải có nhà ăn riêng, trước khi ăn phải lau khô mồ hôi, rữa tay chân bằng nước nóng, lạnh Không mang quần áo, dụng cụ bảo hộ lao động vào nhà ăn

Cán bộ công nhân viên phải được học cấp cứu Trước khi ra về phải thay quần áo tắm rửa sạch sẽ, không mang về nhà bất cứ thứ gì có khả năng bị nhiễm bẩn phóng xạ Cần phải tiến hành kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho công nhân

Trang 35

Chương 8

AN TOÀN KHI LÀM VIỆC Ở TRƯỜNG ĐIỆN TỪ

TẦN SỐ CAO VÀ CỰC CAO

§8-1 Sự hình thành điện từ trường tần số cao và cực cao

trong một số thiết bị công nghiệp

Ta đã biết rằng xung quanh dây dẫn điện xuất hiện đồng thời một điện trường và một từ trường Các trường này sẽ không có liên hệ với nhau nếu dòng điện không thay đổi theo thời gian (dòng điện một chiều) Khi dòng điện thay đổi (dòng điện xoay chiều) từ trường và trường điện có liên hệ với nhau nên khi nghiên cứu chúng cần phải tiến hành đồng thời và coi chúng như một trường điện từ thống nhất

Trường điện từ tần số cao có khả năng toả lan ra không gian không cần dây dẫn điện với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng

n

C

V =

C- Vận tốc ánh sáng 3.105 km/s

n- Chiết xuất môi trường

Trường điện từ thay đổi theo tần số của dòng điện sinh ra nó

Thời gian cần cho một chu kỳ biến đổi của dòng điện đúng bằng chu kỳ dao động của trường điện từ

Tần số và chu kỳ của trường điện từ có quan hệ tỷ lệ nghịch

T

f = 1

Trong đó: f- tần số dao động trường điện từ (HZ)

T- chu kỳ dao động của trường điện từ (s)

Khoảng cách mà trường điện từ đã lan ra sau một chu kỳ gọi là bước sóng của trường điện từ:

nf

C n n

λ λ- là bước sóng

λo- bước sóng của sóng điện từ trong chân không

Bước sóng của sóng điện từ phụ thuộc môi trường, nó có bước sóng lớn nhất trong chân không

Sóng điện từ (đơn sắc) được phân loại theo độ lớn của tần số (HZ) hay bước sóng (trong chân không)

Sự lan toả trường điện từ trong không gian mang theo năng lượng của nó

Trong công nghiệp, thường ứng dụng các trưởng điện từ tần số cao khoảng 3.104 ÷3.106H , bước sóng từ 10.000m ÷100m; tần số siêu cao từ 3.106 ÷ 3.108

Trang 36

HZ, bước sóng từ 100m÷1m; tần số cực cao 3.108÷3.1011 HZ, bước sóng từ 100cm÷0,1cm

§ 8-2 Tác dụng của trường điện từ đến cơ thể con người

Cạnh các nguồn của các trường cao tần hình thành một vùng cảm ứng và vùng bức xạ Cách nguồn phát không quá

Mức độ tác dụng của trường điện từ lên cơ thể con người phụ thuộc vào độ dài bước sóng, tính chất công tác của nguồn (xung hay liên tục), cường độ bức xạ, thời gian tác dụng, khoảng cách từ nguồn đến cơ thể và sự cảm thụ riêng của từng người

Tần số càng cao (nghĩa là bước sóng càng ngắn), năng lượng điện từ mà cơ thể hấp thụ càng tăng

Tần số cao 20%

Tần số siêu cao 25%

Tần số cực cao 50%

Song tác hại của sóng điện từ không chỉ phụ thuộc vào năng lượng bức xạ bị hấp thụ, mà còn phụ thuộc vào độ thấm sâu của sóng bức xạ vào cơ thể Độ thấm sâu càng cao thì tác hại càng nhiều Độ thấm sâu cho trong bảng dưới đây và năng lượng hấp thụ nêu trên có thể làm rõ những đặc tính sau đây của sóng điện từ : sóng đêcimet gây biến đổi lớn nhất đối với cơ thể so với sóng cetimet và sóng mét Sóng milimet gây tác dụng bệnh lí rất ít so với sóng centimet và đêcimet

Dưới tác dụng của điện từ trường tần số cao, các ion của các tổ chức cơ thể sẽ chuyển động, trong các tổ chức này sẽ xuất hiện một dòng điện cao tần do đó một phần năng lượng của trường bị cuốn hút

Trị số độ truyền dẫn của tổ chức cơ thể tỷ lệ với thành phần chất lỏng có trong tổ chức Độ truyền dẫn mạnh nhất là ở máu và các bắp thịt, còn yếu nhất trong các mô mỡ Chiều dày lớp mỡ ở nơi bị bức xạ có ảnh hưởng đến mức độ phản xạ sóng bức xạ ra ngoài cơ thể Đại não, tuỷ xương sống có lớp mô mỏng, còn mắt thì hoàn toàn không có nên các bộ phận này chịu tác dụng nhiều hơn cả Chịu tác dụng của trường điện từ có tần số khác nhau và cường độ lớn hơn cường độ giới hạn cho phép một cách có hệ thống và kéo dài dẫn tới sự thay đổi một số chức năng của cơ thể, trước hết là hệ thống thần kinh trung ương, mà chủ yếu là làm rối loạn hệ thần kinh thực vật và rối loạn hệ thống tim mạch Sự thay đổi đó có thể làm nhức đầu, dễ mệt mỏi, khó ngủ hoặc buồn ngủ nhiều, suy yếu toàn thân, sinh ra nóng nảy và hàng loạt triệu chứng khác Ngoài ra nó

Trang 37

có thể làm chậm mạch, giảm áp lực máu, đau tim, khó thở, làm biến đổi gan và lá lách

Tác dụng của năng lượng điện từ tần số siêu cao là có thể làm biến đổi máu, giảm sự thính mũi, biến đổi nhân mắt

Sóng vô tuyến còn có thể gây rối loạn chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ Nói chung phụ nữ chịu tác hại của sóng điện từ nhiều hơn nam giới Tỷ lệ mắc bệnh tăng theo thời gian công tác

Căn cứ để đánh giá tác hại của điện trường có thể là cường độ tác dụng của trường, biểu thị bằng vôn/mét Trị số giới hạn cho phép ở chỗ làm việc là 5V/m còn đối với các lò cảm ứng để tôi, đúc kim loại cho phép đến 10V/m do điều kiện không bao che được thiết bị

Ngoài ra người ta còn dùng mật độ dòng công suất được xác định bằng số năng lượng truyền qua diện tích 1cm2 vuông góc với phương truyền sóng trong

một giây Đơn vị tính là μW/cm2, mW/cm2, W/cm2

Trị số cường độ bức xạ giới hạn cho phép của trường điện từ tần số cực cao tại chỗ làm việc dược xác định như sau: Khi chịu tác dụng cả ngày làm việc thì

cường độ bức xạ không hơn 10μW/cm2, Khi chịu tác dụng không quá 2 giờ trong

một ngày thì không lớn hơn 100μW/cm2, khi chịu tác dụng không quá 15÷20 phút trong một ngày thì không lớn hơn 1mW/cm2 và khi đó nhất thiết phải đeo kính

§8-3 Các biện pháp phòng chống

- Cuộn cảm ứng là nguồn điện từ trường tần số cao (cao tần) Trường bên trong ống nguy hiểm hơn trường bên ngoài ống dây cảm ứng

Đối với tụ điện tạo nguồn cao tần, để nung nóng những chất cách điện thì trường giữa hai tấm của tụ điện cao hơn phía ngoài

Nguồn trường còn có thể là các phần tử riêng của máy phát: các cuộn dây, tụ điện, các dây dẫn vv…

Trong khi sử dụng các thiết bị cao tần cần chú ý đề phòng điện giật, tuân thủ các quy tắc an toàn Phần kim loại của thiết bị phải được nối đất Các dây nối đất nên ngắn và không cuộn tròn thành nguồn cảm ứng

- Các thiết bị cao tần cần được rào chắn, bao bọc để tránh tiếp xúc phải những phần có điện thế, cần có các panen và các bảng điều khiển, khi cần phải điều khiển từ xa

- Nước làm nguội thiết bị cũng có điện áp cần phải tìm cách nối đất

- Để bao vây vùng có điện từ trường, người ta dùng các màn chắn bằng những kim loại có độ dẫn điện cao, vỏ máy cũng cần được nối đất

- Diện tích cho mỗi công nhân làm việc phải đủ rộng

- Trong phòng đặt các thiết bị cao tần không nên có những dụng cụ bằng kim loại nếu không cần thiết, vì sẽ tạo ra nguồn bức xạ điện từ thứ cấp

Trang 38

- Vấn đề thông gió được đặt ra theo yêu cầu về thông gió, chú ý là chụp hút đặt trên miệng lò không được làm bằng kim loại vì sẽ bị cảm ứng

- Với các lò cao tần (để nung và tôi kim loại), bài toán rào chắn điện từ trường chưa được giải quyết trọn vẹn Kinh nghiệm cho thấy các lá chắn điện từ trường nên làm bằng Cu hoặc bằng Al, không nên làm bằng sắt Để công nhân tránh xa vùng nguy hiểm nên vận chuyển từ xa các chi tiết để tôi, nung

§8-4 Aûnh hưởng nguy hiểm của điện trường đường dây

và trạm cao thế

Điện trường của đường dây và trạm điện cao thế (tần số 50 Hz), đặc biệt là của đường dây và trạm 220kv thường có trị số khá cao Khi làm việc, sống ở rất gần các đường dây, thiết bị của trạm thì cường độ điện trường có thể rất lớn và gây nguy hiểm cho người

Khi thiết kế xây lắp người ta đã tính đến mức độ an toàn cho dân cư nhưng nếu vi phạm quy định về khoảng cách an toàn thì sẽ bị ảnh hưởng nguy hiểm Tiêu chuẩn hiện hành của ngành điện lực quy định:

- Khu dân cư, khu vực có người làm việc thường xuyên cường độ điện trường phải dưới 5kv/m

- Cấm người đi vào trong vùng điện trường có cường độ trên 20kv/m

- Khi công nhân làm việc trong vùng có cường độ lớn hơn 5kv/m thì phải có biện pháp bảo vệ hay phải giảm thời gian làm việc trong trường

Để hạn chế tác hại của điện trường người ta áp dụng các biện pháp: mặc quần áo chắn đặc biệt, dùng các lưới chắn, lồng chắn, tấm chắn vv… để giảm cường độ điện trường tác dụng lên người Ngoài ra các công trình khác ở gần đường dây cao thế 220kv÷500kv thì các bộ phận kim loại của công trình cần được nối đất

Trang 39

Chương 9

THÔNG GIÓ CÔNG NGHIỆP

§9-1 Nhiệm vụ của thông gió công nghiệp Tuỳ theo dạng yếu tố độc hại cần khắc phục mà thông gió có thể có những

nhiệm vụ sau đây:

1- Thông gió chống nóng:

Tổ chức trao đổi không khí giữa bên trong và bên ngoài nhà, đưa không khí

mát và khô ráo vào nhà để đẩy không khí nóng ẩm, oi bức từ trong ra ngoài Thông gió chống nóng cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Đảm bảo được nhiệt độ, độ ẩm tương đối và vận tốc gió trong toàn nhà hoặc ở từng khu vực làm việc riêng biệt ở giới hạn mong muốn

- Thông gió chống nóng chỉ giới hạn trong việc khử nhiệt thừa sinh ra trong nhà để giữ cho nhiệt độ không khí ở một giới hạn khả dĩ

- Tại những vị trí làm việc với cường độ lao động nặng hoặc tại những chỗ làm việc gần các nguồn bức xạ có nhiệt độ cao, cần bố trí hệ thống thổi gió với vận tốc lớn (từ 2-5m/s) để tăng hiệu quả làm mát của môi trường không khí

2- Thông gió khử bụi và hơi khí độc:

- Tại những nguồn toả bụi hoặc hơi khí có hại cần bố trí hệ thống hút không khí bị ô nhiễm để thải ra ngoài, trước khi thải cần phải lọc sạch bụi hoặc khử hết các chất độc hại trong không khí để tránh nhiễm bẩn khí quyển

- Tổ chức trao đổi không khí, đưa không khí trong sạch từ bên ngoài vào để bù lại chỗ không khí đã hút thải đi

- Lượng khí sạch đưa vào phải đủ để hoà loãng lượng bụi hoặc lượng khí độc còn sót lại trong nhà xuống tới mức cho phép

Tóm lại việc thông gió chống nóng hay thông gió khử bụi và hơi độc cần kết hợp chặt chẽ với việc bố trí dây chuyền công nghệ

- Những khu vực có toả nhiều nhiệt, bụi hoặc khí độc cần bố trí cách ly với các khu vực khác

- Tận dụng bố trí những thiết bị có tỏa nhiều nhiệt, bụi ở những phòng trống hoặc ở ngoài trời; các nguồn tỏa nhiệt, bụi độc hại cần được vây kín và có hệ thống hút thải,…

§9-2 Các biện pháp thông gió và các loại

hệ thống thông gió

Nếu xét nguyên nhân gây ra sự lưu thông và trao đổi không khí giữa bên trong và bên ngoài nhà thì các biện pháp thông gió có thể phân chia thành: thông gió tự nhiên và thông gió nhân tạo hay còn gọi là thông gió cơ khí

Trang 40

1-Thông gió tự nhiên

Thông gió tự nhiên là trường hợp thông gió mà sự lưu thông không khí từ bên

ngoài vào nhà và từ trong nhà thoát ra ngoài thực hiện được nhờ yếu tố tự nhiên như nhiệt thừa và gió

Dưới tác dụng của nhiệt tỏa ra, không khí phía trên nguồn nhiệt bị đốt nóng và trở nên nhẹ hơn không khí nguội xung quanh Không khí nóng và nhẹ tạo thành luồng bốc lên cao và theo các cửa bên trên bốc ra ngoài Đồng thời, không khí nguội xung quanh trong phân xưởng và không khí mát ngoài trời theo các cửa bên dưới đi vào nhà thay cho phần không khí đã bốc lên cao làm hạ thấp nhiệt độ trong phòng Như vậy, nhờ có nguồn nhiệt mà hình thành được sự trao đổi không khí giữa bên trong và bên ngoài

Trường hợp ngoài trời có gió và gió thổi chính diện vào nhà thì trên mặt trước của nhà áp suất của gió có trị số dương gọi là mặt đón gió, còn trên mặt phía sau thì áp suất gió có trị số âm gọi là mặt khuất gió Nếu trên mặt đón gió và khuất gió có mở cửa thì gió sẽ thổi qua nhà từ phía áp suất cao đến phía áp suất thấp Kết quả ta vẫn được sự lưu thông và trao đổi không khí giữa bên trong và bên ngoài nhà, nhưng khác với trường hợp trên, ở nay sự trao đổi không khí là

do gió gây ra

Trong hai trường hợp thông gió tụ nhiên nêu trên, bằng cách bố trí hợp lý các cửa thông gió Do đó người ta còn gọi các trường hợp thông gió nói trên là thông gió có tổ chức

2- Thông gió cơ khí

Thông gió cơ khí là trường hợp thông gió có sử dụng máy quạt chạy bằng động

cơ điện để làm không khí chạy từ chỗ này sang chỗ khác Bằng máy quạt và đường ống nối liền với nó ta có thể lấy không khí trong sạch ngoài trời thổi vào trong nhà hoặc hút không khí nóng và ô nhiễm trong nhà thải ra ngoài Như vậy thông gió cơ khí có hai trường hợp: hệ thống thông gió cơ khí thổi vào và hệ thống thông gió hút ra

- Trường hợp thổi vào thường được áp dụng khi chỉ cần đưa không khí mát và trong sạch vào một số vị trí làm việc cần thiét, còn những khu vực khác của phân xưởng có thể sử dụng thông gió tự nhiên

- Trường hợp hút ra được áp dụng khi lượng trao đổi không khí tương đối nhỏ Nó còn được áp dụng trong các phòng có tỏa hơi, khí độc hại vv… Khi hệ

Gió vào

Gió ra

Ngày đăng: 27/06/2014, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ trạm xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học - Bài giảng an toàn và môi trường docx
Sơ đồ tr ạm xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học (Trang 46)
Bảng 11-2 Số sợi đứt trên chiều dài một bước bện cáp, khi được coi là bỏ đi - Bài giảng an toàn và môi trường docx
Bảng 11 2 Số sợi đứt trên chiều dài một bước bện cáp, khi được coi là bỏ đi (Trang 58)
Bảng 11-3 Sự giảm số sợi đứt cho phép trong một bước bện cáp - Bài giảng an toàn và môi trường docx
Bảng 11 3 Sự giảm số sợi đứt cho phép trong một bước bện cáp (Trang 58)
Bảng 12-1: Điện trở của người phụ thuộc điện trở tiếp xúc và trạng thái của da - Bài giảng an toàn và môi trường docx
Bảng 12 1: Điện trở của người phụ thuộc điện trở tiếp xúc và trạng thái của da (Trang 65)
Bảng 12-2: Tác dụng của dòng điện đối với cơ thể người - Bài giảng an toàn và môi trường docx
Bảng 12 2: Tác dụng của dòng điện đối với cơ thể người (Trang 67)
Bảng 12-3 Phân lượng của dòng điện qua tim - Bài giảng an toàn và môi trường docx
Bảng 12 3 Phân lượng của dòng điện qua tim (Trang 67)
Hình 12-1. Dòng điện phân tán trong đất đi  qua vật nối đất hình bán cầu - Bài giảng an toàn và môi trường docx
Hình 12 1. Dòng điện phân tán trong đất đi qua vật nối đất hình bán cầu (Trang 69)
Hình 12-3 Điện áp tiếp xúc - Bài giảng an toàn và môi trường docx
Hình 12 3 Điện áp tiếp xúc (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w