1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội trộm cắp tài sản thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân huyện đam rông, tỉnh lâm đồng

54 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 4,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nền kinh tế phát triển thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta do Đảng lãnh đạo đã đạt được những thành quả to lớn, toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, Đảng ta chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được, vẫn còn những khuyết điểm, yếu kém và không ít vấn đề bức xúc nảy sinh chưa được giải quyết đó là sự tha hóa, biến chất về đạo đức, lối sống thực dụng và hưởng thụ của một bộ phận con người trong xã hội làm phát sinh tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đặc biệt là tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhiều vụ án có tính chất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Đặc biệt là tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu diễn ra ngày càng tinh vi, có nhiều vụ đối tượng phạm tội đã sử dụng những kiến thức mới về khoa học kỹ thuật để thực hiện hành vi phạm tội. Trộm cắp tài sản đây là vấn đề nhứt nhói của địa phương vì không những loại tội này thuyên giảm mà ngày càng gia tăng, diễn ra 1 cách thường xuyên, tinh vi. Đam Rông là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Lâm Đồng, có ranh giới phía đông và đông nam giáp huyện Lạc Dương; phía tây nam giáp huyện Lâm Hà; phía tây bắc giáp huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông; phía bắc và tây bắc giáp các huyện Lắk, tỉnh Đăk Lắk; phía đông bắc giáp huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk với ranh giới là sông Đạ M’rông (nhánh đầu nguồn của dòng sông Ea Krông Nô). Huyện Đam Rông có 08 đơn vị hành chính cấp xã: Đạ K’Nàng, Đạ Long, Đạ M’Rông Đạ Rsal, Đạ Tông, Liêng S’Rônh, Phi Liêng, Rô Men (huyện lỵ). Đam Rông là một huyện nghèo mới thành lập từ năm 2004, nhưng đã được Chính Phủ quan tâm đầu tư, diện mạo ngày càng đổi mới, đường giao thông đã được đầu tư thông thoáng, bên cạnh đó cũng có không ít khó khăn, điều kiện tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội có những diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức độ, được thể hiện ở tình hình tội phạm, trong đó có tình hình tội trộm cắp tài sản nói riêng và các nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung.

Trang 1

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trang 2

BLHS : Bộ luật hình sự

BLDS : Bộ luật dân sự

TAND : Tòa án nhân dân

TNHS : Trách nhiệm hình sự UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 3

Bảng 2.1 Danh sách các cán bộ, công chức hiện đang công tác tại Tòa án 19

Bảng 2.2 Các vụ xâm phạm sỡ hữu được ra xét xửgiai đoạn năm 2016 đến năm 2020 20

Bảng 2.3 So sánh giữa tội trộm cắp và các vụ án hình sự được đưa ra xét xử 22

Bảng 2.4 Cơ cấu tội trộm cắp tài sản 23

Bảng 2.5 Cơ cấu theo nhóm tuổi của tội trộm cắp 24

Bảng 2.6 Cơ cấu theo giới tính của tội trộm cắp tài sản 25

Bảng 2.7 Cơ cấu theo phạm tội lần đầu hoặc tái phạm của tội trộm cắp tài sản 26

Trang 4

Biểu đồ 2.1 Tổng số vụ xâm phạm sỡ hữu trên địa bàn huyện Đam Rông 21

Biểu đồ 2.2 So sánh giữa tội trộm cắp và các vụ án hình sự được đưa ra xét xử 22

Biểu đồ 2.3 Diễn biến của tội trộm cắp trên địa bàn huyện Đam Rông 23

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu theo nhóm tuổi của tội trộm cắp tài sản 25

Biểu đồ 2.5 Cơ cấu theo giới tính của tội trộm cắp tài sản 26

Biểu đồ 2.6 Cơ cấu theo phạm tội lần đầu hoặc tái phạm 27

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 4

7 Kết cấu của chuyên đề 4

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 5

1.1 Khái quát chung về tội trộm cắp tài sản 5

1.1.1 Một số khái niệm 5

1.1.2 Đặc điểm tội trộm cắp tài sản 8

1.1.3 Các yếu tố cấu thành tội phạm 9

1.1.4 Nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh 14

1.2 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản 16

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 17

Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG TỈNH LÂM ĐỒNG 18

2.1 Khái quát chung về địa phương và cơ quan thực tập 18

2.1.1 Huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 18

2.1.2 Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 18

2.2 Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 20

2.2.1 Tình hình xét xử tội trộm cắp tài sản 20

2.2.2 Một số vụ án cụ thể 27

2.2.3 Đánh giá thực tiến xét xử 30

2.3 Một số kiến nghị nâng cao chất lượng xét xử tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 33

KẾT LUẬN 34 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền kinh tế phát triển thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước

ta do Đảng lãnh đạo đã đạt được những thành quả to lớn, toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, hội nhập quốc

tế, Đảng ta chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được, vẫn còn những khuyết điểm, yếu kém và không ít vấn đề bức xúc nảy sinh chưa được giải quyết đó

là sự tha hóa, biến chất về đạo đức, lối sống thực dụng và hưởng thụ của một bộ phận con người trong xã hội làm phát sinh tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Đặc biệt là tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp, tính chất, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhiều vụ án có tính chất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.Đặc biệt là tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu diễn ra ngày càng tinh vi, có nhiều vụ đối tượng phạm tội đã sử dụng những kiến thức mới về khoa học kỹ thuật để thực hiện hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản đây là vấn đề nhứt nhói của địa phương vì không những loại tội này thuyên giảm mà ngày càng gia tăng, diễn ra 1 cách thường xuyên, tinh vi

Đam Rông là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Lâm Đồng, có ranh giới phía đông và đông nam giáp huyện Lạc Dương; phía tây nam giáp huyện Lâm Hà; phía tây bắc giáp huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông; phía bắc và tây bắc giáp các huyện Lắk, tỉnh Đăk Lắk; phía đông bắc giáp huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk với ranh giới là sông Đạ M’rông (nhánh đầu nguồn của dòng sông Ea Krông Nô) Huyện Đam Rông có 08 đơn vị hành chính cấp xã: Đạ K’Nàng, Đạ Long, Đạ M’Rông Đạ Rsal, Đạ Tông, Liêng S’Rônh, Phi Liêng, Rô Men (huyện lỵ) Đam Rông là một huyện nghèo mới thành lập từ năm 2004, nhưng đã được Chính Phủ quan tâm đầu tư, diện mạo ngày càng đổi mới, đường giao thông đã được đầu tư thông thoáng, bên cạnh đó cũng có không ít khó khăn, điều kiện tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội có những diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức

độ, được thể hiện ở tình hình tội phạm, trong đó có tình hình tội trộm cắp tài sản nói riêng và các nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung

Theo thống kê những vụ án hình sự đã xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng trong 5 năm qua (2016 đến 2020) tại huyện Đam Rông đã xảy ra 208 vụ phạm pháp hình sự với 288 bị cáo, trung bình mỗi năm xảy ra 14 vụ

và 16 bị cáo Trong đó, tội trộm cắp chiếm 20,1% trên tổng số vụ và 16,2% bị cáo chiếm ¼ tổng số tội phạm trên địa bàn huyện Đam Rông

Trang 7

Các vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày càng nhiều trên tất cả các địa bàn huyện, các lĩnh vực của đời sống xã hội và ngày càng diễn biến phức tạp, có những vụ trộm cắp gây thiệt hại rất lớn đến tài sản của công dân cho nên đã ảnh hưởng xấu đến trật

tự xã hội Theo số liệu thống kê những năm gần đây, tội phạm trộm cắp tài sản luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong các tội phạm nói chung và các tội xâm phạm sở hữu nói riêng Tình trạng tái phạm và tái phạm nguy hiểm của người phạm tội trộm cắp tài sản luôn chiếm số lượng lớn trong các vụ án được xét xử tại Tòa án Hiện tượng trên đặt ra cho các nhà hình sự học và tội phạm học một vấn đề cấp bách cần nghiên cứu làm rõ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm trộm cắp tài sản, từ đó định hướng và đề xuất biện pháp khả thi đấu tranh phòng chống tội phạm

Trước tình hình đó, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã có nhiều biện pháp phòng ngừa và đấu tranh với loại tội phạm này và đã đạt được một số kết quả Tuy vậy, tỷ

lệ phá án thành công các vụ trộm cắp tài sản còn rất hạn chế, mới chỉ đạt 70% đến 85% số vụ trộm cắp xảy ra, nên chưa đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

Hậu quả của tội phạm trộm cắp tài sản không chỉ là sự thiệt hại về tài sản mà

nó còn gây ra tâm lý hoang mang cho mọi người, cản trở sự phát triển của xã hội, nhất là trong lĩnh vực đầu tư và du lịch

Muốn đạt được mục tiêu phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước ta phải tiếp tục hoàn thiện hơn nữa các biện pháp để phòng ngừa, hạn chế các hành vi xâm phạm tài sản của người khác

Bởi những lẽ đó, việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án trộm cắp tài sản, qua đó tìm được các nguyên nhân của các tồn tại yếu kém và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản là vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay

Thực tiễn công tác đấu tranh, phòng chống và xử lý tội phạm cho thấy, nhờ sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan tố tụng và thực thi pháp luật, chất lượng hoạt động được nâng cao Số vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đam Rông đã được phát hiện chiếm tỷ lệ cao và được đưa ra cơ quan pháp luật xử lý nghiêm minh Song bên cạnh đó công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều hạn chế Nguyên nhân chính là do ý thức tự bảo vệ tài sản của mình và tham gia bảo vệ tài sản của người khác trong quần chúng nhân dân còn chưa cao, cơ quan pháp luật chưa đánh giá hết tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, việc áp dụng một số quy định của pháp luật còn chưa thống nhất, các cơ quan, đơn vị, tổ chức mặc dù có điều kiện về kinh tế nhưng công tác bảo vệ tài sản còn nhiều hạn chế, mất cảnh giác trong việc phòng chống tội

Trang 8

phạm, các đối tượng bị phạt tù sau khi chấp hành xong hình phạt tù để tái hòa nhập cộng đồng còn chưa được quản lý chặt chẽ, chưa được tạo điều kiện để hòa nhập cộng đồng và tạo công ăn việc làm, do đó số đối tượng này không có việc làm còn nhiều nên tỷ lệ tái phạm còn cao Xuất phát từ tình hình thực tế về sự gia tăng tội phạm tội trộm cắp trên địa bàn huyện trong những năm gần đây, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và nhận thấy cần phải nắm vững các quy định pháp luật, nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này để từ đó có những biện pháp phòng

chống có hiệu quả do đó nội dung của đề tài nghiên cứu là “Tội trộm cắp tài sản - thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng”

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những năm qua, nói chung có rất nhiều đề tài nghiên cứu đến các vấn đề các vụ án trộm cắp tài sản, từ đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đến các đề tài khoa học-xã hội, báo chí chuyên ngành, các hội thảo chuyên sâu, Bên cạnh đó có 1

số bài viết mang tính lý luận, học thuật đăng trên tạp chí của ngành như: “Luật hình

sự Việt Nam phần chung của tác giả Võ Khánh Vinh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014”; các tạp chí Kiểm sát, Tòa án như bài Định tội danh của PGS TSKH Lê Cảm (tạp chí Tòa án),tội phạm học Việt Nam; “sách trắng”về tình hình tội phạm ở Việt Nam năm 2015 của Viện kiểm Sát nhân dân tối cao Nhìn chung các đề tài

nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều phương diện khác nhau, từ khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai, tổ chức hoạt động và tiến hành các hoạt động điều tra của công tác điều tra các vụ án trộm cắp, tuy nhiên về công tác điều tra các vụ án trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Đam Rông chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt 1 cách toàn diện tội trộm cắp tài sản Qua đây em xin trình bày 1 số quan điểm dựa trên các công trình trình nghiên cứu và giáo trình lý luận chung của các nhà nghiên cứu góp phần hoàn thiện hơn những gì thiếu sót trong công tác điều tra, nghiên cứu Xong kế thừa những nội dung đã được tiếp cận từ các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đây để tìm ra nguyên nhân, điều kiện phát sinh loại tội phạm này, thực trạng xét xử trong thực tiễn, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xét xử và áp dụng đúng các quy định của pháp luật về tội trộm cắp tài sản

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích: Tìm hiểu rõ hơn về tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật

Hình sự Việt Nam năm 2015 Đưa ra một số kiến nghị nâng nhằm cao hiệu quả xét

xử Tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Trang 9

Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trên, đề tài xác định nhiệm vụ nghiên

cứu sau: Khái quát những vấn đề lý luận về Tội trộm cắp tài sản, nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành Đánh giá thực tiễn xét xử Tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

+ Thời gian: nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ năm 2016 đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, thống kê, so sánh để làm rõ các vẫn đề nghiên cứu

Ngoài ra trong đề tài còn vận dụng các phương pháp luận biện chứng để xem xét sự vật, hiện tượng trong sự ràng buộc lẫn nhau giữa chúng, trong sự vật động và phát triển không ngừng của chúng và phương pháp khác để là sáng tỏ một cách khoa học về vẫn đề liên quan đến tội trộm cắp tài sản – thực tiễn xét xử tại Tào án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Ý nghĩa khoa học: giúp hệ thống hóa những vẫn đề lý luận và pháp lý về tội trộm cắp tài sản

Giá trị ứng dụng: dùng làm tài liệu tham khảo trong thực tiễn áp dụng pháp luật trong công tác xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Ngoài ra góp phần nâng cao hiệu quả công tác của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án trộm cắp tài sản

7 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của chuyên đề gồm hai chương:

Chương 1: Khái quát về tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Việt Nam Chương 2: Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Trang 10

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về tội trộm cắp tài sản

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Tài sản

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) đã đưa ra định

nghĩa “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Điều luật này cũng phân loại “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”

Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải có những đặc điểm nhất định, đó phải là tài sản có chủ sở hữu hoặc đang có sự quản lý (phải nằm trong

sự quản lý của chủ sở hữu hoặc những người có trách nhiệm quản lý tài sản), phải được thể hiện dưới một dạng vật chất cụ thể, tồn tại hữu hình, có giá trị và giá trị sử dụng, có thể nhìn thấy được và dịch chuyển được, bao gồm1:

+ Là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức, Nhà nước

+ Là tài sản phải đang trong vòng kiểm soát của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, kể cả tài sản do chiếm hữu không hợp pháp như: tài sản do phạm tội mà có; tài sản có được do mua nhầm của kẻ gian…

+ Là tài sản có giá trị hoặc giá trị sử dụng

+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình

+ Tài sản là di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

+ Tài sản không phải là đối tượng tác động của tội “trộm cắp tài sản”

+ Quyền tài sản mặc dù trị giá được bằng tiền nhưng không phải là đối tượng tác động của tội “trộm cắp tài sản” do đây là một dạng tài sản vô hình, không nhìn thấy được, nó gắn liền với quyền nhân thân và cố định với một chủ thể cụ thể được pháp luật công nhận Do đó, nó không thể bị dịch chuyển trái phép, bị chiếm đoạt bởi người khác được

+ Tài sản là “bất động sản” cũng không phải là đối tượng tác động của tội

“trộm cắp tài sản” do nó có tính chất vật lý cố định, không thể dịch chuyển được như: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất… tuy nhiên, có một số động sản mà pháp luật dân sự quy định là bất động sản do công dụng của nó (tài sản gắn liền với đất, nhà, công trình xây dựng) như: cánh cửa gắn với ngôi nhà; cây cối trồng trên vườn… thì vẫn là đối tượng tác động của tội “trộm cắp tài sản”

1

Nguyễn Thị Thu Ba “ tội trộm cắp tài sản theo luật Hình sự Việt Nam” Luận văn thạc sĩ, Khoa luật- Đại học Quốc Gia Hà Nội

Trang 11

+ Những tài sản tuy là động sản, nhưng cũng không thuộc đối tượng tác động của tội “trộm cắp tài sản” như: Tài sản vô chủ (do đây loại tài sản mà chủ sở hữu từ

bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó, khi không xác định được chủ sở hữu thì không thể có căn cứ chứng minh có sự xâm phạm quyền sở hữu hay chiếm đoạt trái phép); + Tài sản bị rơi, bị bỏ quên, thất lạc (đây là những loại tài sản mà chủ sở hữu mất quyền trực tiếp nắm giữ, quản lý ngoài ý chí của mình)

+ Những tài sản không thuộc sở hữu của một chủ thể cụ thể và không có giá trị nếu không được khai thác, sử dụng như: nước biển, gió trời, không khí…

+ Những giấy tờ có giá trị nhưng không trực tiếp chuyển thành tiền được Ví

dụ như: Sổ tiết kiệm, hợp đồng mua bán, giấy nợ…

+ Tài sản thuộc các loại có tính chất và công dụng đặc biệt Ví dụ như: vũ khí quân dụng, ma túy, hàng cấm, máy bay, tàu thủy… Nếu người phạm tội trộm cắp những loại tài sản này thì tùy trường hợp cụ thể mà có thể phạm phải những tội phạm khác như: tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy, tội chiếm đoạt chất ma túy… + Theo BLDS năm 2015, bất động sản và động sản có thể là tài sản hình thành trong tương lai Đây cũng không phải đối tượng tác động của tội “trộm cắp tài sản”

do chưa có sự hiện hữu thực tế, không thể thực hiện hành vi chiếm đoán khi chưa có

sự tồn tại của tài sản, cũng không thể xác định chủ sở hữu đối với tài sản này Như vậy, để xác định tài sản là đối tượng tác động của tội “trộm cắp tài sản”, cơ quan tiến hành tố tụng bên cạnh việc nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan còn cần căn cứ vào các điều kiện cụ thể trong từng trường hợp Ví dụ: muốn xác định tài sản là di vật, cổ vật cần căn cứ vào các quy định của Luật Di sản văn hóa; việc xác định tài sản trộm cắp là phương tiện sống chính của người bị hại và gia đình thì tài sản đó phải là tài sản đặc biệt quan trọng, là chỗ dựa, phương tiện mưu sinh duy nhất của người bị hại và gia đình mà nếu mất đi tài sản đó thì người bị hại

và gia đình lâm vào tình trạng khó khăn

1.1.1.2 Tội trộm cắp tài sản

Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản

lí Trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác

Theo pháp luật hình sự hiện hành ở nước ta, khái niệm tội phạm được các nhà làm luật ghi nhận trong Điều 8 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi là BLHS năm 2015)

Theo đó, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc

Trang 12

phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự

Về mặt lý luận, giáo trình Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra định nghĩa của

khái niệm trộm cắp tài sản “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ” 2 Khái niệm đã miêu tả dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm, hành vi phạm tội là hành vi chiếm đoạt, việc chiếm đoạt được thực hiện lén lút, tài sản bị chiếm đoạt là tài sản đang thuộc sở hữu của chủ sở hữu Tuy nhiên, khái niệm không thể hiện rõ rệt một số dấu hiệu pháp lý khác của tội trộm cắp tài sản như dấu hiệu về lỗi của người phạm tội, dấu hiệu về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể tội phạm

Để đưa ra được khái niệm tội trộm cắp tài sản, trước hết cần khẳng định, tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo TSKH PGS Lê Cảm, phải thể hiện ba bình diện3: bình diện khách quan, bình diện pháp lý

và bình diện chủ quan; với năm dấu hiệu: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi

Dựa vào cơ sở phân tích các quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm tội trộm

cắp tài sản như sau: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm các quyền sở hữu được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật

Khái niệm tội trộm cắp tài sản trên đã xác định hành vi phạm tội của tội trộm cắp tài sản là hành vi lấy tài sản của người khác, người phạm tội thực hiện tội phạm với ý định lấy tài sản người khác làm tài sản của mình, hình thức chiếm đoạt của người phạm tội là lén lút (đây là dấu hiệu để phân biết tội trộm cắp tài sản với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác), xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của con người trong xã hội Các tội xâm phạm quyền sở hữu khác có thể có hành vi chiếm đoạt, nhưng sự chiếm đoạt xảy ra công khai như tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản hoặc chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khái niệm còn thể hiện: Người phạm tội phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm

Trang 13

hình sự thì không phải là tội phạm Khác với các tội xâm phạm quyền sở hữu với lỗi

vô ý, người phạm tội trộm cắp tài sản có lỗi cố ý khi thực hiện tội phạm, họ mong muốn chiếm lấy tài sản của người khác để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân hoặc gia đình

1.1.2 Đặc điểm tội trộm cắp tài sản

Thứ nhất tình hình tội trộm cắp tài sản trước hết là hiện tượng xã hội tiêu cực

Vì nó tồn tại trong xã hội, có nguồn gốc trong xã hội, có nội dung xã hội, có nguyên nhân trong xã hội và số phận của nó cũng mang tính xã hội Nó hình thành từ hành

vi lén lút, chiếm đoạt tài sản của người khác, do những người sống trong xã hội thực hiện và các hành vi đó được quy định trong BLHS, việc thực hiện hành vi đó là chống lại toàn bộ xã hội và được coi là tội trộm cắp tài sản

Thứ hai tình hình tội trộm cắp tài sản là một hiện tượng được thay đổi về mặt

lịch sử Với tính cách là một hiện tượng xã hội tình hình tội trộm cắp tài sản là một hiện tượng thay đổi về mặt lịch sử: nội dung, các dấu hiệu, đặc điểm của tình hình tội phạm được thay đổi tùy thuộc vào hình thái kinh tế xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác Sự thay đổi về mặt lịch sử của tình hình tội trộm cắp tài sản vừa thể hiện ở việc thay đổi của các dấu hiệu, các yếu tố cấu thành hiện tượng đó, vừa thể hiện ở số lượng hành vi bị coi là tội trộm cắp tài sản trong từng hình thái kinh tế

xã hội, trong từng giai đoạn phát triển nhất định của từng nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội

Thứ ba tình hình tội trộm cắp tài sản là một hiện tượng xã hội mang tính chất

giai cấp, tính giai cấp quyết định bản chất của hiện tượng xã hội đó Tính chất giai cấp của tình hình tội phạm nói chung thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện, ở các nguyên nhân nhất định, ở nội dung của các tội phạm cụ thể - các thực thể, tế bào cấu thành nên hiện tượng đó và cả số phận của nó trong tương lai Tình hình tội phạm xuất hiện cùng với sự ra đời của sở hữu tư nhân, sự phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng, với sự ra đời của nhà nước Mỗi giai cấp thống trị khác nhau đều quy định những nhóm hành vi phạm tội khác nhau và các biện pháp trừng trị hành vi đó cũng khác nhau, nhằm bảo vệ lợi ích giai cấp và sự thống trị của mình; tính chất giai cấp của tình hình tội phạm còn thể hiện ở việc nó xâm hại đến những quan hệ xã hội mà giai cấp thống trị bảo vệ, ở các nguyên nhân gốc rễ phát sinh ra nó

Thứ tư tình hình tội trộm cắp tài sản là một hiện tượng pháp lý hình sự và là

một hiện tượng tiêu cực gây nguy hiểm lớn cho xã hội Qua nghiên cứu Điều 8 BLHS năm 2015 đã nêu rõ khái niệm tội phạm theo quy định của BLHS, như vậy tội phạm không chỉ là hành vi gây nguy hại cho xã hội mà còn là hành vi trái pháp luật hình sự, tức là bị các đạo luật hình sự cấm bằng việc đe dọa áp dụng hình phạt

và tội trộm cắp tài sản không ngoại lệ, nó được BLHS quy định và có các hình phạt

Trang 14

cụ thể theo từng mức độ hành vi phạm tội Tình hình tội trộm cắp tài sản là một hiện tượng tiêu cực bởi lẽ nó gây ra thiệt hại cho các quan hệ tồn tại trong xã hội, xâm phạm đến các giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội đã có được Hậu quả những tác hại về mọi mặt do tình hình tội trộm cắp tài sản gây ra là một trong những đặc điểm không thể thiếu được của khái niệm tình hình tội trộm cắp tài sản

Thứ năm tình hình tội trộm cắp tài sản được hình thành trong tổng thể thống

nhất có những đặc điểm về chất và đặc điểm về lượng của nó Từ quan điểm thống

kê, tình hình tội trộm cắp tài sản là tổng số các hành vi phạm tội trộm cắp tài sản quy định trong BLHS được thực hiện trong xã hội Sự thống nhất biện chứng đó vẫn thể hiện ở mối quan hệ của nó với các tội phạm riêng lẻ

Thứ sáu tình hình tội trộm cắp tài sản với tính cách là một hiện tượng xã hội

tồn tại trong khoảng thời gian và trên địa bàn nhất định Phạm vi “xã hội nhất định” thể hiện quy mô rộng lớn của hiện tượng và được hiểu ở một Nhà nước (Quốc Gia) nhất định, nhỏ hơn là trên một địa bàn, địa phương nào đó Thuật ngữ ở khoảng thời gian nhất định thể hiện ở một giai đoạn phát triển nào đó Như vậy về mặt không gian và thời gian, khái niệm tình hình tội trộm cắp tài sản cũng được xác định bởi một địa hình và một khoảng thời gian nhất định: về không gian có thể nói tình hình tội trộm cắp tài sản trên một địa bàn một huyện, một tỉnh, một vùng nào đó4

1.1.3 Các yếu tố cấu thành tội phạm

1.1.3.1 Mặt khách thể của tội phạm

Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản Khi xâm phạm đến quyền chiếm hữu, tội trộm cắp tài sản đồng thời xâm phạm cả ba quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản, sự chiếm hữu của người chủ tài sản Các quyền sở hữu về tài sản được Nhà nước bảo hộ trên cơ sở quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và văn bản pháp luật khác

Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản: Theo lý luận về luật hình sự, để gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm người phạm tội phải tác động đến một hoặc nhiều bộ phận cấu thành nên khách thể của tội phạm Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của người chủ sở hữu Như vậy, đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là những tài sản cụ thể sau đây: Vật, tiền, giấy tờ có giá

Như vậy khách thể của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng tác động của tội phạm này là tài sản bao gồm vật, tiền và giấy tờ có giá

4 Lê Đình Hải “tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội”, luận văn thạc sĩ luật học, viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội)

Trang 15

1.1.3.2 Mặt khách quan của tội phạm

Đặc điểm nổi bật của tội “trộm cắp tài sản” là người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút (bí mật) Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình Trên thực tế, hành vi này là do chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản không thể thực hiện được các quyền năng (gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt hay quản lý) đối với tài sản của họ hoặc tài sản họ được giao quản lý Tính chất lén lút (bí mật) của hành vi trộm cắp tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội giấu diếm hành vi phạm tội của mình

Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, thì hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000.000 đồng, thì phải kèm theo một trong bốn điều kiện sau:

+ Đã bị sử phạm vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168,

169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này;

+ Chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ Như vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS, thì có sáu trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản sau đây:

+ Trường hợp thứ nhất, phạm tội trộm cắp tài sản do chiếm đoạt tài sản có giá

trị từ 2.000.000 đồng trở lên là phạm tội một lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản

có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên Theo quy định của BLHS, thì trường hợp trộm cắp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật này

Trường hợp một người thực hiện nhiều lần hành vi trộm cắp tài sản, nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị xâm phạm dưới 2.000.000 đồng và không thuộc để truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS), đồng thời các hành vi trộm cắp đó chưa có lần nào bị

xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính thì người thực hiện nhiều lần hành vi trộm cắp tài sản phải bị truy cứu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: các hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian; việc thực hiện các hành vi đó có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản do việc xâm phạm sở hữu là nguồn sống chính; với mục đích trộm cắp tài sản, nhưng do điều kiện hoàn cảnh khách quan nên việc trộm cắp tài sản phải thực hiện nhiều lần cho nên giá trị bị xâm phạm mỗi lần dưới 2.000.000 đồng Trong các

Trang 16

trường hợp nêu trên chỉ căn cứ vào các hành vi vi phạm nhiều lần, thì không áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS ( phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; phạm tội nhiều lần) quy định tại các điểm b và g khoản 1 Điều 52 BLHS

+ Trường hợp thứ hai, phạm tội trộm cắp tài sản do đã bị xử phạt vi phạm

hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm là trường hợp đã bị xử phạt hành chính về một hành vi chiếm đoạt tài sản sau đây, chưa hết thời hạn được coi là chưa

bị xử phạt vi phạm hành chính, nay là có hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng: cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

+ Trường hợp thứ ba, phạm tội trộm cắp tài sản do đã bị kết án về tội này hoặc

về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, là trường hợp một người sau khi bị kết án về một trong các tội phạm sau đây, chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng

+ Trường hợp thứ tư, phạm tội trộm cắp tài sản gây ảnh hưởng đến an ninh,

trật tự, an toàn xã hội là thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng gây ra ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

+ Trường hợp thứ năm, phạm tội trộm cắp tài sản do tài sản bị chiếm đoạt là

phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ là trường hợp trộm cắp tài sản nêu trên có trị giá dưới 2.000.000 đồng Khi áp dụng tình tiết này cần phải đánh giá ý nghĩa của đối tượng tác động của tội phạm đối với người bị hại và gia đình người bị hại trên phương diện giá trị kiếm sống của đối tượng tác động của tội phạm đối với người bị hại và gia đình họ

+ Trường hợp thứ sáu, phạm tội trộm cắp tài sản do di sản là di vật, cổ vật

Trong đó, di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học;

Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa khoa học và có từ một trăm năm tuổi trở lên

Các trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại một trong các điểm a, b, c, d và

đ khoản 1 Điều luật này, tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng

1.1.3.3 Mặt chủ thể của tội phạm

Không phải bất kỳ người nào cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự mà chỉ những có đủ các điều kiện để có thể trở thành chủ thể của tội phạm Các điều kiện

Trang 17

đó là: Có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt được một độ tuổi nhất định khi thực hiện hành vi phạm tội

Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho

xã hội và điều khiển được hành vi đó Người phạm tội trộm cắp tài sản khi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản người khác họ nhận thức được rằng hành vi của họ nằm ngoài chuẩn mực xã hội, trái pháp luật và sẽ bị xã hội lên án Họ cũng nhận thức được rằng tài sản bị chiếm đoạt là tài sản của người khác và thông qua hành vi phạm tội họ tuy có được tài sản nhất định nhưng cũng làm mất đi tài sản của người khác Khi thực hiện tội trộm cắp tài sản bằng hình thức đồng phạm, người phạm tội không những thấy hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, họ còn thấy hành vi của những đồng phạm khác cũng nguy hiểm cho xã hội và có quan hệ chặt chẽ với hành vi của họ, cùng góp phần gây thiệt hại cho chủ tài sản

Năng lực trách nhiệm hình sự của một người không thể có ngay khi người đó được sinh ra, cùng với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, sự giáo dục và tích lũy kinh nghiệm sống của mỗi người khi đạt đến độ tuổi nhất định, người ta mới có thể nhận thức được các đòi hỏi và chuẩn mực xã hội Khi đó họ mới có khả năng điều khiển hành động của mình theo chuẩn mực xã hội Chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 173 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên

có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định tại các khoản 3 và 4 Điều 173 BLHS

Điều 12 BLHS năm 2015 quy định:

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các Điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168,

169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,

303 và 304 của Bộ luật này

Như vậy, căn cứ theo Điều 8 và Điều 173 BLHS hành ta có thể xác định được rằng: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản Còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chỉ phải chịu TNHS về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 và khoản

4 Điều 173 BLHS

Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là chủ thể bình thường, nghĩa là bất kỳ ai đủ hai điều kiện của chủ thể nêu trên khi có hành vi trộm cắp tài sản đều trở thành chủ thể của tội này

Trang 18

1.1.3.4 Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm thể hiện diễn biến tâm lý của người phạm tội, được đặc trưng bằng dấu hiệu lỗi, động cơ và mục đích phạm tội

Lỗi của người phạm tội trộm cắp tài sản là lỗi cố ý và là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm Trong khoa học luật hình sự, lỗi cố ý được phân thành lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp Lỗi của người phạm tội trộm cắp tài sản là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu quả xảy ra Khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội biết rằng đang thực hiện hành động Nhà nước cấm làm và xã hội lên án Người phạm tội cũng nhận thức được về tình trạng sở hữu của tài sản, biết được rằng tài sản họ chiếm đoạt là tài sản của người khác, theo quy định của pháp luật hiện hành, họ phải có ý thức tôn trọng và không được xâm phạm

Động cơ và mục đích phạm tội tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội trộm cắp tài sản nhưng có mối quan hệ với lỗi Mục đích phạm tội được hiểu là cái mốc được đặt ra trong ý thức chủ quan của người phạm tội để cho hành vi phạm tội hướng tới Trước khi thực hiện hành vi khách quan, người phạm tội đã có sẵn trong

ý thức một mục đích hành động cụ thể, người phạm tội đã có sự hình dung về những hành vi mà mình sẽ thực hiện, hậu quả của hành vi và những mong muốn sẽ đạt được thông qua đó Hậu quả của hành vi phạm tội thông thường cũng phản ánh mục đích phạm tội Thông qua hành vi phạm tội, người phạm tội mong muốn có được tài sản của người khác để thỏa mãn những nhu cầu cá nhân của bản thân mình hoặc người thân thích

Trong khoa học luật hình sự, động cơ phạm tội được hiểu là động lực thúc đẩy người phạm tội hình thành ý định phạm tội cụ thể và thực hiện hành vi phạm tội Động cơ phạm tội trong tội trộm cắp tài sản tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc thuộc về mặt chủ quan nhưng có ý nghĩa quan trọng trong sự xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và phân hóa trách nhiệm hình sự người phạm tội Động cơ phạm tội của tội trộm cắp tài sản là tư lợi, người phạm tội trộm cắp tài sản khi thực hiện hành vi phạm tội bị thúc đẩy bởi mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác Tài sản chiếm đoạt sẽ thỏa mãn những nhu cầu chính của người phạm tội hoặc người khác mà người phạm tội quan tâm

Trong tội trộm cắp tài sản, các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan như lỗi, mục đích

và động cơ phạm tội có quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu như động cơ phạm tội là động lực thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội thì mục đích phạm tội được coi là cái đích cuối cùng của việc phạm tội Lỗi của người phạm tội là trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm và hậu quả của hành vi đó

Trang 19

trong suốt quá trình phạm tội Như mọi tội phạm cụ thể, tội trộm cắp tài sản là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan Các dấu hiệu khách quan của tội trộm cắp tài sản như hành vi phạm tội và hậu quả của nó có quan hệ chặt chẽ với các dấu hiệu về mặt chủ quan như lỗi cố ý và mục đích chiếm đoạt tài sản Tóm lại, về mặt chủ quan, tội trộm cắp tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái phép và mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích của tội phạm là chiếm đoạt tài sản của người khác

1.1.4 Nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh

Đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường tạo nền kinh tế phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân Bên cạnh những cơ hội, điều kiện để phát triển là những đe dọa tiềm ẩn mà nền kinh tế thị trường tạo ra đó là sự phân hóa giàu nghèo, xuống cấp của đạo đức, lối sống, chính

vì thế mà tạo ra nhiều mâu thuẫn và sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội Đây chính

là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hành vi phạm tội nói chung và hành vi trộm cắp tài sản nói riêng

Bên cạnh sự phát triển về kinh tế lại có sự xuất hiện của các tệ nạn xã hội như

ma túy, mại dâm, cờ bạc ngày càng gia tăng làm ảnh hưởng lớn đến tình hình, diễn biến, mức độ của tội phạm Nhiều nơi sử dụng nơi kinh doanh của mình để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tội phạm trộm cắp tài sản hoạt động trá hình dưới danh nghĩa các loại hình dịch vụ, lợi dụng nơi đông người để trộm cắp tài sản

Do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, trong xã hội tình hình tâm lý khát vọng làm giàu bằng mọi cách, kể cả trái pháp luật, trái với phong tục, tập quán, đạo đức của dân tộc Như vậy, mặt trái của cơ chế thị trường chính là ở chỗ nó không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực kinh tế - xã hội mà còn đe dọa đến nền văn hóa của đất nước Đó là sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức, ảnh hưởng đến tâm lý của đại bộ phận quần chúng

Trong xu thế đất nước mở cửa hội nhập chúng ta có điều kiện tiếp xúc với các nền văn hóa văn minh của thế giới, nhưng quan trọng khi tiếp thu với nhiều nền văn hóa thì chúng ta có chọn lọc được cái tốt, có bản lĩnh để vượt qua những cái xấu của

xã hội, đâu là cái cần cho chúng ta tiếp thu, tiếp nạp đâu là cái cần loại trừ nó là một trong những nguyên nhân làm cho lối sống đạo đức của nhân dân mà đặc biệt là thanh niên thế hệ trẻ

Bên cạnh sự xuống cấp về văn hóa thì sự tồn tại của giáo dục cũng là vấn đề cần phải được quan tâm, chú trọng

Trang 20

Tình hình giáo dục của gia đình không lành mạnh cũng là cái nôi của tội phạm, là nguồn gốc của sự hình thành nhân thân của con người, xây dựng những đặc điểm tính cách, sự định hướng của hành vi con người từ thời thơ trẻ, gia đình luôn luôn tác động trực tiếp đến con người Gia đình có sức mạnh ảnh hưởng tối đa

về mặt tình cảm, tâm tư, tư tưởng.Nhà trường cũng có tác động không nhỏ đến tâm

lý tội phạm, có những sai sót trong giáo dục của Nhà trường như thầy cô giáo dục không làm gương, chương trình đào tạo không phù hợp có tính chất nhồi nhét gây

áp lực cho học sinh làm học sinh nản tới trường lớp mà tụ tập bạn bè ăn chơi lêu lổng

Ngoài sự xuống cấp về văn hóa, giáo dục thì khi nhà nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, đánh dấu bước phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Đây cũng là lúc các chính sách quản lý của nhà nước thể hiện sơ hở, thiếu sót Cơ chế quản lý, chính sách pháp luật chưa có sự thay đổi để thích ứng với cơ chế thị trường Mặc dù hệ thống pháp luật đã có nhiều số lượng và thay đổi về chất lượng nhưng chưa đáp yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm của xã hội Thiếu tính ổn định, đồng bộ, trước ngưỡng cửa gia nhập luật đầy đủ để điều chỉnh mọi mặt của đời sống của xã hội, phục vụ cho quản lí kinh tế và xã hội để ngăn ngừa và hạn chế các sự gia tăng của các loại tội phạm

Mặt khác, chính pháp luật của nước ta còn thiếu tính thực tế, chưa có tính bao quát lâu dài mà chỉ thường chạy theo giải quyết các vấn đề bức xúc trước mắt Vai trò của các cơ quan cá nhân, tổ chức, cơ quan hành chính có nhiệm vụ quản lý còn hạn chế, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho các cấp, các ngành Công tác quản

lý ở nhiều ngành, nhiều cấp còn mang nặng tính hành chính, quan liêu xa rời với thực tiễn Tình hình trên đây là một trong những nguyên nhân và điều kiện thuận lợi cho tình trạng nói chung và tình hình tội trộm cắp tài sản nói riêng phát triển Việc nâng cao trách nhiệm cho cơ quan nhà nước và các tổ chức trong việc thiết lập chính sách pháp luật chặt chẽ và tất yếu

Việc thực thi pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng bị hạn chế là nguyên nhân và điều kiện cho tội trộm cắp tài sản ngày một gia tăng cũng như về số lượng

và quy mô, tính chất Công tác quản lý nhà nước vẫn còn nhiều tồn tại để người phạm tội trộm cắp tài sản lợi dụng trong quá trình gây án, tiêu thụ và trốn tránh pháp luật

Ngoài những nguyên nhân trên, tình hình tội trộm cắp tài sản gia tăng trên địa bàn huyện còn xuất phát từ chính nguyên nhân, điều kiện xét dưới góc độ tâm lý xã hội của cán bộ, công chức nhà nước Thói quen vô tổ chức kỷ luật, không tôn trọng

kỷ luật, trật tự, kỷ cương, lòng tham, thói ích kỉ, khát vọng làm giàu bằng mọi cách

kể cả vi phạm pháp luật

Trang 21

1.2 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Giống nhau:

+ Đều có khách thể của tội phạm là quan hệ sở hữu

+ Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích mong muốn chiếm giữ tài sản của người khác

Khác nhau:

Tội trộm cắp tài sản Tội công nhiên

chiếm đoạt tài sản

Cơ sở pháp lý Điều 173 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung

2017)

Điều 172 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) Hành vi

khách quan

của tội phạm

Thể hiện ở hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác

Là hành vi công khai, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản ngay trước sự chứng kiến của chủ tài sản

Khi có hành vi chiếm đoạt tài sản chủ tài sản vẫn nhận biết được có hành vi chiếm đoạt nhưng do họ không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình nên người phạm tội mới ngang nhiên chiếm đoạt tài sản mà không cần dùng bất kì thủ đoạn nào để đối phó với chủ tài sản

Chủ thể

Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 173 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ

14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản quy định tại các khoản 3 và 4 Điều 173 BLHS

Quy định tại các khoản 1,

2, 3 và 4 Điều 172 BLHS

là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

Trang 22

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu về khái quát chung tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Việt Nam Ta thấy rõ được khái niệm về tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự, tài sản trong trộm cắp tài sản được quy định trong Bộ luật Hình sự Các yếu tố cấu thành tội phạm, nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm Phân biệt được tội trộm cắp tài sản với công nhiên chiếm đoạt tài sản Qua đó ta thấy được các quy định của pháp luật về tội trộm cắp tài sản ngày càng có nhiều sự thay đổi bổ sung để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, cũng như tầm quan trọng về việc quy định tội trộm cắp tài sản theo hướng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này trên cơ sở bám sát vào điều kiện kinh tế xã hội của đất nước ta hiện nay

Và trước tình hình các tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và đặc biệt là tội trộm cắp tài sản nói riêng có xu hướng ngày càng gia tăng, trong đó tội trộm cắp tài sản đang có tính phổ biến cao và ngày càng diễn biến phức tạp và nguy hiểm, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân

Để có cái nhìn rõ hơn đối với tội trộm cắp tài sản tác giả đã đưa ra những lý luận, các quy định của pháp luật, dấu hiệu pháp lý, các quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản Tác giả đã phân tích về các yếu tố cấu thành tội phạm

và các quy định pháp luật của tội trộm cắp tài sản Qua đó nhận thức được sự phát

triển, hình thành các quy định pháp luật về tội trộm cắp tài sản

Trang 23

Chương 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG TỈNH LÂM ĐỒNG

2.1 Khái quát chung về địa phương và cơ quan thực tập

2.1.1 Huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Đam Rông5 là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Lâm Đồng, có ranh giới phía đông và đông nam giáp huyện Lạc Dương; phía tây nam giáp huyện Lâm Hà; phía tây bắc giáp huyện Đắk Glong, tỉnh Đăk Nông; phía bắc và tây bắc giáp các huyện Lắk, tỉnh Đăk Lắk; phía đông bắc giáp huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk với ranh giới là sông Đạ M’rông (nhánh đầu nguồn của dòng sông Ea Krông Nô) Huyện Đam Rông có 08 đơn vị hành chính cấp xã: Đạ K’Nàng, Đạ Long, Đạ M’Rông, Đạ Rsal, Đạ Tông, Liêng S’Rônh, Phi Liêng, Rô Men (huyện lỵ) Đam Rông nằm hướng tây bắc tỉnh Lâm Đồng, cách Đà Lạt 100 km theo hướng quốc lộ

27 đi Đắk Lắk

Huyện Đam Rông là huyện nghèo mới thành lập từ năm 2004 với tổng diện tích tự nhiên là 873,7 km², trong đó đa số là diện tích đất lâm nghiệp với 66.909 ha, chiếm 77,1% diện tích tự nhiên Đây là huyện nghèo, nằm trong số 62 huyện khó khăn của cả nước

Tổng dân số của toàn huyện đến nay là 12.010 hộ với 45.300 nhân khẩu, trong

đó hầu hết là người đồng bào dân tộc thiểu số với 8.787 hộ/35.018 nhân khẩu (chiếm 74,4% dân số của toàn huyện) chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên và một số đồng bào dân tộc thiểu số di cư từ các tỉnh Miền núi phía Bắc đến sinh sống, như: Tày, Nùng, Dao Mường, Thái, Hoa và H’Mông tạo nên cộng đồng với trên 20 thành phần dân tộc chung sống, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển

2.1.2 Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

Tòa án nhân dân (TAND) huyện Đam Rông có trụ sở đóng tại địa bàn thôn 1,

xã Rô Men, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Số điện thoại: 02633618016 Số Fax: 0633616262

Tòa án nhân dân huyện Đam Rông được thành lập từ ngày 30/12/2004, khi mới thành lập đơn vị Tòa án chỉ có 05 biên chế với 02 thẩm phán và 03 thư ký Trong đó có 01 Phó chánh án phụ trách

Về cơ sở vật chất: được sự quan tâm của cấp ủy chính quyền, địa phương và lãnh đạo TAND tối cao, đơn vị TAND huyện Đam Rông đã được cấp đất và xây dựng trụ sở Tòa án tương đối khang trang, bàn ghế trang thiết bị làm việc tương đối đầy đủ, đáp ứng được nhiệm vụ xét xử của đơn vị

5 Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90am_R%C3%B4ng

Trang 24

Theo biên chế phân bổ thì đơn vị đến năm 2020 thì TAND huyện Đam Rông

có 08 biên chế Trong đó biên chế Thẩm phán 05, biên chế thư ký 02, biên chế khác

01 Đến nay đơn vị TAND huyện Đam Rông mới được bổ nhiệm 03 thẩm phán, trong đó có 01 thẩm phán là chánh án, 03 biên chế thư ký, 01 biên chế kế toán và 03 cán bộ hợp đồng theo Nghị định 68 Như vậy theo biên chế được phân bổ thì TAND huyện Đam Rông còn thiếu 02 thẩm phán – Phó Chánh án

Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Trong số 07 biên chế thì có 01 đồng chí

có trình độ thạc sĩ luật, 05 đồng chí có trình độ cử nhân luật, 01 đồng chí có trình độ

(Nguồn: phòng nhân sự kế toán của Tòa án huyện Đam Rông)

Thành tích của cơ quan trong những năm qua:

- Năm 2015 đặt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc theo Quyết định số 05/QĐ – TATĐKT ngày 12/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao

- Năm 2016 đặt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc theo Quyết định số 04/QĐ- TANDTC- TATĐKT ngày 10/01/2017 của Tòa án nhân dân tối cao Được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tặng Bằng khen Theo Quyết định số 05/QĐ- TANDTC-HĐTĐKT ngày 10/01/2017 của Tòa án nhân dân tối cao

- Năm 2017 đặt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc theo Quyết định số 04/QĐ- TANDTC– TATĐKT ngày 04/01/2018 của Tòa án nhân dân tối cao

- Năm 2018 đặt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc theo Quyết định số 02/QĐ- TANDTC– TATĐKT ngày 12/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao Được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tặng Bằng khen Theo Quyết định số 03/QĐ- TANDTC-HĐTĐKT ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao

Trang 25

2.2 Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

2.2.1 Tình hình xét xử tội trộm cắp tài sản

TAND huyện Đam Rông là một trong những đơn vị đóng trên địa bàn huyện nghèo trong số 62 huyện nghèo của cả nước, dân số có trên 75% là người đồng bào dân tộc, chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, điều kiện kinh tế xã hội khó khăn

Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp; Nguồn nhân lực của huyện còn nhiều hạn chế, thiếu về số lượng, kém về chất lượng Lực lượng cán bộ, kể cả cán bộ chủ chốt hầu hết được tăng cường từ tỉnh hoặc các huyện khác trong tỉnh; Lao động chủ yếu là nông nghiệp, tập quán canh tác lạc hậu, khó có điều kiện tiếp cận với kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới hiện nay Do đó, nhận thức pháp luật của người dân địa phương còn thấp Từ đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp khó kiểm soát Đặc biệt là khu vực xã Đạ Rsal do vị trí tiếp giáp với hai tỉnh là Đắk Lắk và Đắk Nông và là nơi giao thoa với đường quốc lộ 27 đi qua các tỉnh nên tội phạm về xâm phạm sở hữu diễn ra ngày càng nhiều, tệ nạn xã hội ngày càng tăng khó kiểm soát Đặc biệt là tội trộm cắp tài sản, buôn bán ma túy, đánh bạc,

Bảng 2.2 Các vụ xâm phạm sỡ hữu được ra xét xử

giai đoạn năm 2016 đến năm 2020

Số

vụ

Bị cáo

Số

vụ

Bị cáo

Số

vụ

Bị cáo

Số

vụ

Bị cáo

Số

vụ

Bị cáo Tội

Trang 26

Biểu đồ 2.1 Tổng số vụ xâm phạm sỡ hữu trên địa bàn huyện Đam Rông

Thông qua bảng khảo sát số liệu trên cho thấy, từ năm 2016 đến năm 2020, TAND huyện Đam Rông xét xử tổng cộng 118 vụ xâm phạm sở hữu

Tội trộm cắp tài sản chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các nhóm tội phạm, cụ thể là cụ thể Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã đưa ra xét xử 71 vụ với

81 bị cáo, tương ứng với tỷ lệ 77.5% trên tổng số vụ nói chung và chiếm 71,1% tổng số bị cáo

Số vụ cướp cắp tài sản chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm tội phạm, cụ thể là 13 vụ và

23 bị cáo với tội phạm này

Số vụ của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cưỡng đoạt tài sản chiếm tỷ lệ tương đối ngang bằng nhau trong tổng số vụ xâm phạm tới sỡ hữu tội cướp tài sản chiếm tỷ lệ 7.4% số vụ và 5,8% bị cáo còn tội cướp tài sản chiếm tỷ lệ 7.6% vụ và 7,8% bị cáo

Từ bảng số liệu trên cho thấy, tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đam Rông trong năm năm qua vẫn duy trì ở mức cao, mặc dù có chiều hướng giảm qua các năm nhưng không đáng kể, trung bình mỗi năm khoảng 14 vụ Điều này cho thấy công tác phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đam Rông còn gặp nhiều khó khăn

Biểu đồ tổng số vụ xâm phạm sỡ hữu trên địa bàn huyện

Đam Rông

tội trộm cắp tài sản tội cưỡng đoạt tài sản tội cướp tài sản tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 27

Bảng 2.3 So sánh giữa tội trộm cắp và các vụ án hình sự được đưa ra xét xử

Số

vụ

Bị cáo

Số

vụ

Bị cáo

Số

vụ

Bị cáo

Số

vụ

Bị cáo

Số

vụ

Bị cáo Tội

(Nguồn từ tk tòa án.gov.vn và tkv1.tòaán.gov.vn)

Biểu đồ 2.2 So sánh giữa tội trộm cắp và các vụ án hình sự được đưa ra xét xử

Từ bản số liệu trên cho thấy, tổng số vụ và bị cáo của tội trộm cắp tài sản nhiều và phức tạp chiếm tỷ lệ cao trong các vụ án hình sự chiếm 20,1% số vụ án trong tổng số các vụ án hình sự và 16,2% trong tổng số bị cáo Qua bản số liệu trên cho thấy tội trộm cắp tài sản xảy ra nhiều trong tổng số vụ án hình sự chiếm tỷ lệ lớn, diễn biến tình hình tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đam Rông tăng, giảm không đều qua các năm, có lúc gia tăng cả về số vụ, lẫn tính chất, mức độ phạm tội của các loại đối tượng, phương thức thủ đoạn thực hiện ngày càng tinh vi, táo bạo hơn và gây thiệt hại tài sản ngày càng lớn Nghiên cứu qua báo cáo của Tòa

án nhân dân huyện Đam Rông , tỉnh Lâm Đồng cho thấy: từ năm 2016 đến năm

2020, Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử sơ thẩm 71 vụ

và 81 bị cáo so với tổng số vụ và bị cáo của các vụ án hình sự thì rất lớn cho thấy

Biểu đồ giữa tội trộm cắp và các vụ án hình sự được đưa ra

xét xử

tội trộm cắp tài sản các tội hình sự khác

Ngày đăng: 08/02/2022, 19:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w