1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà b thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội phạm nào theo phân loại tội phạm tại điều 9 BLHS

12 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội Trộm Cắp Tài Sản Và Tội Giết Người Mà B Thực Hiện Trong Tình Huống Nêu Trên Thuộc Loại Tội Phạm Nào Theo Phân Loại Tội Phạm Tại Điều 9 BLHS
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại bài tập
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 840,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội phạm nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS?. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm

Trang 1

BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: LUẬT HÌNH SỰ 1

ĐỀ BÀI SỐ: 02

HỌ VÀ TÊN : NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

Trang 3

Đề bài số 2:

A (20 tuổi), B (17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm công lực phá khóa vào nhà C lấy tài sản Khi B dắt chiếc xe máy của C ra đến giữa sân ( chiếc xe trị giá 30 triệu đồng), thì bị T (hàng xóm nhà C) phát hiện, bắt giữ B bỏ xe, lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy Do vết thương quá nặng, anh T đã tử vong Sau khi phạm tội, B bị bắt còn A bỏ trốn (công an chưa bắt được) B bị tòa án kết án về hai tội: tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS.

Câu hỏi:

1 Tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội phạm nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? (1,5 điểm)

2 Hình phạt cao nhất mà tòa án có thể áp dụng đối với B trong tình huống nêu trên? (2 điểm)

3 Giả sử B mới 15 tuổi thì B có phải chịu TNHS về tội giết người và tội trộm cắp tài sản trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (2 điểm)

4 A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (1.5 điểm)

Trang 4

BÀI LÀM:

Câu 1:

Theo khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015, các nhóm tội phạm được phân loại như sau:

1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do

Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Theo đó, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi dấu hiệu về nội dung (tính nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý (tính phải chịu phạt).

- Về tội trộm cắp tài sản:

Xét về mặt nội dung là xét về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Tính nguy hiểm cho xã hội nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ Tính nguy hiểm cho xã hội có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật Trong tình huống trên, B trộm cắp tài sản của C trị giá 30 triệu đồng Hành

vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS năm

2015 “Trộm cắp tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác

Trang 5

để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách lén lút” Khi nói đến trộm cắp tài sản thì không thể không đi kèm với hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu lén lút mà không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là trộm cắp Hành vi của B đã gây ra nguy hại cho xã hội, có tính chất cướp đoạt, xâm phạm đến quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, mà cụ thể là xâm hại quyền sở hữu tài sản của C.

Xét về mặt hậu quả pháp lí:

Căn cứ pháp lý: điểm a, điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS

Theo các căn cứ trên thì B sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự , cụ thể theo các điểm a “ phạm tội có tổ chức” từ hai người trở lên, A và B đã bàn bạc cùng nhau đi trộm cắp tài sản của anh C và điểm đ “hành hung để tẩu thoát”,

B chưa chiếm đoạt được tài sản thì bị T phát hiện, B đã dùng dao đâm vào ngực T nhằm tẩu thoát Theo đó mức phạt cao nhất của hành vi này là phạt tù

7 năm Vậy nên với hành vi này của B thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

- Về tội giết người:

Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm, hành vi của B có tính chất nghiêm trọng đặc biệt lớn Trong khi đang tẩu thoát thì B bị T (hàng xóm) của C phát hiện, khi đó B đã dùng hung khí là con dao thủ sẵn trong người ra đâm vào ngực anh T dễn đến việc anh T bị chết Hành vi của B là lỗi cố ý Việc làm của B đã gây nên hậu quả vô cùng nghiêm trọng, xâm hại đến quyền nhân thân của anh T (quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự

và nhân phẩm)

Xét về mặt hậu quả pháp lý:

Căn cứ pháp lý: khoản 2 Điều 123 BLHS 2015

2 Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì

bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

Trường hợp giết người của B không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 123, nên sẽ bị phạt tù từ 07 đến 15 năm, theo đó mức phạt cao nhất của hành vi này là phạt tù 15 năm Vậy nên, hành vi này của B thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

Trang 6

Câu 2:

Theo các căn cứ và tình tiết của vụ án, thì B đã phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điểm 173 và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS năm 2015.

Theo điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS 2015 quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội như sau:

1 Đối với hình phạt chính:

a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng

là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung, hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn.

Theo đó, về tội giết người, theo khoản 2 Điều 123 BLHS 2015, thì khung hình phạt cao nhất áp dụng cho B trong trường hợp này là phạt tù 15 năm Đối với tội trộm cắp tài sản, tội phạm được hoàn thành khi người phạm tội

đã chiếm đoạt được tài sản Trường hợp tài sản chiếm đoạt không phải là vật nhỏ gọn (trong tình huống trên là chiếc xe máy của anh C) thì thời điểm hoàn thành khi đã mang tài sản ra khỏi nơi bảo quản, nghĩa là khi B dắt chiếc xe máy của anh C ra giữa sân thì tức là đã đem nó ra khỏi nơi bảo quản, vì vậy B

đã trở thành tội phạm hoàn thành.

Về tội trộm cắp tài sản theo điểm a, điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS năm

2015, thì mức phạt cao nhất mà B phải chịu là phạt tù 07 năm.

Tổng hợp hình phạt cho hai tội trên thì mức phạt cao nhất mà B phải chịu là 22 năm tù.

Tuy nhiên, vì lúc thực hiện hành vi phạm tội, B chưa đủ 18 tuổi (mới

17 tuổi) nên theo khoản 1 Điều 101 BLHS 2015 có quy định về tù có thời hạn như sau:

Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội được quy định như sau:

1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì

Trang 7

mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Do đó, theo căn cứ trên thì B sẽ không bị áp dụng hình phạt là 22 năm

tù, mà chỉ phải chịu ba phần tư của mức phạt 22 năm tù là 16 năm 6 tháng tù Vậy hình phạt cao nhất mà Tòa án có thể áp dụng đối với B trong tình huống trên là 16 năm 6 tháng tù giam.

Câu 3:

Trong trường hợp trên, giả sử B mới 15 tuổi thì B chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, còn không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản Bởi theo khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 có quy định

về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170,

171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,

303 và 304 của Bộ luật này.

Theo như căn cứ trên, B thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng được quy định tại Điều 123 là tội giết người, do vậy B sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình

sự về tội này Tuy Điều 173 nói về tội trộm cắp tài sản cũng nằm trong Điều luật này, nhưng B chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi B thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà thôi Mà theo như tình huống trên, về tội trộm cắp tài sản B chỉ thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, không được quy định trong trong khoản này, chính vì vậy B sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS năm 2015.

Mức phạt tù mà B phải chịu nằm trong khoản 2 Điều 101 BLHS 2015:

Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù, nếu là tù có thời hạn thì mức

Trang 8

phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

B phạm tội giết người nằm trong khoản 2 Điều 123 BLHS năm 2015,

bị phạt tù từ 07 đến 15 năm Mức phạt cao nhất mà Toà án có thể áp dụng đối với B trong trường hợp này là 15 năm tù Tuy nhiên, trong trường hợp này B chỉ mới 15 tuổi, cho nên mức hình phạt áp dụng cho B nằm trong khoản 2 Điều 101, mức cao nhất được áp dụng cho B không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định, tức là không quá một phần hai mức 12 năm tù

mà B phải chịu Do đó, mức phạt cao nhất Tòa áp dụng cho B trong tình huống nêu trên là 7 năm 6 tháng tù giam.

Câu 4:

A không bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên, A chỉ là đồng phạm với B trong vụ trộm cắp tài sản của anh C Khoản 1 Điều 17 BLHS 2015 nêu lên khái niệm đồng phạm như sau:

“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.

Đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt thể hiện quy mô và tính chất nguy hiểm hơn của tội phạm như: tinh vi hơn, xảo quyệt hơn, táo bạo và liều lĩnh hơn có bàn bạc và lên kế hoạch hơn so với tội phạm riêng lẻ.

Người đồng phạm là người về mặt khách quan, phải có hành vi cùng thực hiện và về mặt chủ quan, phải cùng cố ý Chỉ những hành vi thỏa mãn đồng thời cả hai dấu hiệu đó mới được coi là hành vi đồng phạm.

- Về mặt khách quan:

Thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người và hai người này phải có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm, đó là điều kiện có năng lực trách nhiệm hình sự Trong tình huống trên, A và B đều đáp ứng được yêu cầu thứ nhất mà đồng phạm đặt ra, đó là có ít nhất hai người (A và B) và A (20 tuổi),

B (17 tuổi) đều có năng lực nhận thức đầy đủ, có năng lực hành vi và đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự,

Thứ hai, cùng thực hiện tội phạm có nghĩa, người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi: hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm và hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm Trong dấu hiệu thứ

Trang 9

hai này thì không hề có một trong bốn dấu hiệu nào thỏa mãn để A trở thành người đồng phạm với B về tội giết người Cụ thể như sau:

+ Hành vi thực hiện tội phạm, người có hành vi này gọi là người thực hành “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm” (khoản 3 Điều

17 BLHS) Trong trường hợp thứ nhất là trường hợp tự mình thực hiện hành

vi được mô tả trong cấu thành tội phạm Người phạm tội trong trường hợp này có thể sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội kể cả sử dụng cơ thể người khác hoặc con vật như là công cụ Trong vụ giết người, chỉ có B là người trực tiếp thực hiện việc giết người- đâm anh C dẫn đến tử vong, còn anh A không được coi là người thực hành- người trực tiếp thực hiện hành vi đâm anh C + Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm Người có hành vi này được gọi

là người tổ chức “Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc

thực hiện tội phạm” (khoản 3 Điều 17 BLHS) Trong tình huống trên, A chỉ là

người lên kế hoạch, phân công, giao trách nhiệm cho B vào nhà anh C trộm cắp tài sản còn A đứng bên ngoài canh chừng mà thôi, A không hề liên quan đến việc chủ mưu, cầm đầu hay chỉ huy B giết anh C.

+Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm Người có hành vi

này được gọi là người xúi giục “Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ,

thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm” (khoản 3 Điều 17 BLHS) Đặc điểm

chung của người xúi giục là tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác, khiến người này phạm tội Sự xúi giục có thể được thực hiện bằng các thủ đoạn khác nhau như kích động, cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ A không hề tác động lên tư tưởng hay ý chí của B để khiến B phạm tội giết người Điều này hoàn toàn nằm trong ý chí tư tưởng của B.

+Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm Người có hành vi

này được gọi là người giúp sức “Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh

thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm” (khoản 3 Điều 17 BLHS).

Giúp sức về vật chất có thể là cung cấp công cụ, phương tiện hoặc khắc phục những trở ngại đối với việc thực hiện tội phạm…Giúp sức về tinh thần như chỉ dẫn, góp ý cho việc chuẩn bị, việc thực hiện hoặc việc che giấu tội phạm,

A chỉ là người giúp sức cho B trong vụ trộm cắp tài sản, giúp sức về vật chất như cung cấp kìm để B phá khóa nhà, canh chừng cho B để B lấy được chiếc

xe một cách thuận tiện, dễ dàng hơn Còn về vụ giết người thì A hoàn toàn

Trang 10

không phải đồng phạm giúp sức cho B, ngay cả trong khi B đang thực hiện tội phạm- đâm anh C.

- Về mặt chủ quan:

Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý Về lí trí, A không biết trước được hậu quả thiệt hại mà

B gây ra là làm chết người Ngoài ra, đối với những tội có dấu hiệu mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, đồng phạm còn đòi hỏi những người cùng thực hiện phải có cùng mục đích phạm tội đó Nếu không thỏa mãn dấu hiệu cùng mục đích sã không có đồng phạm Trong trường hợp này, những người tham gia sẽ chịu TNHS độc lập với nhau Với tình huống trên, B đâm anh C nhằm mục đích tẩu thoát nhưng A đang canh cửa nên không biết chuyện đó, nên trong trường hợp này không có đồng phạm về tội giết người.

Như vậy, trong tình huống nêu trên đề bài, A không phải là đồng phạm với B về tội giết người.

Trang 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Giáo trình:

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Phần chung,

Nxb CAND, Hà Nội, 2019.

Sách:

1 Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm

2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần chung), Nxb Tư pháp, Hà Nội,

2017.

2 Trần Quang Tiệp, Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp,

Hà Nội

3 Nhiều tác giả, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Phần các tội phạm), Nxb Tư pháp, Hà Nội.

Văn bản quy phạm pháp luật:

Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngày đăng: 23/12/2023, 17:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w