Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, ô nhiễm hoặc sự nhiễmbẩn là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khảnăng gây tác hại đến sức khoẻ con người, đến
Trang 1
GIÁO TRÌNH GIẢNG DẠY
TP.HCM, 2008
Trang 2PHÂN BỐ THỜI LƯỢNG & HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ
1 Tên môn học: Quản lý môi trường.
Trang 32.1.1 Vấn đề ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường.
2.1.1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường.
2.1.1.2 Khái niệm về sự cố môi trường
2.1.1.3 Khái niệm về suy thoái môi trường
2.1.2 Vấn đề trái đất nóng lên
2.2 Phát triển và mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
2.2.1 Khái niệm về phát triển
2.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển
Chương 3: Đô thị hoá, công nghiệp hoá và ô nhiễm môi trường
3.1 Mối liên hệ giữa đô thị hoá, công nghiệp hoá và môi trường
3 2 Ô nhiễm các thành phần môi trường và các biện pháp bảo vệ
3.2.1 Ô nhiễm nguồn nước
3.2.1.1 Khái niệm ô nhiễm nguồn nước.
3.2.1.2 Các nguồn gây ô nhiễm.
3.2.1.3 Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước.
3.2.1.4 Ảnh hưởng của việc ô nhiễm nước đến môi trường sống
3.2.1.5 Một số giải pháp hạn chế ô nhiễm nguồn nước.
3.2.2 Ô nhiễm và bảo vệ khí quyển
3.2.2.1 Khí quyển và ô nhiễm khí quyển
3.2.2.2 Các nguồn gây ô nhiễm không khí
3.2.2.3 Ô nhiễm không khí do tiếng ồn
Trang 43.2.2.4 Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường không khí
3.2.3 Ô nhiễm và bảo vệ môi trường đất
3.2.3.1 Đặc điểm của môi trường đất
3.2.3.2 Ô nhiễm môi trường đất
3.2.3.3 Các chất gây ô nhiễm môi trường đất
3.2.3.4 Các biện pháp bảo vệ môi trường đất
Phần ii
Quản lý môi trường và hệ thống quản lý môi trường
Chương 4: Khái quát về quản lý môi trường
4.1 Định nghĩa về quản lý môi trường
4.2 Mục đích, nguyên tắc và nôi dung của công tác quản lý môi trường.
4.2.1 Mục đích
4.2.2 Các nguyên tắc quản lý môi trường chủ yếu
4.2.3 Nội dung và chức năng của quản lý nhà nước về môi trường.
4.2.4 Công cụ quản lý môi trường
4.2.4.1 Khái niệm về công cụ quản lý môi trường
4.2.4.2 Phân loại công cụ quản lý môi trường
Chương 5: Hệ thống quản lý môi trường ISO 14000
5.1 Khái niệm về hệ thống quản lý môi trường
5.2 Quản lý môi trường theo hệ thống ISO 14000
5.2.1 Khái niệm ISO 14000
5.2.2 Nội dung cơ bản của ISO 14000
5.2.3 Các yếu tố và các tiêu chuẩn trong chuỗi tiêu chuẩn ISO 14000
5.2.4 Triển khai áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000 ở nước ta.
5.3 Chương trình quản lý và kiểm toán sinh thái cộng đồng.
5.3.1 Sự giống và khác nhau giữa ISO 14001 va EMAS
Chương 6: Các tiêu chuẩn chất lượng môi trường
6.1 Khái niệm về tiêu chuẩn môi trường
6.2 Các tiêu chuẩn chất lượng môi trường
Trang 56.2.1 Tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh.
6.2.1.1 Các tiêu chuẩn thải nước và thải khí
6.2.1.2 Các tiêu chuẩn xả thải theo sản phẩm và quy trình.
6.2.2 Các tiêu chuẩn về môi trường nước
6.2.2.1 Tiêu chuẩn nước mặt
6.2.2.2 Tiêu chuẩn nước ngầm
6.2.2.3 Tiêu chuẩn chấùt lượng nước biển ven bờ
6.2.3 Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí
6.2.3.1 Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí xung quanh.
6.2.3.2 Cộng tác dụng của nhiều chất ô nhiễm trong môi trường không khí.
6.2.3.3 Tiêu chuẩn cho phép nồng độ chất ô nhiễm trong khí thải đối với nguồn khí thải tĩnh
6.2.3.4 Tiêu chuẩn nồng độ các chất ô nhiễm khí thải từ nguồn di động
6.2.3.5 Tiêu chuẩn tiếng ồn
6.2.4 Tiêu chuẩn chất lượng đất
6.2.4.1 Tiêu chuẩn quy định dư lượng tối đa hoá chất bảo vệ thực vật trong đất (TCVN 5941-1995)
Chương 7: Hệ thống quan trắc dùng trong quản lý môi trường
7.1 Hệ thống quan trắc môi trường và chức năng nhiệm vụ của hệ thống quan trắc 7.1.1 Khái niệm
7.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của hệ thống quan trắc môi trường.
7.1.3 Phân loại hệ thống quan trắc
7.1.4 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống quan trắc quốc gia
7.1.5 Các thông số cơ bản của môi trường được các trạm quan trắc theo dõi, thu thập.
7.1.5.1 Quan trắc chất lượng môi trường nước.
7.1.5.2 Quan trắc chất lượng môi trường không khí.
7.1.5.3 Quan trắc chất lượng môi trường đất
Phần 3
Trang 6Luật pháp về bảo vệ môi trường của Việt Nam và quốc tế
Chương 8: Tuyên bố của Hội Nghị Liên Hiệp Quốc về bảo vệ môi trường
Trang 750 của thế kỷ 20, tổng thu nhập quốc nội ở những nước phát triển tăng 3 lần, con
số này vượt quá 4 lần trong thập kỷ sau Sản lượng công nghiệp tăng 4 lần trongvòng 20 năm và tỷ lệ tăng trưởng (rate of growth) gấp 4 lần so với nửa thập kỷtrước Tuy vậy, đồng hành với sự phát triển của các ngành công nghiệp, các vấn đề
về môi trường cũng nảy sinh Mức tiêu thụ các tài nguyên, khoáng sản khôngngừng leo thang, đặc biệt là nhu cầu về quặng sắt và quặng năng lượng (energyminerals) tăng lên đáng kể: quặng sắt 7%; quặng nhôm 9,8%; plantinum 9%…Việc tăng lượng tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên không những dẫn đến tăng nhanhlượng chất thải ra môi trường mà còn tăng áp lực sử dụng các loại tài nguyên cógiá trị thấp và khó khai thác Do đó, nhiên liệu và năng lượng chi phí cho việc khaithác các loại tài nguyên lại càng cao hơn Hậu quả của việc sử dụng quá mứcnguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho mục đích phát triển đã được nhiều họcgiả của các nước Châu Âu và Mỹ quan tâm ngay từ những năm đầu của thập kỷ
50 Theo báo cáo của chính quyền nước Mỹ tại thời điểm 1950, tài nguyên dầu mỏcủa Mỹ sẽ cạn kiệt sau 20 năm nếu người Mỹ không thay đổi “khuôn mẫu” của sự
Trang 8tiêu thu Tại thời điểm đĩ, các nước Châu Âu cũng rất lo ngại về việc sẽ cạn kiệtcác loại tài nguyên chủ yếu cho việc phục hồi nền cơng nghiệp bị chiến tranh thếgiới thứ 2 tàn phá Dầu vậy, mãi cho đến những năm đầu của thập kỷ 70 vấn đềlàm thế nào để giảm suy thối mơi trường mà vẫn khơng ảnh hưởng đến sự pháttriển mới được cộng đồng quốc tế quan tâm đúng mức và điểm mốc đánh dấu chohoạt động bảo vệ mơi trường trên bình diện tồn cầu là “Hợi nghị thượng đỉnhStockhorm” năm 1972 tại Thụy Điển
Ngày nay, bảo vệ mơi trường đã trở thành một vấn đề trọng yếu tồn cầu và đangdược nhiều quốc gia trên thế giới đặt thành quốc sách Bảo vệ mơi trường gắn liềnvới sự phát triển bền vững đã trở thành một nội dung quan trọng của các chiếnlược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Nếu khơng đặt đúng
vị trí bảo vệ mơi trường thì khơng thể đạt được mục tiêu phát triển và từng bướcnâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Một thực tế dễ nhận thấy, trongnhững thập kỷ gần đây mơi trường đang cĩ những thay đổi theo hướng xấu đi như:
sự thay đổi khí hậu tồn cầu; hiệu ứng nhà kính; sự suy giảm tầng ozone; đa dạngsinh học ở nhiều vùng đang bị giảm sút một cách nhanh chĩng; cháy rừng và ơnhiễm mơi trường nước, khơng khí, đất…Chất lượng mơi trường giảm sút đã gây
ra hậu quả khơn lường Các hiện tượng như cháy rừng, hạn hán, lụt lội ngày nayđang xảy ra thường xuyên hơn Sự ơ nhiễm mơi trường và suy thối mơi trườngmang tính khơng biên giới, khơng cĩ giới hạn trong một quốc gia hay khu vực mà
nĩ xảy ra trên bình diện tồn cầu Ơ nhiễm và sự cố mơi trường cĩ thể xảy ra ởnhững nước giàu cũng như nước nghèo và ngày càng ngiêm trọng hơn, nĩ đã trởthành vấn đề thách thức ở nhiều quốc gia Mơi trường một khi bị biến đổi quá mứcthì khĩ cĩ khả năng tự lấy lại cân bằng Do đĩ, để mơi trường cĩ thể trở lại trạngthái cân bằng địi hỏi phải cĩ sự can thiệp một cách cĩ ý thức của con người Domức độ quan trọng, bình diện rộng cũng như sự phức tạp của vấn đề mơi trườngnên địi hỏi các nhà nước phải nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý mơi trường, vìquản lý nhà nước về mơi trường cũng là một trong những lĩnh vực quản lý nhànước Địi hỏi cách “cư xử” đúng mức với mơi trường được đặt ra cho tất cả các
Trang 9quốc gia trên thế giới, bất kể sự khác nhau về hình thức chính thể, thể chế chính trịcũng như trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước Thực tế ở nhiều nướcđạt được thành tích cao trong bảo vệ mơi trường như Mỹ, Úc , Singapore…chothấy, quản lý nhà nước về mặt mơi trường là một trong những nhân tố quan trọngbảo đảm cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý vàluơn giữ được mơi trường ở trạng thái cân bằng
Ở nước ta, vấn đề bảo vệ mơi trường nhằm gĩp phần phát triển bền vững rất đượcĐảng và Nhà nước quan tâm Các nghị quyết của Đảng đều ghi rõ phát triển kinh
tế - xã hội phải gắn liền với bảo vệ mơi trường, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyênthiên nhiên, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Hệ thống quản
lý nhà nước về mặt mơi trường đã được hình thành và đi vào hoạt động trên phạm
vi cả nước Cơng tác kiểm sốt và quản lý mơi trường được tiến hành tương đốiđồng bộ và cĩ tổ chức Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và đã
cĩ những biện pháp tích cực để tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và hiểubiết về bảo vệ mơi trường của người dân Khơng thể phủ nhận rằng, hoạt động bảo
vệ mơi trường ở nước ta trong những năm qua đã được đẩy mạnh và thu được một
số kết quả đáng khích lệ, gĩp phần vào những thành tựu to lớn của đất nước trongthời kỳ đổi mới Tuy vậy, vẫn cĩ nhiều vấn đề cần phải được cũng cố, sửa đổitrong việc quản lý mơi trường nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xãhội trong giai đoạn cơng nghiệp hĩa, hiện đại hĩa đất nước Nhìn tổng thể, mơitrường nước ta đang tiếp tục bị ơ nhiễm và suy thối, nhiều nơi cịn rất nghiêmtrọng Việc thi hành luật bảo vệ mơi trường của các cá nhân, tập thể nhiều lúc cịnchưa được nghiêm túc, cơng tác quản lý cịn lỏng lẻo Nhiều sự cố mơi trường vàhậu quả xấu do sử dụng khơng hợp lý tài nguyên thiên nhiên tồn tại từ trước chưađược cải thiện và khắc phục, trong lúc đĩ nhiều vấn đề ơ nhiễm mơi trường lại tiếptục phát sinh Ý thức tự giác bảo vệ và giữ gìn mơi trường trong cộng đồng chưatrở thành thĩi quen trong cách sống của đại bộ phận dân cư Một trong nhữngnguyên nhân cơ bản của tồn tại trên là sự hiểu biết về mơi trường trong cợng đồngdân cư cũng như nhiều cán bộ quản lý (kể cả các cán bộ phụ trách về bảo vệ mơi
Trang 10trường) còn nhiều hạn chế và bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường củanước ta hiện nay còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với điều kiện phát triển hiện tạicũng như phục vụ cho chiến lược đi tắt, đón đầu mà Đại Hội Đảng lần thứ IX đề
ra
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, ngày 25 tháng 6năm 1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 36-CT/TW về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước” Một trong những nôi dung chính mà Chỉ thị chú trọng
là công tác quản lý môi trường Trong số những giải pháp cơ bản nhằm thực hiệnChỉ thị có việc nâng cấp cơ quan quản lý môi trường từ trung ương đến địaphương, tạo điều kiện cần thiết về tổ chức nhân lực, cơ sở tổ chức kỹ thuật để cơquan này đủ sức thực hiện tốt chức năng quản lý môi trường, kết hợp hợp chặt chẽvới việc tư vấn hoạch định các chủ trương, chính sách về phát triển bền vững,đồng thời tăng cường năng lực quản lý nhà nước về môi trường Để thực hiệnđược những mục đích này, việc trang bị cho cán bộ phụ trách công tác liên quanđến môi trường các kiến thức và sự hiểu biết về khoa học môi trường, nghệ thuậtquản lý, cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở nước ta
và một số nước trên thế giới đóng vai trò rất quan trọng Do đó môn “Quản lý môitrường” được xây đựng nhằm trang bị cho sinh viên chuyên ngành môi trườngnhững kiến thức để thực hiện được những yêu cầu này
Trang 11CHƯƠNG 2: NHỮNG THÁCH THỨC CỦA MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI
NHÂN LOẠI.
2.1 NHỮNG THÁCH THỨC VỀ MÔI TRƯỜNG.
Trong một bản báo cáo trước Hội đồng kinh tế xã hội của Liên hợp quốc năm
1969, tổng thư ký Liên hợp quốc đã nhấn mạnh: “Lần đầu tiên trong lịch sử của nhân loại đã xảy ra một khủng khoảng thuộc quy mô quốc tế liên quan đến tất cả các nước phát triển và đang phát triển - cuộc khủng khoảng về môi trường Rõ ràng là nếu chiều hướng này tiếp tục, tương lai của sự sống trên trái đất có thể bị
đe doạ” Nhận định này chẳng những phản ánh đúng trình trạng suy thoái môi
trường tại thời kỳ đó mà còn dự đoán rất chính xác những gì đã thực sự diễn ratrong mấy thập kỷ cuối của thế kỷ 20 Các vấn đề có liên quan đến môi trường đã
và đang trở thành thách thức đối với nhân loại trong thế kỷ 21 là làm thế nào để:
* Phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân loại, đặc biệt là nhân đân ở cácnước ngèo nhưng không ảnh hưởng xấu đến môi trường
* Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả tài nguyên tái tạođược và tài nguyên không tái tạo được
* Giảm dần mức độ nóng lên của trái đất
* Chống hiện tượng mỏng dần của tầng ozon
* Chống sự suy thoái môi trường
* Giảm các sự cố môi trường như lụt, hạn hán, mưa axit
* Giảm tốc độï sa mạc hóa
Trang 12* Giữ gìn đa dạng sinh học.
2.1.1 VẤN ĐỀ Ô NHIỄM, SỰ CỐ VÀ SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG.
2.1.1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặctính vật lý, hoá học hoặc sinh học như: nhiệt độ, chất sinh học, chất hòa tan, chấtphóng xạ của bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường Sựthay đổi này vượt quá mức cho phép đã được xác định Sự gia tăng chất lạ vàomôi trường, sự thay đổi các yếu môi trường này gây hại hoặc có tiềm năng gây tổnhại đến sức khoẻ, sự an toàn hay sự phát triển của người và sinh vật trong môitruờng đó Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, ô nhiễm hoặc sự nhiễmbẩn là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khảnăng gây tác hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làmsuy giảm chất luợng môi trường Ta cũng có thể nêu một định nghĩa khác: “Ônhiễm môi trường là sự thay đổi chất lượng môi trường theo chiều hướng tiêu cựcđối với các mục đích sử dụng môi trường” Ví dụ, việc gia tăng hàm lượng bụi,các khí độc trong không khí gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người hoặc đời sốngsinh vật Việc gia tăng nồng độ các chất hoá học, vi trùng hoặc các tác nhân vật
lý trong nước có thể làm ảnh hưởng tới đời sống thuỷ sinh vật hoặc khả năng cấpnước cho cây trồng, cho con người đềâu được gọi là ô nhiễm môi trường
2.1.1.2 Khái niệm về sự cố môi trường.
Trong điều 2 của luật bảo vệ môi trường ở Việt nam có đưa ra khái niệm về sự cốmôi trường như sau: “ Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trongquá trình hoạt động của con người hoặc do biến đổi thất thường của thiên nhiêngây suy thoái môi trường nghiêm trọng” Sự cố môi trường có tể xảy ra do:
* Bảo, lũ, lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa
đá, biến động khí hậu hoặc thiên tai khác;
Trang 13* Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sảnxuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninhquốc phòng;
* Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sậphầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ
sở lọc dầu và các cơ sở công nghiệp khác; và
* Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, táichế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ,
Trên trái đất, hàng ngày hàng giờ có rất nhiều sự cố môi trường Có khi sự cố môitrường do con người, có khi sự cố lại do thiên nhiên và có khi do cả 2 phía Ví dụ,
vụ cháy rừng tràm đặc dụng ở U Minh Hạ và U Minh Thượng tháng 4 năm 2002
là do yêu tố con người (Người dân vào khai thác củi, nhóm lửa dẫn đến cháyrừng) Động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 1999 lại do yếu tố thiên nhiên, nhưng mưaacid tuy là do nước mưa rơi xuống từ trên trời nhưng phải là hậu quả của chất thảigiàu CL, SO2, SO3 , dể tạo ra acid HCL hay H2SO4 do hoạt động của con người tạora
2.1.1.3 Khái niệm về suy thoái môi trường.
Suy thoái môi trường là sự giảm sút về chất lượng, số lượng thành phần vật lý(như suy thoái đất, nước, không khí, hồ, biển ) và đa dạng sinh học của môitrường Quá trình suy giảm chất lượng môi trường đó đã gây hại cho đời sống sinhvật, con người và thiên nhiên Ví dụ, vùng đồi núi dốc miền Trung Bộ, Nam Bộ đã
và đang bị phá rừng, đất bị xói mòn và đá ong hoá, cây cối sơ xác, sông ngòi cạnkiệt, muông thú bị mất nơi cư trú (habitat) nên số lượng cá thể của nhiều loài cũngnhư nhiều chủng loaị sinh vật bị biến mất Nguyên nhân môi trường bị suy thoái ởnhiều nơi chủ yếu là do hành động của loài người Do dân số và nhu của nhân loạingày càng tăng nên con người bắt buộc phải mở rộng sản xuất, sử dụng tài nguyênnhiều hơn nhằm tạo ra của cải vật chất đủ để nuôi sống nhân loại, điều này là mộttrong những nguyên nhân làm cho môi trường của trái đất bi suy thoái
Trang 142.1.2 VẤN ĐỀ TRÁI ĐẤT NÓNG LÊN
Trên cơ sở khoa học, nhiều chuyên gia và tổ chức có uy tín trên thế giới đã ghi
họ cho rằng nhiệt độ vẫn có chiều hướng tăng trong thế kỷ 21 Theo dự đoán của
Uỷ Ban Thế Giới về Môi Trường và Phát Triển của Liên Hợp Quốc trong báo cáonhan đề “ Tương lai chung của chúng ta” được ấn hành năm 1986, nhiệt độ trái đấttrong thế kỷ 21 sẽ tăng từ 1,5 0C đến 4,5 0C Tuy đây chỉ là dự đoán và không phảimọi dự đoán đều là chính xác dầu rằng đó là những dự đoán dựa trên các chứng cứkhoa học, nhưng một thực tế là hiện nay đã là năm thứ 2 của thế kỷ 21 và nhiêt độtrái đất đang tiếp tục tăng Một nhóm khoảng 1500 nhà khoa học có uy tín trên thếgiới do Liên Hợp Quốc mời cộng tác đã khẳng định rằng nhiêt độ trái đất nóng lênmột phần do hoạt động của con người, trong đó có việc:
* Con người sử dụng nguồn năng lượng dầu mỏ và than đá làm cho khí các-bontích tụ ngày càng nhiều trong khí quyển;
* Con người khai thác ngày càng triệt để các nguồn tài nguyên có tác dụng điềuhoà khí hậu như rừng, sinh vật sống…dẫn đến các tài nguyên này bị cạn kiệt;
* Ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng trong mọi lĩnh vực môi trường như không khí,biển, nước trên đất liền; và
* Nhiều hệ sinh vật bị mất cân bằng nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên thếgiới,vv
Tất cả các yếu tố này đã góp phần làm cho thiên nhiên (trái đất) mất đi khả năng tựđiều chỉnh vốn có của mình Việc trái đất nóng lên có thể mang lại một số bất lợisau:
1 Mực nước biển dâng cao - Dựa trên các dữ liệu khoa học, người ta tính đượcrằng nếu nhiệt độ trái đất tăng lên từ 1,5 0C đến 4,5 0C thì mực nước biển có thểdâng cao từ 25 đến 140 cm do băng tan Nếu điều này xảy ra thì một vùng venbiển rộng lớn của các quốc gia có biển sẽ bị nhấn chìm, làm mất đi nhiều vùng sảnxuất nông nghiệp dẫn đến tình trạng đói nghèo trên thế giới, đặc biệt là ở các nước
Trang 15đang phát triển, làm trở ngại nhiều đến hoạt động kinh tế của nhiều nước trên thếgiới.
2 Thời tiết trên trái đất sẽ bị đảo lộn, thiên tai sẽ nghiêm trọng hơn, các cơn bảoxuất hiện thường xuyên hơn và mạnh hơn Lượng mưa sẽ tăng lên nhưng tăngkhông đồng đều giữa các vùng khác nhau trên thế giới Những khu vực thườngxuyên bị lụt sẽ bị lụt thuờng xuyên hơn và nghiêm trọng hơn, trong lúc đó các khuvực hay bị hạn hán sẽ tiếp tục bị hạn hán thường xuyên và khốc liệt hơn, sa mạchoá do đó sẽ ngaỳ càng lan rộng
Hội Nghị Liên Hợp Quốc về Môi Trường và Phát Triển năm 1992, tại Braxinthông qua một loạt các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, trong đó có Công ướckhung về khí hậu biến đổi đã chứng minh về nguy cơ trái đất nóng lên
2.2 PHÁT TRIỂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
xử của các cá nhân và trong mối quan hệ giữa các cá nhân cũng như các nhóm người trong xã hội Các thay đổi này nhất thiết phải được xuất phát từ bản thân các cá nhân, các nhóm người trong xã hội đó và không bị áp đặt bởi các ngoại lực (Development is more than the provision of social services and the introduction of new technologies Development involves changes in the awareness, motivations and behaviour of individuals and in the relations between individuals as well as between groups within a society These changes must come from within the individuals and groups and cannot be imposed from the outside.” Như vậy, theo
định nghĩa này thì phát triển bao gồm cả sự thay đổi về công nghệ, dịch vụ (theochiều hướng tích cực) và thay đổi nhận thức của con người
Trang 162.2.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN
Môi trường và phát triển không phải là 2 phạm trù tách biệt mà có quan hệ hữu cơvới nhau Điều này đúng với cả các nước công nghiệp phát triển và cả các nướcđang phát triển Phát triển tất yếu dẫn đến những tác động đối với môi trường Tuynhiên, các nước buộc phải phát triển để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng củamình Theo dự đoán của các nhà khoa học thì dân số thế giới đến năm 2050khoảng gần 9 tỷ người Do đó để nuôi sống được số lượng này, sản xuất lươngthực phải tăng gấp đôi so với sản xuất lương thực hiện nay và năng lượng sử dụngphải tăng gấp 3 lần Với tốc độ phát tiển như vậy rõ ràng môi trường sẽ bị một áplực ghê gớm và sẽ có nhiều rủi ro xảy ra cho môi trường Việc khai thác dầu khí,khoáng sản nếu không có những biện pháp thích hợp thì môi trường sẽ bị tác độngbất lợi do bị ô nhiễm, do mất cân bằng sinh thái và vì vậy tác động nguy hại đếnđời sống xã hội và sức khoẻ con người Tác động đến môi trường sẽ càng nghiêmtrọng nếu chúng ta không đầu tư thích đáng cho việc bảo vệ môi trường Vì vậy,trong khi phát triển con người cần phải tính đến việc bảo vệ môi trường mới có thểbảo đảm được phát triển bền vững Tình trạng môi trường không thể tách khỏi tìnhtrạng kinh tế Náếu một quốc gia nào đó, hoặc thế giới không quan tâm đến lớpphủ thực vật đang mất dần đi, suy thoái đất đai, gia tăng diện tích hoang mạc, mấtmát các giống loài động vật thì quốc gia đó, thế giới sẽ phải gánh chiu trình trạngkinh tế và xã hội ngày càng xấu đi Do đó, đểâ điều hoà được việc phát triển vàbảo vê môi trường, phải tiến hành song song giữa việc đầu tư cần thiết cho cácngành sản xuất vừa phải đầu tư thích đáng cho việc bảo vệ môi trường Nếu chiphí quá mức cho việc bảo vệ môi trường thì có thể ảnh hưởng đến tốc độ phát triểnkinh tế, trong lúc đó nếu không bảo vệ được môi trường thì không thể có pháttriển
Nhiều hình thức phát triển kinh tế của một số nước đang phát triển dựa trên cơ sởkhai thác các nguồn tài nguyên môi trường đã dẫn đến sự xuống cấp và suy thoáimôi trường, và phá hoại sự phát triển kinh tế Tuy vậy, hiện nay nhiều nước trênthế giới vẫn đang khai thác triệt để nguồn tài nguyên của mình để phục vụ cho
Trang 17chiến lược phát triển Nông nghiệp, rừng, sản xuất năng lượng và khai thác khoángsản vẫn chiếm đến một nửa tổng sản phẩm quốc dân Hiện nay, nhiều nước chậmphát triển trên thế giới, kinh tế của họ vẫn phụ thuộc chủ yếu vào việc xuất khẩunhững tài nguyên thiên nhiên của mình.
Mặc dầu hiện nay cộng đồng quốc tế vẫn đang còn đuơng đầu với những tháchthức như làm thế nào để cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường và người tacũng biết rằng phát triển kỹ thuật mới có thể giúp giảm mức độ tiêâu thụ nguyênnhiên vật liệu, tăng năng xuất và đa dạng hoá sản phẩm Tuy vậy, kỹ thuật mớicũng có thể là nguyên nhân gây ra những dạng ô nhiễm môi trường mới do nó đưavào môi trường những dạng mới của sự sống và làm thay đổi sự tiến hoá của sinhvật trên hành tinh chúng ta Nhận thức được mối quan hệ giữa môi trường và pháttriển, Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường nhân văn năm 1972 ở Stockhorm
tuyên bố: “Sự phát triển kinh tế và xã hội là rất quan trọng cho việc bảo đảm một
môi trường sống và làm việc thuận lợi cho con người và cho việc tạo ra các điều
kiện trên trái đất cần thiết cho việc cải thiện chất lượng của cuộc sống” Hội nghị
thượng đỉnh về môi trường tại Braxin năm1992 cũng đãkhẳng định laị và pháttriển nhận thức này như sau: “Để có thể phát triển vững bền, bảo vệ môi trường làmột bộ phân không thể tách rời của quá trình phát triển và không thể xem xét táchrời với qúa trình đó”
CHƯƠNG 3: ĐÔ THỊ HOÁ, CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG
Trang 183.1 MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐÔ THỊ HOÁ, CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ MÔI TRƯỜNG
Đặc trưng chủ yếu của đô thị là nơi tập trung dân cư với mức độ cao và hoạt độngcủa họ là phi nông- lâm nghiệp (sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, chính trị,văn hoá, khoa học, thương mại, dịch vụ…), là nơi tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên,năng lượng, sản phẩm xã hội tính trên đầu người cao hơn nhiều lần so với trị sốtrung bình của quốc gia Đô thị cũng là nơi phát sinh ra nhiều chất thải nhất vàlàm
ô nhiễm các thành phần môi trường như đất, nước, không khí đối với bản thân
nó và cả một vùng rộng lớn xung quanh nó
Khu công nghiệp là nơi nơi tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất các sảnphẩm công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, nó có ranhgiới đất đai ngăn cách với các khu cư dân xung quanh Quá trình công nghiệphoásẽ kéo theo quá trình đô thị hoá Trong mấy thập niên qua nhân loại đã chứngkiến một loạt các con số thống kê đáng lo ngại về tình hình tăng dân số và chiềuhướng tập trung dân số vào các đô thị trên bình diện toàn cầu, đặc biệt là ở nhữngnước đang phát triển Theo tài liệu của UNEP (1999), tổng dân số thế giới sống ở
đô thị trong những năm 1950 là 750 triệu người, năm 1995 là 2500 triệu và đếnnăm 2000 là 3000 triệu người, chiếm khoảng 50% dân số thế giới Đô thị hoá,công nghiệp hoá sẽ kéo theo nhiều vấn đề về môi trường và xã hội Trước hết, nó
sẽ là nguyên nhân làm bùng nổ phát triển giao thông bằng phương tiện cơ giới.Vào thời gian chiến tranh thế giới lần thứ 2 chỉ có khoảng 40 triệu xe nhưng đếnnăm 1996 con số này đã lên đến 2.025 triệu xe Hiện nay xe giao thông trên toànthế giới đã tiêu thụ khoảng 50% tổng năng lượng tiêu thụ của tất cả mọi ngành.Tuy mặt tích cực của đô thị hóa và công nghiệp hoá là đã đưa đến sự tăng trưởngcủa nhiều ngành kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao mức sống của nhân dânnhưng nó cũng có nhều mặt hạn chế sau:
+ Tài nguyên thiên nhiên sẽ bị khai thác đến cạn kiệt để xây dựng, tỷ lệ diện tíchcây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm, bề mặt đất thấm nước, thoát nước bịsuy giảm Đất nông nghiệp và đất khác sẽ bị chiếm dụng để xây dựng các công
Trang 19trình nhà ở, khu dịch vụ Nhân dân ở vùng đô thị hoá sẽ bị mất phương tiện laođộng và kế sinh nhai truyền thống và bị tác động mạnh mẽ của ô nhiễm môitrường đô thị.
+ Các dòng vật liệu xây dựng, tài nguyên khoáng sản chuyển vào đô thị rất lớnlàm tăng nhu cầu khai thác các loại tài nguyên đó Điều này là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến môi trường bị giảm về chất lượng
+ Làm tăng nhu cầu khai thác tài nguyên nước phục vụ cho sinh hoạt, dịch vụ vàsản xuất, từ đó làm suy thoái nguồn tài nguyên này
+ Dân số đô thị tăng nhanh thường gây ra quá tải đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuât
đô thị như hệ thống cấp, thoát nước, xử lý chất tải
+ Phát triển công nghiệp sẽ tăng lượng chất thải vào môi trường: giao thông phátthải nhiều khí độc và chì; các nhà máy sản xuất phát thải nhiều chất thải khí, chấtthải rắn bao gồm cảchất thải nguy hại; ô nhiễm tiếng ồn
+ Phát triển đô thị nhanh sẽ tạo ra nhiều khu nhà ổ chuột vì nhu cầu nhà ở sẽ vượtquá tốc độ xây dựng và cung cấp dẫn đến môi trường ở các khu này bị ô nhiễmnghiêm trọng
Nói chung, đô thị hoá và công nghiệp hoá nhanh thường dẫn đến ô nhiễm cácthành phần môi trường như nước, đất vàø không khí
3 2 Ô NHIỄM CÁC THÀNH PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC BIỆN
PHÁP BẢO VỆ
3.2.1 Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
3.2.1.1 Khái niệm ô nhiễm nguồn nước
Nguồn nước được xem là ô nhiễm khi các thành phần và tính chất lý hoá sinh học
của nước bị thay đổi, không bảo đảm chất lượng theo yêu cầu sử dụng.
3.2.1.2 Các nguồn gây ô nhiễm
Tùy tính chất hoặc nguồn phát sinh chất gây ô nhiễm, ta có thể phân loại cácnguồn gây ô nhiễm nguồn nước như sau:
Trang 20a) Nguồn thành thị: Bao gồm nước thải ra từ các khu sinh hoạt của dân cư có thể
đã được thu hồi bởi hệ thống thoát nước, qua các trạm xử lý trước khi xả ra nguồn.Nguồn thành thị cũng bao gồm hổn hợp nước mưa và nước thải chảy trực tiếp ranguồn nước mà không qua xử lý
Bảng 2.1: Thành phần đặc trưng của nước thải sinh hoạt
Chất ô nhiễm trong nước thải
Nồng độ (mg/lít)Loại mạnh Loại yếu Trung bìnhTổng chất rắn (TS)
Chất rắn lơ lững (SS)
Nitơ tổng hợp
Nhu cầu oxy hoá học (COD)
3501002010025065000
700250402005001010000
b) Nguồn gốc nông nghiệp: Các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu và cả các phân
hữu cơ (phân chuồng) sử dụng trong nông nghiệp theo các luồng nước (nước mưa,nước thừa sau khi tưới tiêu…) chảy vào các nguồn nước Tổng số các chất thảinông nghiệp thải xả vào nguồn nước là rất lớn, đặc biệt ở những vùng nông nghiệpphát triển
c) Nguồn tự nhiên: Nguồn này bao gồm nước mưa vàcác sinh vật thuỷ sinh.
+ Nước mưa mang vào nguồn nước một lượng các chất vô cơ từ các khí thải nhàmáy, xí nghiệp và các chất hửu cơ từ các quá trình phân huỷ động, thực vật, cácchất hửu cơ từ xói mòn đất…Đôi khi nước mưa còn mang các chất mùn có chứacác chất mềm và mùn trong đất vào các nguồn nước
+ Các sinh vật thuỷ sinh: Thông thường sự phát triển của các sinh vật thuỷ sinhphụ thuộc rất nhiều vào yếu tố dinh dưỡng trong nước Trong trường hợp nồng độcác chất dinh dưỡng trong nước quá cao thì các thuỷ sinh vật phát triển quá mạnhdẫn đến hiện tượng “phú dưỡng’ Tức là các thuỷ sinh vật phát triển quá mạnh vàkhi chết sẽ gây ô nhiễm môi trường nước (hiện tượng phú dưỡng Tảo Xanh –greenalgae ở Úc là một ví dụ)
Trang 21Ngoài ra, căn cứ vào vị trí, bản chất và lưu lượng chất phát thải ta có thể phânnguồn ô nhiễm thành nguồn tập trung (có điểm) hoặc nguồn không có điểm.
a) Nguồn tập trung hay còn gọi là nguồn có điểm (point source): Nguồn gây ônhiễm này là các nguồn có thể xác định được vị trí, bản chất, lưu lượng phát thảicác tác nhân gây ô nhiễm Các nguồn điểm chủ yếu là ống khói nhà máy, xe hơi,tàu hoả, điểm rò rỉ dầu, lò phản ứng hạt nhân, điểm nổ bom nguyên tử…
b) Nguồn không có điểm (non-point source): Đây là các nguồn gây ô nhiễm không
có điểm cố định, không xác định được vị trí, bản chất cũng như lưu lượng các chấtgây ô nhiễm Thí dụ nước mưa chảy qua đồng ruộng, đường phố, đổ vào sôngrạch, ao hồ gây ô nhiễm
3.2.1.3 Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước.
Tác nhân gây ô nhiễm (pollutant) nguồn nước có thể là các tác nhân vật lý (chấtrắn, màu, mùi, tia bức xạ, nhiệt độ ), tác nhân hoá học (các acid, các kim loại )hoặc các tác nhân sinh vật (vi sinh, vi khuẩn ) ở nồng độ có thể gây tác động tiêucực đến sức khoẻ con người, đời sống vật chất, sức bền vật liệu nếu nước có chứacác tác nhân đó được sử dụng Hiện nay trong các hệ sinh thái nước, người ta đãxác định được trên 1500 tác nhân gây ô nhiễm khác nhau Các tác nhân gây ônhiễm nguồn nước có thể xác định theo từng nhóm sau:
+ Các chất axit và kiềm
+ Các anion (thí dụ sulphua, sulphit, xyanua )
+ Các chất tẩy rửa
+ Nước thải sinh hoạt, nước thải chuồng trại chăn nuôi
+ Chất thải công nghiệp chế biến thực phẩm
Trang 22+ Các chất bảo vệ thực vật (hoá chất trừ sâu, trừ cỏ, diệt nấm )
Bảng 2.2: Tác nhân ô nhiễm điển hình trong nước thải các ngành công
BOD,pH, SS, chất rắn có thể lắng
BOD, pH,SS, chất rắn có thểlắng, dầu, mỡ, độ đục
Dầu mỡ, pH, NH4 , CN-,phenol,SS,Fe,Sn,Cr,Zn, T0
COD, dầu mỡ, SS, CN,Cr,Pb,Cd
BOD, COD, SS, màu, kimloại
N,P,TDS,t ổng col iform
Cromat, P, Zn, sulphua, TDSBOD, cromat, Zn, Cu, Cr, Fe, Sn,
NO3-, TDS
Trang 23BOD, COD, pH, TSS, TDS,dầu nổi.
NH4+, BOD, Cr, COD, dầu,
pH, Phenol, SS, T0
pH,Phenol, SS, T0
PH, PO4 , SO4 , hợp chất hữu cơ,kẽm, Al, Fe, Hg, N, SO42-
Độ đục, clo hữu cơ, P, kim loại nặng, phenol, T0
CL-, CN, Pb, N, P, TOC, Zn, độ đục
Cu, Fe, TDS, Zn
3.2.1.4 Ảnh hưởng của việc ô nhiễm nước đến môi trường sống
a) Ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước cấp.
Một trong những nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuấtkinh doanh của nhân loại là nước ngầm Việc tưới tiêu, thuỷ lợi trong nông nghiệp
đã làm cho các nguồn nước ngầm bị nhiễm bẩn bởi các loại phân hoá học, cácthuốc trừ sâu diệt cỏ thấm qua đất vào nước tưới Theo Nguyễn Thị Kim Thái
lượng lớn trong số đó được tưới bằng nước nguồn nuớc bẩn Ngoài ra, ở các khuvực nông thôn các nguồn rác rưởi sinh hoạt, phân người, gia súc, gia cầm khôngđược xử lý mà đưa thẳng ra đồng ruộng sử dụng Do đó, các chất gây nhiễm bẩn(gây ô nhiễm) thấm qua đất, đi vào nguồn nuớc ngầm nên chất luợng nước ngầm
bị thay đổi Khác với nước mặt, nước ngầm không có khả năng tự làm sạch (nếunguồn không bi quá tải) do các dòng chảy trong nước ngầm không phải là dòngchảy rối và rất chậm nên các chất gây ô nhiễm không bị phân tán và pha loảng.Mặc dầu trong nước ngầm cũng có một số lượng nhỏ các vi sinh vật có khả năngchuyển hoá các oxy sinh hoá nhưng vì số lượng và chủng loại của chúng ít hơn rấtnhiều so với trong nước mặt nên phản ứng phân huỷ diễn ra rất chậm Vì vậy,
Trang 24nguồn nước ngầm bị ô nhiễm sẽ phải mất đến hàng trăm năm mới có thể tự làmsạch các chất gây ô nhiễm có khả năng bị phân huỷ.
Đối với nguồn nước mặt, do nguồn nước mặt có lưu lượng và số lượng dòng chảylớn, nước thường xuyên bị xáo trộn nên các chất gây ô nhiễm dễ bị pha loảng,phân tán Qúa trình phân huỷ các chất gây ô nhiễm diễn ra với sự tham gia tíchcực của các vi sinh vật hiếu khí xảy ra thường xuyên làm cho hàm lượng các chấtgây ô nhiễm giảm xuống Các quá trình phục hồi tự nhiên này sẽ rất hiệu quả nếunhư các dòng chảy không bị quá tải bởi các chất gây ô nhiễm Tuy vậy, do cácdòng chảy trong các ao, hồ là dòng chảy tầng nên nước ít bị xáo trộn theo phươngđứng Do đó, oxy hoà tan trong các ao, hồ cũng thấp Vì vậy, chất luợng nước ao,
hồ rất dễ bi suy thoái khi bị nhiễm bẩn, đặc biệt là ở các tầng sâu Ngoài các hoáchất rơi từ khí quyển xuống như DDT, PCBs, một số đồng phóng xạ…các châtdinh dưỡng thực vật, dầu, phân vô cơ, các kim loại nặng (thuỷ ngân, asenic, selen,chì…) cũng là những chất gây ô nhiễm chính cho nguồn nước mặt nói chung vànguồn nuớc ao hồ nói riêng
Các chất gây ô nhiễm sau khi đi vào nước sẽ bằng nhiều con đường như chuổithức ăn, hấp phụ…và gây ra những tác động nguy haị cho hệ động vật cũng nhưthực vật và con người Diễn tiến của quá trình ô nhiễm nguồn nước có thể hiểunhư sau: các loại động thực vật bị chết và thối rửa đi vào nguồn nước cùng với cácchất ô nhiễm từ các nguồn khác đi vào nguồn nước làm cho luợng oxy hoà tantrong nước thấp Điều này dẫn đến các quá trình oxy hoá và các quá trình sinh hoákhác không xảy ra bình thường nên sinh vật sống sót thấp Ở các nguồn nước cóhàm lượng N và phốt pho quá lớn sẽ gây ra hiện tượng “phú dưỡng” làm chonước không đáp ứng được các tính chất về chất lượng
b) Ảnh hưởng tới sức khoẻ con người
Các nguồn nước bị ô nhiễm sẽ là đường truyền bệnh rất nguy hiểm cho con người.Khi sử dụng các nguồn nước bị nhiễm bẩn, các chất ô nhiễm gây bệnh sẽ đi vào cơthể người theo các đường: thẩm thấu qua da (khi tắm, rửa…); qua đường tiêu hoá
Trang 25(ăn uống, hít thở Các chất gây bệnh có trong nước khi đã vào cơ thể có thể sẽ gây
ra các bệnh:
+ Các bệnh liên quan đến hoá học Đây là những bệnh gây ra bởi sự vượt quánồng độ hoá chất đặc biệt trong nước uống Có 2 bệnh chúng ta cần lưu ý là bệnhFluorosis và bệnh Methemoglobinemia ở trẻ em dưới 3 tháng tuổi Bệnh Fluorosisđược gây ra do hàm Fluo quá cao trong nước uống và đặc biệt là trong nước uống
từ nguồn nước ngầm Bêänh này gây tác hại hỏng men răng và chảy máu chânrăng Các vùng ở Đông Phi như Ethiopia, Somalia, Kenya, Tanzania hayMozambique thường thịnh hành với bệnh này do hàm lượng Fluo > 3,0 mg/l BệnhMethemoglobinemia trẻ em dưới 3 tháng tuổi gây ra bởi h àm lượng Nitrit oxy hoáhemoglobin (l à thành phần sắc tố
mau đỏ của máu làm nhiệm vụ vận chuyển oxy) thành mophemoglobin là chấtkhông có khả năng vận chuyển oxy Qúa trình oxy này dẫn đến việc thiếu oxyngạt thở
(anoxia) và đư ợc biểu thị như da xanh, yếu dẫn đến tử vong Thực tế, nồng độ đểgây bệnh này là NO3- > 100 mg/l
Ngoài các bệnh đã nêu trên, nước nhiễm bẩn có thể là nguyên nhân gây các bệnh
do vi trùng, kí sinh trùng gây ra như ỉa chảy, thương hàn, lị…Các bệnh do thiếunước dùng cho vệ sinh cá nhân như bệnh ngoài da, bệnh ghẻ, bệnh nhiễm trùng da,đau mắt hột Một khi lượng nước cấp tăng lên có nghĩa là lượng nước thải tănglên Nếu khả năng thấm của đất bị quá và không có hệ thống thu , nước thải sẽ lànơi chứa các chất và các mầm mống gây bệnh
3.2.1.5 Một số giải pháp hạn chế ô nhiễm nguồn nước.
a) Giải pháp cung cấp nhiều nước hơn
Để cung cấp nhiều nuớc hơn cho nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt cũng như nướcphục vụ cho sản xuất kinh doanh thì quản lý và điều hành nguồn nước đóng mộtvai trò quan trọng Một cách để điều hành nguồn nước là tăng cường cung cấpnước trong các vùng, đặc biệt là việc xây dựng các đập, các bể chứa, hút nước mặt
Trang 26ở các vùng khác hoăc hút nước ngầm lên và tăng cường hiệu quả việc sử dụngnước.
+ Xây dựng đập và bể chứa: Một đập hay bể chứa lớn vừa có lợi thế lại vừa cónhược điểm Khi xây dựng đập chắn, lượng nước từ thượng lưu của các con sông
có thể được lưu lại và có thể được giải phóng như mong muốn để tạo ra các lợiích: cung cấp năng lượng để tạo ra điện năng; nuớc để tưới khi có hạn hán; điềutiết các cơn lũ lụt cho các vùng phía dưới đập chắn; cung cấp nước cho các thànhphố thông qua các hê thống kênh mương, cống rãnh; và hình thành các khu dulịch, giải trí như câu cá, bơi thuyền Theo số liệu thống kê thì hiện nay khoảng 25-50% các dòng chảy ở lục địa đã được con người điều khiển bởi đập chắn và hồnước, và rất nhiều dự án đang được lập kế hoạch
+ Hút nước ngầm: Ngày nay, nước ngầm ngày càng được sử dụng nhiều hơn chosinh hoạt và trong sản xuất, nhất là ở những vùng có nguồn nước mặt hạn chế Ở
Mỹ khoảng 23% nước ngọt sử dụng là lấy từ nguồn nước ngầm Khoảng 50% khốilượng nước uống ở thành phố và 40% lượng nước tưới được lấy từ nước ngầm Sựlạm dụng nước ngầm có thể là nguyên nhân của một số vấn đề: cạn kiệt của tầngngậm nước; sự lún của tầng ngậm nước (sự lún của đất khi nước ngầm được hútlên); và sự xâm nhập của nước mặn vào nguồn nước ngầm Do đó, cách để giảmhoặc làm chậm lại sự cạn kiệt nguồn tài nguyên nước ngầm là điều chỉnh pháttriển dân số, không trồng các loại cây háo nước ở những khu vực khô cằn, pháttriển các loại cây yêu cầu ít nước và có khả năng chịu đựng nhiệt độ cao, tốn ítnuớc tưới… Khi luợng nước ngầm trong các tầng ngậm nước bị hút lên nhanh hơn
so với lượng nước được bổ xung, tầng nước (water table) bị hạ xuống và đất nằmtrên lớp ngậm nước có thể bị lún hay chìm xuốâng Sự lún này có thể dẫn đến việc
hư hại các công trình nhân tạo cũng như tự nhiên như đường xá, cống rãnh, nhàcửa, hang động…Trong trường hợp ở một số thành phố, đô thị ven biển, luợngnước ngọt hút lên nhiều hơn so với lượng nước được bổ xung thì nước biển sẽngấm vào tầng ngậm nuớc Sự thâm nhập này đe doạ nước uống ở các thành phố
đó và sẽ là nguy cơ làm suy thoái nguồn nước ngọt ở những vùng đó
Trang 27+ Một trong những cách làm tăng nguồn nuớc ngọt phục vụ cho nhu cầu của conngười là sự khử muối (desalination) Trong cách khử muối thì cách chưng cất vàcách thẩm thấu ngược là 2 cách được sử dụng rộng rãi nhất Sự chưng cất là sựđun nước mặn cho dến khi bay hơi và ngưng tụ hơi nước đó lại thành nước ngọt,còn phương pháp thẩm thấu ngược là phương pháp nước muối được đun ở áp xuấtcao qua một màng mỏng mà các lỗ của nó chỉ cho phép các phân tử nước quanhưng các phân tử muối không thể qua được Hiện nay, trên thế giới có khoảng
120 quốc gia với 7.500 nhà máy khử muối Tuy vậy, phương pháp khử muối đểlấy nước ngọt cũng có nhiều hạn chế đứng về mặt môi trường vì nó tiêu thụ nhiềunăng lượng
b) Giải pháp giảm ô nhiễm nước mặt
Như ta đã nêu ở phần trên, các tác nhân gây ô nhiễm nói chung và ô nhiễm nguồnnước nói riêng được phân thành 2 loại: loại xác định được địa điểm (nguồn điểm –point source) và nguồn không có điểm (non-point source) Đối với các chất gây ônhiễm thuộc nguồn có điểm thì sử dụng các công cụ luật pháp để khống chế ônhiễm là tốt nhất Còn đối với các nguồn gây ô nhiễm nước không xác định được
“địa chỉ” (chủ yếu là nước trong nông nghiệp) thì các biện pháp sau có thể rất hữuích để hạn chế ô nhiễm nguồn nước mặt:
+ Sử dụng vừa phải lượng phân bón và không sử dụng phân bón ở những vùng đấtnằm ở triền núi cheo leo Trồng các cây xanh phân cách giữa các vùng trồng trọt
và nguồn nước mặt Bằng cách này, người nông dân có thể khống chế được lượngchất gây ô nhiễm theo các dòng nước vào các nguồn nước mặt và thấm xuống tầngngậm nước của nước ngầm
+ Giảm bón phân vô cơ bằng phương pháp điều khiển sinh học hoặc quản lý đồng
bộ các loại sâu bọ và hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu (chỉ sử dụng khi thật cầnthiết) Bằng cách này, người nông dân có thể hạn chế được các chất gây ô nhiễm
Trang 28trong thuốc trừ sâu, trong phân bón thấm vào tầng nước ngầm hoặc theo các dòngchảy vào các nguồn nước mặt.
+ Quản lý mật độ các loại gia súc, gia cầm trong những vùng được phép chănnuôi, xây dựng các vùng đệm cây trồng và bố trí các vùng chăn thả xa các vùngđất dốc gần nước mặt cũng như điều khiển các dòng chảy và sự rò rỉ phân từ cácbãi chăn nuôi là phương pháp tốt nhất để giảm ô nhiễm nguồn nước Ngoài ra,quản lý tốt các dòng chảy cho phép chúng ta lấy ra được lượng nước giàu chấtdinh dưỡng phục vụ cho việc bón phân cho đất trồng và đất rừng
c) Xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp
Mặc dầu hiện tại con người chưa đủ năng lực và trình độ để can thiệp vào việc cânbằng nước trong thiên nhiên trên bình diện vĩ mô Thực tế, 90% lượng nước rơitrên bề mặt trái đất có nguồn gốc là nước biển bay hơi và chỉ có 10% là có nguồngốc từ việc thoát hơi nước từ các loài thực vật, động vật trên lục địa và các thuỷvực Vì vậy, nếu chỉ tăng cường lớp phủ thực vật sẽ không làm tăng đáng kể lượngnước rơi trên địa cầu Nói cách khác là hiện tại con người chưa thể điều khiển thờitiết và khí hậu, mà mới chỉ có khả năng tác động có hiệu qủa đến sự phân bố củanước rơi (nước mưa) bằng cách tác động đến hệ thực vật, canh tác lớp đất, tạo ra
vi địa hình (mương, máng), xây dựng các hồ chứa, đập đê ngăn lũ, khai thác nuớcngầm Con người chỉ có thể tạo ra các hê thống xử lý chất thải bị ô nhiễm trướckhi xả vào nguồn tiếp nhận, đảm bảo theo đúng các yêu cầu chất lượng dòng xả
mà nhà nước ban hành Việc xử lý nước thải là một trong những việc làm đầu tiên
để bảo vệ nguồn nước, loại bỏ hoặc hạn chế những thành phần gây ô nhiễm cótrong nước thải Do nước được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau nên yêucầu về chất lượng khác nhau, vì vậy các biện pháp xử lý nước thải cũng khácnhau Việc lựa chọn phương pháp xử lý phụ thuộc vào lưu lượng, thành phần vàtính chất cũng như vị trí xả thải so với điểm dùng nuớc, khả năng tự làm sạch vàđiều kiện tự nhiên của khu vực, …
Hiện nay, theo yêu cầu xử lý ta có thể chia ra 3 mức:
Trang 29* xử lý sơ bộ hay còn gọi làbậc 1;
* xử lý tập trung hay còn gọi là bậc 2; và
Mục đích và yêu cầu của các phương pháp xử lý tóm tắt ở bảng 2.3
Bảng 2.3: Các phương pháp cơ bản dùng để xử lý nước thải
Tuyển nổi, hấp phụ, keotụ,…
Oxy hoá, trung bình,…
Tách các chất lơ lững vàkhử màu
Trung hoà và khử độc nướcthải
Xử lý tập
trung
- Cơ học-Sinh học
- Khử trùng
- Xử lýbùn cặn
Song chắn rác, bể lắng cát,
bể lắng đợt 1
Hồ sinh vật, cánh đồngtưới, cánh đồng lọc, kênhoxy hoá, Aeroten, bể lọcsinh học, bể lắng đợt 2,…
Tách các chất hữu cơ dạnglỏng và hoà tan
Khử trùng nước khi xả ranguồn tiếp nhận
Ổn định và làm khô bùncặn
Xử lý triệt
để
- Cơ học-Sinh học-Hoá học
Bể lọc cát
Bể Aeroten bậc 2, hồ sinhvật, bể khử nitơrat
Bể oxy hoá
Tách các chất lơ lửng.Khử nitơ và phốtpho
Khử nitơ, phốtpho và cácchất khác
Đối với nước thải thành phố, người ta có thể dùng các trạm tập trung để xử lýnước thải như đã trình bày ở bảng trên (bảng 2.3) và các công trình xử lý bao gồm:+ Ngăn tiếp nhận: Đón nhận nước thải, tạo điều kiện cho các công trình phía saulàm việc ổn định vàđảm bảo chế độ tự chảy
Trang 30+ Song chắn rác: Thu vớt rác và các tạp chất rắn lớn Các tạp chất này có thể đượcnghiền nhỏ và đưa đi xử lý cùng bùn cặn.
+ Bể lắng cát: Tách tạp chất vô cơ lớn như cát, xỉ, tạo điều kiện cho các công trình
xử lý tiếp theo
+ Bể lắng đợt 1: Tách các tạp chất không hoà tan (các chất này phần lớn là cặnhữu cơ), đảm bảo cho các quá trình sinh học phía sau (trong các công trình xử lýsinh học hoặc trong nguồn nước) diễn ra ổn định
+ Các công trình xử lý sinh học: Các công trình xử lý nước thải bằng sinh họctrong điều kiện tự nhiên như hồ sinh vật, cánh đồng tưới, cánh đồng lọc,…, trongđiều kiện nhân tạo như aeroten, biophil, kênh oxy hoá tuần hoàn,…, dùng để loại
bỏ các chất hữu cơ hoà tan hoặc ở dạng keo trong nước thải
+ Bể lắng đợt 2: Tách bùn được tạo thành trong quá trình xử lý sinh học nước thải.Một phần bùn tách được đưa trở về bể aeroten (bùn hoạt tính tuần hoàn) Phần cònlại là bùn hoạt tính dư được tách nước ở bể nén bùn và xử lý cặn của bể lắng đợt 1
ở bể mêtan
+ Khử trùng: Các công trình khử trùng có thể gồm các trạm cloratơ, máng trộnnước thải với clo, bể tiếp xúc clo với nước thải
+ Xử lý bùn cặn: Các công trình xử lý bùn cặn như bể ổn định hiếu khí, bể mêtanlên men bùn cặn, sân phơi bùn…dùng để tách nước bùn cặn sau khi lean men
Ghi chú: Khi xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học trong điều kiện nhân tạo
cần phải được cấp khí cưỡng bức như: cấp khí nén, khuấy trộn cơ học…
3.2.2 Ô NHIỄM VÀ BẢO VỆ KHÍ QUYỂN
3.2.2.1 Khí quyển va øô nhiễm khí quyển
a) Khí quyển (atmosphere): Bao quanh trái đất là một hổn hợp khí rất cần cho sựsống: Oxy cần thiết cho động vật và thực vật trong qúa trình hô hấp, cacbonic rấtcần thiết cho hệ thực vật sử dụng trong quá trình quang hợp; nitơ là mộtt trongnhững nguyên tố cơ bản để tổng hợp protein; và ozone bảo vệ sự sống trên trái đấtkhỏi bị tiêu diệt bởi các tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời Tầng khí quyển với độdày cở 2000 km bao quanh trái đất chúng ta được chia thành các tầng: tầng cách
Trang 31mặt đất từ 0 – 15 km gọi là tầng đối lưu (troposphere); tầng cách mặt đất từ 15 –
60 km gọi là tầng bình lưu (stratosphere); tầng cách mặt đất từ 60 – 120 km gọi làtầng trung lưu (mesosphere); và tầng cách mặt đất từ 120 km trở lên gọi là tầngnhiệt lưu hay còn gọi là tầng ngoài (thermosphere) Càng lên cao thì số lượng cácphân tử khí càng ít vì tác dụng của lực trọng trường
thường xảy ra nhanh chóng trong đó bao gồm cả quá trình cố định Nitơ
+ Tầng bình lưu cách mặt đất từ 15 – 60 km, ở tầng này có sự gia tăng nhiệt độtheo chiều cao (trái với tầng đối lưu) Đặc biệt ở tầng này có sự hiện diện của mộtloại khí độc, cấu tạo bởi 3 phân tử oxy là khí ozon Khí ozon có tác dụng hấp thụcác bức xạ tử ngoại có hại của ánh sáng mặt trời, bảo vệ sự sống trên trái đất Khíozon tập trung nhiều nhất ở độ cao cách mặt đất từ 20 km đến 60 km
+ Tầng trung lưu cách mặt đất từ độ cao 60 km – 120 km Ở tầng này nhiệt độcàng đi lên càng thấp, nhưng đến độ cao trên 80 km trở lên thì nhiệt độ trở nên ổnđịnh (không tiếp tục giảm)
+ Trên tầng trung lưu là tầng nhiệt lưu
Cấu trúc các tầng chủ yếu trong khií quyển được minh hoạ ở hình 3.1
Tầng nhiệt lưu hay còn gọi là tầng ngoài: 120 km trở lên
Trang 32
Hình 3.1: Sơ đồ các tầng trong khí quyển
b) Ô nhiễm khí quyển
Môi trường không khí bị coi là ô nhiễm khi các thành phần của nó bị biến đổi khácvới trạng thái bình thường Chất gây ô nhiễm là chất có trong khí quyển ở nồng độcao hơn so với nồng độ bình thường của nó trong khí quyển, hoặc chất đó thườngkhông có trong khí quyển Ô nhiễm không khí có thể là kết quả của việc thải ra dohoạt động của con người các khí, hơi, giọt và các lượng khí khác có nồng độ vượtquá thành phần bình thường trong không khí gây nên các tác động có hại hoặc gây
sự khó chịu (do mùi, do bụi…)
3.2.2.2 Các nguồn ô nhiễm không khí
Các vi sinh vật tồn tại trong tự nhiên và các chất gây ô nhiễm khác đeo bám vàocác hạt bụi dể phân tán đi khắp nơi Do đó, ở nơi nào có nhiều bụi thì nơi đókhông khí càng bị ô nhiễm Không khí ở thành phố, đô thị ô nhiễm hơn không khí
ở các vùng nông thôn là do ở các thành phô bụi và các chất gây ô nhiễm nhiêuhơn Nguồn gây ô nhiễm không khí có thể phân định thành 2 nguồn khác nhau:nguồn từ tự nhiên và nguồn từ hoạt động của loài người
* Nguồn ô nhiễm từ hoạt động tự nhiên là: cháy rừng, các tia chớp, núi lửa phun,
do sự phân huỷ các hữu cơ thực vật
Trang 33* Nguồn ô nhiễm do hoạt động của loài người chủ yếu là do hoạt động giao thôngvận tải và sản xuất công nghiệp.
+ Ô nhiễm môi trường không khí do các hoạt động đốt cháy
Ở các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, ô nhiễm do các phươngtiện vận tải có động cơ nói chung chưa đến mức nghiêm trọng do số lượng cácphương tiện chưa đến nổi nhiều so với các nước phát triển Tuy vậy, môi trườngkhông khí ở một số thành phố lớn ở nước ta như thành phố Hà Nội, Hải Phòng, ĐàNẳng, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh đang là một vấn đề cần được quan tâmđúng mức Ở thành phố Hồ Chí Minh, với hơn 2 triệu xe gắn máy, 300 ngàn xe ô
tô các loại và một số phương tiện vận tải khác ngày đêm th ra môi trường khôngkhí một số lượng lớn các chất oxyt các bon, hợp chất có chứa chì, hydrocacbon,Oxitnitơ…Các chất khí này dưới tác dụng của năng lượng ánh sáng mặt trời tạonên những chất gây sương mù, kích thích mắt, làm tổn hại cây cối Động cơ cácphương tiện giao thông còn sinh ra nhiều chất gay ung thư cho động vật, kể cả conngười Khí thải do các phương tiện lưu thông thải ra (tính trên một phương tiện)được biểu thị qua bảng 3.1 Thành phần các khí thải thải ra theo trạng thái hoạtđộng (tăng tốc, giảm tốc) được minh hoạ qua sơ đồ 3.2
+ Nguồn ô nhiễm từ các ngành công nghiệp
Hoạt động của các ngành sản xuất công nghiệp là một trong những nguyên nhânchính gây ô nhiễm không khí Các khí thải từ các nhà máy điện đốt than chứa rấtnhiều khí các bon, silicat (SiO2), nhóm (AL2O3) và Fe2O3 hoặc Fe3O2 Các khí nàyphát thải ra dưới dạng tro bay nên nó có khả năng phân tán ra môi trường khôngkhí trên một khoảng cách rất lớn kể từ nguồn phát thải Trái với các nhà máy điệnđốt bằng than, các nhà máy sản xuất công nghiệp khác như nhà máy hóa chất, nhàmáy điện nguyên tử…lại thường phát thải các chất phóng xạ ra môi trường khôngkhí Bảng 3.3 trình bày sau đây minh họa các thành phần khí thải xả ra môi trườngcủa các ngành sản xuất công nghiệp
Một số chất khí tuy chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong không khí nhưng lại có ảnhhưởng rất lớn đến môi trường không khí nói riêng và môi trường xung quanh nói
Trang 34chung Nồng độ các khí này trong khí quyển đang có hiện tượng ngày càng tăng
do hoạt động của con người đó là các khí gây hiệu ứng nhà kính
Bảng 3.1 Loại và kh lượng khí thải ra không khí của một phương tiên khi
Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái 1999
Bảng 3.2 Thành phần các khí thoát ra theo trạng thái hoạt động của phương
Thể tích CO
%
Thể tích NO (1/10 6 )
Thể tích Hydro (%)
4,2
303000
60
1,71,2
1,7
9,510,2
9,5
1313,2
13,0
Nguồn: Nguy ễn Th ị Kim Th ái 1999.
Bảng 3.3: Các thành phần khí xả ra môi trường từ các ngành công nghiệp
Trang 35Chất ô nhiễm
Nguồn xả
Từ các nhà máy điện(kg/tấn than đốt)
Từ các ngành CN khác(kg/tấn than đốt)HCHO
0,0231,380,469,134,5
Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái 1999.
Chlorofluorocarbon12) Các khí gây hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân của sự thayđổi khí hậu toàn cầu hiện nay Theo Flavin 1989 thì nguồn chính phát thải các loại
người, nhiên liệu hoá thạch…; và khí Nitrous oxide do việc đốt nhiên liệu , sảnxuất phân bón, phá rừng Mức độ tăng khí gây hiệu ứng nhà kính trong những nămgần đây được biểu thị ở bảng 3.4
Bảng 3.4: Mức gia tăng các khí nhà kính trong khí quyển do hoạt động của loài người
Khí gây hiệu ứng
nhà kính
Nồng độ Trong khí quyển năm
1850 (ppm)
Nồng độ Trong khí quyển năm
1990 (ppm)
Mức độ gia tăng
%
Mức độ gia tăng hiện tai.
%
Trang 36261269
0,40,80,34,04,0
Nguồn: Craig, D.P 1996
Nhiều sự cố môi trường và suy thoái môi trường là hậu quả của việc tăng hàmlượng khí nhà kính trong khí quyển mà nguyên nhân là do con người Do đó, cộngđồng quốc tế đã có nhiều biện pháp nhằm giảm bớt mức độ phát thải các khí gâyhiệu ứng nhà kính vào khí quyển Một trong những hoạt động của nhân loại vềkhía cạnh giảm thải khí gây hiệu ứng nhà kính là việc thông qua Nghị định thưKyoto Ngày 10/11/2001, 165 nước tham gia Hội nghị cắt giảm khí thải nhà kínhdiễn ra tại thành phố Marrakech (Morocco) đã thông qua nguyên tắc của Nghịđịnh thư Kyoto Nghị định thư Kyoto kêu gọi 40 nước công nghiệp trên thế giớihạn chế hoặc giảm thải khí nhà kính (chủ yếu là khí CO2) ra môi trường Mục tiêucủa hội nghị Kyoto là đến năm 2012 (từ 1990 đến 2012) phải cắt giảm trung bình5% các khí nhà kính Mặc dầu Mỹ, nước thải khí gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất
đã rút khỏi Nghị định thư này nhưng nhiều nước công nghiệp phát triển như Nga,Australia, Nhật, Canada rất ủng hộ nên Nghị đinh thư Kyoto vẫn được nhiều nướctham gia thực thi Hội nghị Marrakech rất hy vọng sẽ có đủ 55 nước phê chuẩn vàđến nay Australia và một số nước khác đã phê chẩn Nghị định thư Kyoto
3.2.2.3 Ô nhiễm không khí do tiếng ồn
a) Khái niệm: Tiếng ồn nói chung là những âm thanh gây khó chịu, quấy rầy sự
làm việc và nghỉ ngơi của con người Tiếng ồn là một yếu tố tự nhiên nhưng cũng
là sản phẩm của nền văn minh kỹ thuật của loài người Khi tiếng ồn lan truyềntrong không khí, chuyển động âm thanh của các phân tử khí gây ra những biến đổinhỏ về áp xuất không khí mà người ta biểu hiện bằng áp suất âm, cường độ âm.Tiếng ồn được coi như là một chỉ số nhiễm bẩn môi trường trong thành phố Một
số thành phố lớn ở các nước phát triển cũng như đang phát triển ô nhiễm tiếng ồn
Trang 37đang là một vấn đề lớn Ở Mỹ, cường độ quá lớn của tiếng ồn mỗi năm tăng 25%,
ở Canada trong 15 giờ liên tục, tiếng ồn tăng 15db so với mức giới hạn cho phép
và ở Anh, cĩ 20%-40% dân số đang phải sống suốt ngày đêm trong mơi trườngtiếng ồn quá mức quy định cho phép
b) Nguồn gây ồn: Nguồn gây ồn chủ yếu và lớn nhất là từ hoạt động giao thơng.
Tiếng ồn từ hoạt động cơng nghiệp cũng làmột nguồn gây ơ nhiễm Tuy vậy, hiệnnay ở các nước phát triển cũng như đang phát triển người ta đã áp dụng nhiều biệnphát giảm thiểu tiếng ồn do hoạt đợng sản xuất gây ra như: áp dụng cơng nghệtiên tiến, quy hoạch các khu cơng nghiệp xa dân cư, trồng cây cách âm giữa cácvùng đệm (dân cư và cơng nghiệp)…nên tiếng ồn do hoạt động sản xuất cơngnghiệp cũng đã được hạn chế phần nào Sau đây là mức độ gây ồn của một sốngành cơng nghiệp
Bảng 3.5: Mức độ gây ồn của các ngành sản xuất
Xưởng rènGị
ĐúcTánNồi hơiMáy tiệnMáy khoanMáy bàoMáy đánh bĩngTrục nén tuốc binQuạt giĩ li tâmMáy bay tuốc bin phản lực
98113-1141121179993-9611497108118105135
Nguồn: Nguyễn Thi Kim Thái 1999
Trang 38c) Aûnh hưởng của tiếng ồn đến sức khoẻ.
Tiếng ồn trong thành phố là một trong những nguyên nhân gây giảm thiùnh giáccủa cư dân sống trong các đơ thị Khi tiếng ồn tác động lên vỏ nảo thì nĩ sẽ làmtăng quá trình ức chế, làm thay đổi phản xạ cĩ điều kiện của người bị tác động và
nĩ sẽ làm giảm khả năng làm việc cũng như trí thơng minh của người đĩ Khoahọc đã chứng minh được rằng, tiếng ồn là một trong những nguyên nhân gây bệnhloét dạ dày do chức năng tiết chế của dạ dày bị phá vỡ Tất cả các rối loạn do ảnhhưởng của tồn bộ tiếng ồn trong giao thơng, sản xuất, đời sống đều được gọi là
“triệu chứng của bệnh vì tiếng ồn” Mức độ ồn được coi là bình thường nếu: 45 dbvào ban đêm, 60 db vào ban ngày Độ ồn vào khoảng 70 – 80 db nĩ sẽ gây trạngthái mệt mỏi cho con người, 95 – 110 db bắt đầu gây nguy hiểm, và 120 – 140 db
sẽ đe doạ gây chấn thương Theo đánh giá khoa học thì tạp âm ở các thành phốhiện đại ngày nay vào khoảng 70 –75 db
3.2.2.4 Các biện pháp giảm thiểu ơ nhiễm và bảo vệ mơi trường khơng khí
Để giảm thiểu ơ nhiễm và bảo vệ mơi trường khơng khí, chúng ta cần sử dụngriêng rẽ hoặc phối kết các biện pháp kỹ thuật, biện pháp quy hoạch và biện phápkiểm sốt nguồn phát thải
* Quy hoạch xây dựng đơ thị và bố trí các khu cơng nghiệp hợp lý: Quy hoạch mặtbằng đơ thị và bố trí các hợp lý các khu cơng nghiệp cĩ ý nghĩa rất lớn trong giảmthiểu ơ nhiễm va øbảo vệ mơi trường Đối với bất kỳ nhà máy, xí nghiệp sản xuấtnào khi lập luận chứng kinh tế kỹ thuật để đầu tư xây dựng, vấn đề mơi trường đềuphải được cân nhắc, tính tốn Cần phải tiến hành tính tốn, cân nhắc cẩn thận đểkhi nhà máy, hoặc xí nghiệp đĩ đi vào sản xuất sẽ cĩ ít tác động tiêu cực đến mơitrường và nồng độ các chất thải do các nhà máy này thải ra mơi trường cộng vớinồng độ của “nền’ ơ nhiễm khơng vượt quá mức độ tiêu chuẩn cho phép
Để giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đối với mơi trường, địa điểm xây dựng các nhàmáy nên đặt cuối hướng giĩ, cuối nguồn nước so với khu dân cư Các nguồn gây ơnhiễm mơi trường như ống khĩi, các phân xưởng thải chất độc hại… cần tập trung
Trang 39một vùng để dễ dàng xử lý Các nguyên tắc sau đây nên được áp dụng để quyhoạch vùng dân cư và xây dựng các nhà máy, xí nghiệp sản xuất:
+ hợp khối khi thiết lập mặt bằng chung;
+ phân khu theo các giai đoạn phát triển nhà máy một cách hợp lý;
+ tập trung hoá các hệ thống đường ống công nghệ;
+ tập trung hoá các nguồn thải và hệ thống xử lý ô nhiễm; và
+ bảo đảm đủ diện tích cây xanh, mặt nước và độ thông thoáng trong khu nhàmáy, xí nghiệp
Để đảm bảo giảm tác động của các chất gây ô nhiễm do hoạt động của các ngànhsản xuất công nghiệp gây ra, năm 1971 Bộ y tế đã có quy định kích thước củavùng cách ly vệ sinh công nghiệp Theo quy định này thì khoảng cách từ nguồnchất thải gây ô nhiễm đến khu dân cư phải căn cứ vào mức độ độc hại của chấtthải do xí nghiệp, nhà máy hoạt động trên địa bàn gây ra Khoảng cách vệ sinhtheo mức độ độc hại được trình bày ở bảng 3.5
Bảng 3.5: Khoảng cách cách ly vệ sinh công nghiệp
Chiều rộng vùng cách ly
(m)
Nguồn: Nguyễn Thị Kim Thái 1999.
Ngoài ra, tuỳ theo tần xuất và hoa gió ta có thể cộng thêm hoặc trừ đi một khoảngcách nhất định theo công thức: Xi = X0 Pi / P0 Trong đó: Xi là khoảng cách điều
khoảng cách (chiều rộng vùng cách ly) lấy theo bảng 3.5; P0 là tần xuất gió trung
tần xuất gió trung bình thực tế của hướng gió i (%) Tuy vậy, quy định chiều rộngvùng cách ly vệ sinh như nêu trên (quy định của Liên Xô) hiện nay không còn phùhợp với tình hình ở Việt Nam trong xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoávì nóchiếm diện tích rất lớn Ngày nay người ta có xu hướng áp dụng “công nghệ sảnxuất sạch”
Trang 40* Các biện pháp kỹ thuật, công nghệ giảm thiểu ô nhiễm: Biện pháp kỹ thuật vàcông nghệ cần được coi là biện pháp cơ bản vì nó cho phép đạt hiệu quả cao nhất
để hạ thấp và đôi khi loại trừ được chất thải ra môi trường Nội dung của biệnpháp này là “hiện đại hoá công nghệ sản xuất và làm kín dây chuyền và thiết bịsản xuất” Một số biện pháp sau có thể được xem là biên pháp kỹ thuật làm giảmthiểu ô nhiễm không khí:
+ Dùng nhiên liệu có ít chất thải ô nhiễm hoặc giảm bớt chất ô nhiễm trước trongnhiên liệu trước khi đốt Ví dụ, giảm hàm lượng lưu huỳnh (S) trong than, dùngdầu nhẹ thay dầu nặng, thay nhiên liệu củ bằng nhiên liệu mới như ethanol,methanol, khí tự nhiên…
+ Cải tiến quá trình đốt nhiên liệu để giảm thiểu chất thải Ví dụ, thay tuabin xăngdầu bằng tuabin gas…
+ Sử dụng các thiết bị lọc bụi, thiết bị hấp phu khí thải độc hại trước khi thải raống khói.ï
* Biện pháp sử dụng cây xanh để bảo vệ môi trường: Sử dụng cây xanh để điềuhoà khí hậu, đặc biệt là khí hậu ở các vùng đô thị là một biện pháp khá hữu ích
kính) và hơi nước cùng năng lượng mặt trời để tạo ra khi oxy trong qúa trìnhquang hợp, theo công thức sau:
6CO 2 + 5H 2 O + năng lượng > C 6 H 10 O 5 + 6 O 2
Ngoài ra, cây xanh còn có tác dụng che nắng, hút bớt bức xạ mặt trời, hút bụi, giữbụi, lọc sạch không khí, hút, chắn tiếng ồn và tạo mỹ quan cho thành phố, đô thị.Theo Nguyễn Thị Kim Thái (1999), cây xanh (tuỳ theo loại lá to hay nhỏ) có thểche chắn từ 10-90% lượng bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất Cây xanh thôngthường có thể che chắn từ 40-60% bức xạ và giảm lượng phản xạ bức xạ mặt trời
Hệ số Anbedo của của cây xanh là 0,2-0,3 của thảm cỏ là 0,18-0,24 có nghĩa là20-30% lượng bức xạ mặt trời chiếu tới bị phản xạ ra môi trường xung quanh bằngcây xanh và 18-24% bằng thảm cỏ, trong khi đó bức tường màu vàng có hệ sốAnbedo là 0,4-0,5, của bê tông là 0,35-0,45 Nhiệt độ không khí của vùng có cây