1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kỹ thuật nuôi lươn không bùn

17 38 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Thuật Nuôi Lươn Không Bùn
Trường học Trung Tâm Khuyến Nông Kiên Giang
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 775,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KỸ THUẬT NUÔI LƯƠN KHÔNG BÙN I. Đặc điểm sinh học của lươn 1. Tính ăn Lươn có xương hàm khoẻ mạnh, miệng khá lớn và ruột thẳng, ngắn,… do đó lươn là loài cá có tính ăn tạp nghiêng về động vật. Khi còn nhỏ thức ăn chính của lươn là động vật nổi, khi trưởng thành thức ăn là động vật đáy như tôm cá con, ấu trùng côn trùng thuỷ sinh. Thức ăn của lươn trưởng thành chủ yếu là động vật, đặc biệt thức ăn có mùi hôi tanh. Tính ăn của lươn có sự thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của chúng và thành phần thức ăn trong môi trường. Lươn thường hoạt động bắt mồi vào ban đêm; vào ban ngày chúng thường ẩn nấp trong hang hoặc chỉ rình mồi ở cửa hang. Khi thiếu thức ăn, lươn có thể ăn thịt lẫn nhau. 2. Sinh trưởng Tốc độ sinh trưởng của lươn chậm hơn so với một số giống loài động vật thuỷ sản khác. Trong điều kiện môi trường tự nhiên, sau 1 năm lươn đạt trọng lượng khoảng 200 300 gramcon; lươn có thể lớn và đạt trọng lượng đến 1,5 kgcon. Lươn có trọng lượng từ 17 20 gramcon (50 60 conkg), được nuôi khoảng 5 6 tháng đạt trọng lượng từ 180 250 gramcon. Lươn giống được khai thác ngoài tự nhiên có trọng lượng từ 25 33 gramcon (30 40 conkg), được thả nuôi sau 3 tháng, lươn đạt trọng lượng 250 300 gramcon. 3. Môi trường sống Ở lươn, ngoài mang còn có cơ quan hô hấp phụ là da và khoang hầu; do đó ngoài trao đổi khí qua mang, lươn có thể trao đổi khí qua da và khoang hầu. Khi để lươn trên cạn, da khô, chúng sẽ chết sau khoảng 12 20 giờ, khi giữ đủ độ ẩm cho da, lươn sẽ chết sau 27 70 giờ. Nhiệt độ có ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng của lươn; nhiệt độ thích hợp cho lươn sinh trưởng khoảng từ 25 280C; khi nhiệt độ thấp hơn 200C lươn thường bỏ ăn và khi dưới 100C, chúng chui sâu xuống bùn để trú đông. II. Kỹ thuật nuôi lươn không bùn 1. Chọn địa điểm Địa điểm xây dựng bể nuôi lươn phải thông thoáng, cao ráo ít cây cối che phủ xung quanh. Chọn địa điểm nuôi phải đảm bảo chủ động được nguồn nước ngọt và thuận tiện trong việc cấp và thoát nước trong suốt vụ nuôi. Nên chọn những khu vực gần với hệ thống sông, kênh rạch,… và gần nhà để quản lý, chăm sóc được thuận tiện. 2. Xây dựng bể nuôi Lươn được nuôi phổ biến trong bể xi măng, bể lót bạt nilon (bạt nhựa) hay bể composite… Bể nuôi lươn có thể được xây bằng gạch xi măng hoặc tận dụng bể chứa nước, chuồng heo để sửa chữa lại dùng để nuôi lươn nhằm giảm chi phí đầu tư xây dựng. Bể nuôi lươn được xây dựng theo dạng bán nổi hoặc nổi hoàn toàn; nhưng nên xây bể nuôi dạng nổi trên mặt đất để thuận tiện khi cấp thoát thay nước và quản lý. Diện tích bể nuôi từ 6 20 m2bể, tùy qui mô điều kiện nuôi tại nông hộ; thành bể được thiết kế với chiều cao khoảng từ 0,8 1m. Có thể xây dựng nhiều ô bể nuôi liền kề để vừa tiết kiệm công và vật liệu xây dựng; vừa thuận tiện khi phân cỡ lươn nuôi riêng hoặc san thưa khi cần thiết. Nên xây dựng thêm bể chứa nước (bể trữ nước) để chủ động nguồn nước thay, xử lý khử trùng, khử độc tố,… và cân bằng một số yếu tố môi trường quan trọng trước khi cấp vào bể nuôi; nhằm tránh gây ngộ độc hoặc gây sốc cho lươn khi thay nước. Đối với bể xây gạch xi măng, đáy và bên trong thành bể cần được lót, ốp bằng gạch men hoặc tráng nhẵn bằng xi măng Bể nuôi lươn không nên để trống ngoài trời, cần được làm mái che thông thoáng để hạn chế bớt ánh sáng cường độ cao gây ảnh hưởng không tốt cho lươn. Mái che nên thiết kế bằng lưới lan làm giảm nhiệt độ tăng cao ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của lươn. Ngoài ra có thể làm bể nuôi lươn bằng bạt nilon (bạt nhựa) với khung bằng tre hoặc gỗ tạp, có thể thiết kế bể tròn hay hình vuông tùy điều kiện người nuôi Bể nuôi cần được thiết kế đường ống cấp nước; ống thoát nước nên đặt ở đáy bể, có gắn van đóng mở hoặc ống lỗ lù để thuận tiện khi xả nước 3. Chuẩn bị bể nuôi Xử lý bể trước khi thả giống bằng cách cấp nước vào đầy bể sau đó pha thuốc tím (KMnO4) vào nước trong bể với liều lượng 10 gramm3, ngâm khoảng 1 2 ngày, xả hết nước trong bể và rửa lại bể nuôi bằng nước sạch. Chuẩn bị bộ vỉ sạp và giá thể: Bể nuôi lươn không bùn có thể được bố trí bộ vỉ sạp để tăng diện tích trú ẩn cho lươn hoặc không cần vỉ sạp mà chỉ bố trí giá thể bằng chùm dây nilon để lươn trú ẩn hoặc kết hợp cả 2 phương thức tùy điều kiện tại nông hộ + Bộ vỉ sạp được làm bằng cách kết các ống nhựa hoặc các thanh tre khô bào nhẵn để tránh xây xát cho lươn trong khi nuôi; khoảng cách giữa các ống (hoặc thanh tre) từ 5 7 cm; chiều dài bằng khoảng 23 chiều dài bể nuôi. + Nếu sử dụng bộ vỉ sạp, mỗi bể nuôi nên được đặt khoảng 2 3 tấm vỉ sạp cách thành bể khoảng 30 40 cm. + Các vỉ sạp được kê chồng lên nhau, khoảng cách giữa các vỉ sạp khoảng 10 cm; thường dùng các viên gạch ống để kê các vỉ sạp. 4. Nguồn nước và xử lý nước Nguồn nước sử dụng để nuôi lươn không bùn gồm: nước sông, nước giếng khoan (nước ngầm), nước máy và cả nước mưa. Tuy nhiên để tránh cho lươn bị ngộ độc do hóa chất hoặc bị sốc do thay đổi nhiệt độ khi thay nước… Nên có ao hoặc bể chứa (lắng) để xử lý trước khi cấp vào bể nuôi. Nước dùng để nuôi lươn phải đảm bảo có độ pH khoảng từ 6,5 8. Đặc điểm nguồn nước và cách thức xử lý nước được thực hiện cụ thể như sau: Nước sông, thường có nhiều chất lơ lửng (phù sa), nhất là vào mùa mưa; do đó nên bơm cấp vào ao hay bể chứa để lắng ít nhất 1 ngày sau đó diệt khuẩn dùng thuốc tím (KMnO4) vào nước trong bể với liều lượng 10 gramm3, ngâm khoảng 1 2 ngày cấp sang bể nuôi. Nước giếng khoan (nước ngầm), thường có hàm lượng kim loại như sắt, nhôm, kẽm,... khá cao gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lươn; do đó nước phải được cấp vào bể chứa và dùng EDTA (Ethylene Diamine Tetra Acetic Acid) để cử lý với liều lượng 5 10 gramm3 nước; để lắng ít nhất 1 ngày sau đó cấp sang bể nuôi. Nước máy, khá sạch do đã được xử lý tại nhà máy; tuy nhiên để đề phòng dư lượng Chlorine có trong nước, nên cấp nước vào bể chứa để qua đêm sau đó cấp sang bể nuôi. Nước mưa thường có chứa Acid (chủ yếu là H2SO4 và HNO3), cần tránh sử dụng nước ở những trận mưa đầu mùa; nước mưa có độ pH dưới 6,5 cần dùng vôi nung (CaO) cho vào bể chứa với liều lượng khoảng 15 20 gramm3 nước, khi nước lắng trong có thể cấp vào bể nuôi. 5. Chọn và thả giống Chọn lươn giống có chất lượng tốt được sản xuất tại các cơ sở có uy tín; lươn giống phải đảm bảo đã ăn tốt thức ăn viên tổng hợp (thức ăn công nghiệp). Lươn giống được chọn phải có màu sắc tươi sáng (màu vàng sẫm), khỏe mạnh, bơi lội linh hoạt và đồng cỡ; trọng lượng từ 300 500 conkg; không chọn lươn giống bị sây sát, mất nhớt hay dị hình để thả nuôi. Mật độ thả nuôi từ 100 200 conm2, tùy điều kiện quản lý, chăm sóc của người nuôi. Trước khi thả vào bể nuôi, lươn giống cần được tắm qua dung dịch nước muối loãng 2 3% (2 3 gram muối pha với 1lít nước) trong khoảng thời gian từ 5 10 phút. Thả giống vào bể nuôi bằng cách lấy nước từ bể nuôi đổ nhẹ nhàng vào dụng cụ chứa lươn giống (thau, xô, thùng xốp,…) để lươn kịp thích nghi, sau đó nghiêng dụng cụ chứa để lươn di chuyển ra ngoài. 6. Thức ăn và chế độ cho ăn Thức ăn dùng cho nuôi lươn là thức ăn được chế biến tự các nguyên liệu như bột cá, cá tạp, ốc, cám, bột bắp, bột mì… Hoặc kết hợp trộn thức ăn tổng hợp (thức ăn công nghiệp) với trùng quế 100 200 gramkg. Nuôi lươn không bùn nên dùng thức ăn công nghiệp có kích cỡ viên phù hợp với lươn giống, đảm bảo duy trì hàm lượng chất đạm (protein) ở mức từ 40 50%, tùy theo giai đoạn phát triển của lươn; giai đoạn lươn còn nhỏ cần cho ăn loại thức ăn có hàm lượng đạm cao. Ở giai đoạn lươn còn nhỏ, thức ăn công nghiệp thường được tưới nước cho ẩm, sau đó vò thành viên rồi đặt vào sàn vỉ cho lươn ăn. Sử dụng thức ăn viên nổi cho lươn ăn, cần bố trí khung bằng ống nhựa để giữ thức ăn, tránh bị phân tán khắp bể nuôi; nên cho lươn ăn ở một vài vị trí cố định trong bể nuôi để lươn quen với vị trí ăn mồi. Trong thời gian khoảng 2 tháng đầu (sau khi thả giống), mỗi ngày cho lươn ăn với lượng thức ăn chiếm khoảng 5 7% so với tổng khối lượng lươn có trong bể nuôi (1 kg lươn nuôi cho ăn 50 70 gram thức ănngày). Sau 2 tháng nuôi, mỗi ngày cho lươn ăn với lượng thức ăn chiếm khoảng 3 4% so với tổng khối lượng lươn có trong bể nuôi; kết hợp với theo dõi khả năng bắt mồi của lươn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Khi thay đổi loại thức ăn, cần được thực hiện dần trong khoảng thời gian từ 5 7 ngày để lươn thích nghi với loại thức ăn mới, tránh thay đổi đột ngột dẫn đến lươn giảm ăn hoặc bỏ ăn. Lượng thức ăn trong ngày, được chia làm 2 lầnngày cho ăn vào lúc 7 8 giờ sáng và 5 6 giờ chiều; cần phối trộn thức ăn với vitamine C và men tiêu hóa xen kẽ nhau với liều lượng 1 2 gramkg thức ăn, nhằm giúp lươn tiêu hóa tốt thức ăn và tăng cường sức đề kháng. 7. Chăm sóc quản lý Quản lý thức ăn: Sau khi cho lươn ăn khoảng 2 3 giờ, nên kiểm tra xem lượng thức ăn thừa hay thiếu để điều chỉnh ở những lần cho ăn tiếp theo; tránh thức ăn thừa gây lãng phí và gây ô nhiễm nguồn nước. Định kỳ khoảng 20 30 ngày, kiểm tra tốc độ tăng trưởng của lươn, xác định khối lượng lươn trong bể nuôi để điều chỉnh phù hợp lượng thức ăn cho lươn. Quản lý nước: Hàng ngày cần thay 100% lượng nước trong bể nuôi bằng nguồn nước đã xử lý ở bể chứa; thay nước thường được thực hiện sau khi cho lươn ăn khoảng 1 2 giờ vào lúc thời tiết mát mẻ để hạn chế gây sốc cho lươn do chênh lệnh nhiệt độ. Khi thay nước cần chú ý kiểm tra các yếu tố môi trường nước, nhất là nhiệt độ và pH của nước cấp thay phải khá tương đồng với nước trong bể nuôi. Khi cấp nước vào bể nuôi, cần thận trọng không nên để vòi nước phun trực tiếp vào cơ thể lươn. Duy trì mực nước trong bể nuôi khoảng từ 20 35 cm tùy theo giai đoạn phát triển của lươn và đảm bảo mực nước phải ngập các giá thể trú ẩn. Quản lý sức khỏe, giá thể: Thường xuyên vệ sinh bể nuôi, tránh để cặn bã tích tụ nhiều trong bể; tránh để bể nuôi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng có cường độ chiếu sáng cao làm tăng nhiệt độ nước bể nuôi và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lươn. Sau khoảng 2 tháng nuôi, tiến hành phân cỡ tách lươn lớn, nhỏ nuôi riêng nhằm tránh cho lươn bị tổn thương do tranh thức ăn hoặc ăn lẫn nhau. Khi nhiệt độ giảm xuống cần phải che chắn bể nuôi nhằm hạn chế tác động của không khí lạnh. 8. Thu hoạch Sau khoảng thời gian nuôi từ 10 12 tháng, lươn đạt trọng lượng từ 200 300 gramcon có thể thu hoạch. Ngưng cho lươn ăn trước khi thu hoạch 1 ngày; dùng vợt để xúc lươn thu hoạch, hạn chế gây sây sát cho lươn khi thu hoạch. Tùy theo điều kiện nông hộ, lươn nuôi có thể được thu hoạch toàn bộ 1 lần khi lươn đạt cỡ thương phẩm hoặc thu tỉa lươn đạt kích cỡ lớn trước đem tiêu thụ. III. Phòng, trị một số bệnh thường gặp ở lươn 1. Phòng bệnh cho lươn Định kỳ khoảng 10 15 ngày, dùng củ tỏi xay nhuyễn trộn với thức ăn, cho lươn ăn 3 5 ngày liên tục, mỗi ngày 1 lần để phòng ngừa bệnh đốm đỏ, xuất huyết, viêm ruột,… cho lươn, liều lượng trộn khoảng 3 5 gram tỏikg thức ăn. Sau khi cho ăn từ 1 2 giờ thì phải kiểm tra thức ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Khi thời tiết nóng kéo dài phải có biện pháp che mát cho bể nuôi. Thường xuyên theo dõi hoạt động của lươn, nếu thấy có dấu hiệu bất thường thì phải kiểm tra ngay để xử lý kịp thời. Khoảng 10 15 ngày bắt lươn lên cân đo ước tính trọng lượng để tính toán lượng thức ăn cho phù hợp. Định kỳ dùng men tiêu hóa để chống stress, tăng cường sức đề kháng cho lươn, giúp lươn tăng trọng tốt. Định kỳ 15 ngày sử dụng vôi nông nghiệp với liều lượng 5 7 g1m3 nước, để xử lý nước và phòng bệnh cho lươn. 2. Một số bệnh thường gặp ở lươn 2.1. Bệnh tuyến trùng (bệnh đường ruột) Nguyên nhân và triệu chứng bệnh: + Do ký sinh trùng đường ruột gây bệnh, tuyến trùng có màu trắng, chiều dài khoảng 1 cm; đầu tuyến trùng bám vào niêm mạc phá hoại mô, hình thành bào nang gây viêm ruột sưng đỏ. + Khi tuyến trùng ký sinh với số lượng lớn trong ruột lươn, làm lươn bị suy yếu, hậu môn lươn bị sưng đỏ, thân lươn chuyển màu nâu đen, hoạt động chậm chạp, tách đàn; phân lươn thường nổi trên mặt nước,… và lươn bị chết rải rác. Cách phòng và trị bệnh: + Nên cho lươn ăn bằng thức ăn công nghiệp, nếu dùng thức ăn tự chế biến từ các nguyên liệu như cá tép tạp, ốc,… cần phải được rửa sạch, nấu chín; không dùng thức ăn công nghiệp bị ẩm mốc để cho lươn ăn. + Vệ sinh bể nuôi thường xuyên, không để cặn bã, chất thải lắng trong bể nuôi. + Định kỳ (2 tháng) nên trộn ruột cau xay nhuyễn với thức ăn (1 gram ruột cau + 1,5 kg thức ăn) cho lươn ăn liên tục 3 5 ngày, có tác dụng trị bệnh tuyến trùng lươn. + Ngoài ra, có thể dùng thuốc thủy sản FLUCOLENRO đặc trị nội ký sinh trùng của để trộn vào thức ăn cho lươn ăn với liều lượng và cách thức cho ăn theo như hướng dẫn của nhà sản xuất (ghi trên bao bì sản phẩm). 2.2. Bệnh nhiễm trùng huyết (Bệnh đốm đỏ) Nguyên nhân và triệu chứng bệnh: + Nhiễm trùng huyết ở lươn chủ yếu do vi khuẩn (Aeromonas spp) gây ra; do môi trường nuôi bị ô nhiễm, lươn bị sây sát hoặc bị sốc do môi trường thay đổi… + Lươn bị nhiễm bệnh thường có một số biểu hiện như: da sẫm màu từng vùng ở bụng, xuất hiện các mảng màu đỏ và cá khối u trên bề mặt cơ thể; đuôi lươn bị hoại tử; mắt lươn bị đục và phù nề; nội tạng lươn bị xuất huyết và hoại tử, xoang bụng chứa dịch màu vàng. + Lươn bị nhiễm bệnh thường bỏ ăn, bơi lội chậm chạp và lờ đờ trên mặt nước. Cách phòng và trị bệnh: + Tránh xây xát hoặc bị sốc do môi trường thay đổi… + Môi trường phải đảm bảo tốt cho lươn trong suốt quá trình nuôi; bổ sung vitamine C, men vi sinh vào thức ăn cho lươn theo định kỳ. + Dùng một số loại thảo mộc (thuốc Nam) có tác dụng diệt khuẩn, trộn với thức ăn cho lươn ăn liên tục 5 7 ngày để điều trị bệnh nhiễm khuẩn máu như: dùng 10 gram cây cỏ mực hoặc cây sài đất,… tươi giã lấy nước trộn với 1 kg thức ăn cho lươn. Cây thảo mộc có thể dùng cho lươn ăn định kỳ trong quá trình nuôi cũng có tác dụng phòng ngừa bệnh cho lươn. + Bệnh nhiễm trùng huyết ở lươn cũng có thể điều trị bằng cách trộn thuốc kháng sinh Oxytetracyline hoặc Streptomycin vào thức ăn với liều lượng 50 70 mgkg thể trọng lươn, cho ăn liên tục từ 5 7 ngày. 2.3. Bệnh nấm thủy mi Nguyên nhân và triệu chứng bênh: + Bệnh nấm thủy mi (nấm nước) gây ra bởi một số nấm như Achlya và Saprolegnia; bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa và thời tiết lạnh. + Khi lươn bị sây sát hoặc do viêm nhiễm ngoài da (do bệnh ghẻ lở, ký sinh trùng ký sinh) là điều kiện thuận để phát sinh bệnh. + Lươn bị bệnh, trên da xuất hiện vùng trắng xám tua tủa những sợi nấm nhỏ tạo thành những búi trắng như bông có thể nhìn bằng mắt thường; lươn có biểu hiện ngứa ngáy, thân lươn gầy gò, da đổi màu đen sẫm. Cách phòng và trị bệnh: + Vệ sịnh kỹ bể nuôi trước khi thả giống; lươn giống giống trước khi thả cần tắm qua nước muối 2 3‰ (2 3 gram muối pha với 1lít nước) trong khoảng thời gian từ 5 10 phút, giữ môi trường nước luôn trong sạch, pH và nhiệt độ nước ổn định; tránh lươn nuôi bị xây xát. + Ngâm lươn bị bệnh trong nước muối với liều lượng khoảng 2 3% trong thời gian 3 4 phút; hoặc dùng thuốc tím (KMnO4) với liều lượng 5 gramm3 nước tạt khắp bể nuôi sau khoảng 20 30 phút, thay nước trong bể bằng nước sạch. 2.5. Bệnh do giáp xác ký sinh Nguyên nhân và triệu chứng bệnh: + Một số sinh vật ký sinh như trùng mỏ neo, rận hoặc đỉa cá, đều có thể nhìn thấy được bằng mắt thường; chúng sống ký sinh trên da, vây và mang của lươn. + Khi ký sinh, ngoài việc hút máu lươn, chúng còn tiết nọc độc làm tổn thương da và mang lươn tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm hay ký sinh trùng tấn công làm cho bệnh thêm nặng. + Lươn bị trùng mỏ neo, rận hoặc đỉa cá ký sinh, thường giảm ăn, gầy yếu; các tổ chức xung quanh nơi bị bám có biểu hiện viêm nhiễm và xuất huyết. Cách phòng và trị bệnh: + Vệ sinh kỹ bể nuôi và giá thể trú ẩn cho lươn. + Dùng thuốc tím (KMnO4) tắm cho lươn bệnh với nồng độ 5 gramm3 nước trong khoảng 20 30 phút; hoặc dùng lá xoan đập dập thả vào bể nuôi với liều lượng khoảng 0,3 0,5 kg m3 trong bể nuôi. Mọi chi tiết xin liên hệ TỔNG KHO BỂ BẠT TRÁNG LƯỚI MINH KHANG HotlineZalo: 0964037029, 0962880668 Fanpage Facebook: https:www.facebook.comtongkhobebatminhkhang Tiktok: https:www.tiktok.comtongkhobatluoiminhkhang Địa chỉ: Trung Chính, Lương Tài, Bắc Ninh

Trang 1

SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT KIÊN GIANG

TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG

***

Trang 2

KỸ THUẬT NUÔI LƯƠN KHÔNG BÙN

I Đặc điểm sinh học của lươn

Hình 1: Lươn đồng (Monopterus albus Zuiew, 1793)

1 Tính ăn

- Lươn có xương hàm khoẻ mạnh, miệng khá lớn và ruột thẳng, ngắn,… do đó lươn là loài cá có tính ăn tạp nghiêng về động vật

- Khi còn nhỏ thức ăn chính của lươn là động vật nổi, khi trưởng thành thức ăn là động vật đáy như tôm cá con,

ấu trùng côn trùng thuỷ sinh

- Thức ăn của lươn trưởng thành chủ yếu là động vật, đặc biệt thức ăn có mùi hôi tanh

- Tính ăn của lươn có sự thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của chúng và thành phần thức ăn trong môi trường

- Lươn thường hoạt động bắt mồi vào ban đêm; vào ban ngày chúng thường ẩn nấp trong hang hoặc chỉ rình mồi ở cửa hang Khi thiếu thức ăn, lươn có thể ăn thịt lẫn

nhau

2 Sinh trưởng

- Tốc độ sinh trưởng của lươn chậm hơn so với một số giống loài động vật thuỷ sản khác

Trang 3

- Trong điều kiện môi trường tự nhiên, sau 1 năm lươn đạt trọng lượng khoảng 200 - 300 gram/con; lươn có thể lớn và đạt trọng lượng đến 1,5 kg/con

- Lươn có trọng lượng từ 17 - 20 gram/con (50 - 60 con/kg), được nuôi khoảng 5 - 6 tháng đạt trọng lượng từ

180 - 250 gram/con

- Lươn giống được khai thác ngoài tự nhiên có trọng lượng từ 25 - 33 gram/con (30 - 40 con/kg), được thả nuôi sau 3 tháng, lươn đạt trọng lượng 250 - 300 gram/con

3 Môi trường sống

- Ở lươn, ngoài mang còn có cơ quan hô hấp phụ là da

và khoang hầu; do đó ngoài trao đổi khí qua mang, lươn

có thể trao đổi khí qua da và khoang hầu

- Khi để lươn trên cạn, da khô, chúng sẽ chết sau khoảng 12 - 20 giờ, khi giữ đủ độ ẩm cho da, lươn sẽ chết sau 27 - 70 giờ

- Nhiệt độ có ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng của lươn; nhiệt độ thích hợp cho lươn sinh trưởng khoảng từ

25 - 280C; khi nhiệt độ thấp hơn 200C lươn thường bỏ ăn

và khi dưới 100C, chúng chui sâu xuống bùn để trú đông

II Kỹ thuật nuôi lươn không bùn

1 Chọn địa điểm

- Địa điểm xây dựng bể nuôi lươn phải thông thoáng, cao ráo ít cây cối che phủ xung quanh

- Chọn địa điểm nuôi phải đảm bảo chủ động được nguồn nước ngọt và thuận tiện trong việc cấp và thoát nước trong suốt vụ nuôi

- Nên chọn những khu vực gần với hệ thống sông, kênh rạch,… và gần nhà để quản lý, chăm sóc được thuận tiện

Trang 4

2 Xây dựng bể nuôi

- Lươn được nuôi phổ biến trong bể xi măng, bể lót bạt nilon (bạt nhựa) hay bể composite… Bể nuôi lươn có thể được xây bằng gạch xi măng hoặc tận dụng bể chứa nước, chuồng heo để sửa chữa lại dùng để nuôi lươn nhằm giảm chi phí đầu tư xây dựng

- Bể nuôi lươn được xây dựng theo dạng bán nổi hoặc nổi hoàn toàn; nhưng nên xây bể nuôi dạng nổi trên mặt đất

để thuận tiện khi cấp thoát thay nước và quản lý

- Diện tích bể nuôi từ 6 - 20 m2/bể, tùy qui mô điều kiện nuôi tại nông hộ; thành bể được thiết kế với chiều cao khoảng từ 0,8 - 1m

- Có thể xây dựng nhiều ô bể nuôi liền kề để vừa tiết kiệm công và vật liệu xây dựng; vừa thuận tiện khi phân cỡ lươn nuôi riêng hoặc san thưa khi cần thiết

- Nên xây dựng thêm bể chứa nước (bể trữ nước) để chủ động nguồn nước thay, xử lý khử trùng, khử độc tố,… và cân bằng một số yếu tố môi trường quan trọng trước khi cấp vào

bể nuôi; nhằm tránh gây ngộ độc hoặc gây sốc cho lươn khi thay nước

- Đối với bể xây gạch xi măng, đáy và bên trong thành

bể cần được lót, ốp bằng gạch men hoặc tráng nhẵn bằng xi măng (hình 2)

- Bể nuôi lươn không nên để trống ngoài trời, cần được làm mái che thông thoáng để hạn chế bớt ánh sáng cường độ cao gây ảnh hưởng không tốt cho lươn Mái che nên thiết kế bằng lưới lan làm giảm nhiệt độ tăng cao ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của lươn

Trang 5

Hình 2: Bể xây gạch - xi măng nuôi lươn

- Ngoài ra có thể làm bể nuôi lươn bằng bạt nilon (bạt nhựa) với khung bằng tre hoặc gỗ tạp, có thể thiết kế bể tròn hay hình vuông tùy điều kiện người nuôi (hình 3)

Hình 3: Bể lót bạt nuôi lươn

- Bể nuôi cần được thiết kế đường ống cấp nước; ống thoát nước nên đặt ở đáy bể, có gắn van đóng mở hoặc ống

lỗ lù để thuận tiện khi xả nước (hình 4)

Trang 6

Hình 4: Lắp đặt ống cấp, thoát nước bể nuôi

3 Chuẩn bị bể nuôi

- Xử lý bể trước khi thả giống bằng cách cấp nước vào đầy bể sau đó pha thuốc tím (KMnO4) vào nước trong bể với liều lượng 10 gram/m3, ngâm khoảng 1 - 2 ngày, xả hết nước trong bể và rửa lại bể nuôi bằng nước sạch

- Chuẩn bị bộ vỉ sạp và giá thể: Bể nuôi lươn không bùn

có thể được bố trí bộ vỉ sạp để tăng diện tích trú ẩn cho lươn hoặc không cần vỉ sạp mà chỉ bố trí giá thể bằng chùm dây nilon để lươn trú ẩn hoặc kết hợp cả 2 phương thức tùy điều kiện tại nông hộ (hình 5)

+ Bộ vỉ sạp được làm bằng cách kết các ống nhựa hoặc các thanh tre khô bào nhẵn để tránh xây xát cho lươn trong khi nuôi; khoảng cách giữa các ống (hoặc thanh tre) từ 5 - 7 cm; chiều dài bằng khoảng 2/3 chiều dài bể nuôi

+ Nếu sử dụng bộ vỉ sạp, mỗi bể nuôi nên được đặt khoảng 2 - 3 tấm vỉ sạp cách thành bể khoảng 30 - 40 cm + Các vỉ sạp được kê chồng lên nhau, khoảng cách giữa các vỉ sạp khoảng 10 cm; thường dùng các viên gạch ống để

kê các vỉ sạp

Trang 7

Hình 5: Bố trí các vỉ sạp và chùm dây nilon trong bể

4 Nguồn nước và xử lý nước

- Nguồn nước sử dụng để nuôi lươn không bùn gồm: nước sông, nước giếng khoan (nước ngầm), nước máy và cả nước mưa Tuy nhiên để tránh cho lươn bị ngộ độc do hóa chất hoặc bị sốc do thay đổi nhiệt độ khi thay nước… Nên có

ao hoặc bể chứa (lắng) để xử lý trước khi cấp vào bể nuôi (hình 6) Nước dùng để nuôi lươn phải đảm bảo có độ pH khoảng từ 6,5 - 8 Đặc điểm nguồn nước và cách thức xử lý nước được thực hiện cụ thể như sau:

- Nước sông, thường có nhiều chất lơ lửng (phù sa), nhất

là vào mùa mưa; do đó nên bơm cấp vào ao hay bể chứa để lắng ít nhất 1 ngày sau đó diệt khuẩn dùng thuốc tím (KMnO4) vào nước trong bể với liều lượng 10 gram/m3

, ngâm khoảng 1 - 2 ngày cấp sang bể nuôi

- Nước giếng khoan (nước ngầm), thường có hàm lượng kim loại như sắt, nhôm, kẽm, khá cao gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lươn; do đó nước phải được cấp vào bể chứa và dùng EDTA (Ethylene Diamine Tetra Acetic Acid)

để cử lý với liều lượng 5 - 10 gram/m3 nước; để lắng ít nhất 1 ngày sau đó cấp sang bể nuôi

Trang 8

- Nước máy, khá sạch do đã được xử lý tại nhà máy; tuy nhiên để đề phòng dư lượng Chlorine có trong nước, nên cấp nước vào bể chứa để qua đêm sau đó cấp sang bể nuôi

- Nước mưa thường có chứa Acid (chủ yếu là H2SO4 và HNO3), cần tránh sử dụng nước ở những trận mưa đầu mùa; nước mưa có độ pH dưới 6,5 cần dùng vôi nung (CaO) cho vào bể chứa với liều lượng khoảng 15 - 20 gram/m3

nước, khi nước lắng trong có thể cấp vào bể nuôi

Hình 6: Bể chứa (lắng) và xử lý nước

5 Chọn và thả giống

- Chọn lươn giống có chất lượng tốt được sản xuất tại các cơ sở có uy tín; lươn giống phải đảm bảo đã ăn tốt thức

ăn viên tổng hợp (thức ăn công nghiệp) Lươn giống được chọn phải có màu sắc tươi sáng (màu vàng sẫm), khỏe mạnh, bơi lội linh hoạt và đồng cỡ; trọng lượng từ 300 - 500 con/kg; không chọn lươn giống bị sây sát, mất nhớt hay dị hình để thả nuôi

- Mật độ thả nuôi từ 100 - 200 con/m2, tùy điều kiện quản lý, chăm sóc của người nuôi

- Trước khi thả vào bể nuôi, lươn giống cần được tắm qua dung dịch nước muối loãng 2 - 3‰ (2 - 3 gram muối pha với 1lít nước) trong khoảng thời gian từ 5 - 10 phút

- Thả giống vào bể nuôi bằng cách lấy nước từ bể nuôi

đổ nhẹ nhàng vào dụng cụ chứa lươn giống (thau, xô, thùng

Trang 9

xốp,…) để lươn kịp thích nghi, sau đó nghiêng dụng cụ chứa

để lươn di chuyển ra ngoài (hình 7)

Hình 7: Thả giống lươn nuôi

6 Thức ăn và chế độ cho ăn

- Thức ăn dùng cho nuôi lươn là thức ăn được chế biến

tự các nguyên liệu như bột cá, cá tạp, ốc, cám, bột bắp, bột mì… Hoặc kết hợp trộn thức ăn tổng hợp (thức ăn công nghiệp) với trùng quế 100 - 200 gram/kg

- Nuôi lươn không bùn nên dùng thức ăn công nghiệp có kích cỡ viên phù hợp với lươn giống, đảm bảo duy trì hàm lượng chất đạm (protein) ở mức từ 40 - 50%, tùy theo giai đoạn phát triển của lươn; giai đoạn lươn còn nhỏ cần cho ăn loại thức ăn có hàm lượng đạm cao

- Ở giai đoạn lươn còn nhỏ, thức ăn công nghiệp thường được tưới nước cho ẩm, sau đó vò thành viên rồi đặt vào sàn

vỉ cho lươn ăn

- Sử dụng thức ăn viên nổi cho lươn ăn, cần bố trí khung bằng ống nhựa để giữ thức ăn, tránh bị phân tán khắp bể nuôi; nên cho lươn ăn ở một vài vị trí cố định trong bể nuôi

để lươn quen với vị trí ăn mồi (hình 8)

Trang 10

- Trong thời gian khoảng 2 tháng đầu (sau khi thả giống), mỗi ngày cho lươn ăn với lượng thức ăn chiếm khoảng 5 - 7% so với tổng khối lượng lươn có trong bể nuôi (1 kg lươn nuôi cho ăn 50 - 70 gram thức ăn/ngày)

- Sau 2 tháng nuôi, mỗi ngày cho lươn ăn với lượng thức

ăn chiếm khoảng 3 - 4% so với tổng khối lượng lươn có trong bể nuôi; kết hợp với theo dõi khả năng bắt mồi của lươn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp

- Khi thay đổi loại thức ăn, cần được thực hiện dần trong khoảng thời gian từ 5 - 7 ngày để lươn thích nghi với loại thức ăn mới, tránh thay đổi đột ngột dẫn đến lươn giảm ăn hoặc bỏ ăn

- Lượng thức ăn trong ngày, được chia làm 2 lần/ngày cho ăn vào lúc 7 - 8 giờ sáng và 5 - 6 giờ chiều; cần phối trộn thức ăn với vitamine C và men tiêu hóa xen kẽ nhau với liều lượng 1 - 2 gram/kg thức ăn, nhằm giúp lươn tiêu hóa tốt thức ăn và tăng cường sức đề kháng (hình 8)

Hình 8: Phối trộn thức ăn với chất bổ sung và cho lươn ăn

7 Chăm sóc quản lý

*Quản lý thức ăn:

Trang 11

- Sau khi cho lươn ăn khoảng 2 - 3 giờ, nên kiểm tra xem lượng thức ăn thừa hay thiếu để điều chỉnh ở những lần cho

ăn tiếp theo; tránh thức ăn thừa gây lãng phí và gây ô nhiễm nguồn nước

- Định kỳ khoảng 20 - 30 ngày, kiểm tra tốc độ tăng trưởng của lươn, xác định khối lượng lươn trong bể nuôi để điều chỉnh phù hợp lượng thức ăn cho lươn

*Quản lý nước:

- Hàng ngày cần thay 100% lượng nước trong bể nuôi bằng nguồn nước đã xử lý ở bể chứa; thay nước thường được thực hiện sau khi cho lươn ăn khoảng 1 - 2 giờ vào lúc thời tiết mát mẻ để hạn chế gây sốc cho lươn do chênh lệnh nhiệt

độ

- Khi thay nước cần chú ý kiểm tra các yếu tố môi trường nước, nhất là nhiệt độ và pH của nước cấp thay phải khá tương đồng với nước trong bể nuôi

- Khi cấp nước vào bể nuôi, cần thận trọng không nên để vòi nước phun trực tiếp vào cơ thể lươn

- Duy trì mực nước trong bể nuôi khoảng từ 20 - 35 cm tùy theo giai đoạn phát triển của lươn và đảm bảo mực nước phải ngập các giá thể trú ẩn

* Quản lý sức khỏe, giá thể:

- Thường xuyên vệ sinh bể nuôi, tránh để cặn bã tích tụ nhiều trong bể; tránh để bể nuôi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng có cường độ chiếu sáng cao làm tăng nhiệt độ nước bể

nuôi và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của lươn

- Sau khoảng 2 tháng nuôi, tiến hành phân cỡ tách lươn lớn, nhỏ nuôi riêng nhằm tránh cho lươn bị tổn thương do tranh thức ăn hoặc ăn lẫn nhau

- Khi nhiệt độ giảm xuống cần phải che chắn bể nuôi

Trang 12

8 Thu hoạch

- Sau khoảng thời gian nuôi từ 10 - 12 tháng, lươn đạt trọng lượng từ 200 - 300 gram/con có thể thu hoạch

- Ngưng cho lươn ăn trước khi thu hoạch 1 ngày; dùng vợt để xúc lươn thu hoạch, hạn chế gây sây sát cho lươn khi thu hoạch

- Tùy theo điều kiện nông hộ, lươn nuôi có thể được thu hoạch toàn bộ 1 lần khi lươn đạt cỡ thương phẩm hoặc thu tỉa lươn đạt kích cỡ lớn trước đem tiêu thụ

III Phòng, trị một số bệnh thường gặp ở lươn

1 Phòng bệnh cho lươn

- Định kỳ khoảng 10 - 15 ngày, dùng củ tỏi xay nhuyễn trộn với thức ăn, cho lươn ăn 3 - 5 ngày liên tục, mỗi ngày 1 lần để phòng ngừa bênh đốm đỏ, xuất huyết, viêm ruột,… cho lươn, liều lượng trộn khoảng 3 - 5 gram tỏi/kg thức ăn

- Sau khi cho ăn từ 1 - 2 giờ thì phải kiểm tra thức

ăn để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp

- Khi thời tiết nóng k o dài phải có biện pháp che mát cho bể nuôi Thường xuyên theo dõi hoạt động của lươn, nếu thấy có dấu hiệu bất thường thì phải kiểm tra ngay để xử lý kịp thời

- Khoảng 10 -15 ngày bắt lươn lên cân đo ước tính trọng lượng để tính toán lượng thức ăn cho phù hợp

- Định kỳ dùng men tiêu hóa để chống stress, tăng cường sức đề kháng cho lươn, giúp lươn tăng trọng tốt

- Định kỳ 15 ngày sử dụng vôi nông nghiệp với liều lượng 5 - 7 g/1m3

nước, để xử lý nước và phòng bệnh cho lươn

Trang 13

2 Một số bệnh thường gặp ở lươn

2.1 Bệnh tuyến trùng (bệnh đường ruột)

- Nguyên nhân và triệu chứng bệnh:

+ Do ký sinh trùng đường ruột gây bệnh, tuyến trùng có màu trắng, chiều dài khoảng 1 cm; đầu tuyến trùng bám vào niêm mạc phá hoại mô, hình thành bào nang gây viêm ruột sưng đỏ

+ Khi tuyến trùng ký sinh với số lượng lớn trong ruột lươn, làm lươn bị suy yếu, hậu môn lươn bị sưng đỏ (hình 9), thân lươn chuyển màu nâu đen, hoạt động chậm chạp, tách đàn; phân lươn thường nổi trên mặt nước,… và lươn bị chết rải rác

- Cách phòng và trị bệnh:

+ Nên cho lươn ăn bằng thức ăn công nghiệp, nếu dùng thức ăn tự chế biến từ các nguyên liệu như cá t p tạp, ốc,… cần phải được rửa sạch, nấu chín; không dùng thức ăn công nghiệp bị ẩm mốc để cho lươn ăn

+ Vệ sinh bể nuôi thường xuyên, không để cặn bã, chất thải lắng trong bể nuôi

+ Định kỳ (2 tháng) nên trộn ruột cau xay nhuyễn với thức ăn (1 gram ruột cau + 1,5 kg thức ăn) cho lươn ăn liên tục 3 - 5 ngày, có tác dụng trị bệnh tuyến trùng lươn

+ Ngoài ra, có thể dùng thuốc thủy sản FLU-COLENRO đặc trị nội ký sinh trùng của để trộn vào thức ăn cho lươn ăn với liều lượng và cách thức cho ăn theo như hướng dẫn của nhà sản xuất (ghi trên bao bì sản phẩm)

2.2 Bệnh nhiễm trùng huyết (Bệnh đốm đỏ)

- Nguyên nhân và triệu chứng bệnh:

+ Nhiễm trùng huyết (hình 9) ở lươn chủ yếu do vi khuẩn (Aeromonas spp) gây ra; do môi trường nuôi bị ô

Trang 14

Hình 9: Bệnh nhiễm trùng huyết và bệnh tuyến trùng ở lươn

+ Lươn bị nhiễm bệnh thường có một số biểu hiện như:

da sẫm màu từng vùng ở bụng, xuất hiện các mảng màu đỏ

và cá khối u trên bề mặt cơ thể; đuôi lươn bị hoại tử; mắt lươn bị đục và phù nề; nội tạng lươn bị xuất huyết và hoại tử, xoang bụng chứa dịch màu vàng

+ Lươn bị nhiễm bệnh thường bỏ ăn, bơi lội chậm chạp

và lờ đờ trên mặt nước

- Cách phòng và trị bệnh:

+ Tránh xây xát hoặc bị sốc do môi trường thay đổi… + Môi trường phải đảm bảo tốt cho lươn trong suốt quá trình nuôi; bổ sung vitamine C, men vi sinh vào thức ăn cho lươn theo định kỳ

+ Dùng một số loại thảo mộc (thuốc Nam) có tác dụng diệt khuẩn, trộn với thức ăn cho lươn ăn liên tục 5 - 7 ngày

để điều trị bệnh nhiễm khuẩn máu như: dùng 10 gram cây cỏ mực hoặc cây sài đất (hình 10),… tươi giã lấy nước trộn với

1 kg thức ăn cho lươn

- Cây thảo mộc có thể dùng cho lươn ăn định kỳ trong quá trình nuôi cũng có tác dụng phòng ngừa bệnh cho lươn

Ngày đăng: 28/12/2023, 19:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Lươn đồng (Monopterus albus Zuiew, 1793) - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 1 Lươn đồng (Monopterus albus Zuiew, 1793) (Trang 2)
Hình 2: Bể xây gạch - xi măng nuôi lươn - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 2 Bể xây gạch - xi măng nuôi lươn (Trang 5)
Hình 3: Bể lót bạt nuôi lươn - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 3 Bể lót bạt nuôi lươn (Trang 5)
Hình 4: Lắp đặt ống cấp, thoát nước bể nuôi - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 4 Lắp đặt ống cấp, thoát nước bể nuôi (Trang 6)
Hình 5: Bố trí các vỉ sạp và chùm dây nilon trong bể - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 5 Bố trí các vỉ sạp và chùm dây nilon trong bể (Trang 7)
Hình 6: Bể chứa (lắng) và xử lý nước - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 6 Bể chứa (lắng) và xử lý nước (Trang 8)
Hình 7: Thả giống lươn nuôi - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 7 Thả giống lươn nuôi (Trang 9)
Hình 8: Phối trộn thức ăn với chất bổ sung và cho lươn ăn - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 8 Phối trộn thức ăn với chất bổ sung và cho lươn ăn (Trang 10)
Hình 9: Bệnh nhiễm trùng huyết và bệnh tuyến trùng ở lươn - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 9 Bệnh nhiễm trùng huyết và bệnh tuyến trùng ở lươn (Trang 14)
Hình 10: Cây thảo mộc trị bệnh do vi khuẩn - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 10 Cây thảo mộc trị bệnh do vi khuẩn (Trang 15)
Hình 11: Động vật ngoại ký sinh ở lươn và lá xoan - Kỹ thuật nuôi lươn không bùn
Hình 11 Động vật ngoại ký sinh ở lươn và lá xoan (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w