1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân thành phố kon tum, tỉnh kon tum

56 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Trúc Phương
Trường học Đại Học Đà Nẵng - Chi Nhánh Kon Tum
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Kon Tum
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM .... Đối với tình hình

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

TRẦN QUANG LẬP BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN

XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

Kon Tum, tháng 5 năm 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ THỰC TIỄN

XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN QUANG LẬP

MSSV : 1827380107010

Kon Tum, tháng 5 năm 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Là sinh viên năm cuối việc thực tập tốt nghiệp có vai trò hết sức quan trọng Khoảng thời gian thực tâp là cơ hội để chúng em tích lũy thêm nhiều hoạt động thực tiễn

bổ ích, vận dụng lí thuyết sách vở vào thực tiễn Đặc biệt là cho em những cái nhìn thực

tế và tổng quan hơn về công việc sau này, giúp em trang bị những kiến thức thực tiễn chuyên ngành, nâng cao về chuyên môn

Sẽ không có được kết quả đó nếu em không có được sự giúp đỡ, trợ giúp tâm lý tận tâm từ đội ngũ các thầy cô giáo trường phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum đã tạo điều kiện cho chúng em có khoảng thời gian thật sự bổ ích để thực tập thực tế Đặc biệt là

cô Nguyễn Thị Trúc Phương đã dành nhiều thời gian và công sức để hướng dẫn em hoàn thành báo cáo này Em xin gửi những lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa luật và

sư phạm - Trường phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum

Bên cạnh đó là sự giúp đỡ tận tâm của các cô chú, anh, chị tại Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum đã nhiệt tình chỉ bảo nhiều kĩ năng và cung cấp thông tin tài liệu giúp em hoàn thành bài báo cáo này

Trong quá trình thực tập, vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế nên trong bài báo cáo khó tránh khỏi sai sót Kính mong nhận được sự góp ý và nhận xét từ phía thầy cô để em có được những kinh nghiệm bổ ích và áp dụng thực hiện hiệu quả trong tương lai Cuối cùng em xin kính chúc ban lãnh đạo, quý thầy cô khoa luật, sư phạm - Trường phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum có nhiều sức khỏe và gặp nhiều thành công trong công việc

Kon Tum, ngày 15 tháng 5 năm 2022

Sinh viên

Trần Quang Lập

Trang 4

i

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC SƠ ĐỒ iv

DANH MỤC HÌNH ẢNH iv

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đính nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 1

5 Bố cục 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM 3

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 3

1.1.1 Giới thiệu về thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 3

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum……… 5

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC TÒA ÁN DÂN NHÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 7

1.2.1.Chức năng, nhiệm vụ của tòa án Nhân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 7

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 8

1.3 NỘI QUY TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 9

1.3.1 Nội quy đối với cán bộ tòa án khi tiếp dân 9

1.3.2 Nội quy đối với công dân đến khiếu nại, tố cáo 10

1.4 CÔNG VIỆC THỰC TẬP TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 10

1.4.1 Công việc thực tập 10

1.4.2 Những đóng góp qua quá trình thực tập 12

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 13

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 14

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI CẮP TÀI SẢN 14

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm về tội trộm cắp tài sản 14

2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 15

2.2 PHÂN BIỆT TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 18

2.2.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản 18

Trang 5

ii

2.2.2 Phân biệt tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản 19 2.2.3 Phân biệt tội trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản 20

2.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 20

2.3.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015 20 2.3.2 Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam (hiện hành 2015 về tội trộm cắp tài sản) 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34 CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 35 3.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 35

3.1.1 Tình hình phát sinh tội trộm cắp trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 35 3.1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội trộm cắp tài sản tại Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 35

3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM 38

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tội trộm cắp tài sản 38 3.2.2.Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trong quá trình xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 42

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 45 KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

BÁO CÁO CÔNG VIỆC HÀNG THÁNG

BẢNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN

GIẤY XÁC NHẬN CỦA KHOA VÀ GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 6

iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS Bộ Luật hình sự

UBND Ủy ban nhân dân

CĐTS Chiếm đoạt tài sản

Trang 7

iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức tòa án nhân dân thành phố Kon Tum 9 Bảng 2.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản 19 Bảng 3.1 Số liệu giải quyết án Trộm cắp tài sản trong tổng án Hình Sự

được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum các năm từ 2017 đến 2021

36

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dưới sự tác động của xu hướng thế giới, nước ta đang ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cũng từ đây nên kinh tế của nước ta đã phát lên một tầm cao mới, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Tuy nhiên bên cạnth sự phát triển đó thì ý thức con người lúc bấy giờ cũng phần nào bị suy thoái theo dòng thời gian, người ta chú trọng tiền bạc hơn, từ đó cũng là nguộn cội cho nhiều vụ trộm cắp tài sản xảy ra

Thực vậy, tội phạm ngày càng gia tăng về tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm

và ngày càng tinh vi hơn, trong đó các loại phạm tội như tội trộm cắp tài sản xảy ra nhiều nhất và nó xảy ra càng ngày càng phức tạp với nhiều hình thức khác nhau Đối với tình hình thực tế về sự gia tăng tội phạm trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum trong những năm gần đây tội trộm cắp tài sản, đã không ít gây ảnh hưởng xấu đến trật tự

an toàn xã hội, đã gây không ít khó khăn cho các cơ quan điều tra lúc bấy giờ, các nhà làm luật cũng bế tắc chưa tìm ra được những hướng mới cho pháp luật trộm cắp tài sản lúc bấy giờ Về phía Đảng và Chính quyền cũng đang tìm các biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng trộm cắp, nhưng số lượng vụ án giảm rất ít làm các nhà lãnh đạo vô cùng đau đầu

Nhận thấy cần phải tìm hiểu những quy định, hình phạt nắm vững các quy định pháp luật nguyên nhân, điều kiện của loại tội phạm này để có những biện pháp phòng

chống hiệu quả Vì vậy, em quyết định chọn đề tài “Tội trộm cắp tài sản và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum” làm đề tài nghiên

cứu cho báo cáo thực tập cuối khóa, nhằm góp phần tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử tại Tòa án, đồng thời đẩy lùi tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Kon Tum

2 Mục đính nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận, thực tiễn từ việc áp dụng pháp luật về tội trộm cắp tài sản trong quá trình xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum từ năm 2017 đến năm 2021, đề tài thể hiện rõ tình hình phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố, thực tiễn áp dụng của Tòa án thành phố, qua đó đưa ra được các biện pháp phòng ngừa tội phạm và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về tội trộm cắp tài sản của tòa án nhân dânthành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành qua thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

b Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu quy định Pháp luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản

và thực tiễn trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

2

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, tác giả đã sử dụng nhiều phương như: phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh và so sách pháp luật, phương pháp phân tích,

phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, …

5 Bố cục

Nội dung báo cáo gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum Chương 2: Một số vấn đề cơ bản và quy định pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định pháp về tội trộm cắp tài sản trong quá trình xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Trang 10

3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM,

TỈNH KON TUM 1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

1.1.1 Giới thiệu về thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

a Lịch sử hình thành

Theo truyền thuyết của dân tộc Bana, Kon Tum ban đầu chỉ là một làng của người Bana Thuở ấy, vùng đồng bào dân tộc Bana (nay thuộc thành phố Kon Tum) có làng người địa phương ở gần bên dòng sông Đăkbla với tên gọi Kon Trang - OR Lúc ấy, làng Kon Trang - OR rất thịnh vượng với dân số khá đông Bấy giờ, giữa các làng luôn gây chiến với nhau để chiếm đoạt của cải và bắt người về làm nô lệ Hai con trai của Ja Xi - một trong số những người đứng đầu làng Kon Trang - OR tên là Jơ Rông và Uông không thích cảnh chiến tranh đã làm nhà ở riêng gần chỗ có hồ nước, cạnh dòng Đăkbla Vùng đất này rất thuận lợi cho phương thức sống định cư, nên dần dần có nhiều người đến ở, mỗi ngày một phát triển thêm đông, lập thành làng mới có tên gọi là Kon Tum Từ đó, Kon Tum trở thành tên gọi chính thức cho một làng mới lập của người Bana, cạnh dòng Đăkbla, nơi có nhiều hồ nước trũng Theo tiếng Kinh, Kon Tum có nghĩa là Làng Hồ (Kon là làng, Tum là hồ, ao, bàu nước, )

Do vị trí đặc biệt, Kon Tum là vùng đất bằng, được dòng Đăkbla uốn quanh bồi đắp phù sa màu mỡ Trải qua những biến động, thăng trầm của lịch sử, vùng đất này có nhiều biến đổi, đồng bào các dân tộc tụ hội về đây ngày một đông Người Kinh khi đến Tây Nguyên cũng chọn vùng đất Kon Tum làm nơi định cư Từ đó, Kon Tum trở thành vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc

Phát huy những thuận lợi về điều kiện tự nhiên với sự cần cù lao động của con người, vùng đất Kon Tum ngày càng phát triển thịnh vượng, không chỉ một làng mà nhiều làng, bao quát cả vùng đất đai rộng lớn Vùng đất này khi thành lập thị xã cũng mang tên gọi chính thức là Kon Tum Khi đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập, Kon Tum vẫn chính thức được dùng làm tên gọi của tỉnh Đây là vùng địa lý hành chính được hình thành sớm nhất ở Tây Nguyên

b Vị trí địa lý thành phố Kon Tum

Thành phố Kon Tum nằm ở địa hình lòng chảo phía nam tỉnh Kon Tum, trên độ cao khoảng 525 m và được uốn quanh bởi thung lũng sông Đăk Bla, cách Thành phố Hồ Chí Minh 654 km về phía bắc, cách thành phố Đà Nẵng 292 km về phía nam, cách thủ đô Hà Nội 1.237 km về phía nam, cách thành phố Pleiku 50 km và cách thành phố Buôn Ma Thuột 229 km, có vị trí địa lý:

Phía tây giáp huyện Sa Thầy

Phía bắc giáp huyện Đăk Hà

Phía đông giáp huyện Kon Rẫy

Phía nam giáp huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai

Trang 11

4

Thành phố Kon Tum có diện tích 432,98 km², dân số năm 2019 là 168.264 người, trong đó dân số thành thị là 102.051 người chiếm 61% và dân số nông thôn là 66.213 người chiếm 39%, mật độ dân số đạt 389 người/km², Thành phố Kon Tum có 20 dân tộc cùng sinh sống

Hình 1.1 Vị trí thành phố Kon Tum

c Đơn vị hành chính thành phố Kon Tum

Thành phố Kon Tum có 21 đơn vị hành chính cấp xã gồm:

10 phường: Duy Tân, Lê Lợi, Ngô Mây, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất, Trần Hưng Đạo, Trường Chinh

11 xã: Chư Hreng, Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk Năng, Đắk Rơ Wa, Đoàn Kết, Hòa Bình, Ia Chim, Kroong, Ngọk Bay, Vinh Quang

Hình 1.2 Bản đồ hành chính thành phố Kon Tum

Trang 12

5

d Điều kiện tự nhiên

Địa hình Kon Tum chủ yếu là đồi núi, chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tỉnh, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía Bắc - Tây Bắc chạy sang phía Đông tỉnh Kon Tum, đa dạng với gò đồi, núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau khá phức tạp, tạo ra những cảnh quan phong phú,

đa dạng

Khí hậu Kon Tum có nét chung của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa của phía Nam Việt Nam, lại mang tính chất của khí hậu cao nguyên Khí hậu Kon Tum chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm dao động trong khoảng 22 - 23oC, biên độ nhiệt độ dao động trong ngày 8 - 9oC

Rừng Kon Tum phần lớn là rừng nguyên sinh có nhiều gỗ quý như cẩm lai, dáng hương, pơ mu, thông… Tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300 loài thực vật, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa Động vật nơi đây cũng rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim Thú

có 88 loài, 26 họ, 10 bộ, chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn

e Tình hình phát triển kinh tế

Kon Tum có nhiều cảnh quan tự nhiên như hồ Ya ly, rừng thông Măng Đen, khu bãi

đá thiên nhiên Km 23, thác Đắk Nung, suối nước nóng Đắk Tô và các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên… có khả năng hình thành các khu du lịch cảnh quan, an dưỡng Các cảnh quan sinh thái này có thể kết hợp với các di tích lịch sử cách mạng như: di tích cách mạng ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei, di tích chiến thắng Đắk Tô - Tân Cảnh, chiến thắng Plei Kần, chiến thắng Măng Đen… các làng văn hoá truyền thống bản địa tạo thành các cung, tuyến du lịch sinh thái - nhân văn

Kon Tum có tiềm năng về thuỷ điện vào loại lớn nhất cả nước (2.790 MW) Ngoài các công trình thuỷ điện đã và đang xây dựng Kon Tum còn có thể xây dựng các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ Hiện nay, có rất nhiều nhà đầu tư đang điều tra, khảo sát các công trình thuỷ điện trên địa bàn Với việc đầu tư các công trình thuỷ điện hiện nay, trong tương lai, Kon Tum có thể sẽ là một trung tâm điều phối nguồn điện quan trọng của cả nước thông qua đường dây 500 KV

Bên cạnh đó, Kon Tum có diện tích nông nghiệp và có khả năng nông - lâm nghiệp bình quân vào loại cao so với cả nước, đất đai địa hình sinh thái đa dạng, có khả năng hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp rộng lớn, nhất là cây nguyên liệu giấy… Kon Tum còn là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên mang nét nguyên sơ, các khu rừng nguyên sinh, di tích đường mòn Hồ Chí Minh, di tích lịch sử chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh, ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei,… đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch

Trang 13

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Luật tổ chức Tòa án năm 2014 đã xác định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của Tòa án

“Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.” Về tổ chức, theo quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức Tòa án 2014 thì Hệ thống Tòa án có: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự Như vậy, Tòa án là một thiết chế quan trọng trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, được tổ chức theo các cấp; với quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 thì vị thế của Tòa án đã được khẳng định cụ thể hơn, quyền tư pháp đồng nghĩa với quyền xét xử của Tòa án, điều này có ý nghĩa là Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp pháp lý xảy ra trong xã hội

Trong những năm qua, hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Kon Tum đã thụ lý, giải quyết xét xử án đạt chỉ tiêu thi đua đề ra; tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan dưới mức quy định của Tòa án nhân dân tối cao Số lượng án của Tòa án nhân dân hai hai cấp giải quyết ngày càng tăng, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, nhất là các tội phạm về ma túy, về quản lý và bảo vệ rừng… hết sức phức tạp và tinh vi hơn Các tranh chấp dân sự, đặc biệt là tranh chấp về quyền sử dụng đất, về vay nợ do giấy tờ không đầy

đủ, thủ tục khi giao dịch không chặt chẽ Án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp hơn Các vụ án hành chính liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc đến cơ quan chính quyền các cấp đặc biệt trong đó có đơn vị TAND thành phố Kon Tum đã 02 lần được tặng cờ thi đua Tòa án nhân dân

Tòa án nhân dân Thành phố Kon Tum là Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm những vụ việc dân sự, hình sự, hành chính diễn ra trên địa bàn thành phố Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn về đội ngũ cán bộ, công chức cũng như điều

Trang 14

7

kiện phương tiện làm việc nhưng trong những năm qua, Tòa án nhân dân Thành phố Kon Tum đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao nhằm giữ vững an ninh, ổn định tình hình chính trị trên địa bàn Thành phố Kon Tum

Hiện nay, trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Kon Tum được đặt tại địa chỉ: Số 44

Bà Triệu, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Bộ phận tiếp công dân của Tòa án nhân dân Thành phố Kon Tum làm việc giờ hành chính các ngày trong tuần, trừ thứ 7, chủ nhật, nghỉ Lễ, nghỉ Tết Người dân liên hệ làm việc trong khung giờ như sau:

 Buổi sáng: từ 7h30 đến 11h30;

 Buổi chiều: từ 13h30 đến 17h

1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC TÒA ÁN DÂN NHÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

1.2.1.Chức năng, nhiệm vụ của tòa án Nhân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Căn cứ theo quy định tại Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014 có quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án rất cụ thể và rõ ràng, theo quy định của luật này thì cũng phân định ra thẩm quyền của Tòa án các cấp có sự phân cấp rõ rệt

Thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 quy định chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án nhân dân như sau:

1 Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác

2 Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành

3 Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án có quyền:

a) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án;

Trang 15

8

b) Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do Luật sư, bị can, Tội phạm và những người tham gia tố tụng khác cung cấp;

c) Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

d) Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn

đề có liên quan đến vụ án tại phiên Tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm;

e) Ra quyết định để thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

4 Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng

5 Xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật

6 Ra quyết định thi hành bản án hình sự, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật hình sự, Luật thi hành án hình sự, Luật thi hành án dân

sự Ra quyết định hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính

do Tòa án áp dụng và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính

7 Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án

8 Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử

9 Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của luật

1.2.2 Cơ cấu tổ chức của tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum

Theo quy định của luật tổ chức Tòa án 2014, Luật số 62/2014/QH13 thì Toà án nhân dân thành phố Kon Tum có cơ cấu tổ chức gồm 17 đồng chí: trong đó gồm 01 đồng chí Chánh án, 01 đồng chí Phó Chánh án; 05 đồng chí Thẩm phán; 01 đồng chí chánh văn phòng; 01 đồng chí thẩm tra viên; 05 đồng chí Thư ký; 01 đồng chí kế toán; 01 đồng chí lái xe; 01 đồng chí bảo vệ; 2 đồng chí tạp vụ

Trang 16

9

Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức Toà án nhân dân thành phố Kon Tum

Bảng 1.1 Cơ cấu tổ chức tòa án nhân dân thành phố Kon Tum

12 Nguyễn Thị hương Duyên Thư ký

1.3 NỘI QUY TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

1.3.1 Nội quy đối với cán bộ tòa án khi tiếp dân

Trong quá trình tiếp dân cán bộ tòa án phải tuân thủ các quy định sau:

Trang 17

10

1 Khi tiếp dân phải ăn mặc gọn gàng, tự giới thiệu tên chức vụ của mình để được người tiếp biết

2 Người được giao trách nhiệm tiếp dân phải có thái độ lịch thiệp, hướng dẫn cho

họ vào phòng tiếp dân

3 Phải lắng nghe, ghi chép vào sổ theo dõi tiếp dân đầy đủ nội dung mà công dân trình bày Nếu là đơn thư kiếu nại tố cáo gửi qua đường bưu điện thì phải ghi rõ ngày mà Tòa án nhận được Không gây phiền hà, sách nhiễu đối với công dân đến khiếu nại, tố cáo

4 Khi tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo cán bộ tiếp dân phải xem xét nội dung kiếu nại, tố cáo

+ Nếu khiếu nại có căn cứ, đúng thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố giải quyết thì phải tiếp nhận đơn, tài liệu, giấy tờ có liên quan, báo cáo lãnh đạo cơ quan quyết định hoặc có thể trả lời trực tiếp cho công dân

+ Nếu thấy việc khiếu nại không thuộc thẩm quyền của Tòa án thì hướng dẫn công dân đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết

+ Việc khiếu nại đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét có văn bản quyết định giải quyết đúng chính sách pháp luật thì trả lời rõ và yêu cầu công dân chấp hành

+ Đối với công dân đến tố cáo, cần phải đảm bảo bí mật cho người tố cáo, không tiết lộ nội dung tố cáo hoặc chuyển đơn tố cáo, bản ghi lời tố cáo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân người bị tố cáo

+ Nếu công dân tố cáo trình bày trực tiếp thì phải ghi rõ nội dung tố cáo, họ tên, địa chỉ của công dân và người bị tố cáo Nếu công dân cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tố cáo thì phải biên nhận và bảo quản chu đáo

+ Phải ghi đầy đủ nội dung tố cáo, ghi lời tố cáo phải cho công dân đọc lại, nghe lại, yêu cầu cùng ký xác nhận

1.3.2 Nội quy đối với công dân đến khiếu nại, tố cáo

Khi đến tòa án khiếu nại, tố cáo, công dân cần tuân thủ các quy định sau:

1 Phải xuất trình giấy tờ tùy thân Tuân thủ nội quy tiếp công dân và thực hiện theo

sự hướng dẫn của cán bộ tiếp dân

2 Trình bày trung thực sự việc, cung cấp tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại,

tố cáo của mình và ký xác nhận vào nội dung đã trình bày Được nghe hướng dẫn, giải thích về thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo (Theo luật khiếu nại tố cáo)

3 Trường hợp nhiều công dân đến khiếu nại, tố cáo cùng một nội dung thì phải cử đại diện để trình bày với cán bộ tiếp dân

4 Được khiếu nại tố cáo về những hành vi sai trái cản trở, gây phiền hà, sách nhiễu của người tiếp dân

1.4 CÔNG VIỆC THỰC TẬP TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM

1.4.1 Công việc thực tập

Trang 18

11

Một số công việc mà tác giả được đơn vị và cán bộ hướng dẫn giao nhiêm vụ và công việc như sau:

01 - Nghiên cứu “luật hòa giải, đối thoại tại tòa án”

02 - Tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho Viện kiểm sát, Thi hành án, Công an

- Lập bảng kê, đóng dấu bút lục các loại hồ sơ

- Đóng gáy hồ sơ các loại hồ sơ vụ án Dân sự, Hình sự, Hôn nhân gia đình

03 - Tham gia phiên Tòa, lắng nghe và ghi chép lại nội dung diễn biến tại phiên Tòa xét xử Dân sự sơ thẩm, Hình sự sơ thẩm

04 - Ghi chép lại các công văn đến, công văn đi

05 - Soạn thảo thông báo về việc thụ lý dưới sự hướng dẫn của cán bộ hướng được cán bộ hướng dẫn ghi nhận

06 - Thông báo giấy triệu tập đến các đương sự

07 - Hướng dẫn các đương sự viết đơn khởi kiện theo đúng hình thức đơn khởi kiện được cán bộ hướng dẫn ghi nhận

08 - Nghiên cứu các bộ hồ sơ Dân sự, Hình sự, Hôn nhân gia đình, tại cơ quan và

đề ra hướng giải quyết được cán bộ hướng dẫn ghi nhận

Qua quá trình thực tập tại cơ quan Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, thì trong những thời gian đầu của tác giả còn bỡ ngỡ với công việc, cách thức làm việc của mọi người trong cơ quan Ban đầu còn thiếu kinh nghiệm trong thực hiện công việc mà cán bộ hướng dẫn giao cho Tuy đã được cán bộ hướng dẫn chỉ dạy nhưng trong lúc thực hiện một số công việc như: Sắp xếp hồ sơ; Đóng gáy hồ sơ các loại vụ án Dân sự, Hình sự, Hôn nhân gia đình, Hồ sơ thi hành án; Lập bảng kê, đóng dấu bút lục, đánh số bút lục Tác giả đã mắc lỗi như đánh số bút lục bộ hồ sơ, vì tác giả đã không kiểm tra kỹ càng các tài liệu trong bộ hồ sơ (có một số tài liệu nhỏ được kẹp vào bên trong tài liệu lớn của bộ

hồ sơ) Trong lúc đấy tác giả đã báo cáo lại với cán bộ hướng dẫn và cán bộ hướng dẫn

đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn cho tác giả biện pháp khắc phục đối với lỗi đó Qua lần

đó thì tác giả đã chú ý và cẩn thận hơn với công việc được giao

Sau một thời gian tác giả học hỏi và nhờ có sự hướng dẫn nhiệt tình của các cán bộ trong cơ quan và cán bộ hướng dẫn thì tác giả đã dường như thực hiện thành thạo những công việc được giao Nhờ đó tác giả có sự tin tưởng từ cán bộ hướng dẫn và mọi người trong cơ quan, và dần dần các cán bộ đã tạo cơ hội để tác giả tiếp cận đến những công việc thực tế trong chuyên ngành như: Tham gia học hỏi cách thức làm việc cùng thẩm phán lấy lời khai từ các đương sự; Tham gia buổi hòa giải giữa các đương sự trong các vụ

án hôn nhân gia đình dưới sự hỗ trợ của cán bộ hướng dẫn; Hướng dẫn đương sự viết đơn khởi kiện theo đúng thể thức đơn khởi kiện được quy định tại điều 189 của bộ luật tố tụng dân sự 2015; Tống đạt hồ sơ, tài liệu, bản án đến các cơ quan như: Viện Kiểm Sát, Thi hành án, Vận dụng những kiến thức đã được học tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án đưa ra cách giải quyết theo pháp luật dưới sự hỗ trỡ của cán bộ hướng dẫn,

Trang 19

12

Sau quá trình thực tập tại cơ quan, tác giả đã học hỏi được không ít những kinh nghiệm trong công việc và trong cuộc sống, đòi hỏi kỹ năng xử lý công việc một cách linh hoạt, khách quan, tác phong trang nghiêm Thái độ bình tĩnh thì bản thân mới có thể

xử lý công việc một cách thoải mái và khách quan

1.4.2 Những đóng góp qua quá trình thực tập

Từ những kiến thức đã học được tại cơ quan thực tập cũng như những hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án tác giả xin có những kiến nghị sau đây

Về phía nhà trường: Khi đào tạo cũng nên lồng ghép thực tiễn để sinh viên tập giải

quyết các tình huống thực tiễn Đồng thời khi giảng dạy cũng nên để sinh viên làm quen với các khái niệm pháp lý bằng các tài liệu thực tiễn Vì vậy, nhà trường bên cạnh giảng dạy các môn học cần lồng ghép cho sinh viên tập soạn thảo các loại văn bản tố tụng để sinh viên tập làm quen

Về phía cơ quan tiếp nhận thực tập: Tuy đa số cán bộ, công chức của cơ quan là

những người trẻ, giàu tâm huyết, trình độ chuyên môn cao, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ…Nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định trong việc áp dụng pháp luật vào giải quyết các vụ án Từ những bất cập trên, thiết nghĩ Tòa án nên nâng cao chất lượng đội ngũ, cũng như kiến thức chuyên ngành chuyên sâu cho đội ngủ cán bộ lúc bất giờ Mặt khác nâng cấp cơ sở, vật chất, thiết bị để có môi trường làm việc chuyên nghiệp hơn

Là một sinh viên được thực tập và công tác tại đơn vị một thời gian, em đã góp phần trong công tác tiếp tân và hướng dẫn đương sự để công việc ngày càng tốt hơn Góp phần nâng cao chất lượng của một số hoạt động còn nhiều hạn chế

Trang 20

13

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua phần 1, tác giả đã tìm hiểu về lịch sử hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức hiện nay của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum Ngoài ra, tác giả đã nêu và làm rõ các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum Từ đó làm cơ

sở để triển khai trong phần 2

Tác giả đã nêu ra những công việc mà sinh viên thực tập tại cơ quan, và những kinh nghiệm đã học được khi làm việc tại cơ quan Cách thức xử lý công việc được giao và các kiến nghị của cá nhân của tác giả

Trang 21

14

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI CẮP TÀI SẢN

2.1.1 Khái niệm, đặc điểm về tội trộm cắp tài sản

a Khái niệm

Căn cứ Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì tội trộm cắp tài sản, được hiểu là hành

vi lén lút, bí mật chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của

Về căn cứ pháp lý: (Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

“1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169,

170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến

07 năm: a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;đ) Hành hung để tẩu thoát;e) Tài sản là bảo vật quốc gia;g) Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến

15 năm:a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến

20 năm:a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.”

b Đặc điểm

Về đặc điểm của nó thì tội trộm cắp tài sản là một tội phạm mang tính chất cụ thể,

nó có đủ các dấu hiệu của một tội phạm, đó là:

Tính nguy hiểm cho xã hội: Được biểu hiện ở chỗ người phạm tội có hành vi tác

động trái pháp luật tài sản của chủ sở hữu làm cho việc chủ sở hữu mất quyền chiếm hữu,

sử dụng, định đoạt tài sản với giá trị nhất định

Trang 22

15

Tính có lỗi: Lỗi là trạng thái tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi

phạm tội do mình gây ra Theo quy định của BLHS, lỗi của người có hành vi trộm cắp tài sản là lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức rõ hành vi tác động trái pháp luật lên tài sản của người khác, gây thiệt hại về tài sản, cụ thể là giá trị tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Người phạm tội trộm cắp tài sản được thực hiện hành vi mang tính lén lút

để nhằm chiếm đoạt tài sản

Tính trái pháp luật hình sự: Tội trộm cắp tài sản nó được thể hiện ở việc người

phạm tội thực hiện những hành vi bị luật hình sự nghiêm cấm và bảo vệ tại Điều 173 của BLHS 2015

Tính hình phạt: Theo quy định của BLHS, chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu

hình phạt được quy định tại BLHS Đối với tội trộm cắp tài sản, các hình phạt được quy định trong BLHS để áp dụng đối với người thực hiện tội phạm này là: cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn

Mặc dù tính chất lén lút là đặc trưng cơ bản nhất và nổi bật của tội trộm cắp tài sản nhưng không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản mà đi kèm với nó là hành vi chiếm đoạt tài sản

2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản

a Khách thể của tội trộm cắp tài sản

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại

Cũng như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong phần các tội xâm phạm sở hữu, tội trộm cắp tài sản đặc trưng bởi hành vi chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên hành vi chiếm đoạt tài sản của tội trộm cắp tài sản được thực hiện một cách lén lút, không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội bắt cóc nhằm CĐTS, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội trộm cắp tài sản mà nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt Sau khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản nhưng bị đuổi bắt mà có hành vi chống lại người đuổi bắt để tẩu thoát mà gây chết người, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo hành vi tương ứng

b Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

Về hành vi khách quan: Trong tội trộm cắp tài sản, người phạm tội chỉ có một hành

vi khách quan duy nhất đó là CĐTS nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, bí mật Đặc trưng lén lút của hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản cũng chỉ đòi hỏi phải có trong ý thức của người phạm tội, nó thể hiện ở việc người phạm tội che giấu hành vi đang

Trang 23

16

phạm tội của mình, không cho phép chủ tài sản biết có hành vi CĐTS khi hành vi này đang xảy ra Thực tế cho thấy, khi người phạm tội thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản với chủ sở hữu nhưng lại công khai CĐTS với những người có mặt ở đó nhưng những người có mặt lúc tài sản bị chiếm đoạt vì lý do nào đó mà không biết chủ tài sản là

ai, không có trách nhiệm quản lý tài sản đó thì hành vi của người CĐTS trong trường hợp này vẫn bị coi là hành vi trộm cắp tài sản; trong trường hợp này, người CĐTS chỉ có hành vi che dấu hành vi trộm cắp của mình đối với chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không cần che dấu với những người khác

Về đối tượng tác động Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người

phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam, tài sản có nhiều hình thức khác nhau Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản”

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, nó tồn tại khách quan bên ngoài ý thức mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan của mình Với ý nghĩa phạm trù pháp lý, vật chỉ có ý nghĩa trở thành đối tượng của quan hệ pháp luật, tức là nó được con người kiểm soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người Không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật Vì vậy, có trong thế giới vật chất, có những

bộ phận ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật Như vậy, trong giao lưu dân sự muốn trở thành vật thì phải thỏa mãn được những điều kiện,

đó là: là bộ phận của thế giới vật chất; mang lại lợi ích cho chủ thể; con người chiếm hữu được; có thể đang tồn tại hoặc có thể sẽ hình thành trong tương lai Vật là một hình thức tài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Vật phải nằm trong

sự chiếm hữu của con người thì khi đó vật mới là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Đối với trường hợp vật vô chủ (có thể là trường hợp chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình và tài sản không nằm trong phạm vi quản lý) thì hành vi lấy đi loại tài sản này không bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản

Vật được phân loại thành các nhóm khác nhau Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc về công dụng của vật với nhau mà vật được phân thành: Vật chính là vật độc lập có thể khai thác theo tính năng (ti vi, điều hòa, máy ảnh…); vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính điều (khiển ti vi, điều hòa, vỏ máy ảnh,…) Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia ra thành nhiều phần nhỏ mà Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không chia được Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi sử dụng thì chia thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật

mà người ta phân loại vật thành vật thành vật cùng loại và vật đặc định Ngoài ra, người

ta còn chia ra làm vật đồng bộ và vật không đồng bộ

Tiền: Theo Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất

Trang 24

17

hàng hóa Bộ luật dân sự năm 2015 quy định tiền là một loại tài sản nhưng lại không có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận mới được coi là tài sản Tiền là công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản và là thước đo giá trị

Giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể khác Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hồi phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ

có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng tòan bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro

Quyền tài sản: Theo Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác Quyền là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác

Về hậu quả: Hậu quả của tội trộm cắp tài sản do người phạm tội gây ra là thiệt hại

về giá trị tài sản bị chiếm đoạt bất hợp pháp Tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt bao gồm các loại tiền, hàng hóa và các giấy tờ có giá trị thanh toán như ngân phiếu, công trái, trái phiếu… Căn cứ quy định của BLHS hiện hành, giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm; còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168 (tội cướp tài sản), 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản), 170 (tội cưỡng đoạt tài sản), 171 (tội cướp giật tài sản), 172 (tội công nhiên chiếm đoạt tài sản), 174 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản), 175 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

và điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản) của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là di vật, cổ vật Có thể khẳng định tội trộm cắp tài sản có cấu thành vật chất bởi dấu hiệu cấu thành hậu quả được phản ánh trong cấu 16 thành tội phạm của tội trộm cắp tài sản Tuy nhiên, mặc dù người có hành vi trộm cắp chưa chiếm đoạt được tài sản mà nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ thì vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản nhưng là phạm tội chưa đạt chứ không nhất thiết phải có thiệt hại về

tài sản mới cấu thành tội phạm

Về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Mối quan hệ nhân quả phản ánh

hành vi và hậu quả trong mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Theo đó, hành vi trái

Trang 25

18

pháp luật phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian; trong hành vi trái pháp luật phải chứa đựng khả năng thực tế, mầm móng nội tại, nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả; hậu quả xảy ra phải là hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của

hành vi trái pháp luật

c Chủ thể của tội trộm cắp tài sản

“Chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều

173 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Người từ đủ

14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là chủ thể của tội trộm cắp tài sản quy định tại các khoản 3 và 4 Điều 173 BLHS”

Điều 12 BLHS năm 2015 quy định: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143,

144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287,

289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này [12, tr14] Như vậy, căn cứ theo Điều 8 và điều 173 BLHS hiện hành ta có thể xác định được rằng: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản Còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì chỉ phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 và khoản 4 Điều 173 BLHS

d Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản

Mặt chủ quan của tội phạm đó là những diễn biến tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội Giống như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, tội trộm cắp tài sản cũng được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội trộm cắp tài sản nhận thức được rõ hành vi của mình là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội

và thấy trước hậu quả của hành vi đó khi tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái phép

và mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích của tội phạm là chiếm tài sản của người khác Trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đã xuất hiện mục đích chiếm đoạt Do vậy, có thể khẳng định dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội trộm cắp tài sản là mục đích CĐTS Tuy nhiên, cùng với mục đích chiếm đoạt thì người phạm tội còn có thể có những mục đích khác nếu mục đích đó không cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản

2.2 PHÂN BIỆT TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ

2.2.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản

Xuất phát từ các dấu hiệu đặc trung tội TCTS và tội cướp tài sản, xét trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật, có thể rút ra sự giống nhau và khác nhau giữa hai tội này như sau:

Khác nhau:

Trang 26

19

Sự khác nhau cơ bản giữa tội trộm cắp tài sản và tội cướp tài sản là hành vi phạm tội của người phạm tội: đối với tội TCTS, hành vi của người phạm tội là lén lút lấy tài sản đang trong sự quản lý của người khác một cách trái pháp luật mà không dùng bất kỳ vũ lực nào tác động đến chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản Đối với tội cướp tài sản, hành vi của người phạm tội là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc

có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự Như vậy, để phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa hai tội này, cần phải xem xét hành vi của người phạm tội dựa trên các yếu tố cơ bản sau đây: Động cơ, mục đích của người phạm tội, hành vi khách quan, khách thể, hậu quả

Bảng 2.1 Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản

Khách thể bị xâm phạm

Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu

nhưng không xâm phạm tới sức khỏe,

tính mạng của nạn nhân

Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu, sức khỏe và tính mạng của nạn nhân

Hậu quả

Thiệt hại về tài sản là dấu hiệu định tội

của tội trộm cắp tài sản

Không phải là dấu hiệu định tội của tội cướp tài sản, người phạm tội chỉ cần có hành vi được mô tả trong CTTP của tội cướp tài sản là đã cấu thành tội cướp tài sản

2.2.2 Phân biệt tội trộm cắp tài sản và tội cướp giật tài sản

Tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản đều là các tội nhằm trong nhóm các tội phạm quyền sở hữu Hai tội này đều có điểm chung là lỗi cố ý trực tiếp và mục đích là chiếm đoạt tài sản của người khác Tuy nhiên, chúng vẫn có sự khác biệt cơ bản

Để phân biệt tội TCTS với tội cướp giật tài sản, chúng ta cũng chủ yếu tập trung phân tích yếu tố hành vi khách quan của người phạm tội

Trang 27

Khách thể bị xâm phạm

Luôn có xâm phạm tới quyền sở hữu

nhưng không xâm phạm tới sức khỏe,

2.2.3 Phân biệt tội trộm cắp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Tội trộm cắp tài sản Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

Tính chất công khai

Người phạn tội che giấu hành vi của mình,

chiếm đoạt tài sản một cách lén lút mà

người quản lý tài sản không biết là hành vi

trộm cắp

Người phạm tội không cần che giấu hành vi

và thực hiện công khai hành vi chiếm đoạt Công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản sau đó là công nhiên đối với mọi người xung quanh Chủ sở hữu biết rõ mình bị mất tài sản nhưng không có điều kiện để cản trở hành vi chiếm đoạt

2.3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 2.3.1 Khái quát lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về tội trộm cắp tài sản

từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 2015

a Từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985

Trang 28

21

Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời sau thành công của Cách mạng tháng

8 đã phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách, đó là vừa phải đối phó với thù trong giặc ngoài, vừa phải từng bước quản lý, phát triển và xây dựng đất nước Để bảo vệ thành quả của cách mạng và duy trì sự ổn định xã hội, Nhà nước ta đã ban hành nhiều Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư để xử lý tội phạm nói chung, tập trung vào các tội phản cách mạng

Có nhiều văn bản pháp luật quy định xử lý tội phạm trong đó có các quy định về tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng như: Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký cho phép tạm thời giữ lại các luật, lệ tại miền Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành các VBPL thống nhất trong toàn quốc; Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1948 quy định trừng trị các hành vi trộm cắp vật dụng nhà binh trong thời bình và thời kỳ chiến tranh Nghị định số 32 - NĐ ngày 06/4/1952 của Bộ tư pháp quy định đường lối xét xử các tội trộm cắp, lừa đảo, biển thủ tài sản; Thông tư số 11

- BK ngày 14/12/1949 của liên Bộ nội vụ, Quốc phòng, Tư pháp ấn định phương pháp đối phó với các vụ trộm cắp tại nơi có chiến sự

Ngoài các văn bản pháp luật trên thì phải kể đến hai văn bản pháp luật được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 21/10/1970 đó là Pháp lệnh số 149-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh số 150-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân Tội trộm cắp tài sản được quy định thành hai loại, cụ thể là quy định tại Điều 7 Pháp lệnh về trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Điều 6 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân

Trong Pháp lệnh số 149-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh số 150-LCT về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân đã xây dựng hai CTTP hoàn chỉnh về tội trộm cắp tài sản trong đó quy định riêng biệt về trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và trộm cắp tài sản riêng của công dân Nội dung Pháp lệnh quy định cụ thể các tình tiết định khung trong điều luật, có các khung hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, góp phần phân hóa TNHS đối với người phạm tội Việc ban hành đồng thời hai Pháp lệnh này đã thể hiện sự quan tâm của Đảng

và Nhà nước ta không những đối với tài sản của Nhà nước mà còn đối với cả tài sản riêng của công dân, làm cho người dân nâng cao niềm tin vào chính quyền Dân chủ cộng hòa, tích cực tham gia sản xuất và chiến đấu

b Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về tội trộm cắp tài sản

BLHS năm 1985 được Quốc hội khóa VII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27/6/1985,

có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986 đã đánh dấu một bước phát triển mới đối với

kỹ thuật lập pháp của khoa học pháp lý nước ta nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Điều này đã khắc phục được tình trạng các văn bản pháp luật chồng chéo, không thống nhất trước đó; nó được thể hiện dưới hình thức Bộ luật, có tính bao quát tất cả các hành

vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng bảo vệ thành quả của cách mạng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tội trộm cắp tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 bao gồm hai Điều luật độc lập, trong đó Điều

Ngày đăng: 03/08/2023, 07:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w