1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự việt nam thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn huyện diễn châu, tỉnh nghệ an

77 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Thị Thủy
Người hướng dẫn Đặng Thị Phương Linh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài (10)
  • 3. Tình hình nghiên cứu đề tài (11)
  • 4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (11)
  • 5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (12)
  • 6. Phương pháp nghiên cứu (12)
  • 7. Kết cấu đề tài: Gồm 3 chương (13)
  • CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN (14)
    • 1.1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản (14)
    • 1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản (15)
      • 1.2.1. Khách thể (15)
      • 1.2.2. Mặt khách quan (17)
      • 1.2.3. Mặt chủ quan (20)
      • 1.2.4. Chủ thể (22)
    • 1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản (24)
      • 1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 (24)
      • 1.3.2. Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam năm (25)
      • 1.3.3. Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (27)
      • 1.3.4. Điểm mới của Bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1999 so với Bộ Luật hình sự Việt Nam năm 1985 quy định về tội trộm cắp tài sản (28)
    • 1.4. Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản (28)
      • 1.4.2. Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 điều 138 Bộ luật hình sự (32)
      • 1.4.3. Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, (35)
      • 1.4.4. Hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với người phạm tội trộm cắp tài sản (36)
    • 1.5. Phân biệt dấu hiệu pháp l của tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác (0)
      • 1.5.1. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cƣỡng đoạt tài sản (0)
      • 1.5.2. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội cướp tài sản (38)
      • 1.5.3. Phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (39)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM NÀY TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN (41)
    • 2.1. Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Dễn Châu, tỉnh Nghệ An (41)
      • 2.1.1. Vị trí địa lí, địa hình và kinh tế - xã hội của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (41)
      • 2.1.2. Thực trạng tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2014 (44)
      • 2.1.3. Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (53)
    • 2.2. Nguyên nhân của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (59)
      • 2.2.1. Nguyên nhân do quy định của pháp luật (59)
      • 2.2.2. Các nguyên nhân khác làm gia tăng tội trộm cắp tài sản (62)
  • CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN (66)
    • 3.1. Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật (67)
      • 3.1.1. Cần hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về khái niệm tội trộm cắp tài sản (67)
      • 3.1.2. Cần hoàn thiện hơn quy định của pháp luật về đối tƣợng tác động của tội trộm cắp tài sản (69)
      • 3.1.3. Tăng nặng thêm hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản và công tác chuẩn bị xét xử, xét xử (69)
    • 3.2. Giải pháp khác góp phần hạn chế tội trộm cắp tài sản (70)
      • 3.2.1. Giải pháp về kinh tế - xã hội (70)
      • 3.2.2. Nâng cao vai trò giáo dục của gia đình, nhà trường và quản lý của xã hội (70)
      • 3.2.3. Giải pháp về tuyên truyền pháp luật (71)
      • 3.2.4. Đối với chủ sở hữu tài sản (72)
      • 3.2.5. Giải pháp mang tính chuyên môn nghiệp vụ (72)
    • C. PHẦN KẾT LUẬN (73)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Tìm hiểu những quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản

Trong bài viết này, chúng tôi đánh giá thực trạng tội phạm xảy ra và công tác xét xử các vụ án hình sự tại huyện Diễn Châu từ năm 2010 đến 2014, tập trung vào tội trộm cắp tài sản Nghiên cứu chỉ ra rằng các nguyên nhân chính gây ra tội phạm này bao gồm điều kiện kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế và thiếu hệ thống quản lý cộng đồng hiệu quả Thực tiễn xét xử cho thấy, các vụ án liên quan đến trộm cắp tài sản đều được xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và ngăn chặn hành vi phạm tội trong cộng đồng Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật và nâng cao ý thức phòng chống tội phạm để giảm thiểu số vụ phạm pháp trong địa phương.

- Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Hành vi trộm cắp tài sản đã được đề cập rộng rãi trong các công trình nghiên cứu khoa học về luật hình sự, bao gồm các tập bình luận khoa học và các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ Các tác giả nghiên cứu đã phân tích sâu về các nội dung liên quan đến tội phạm xâm phạm sở hữu trên nhiều phương tiện khác nhau, làm rõ các yếu tố pháp lý và đặc điểm của hành vi trộm cắp trong bối cảnh pháp luật hình sự Việt Nam.

Cụ thể nhƣ bài viết: “Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt

Nam năm 1999” của Tiến sĩ Trương Quang Vinh, trên tạp chí Luật học

(trường Đại học Luật Hà Nội) số 4 năm 2000 Tác giả Nguyễn Ngọc Chí về

Các công trình nghiên cứu trước đây về trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu, như luận văn của Nguyễn Minh Hải năm 2004, chủ yếu tập trung vào đấu tranh phòng chống tội phạm và các tội xâm phạm sở hữu chung, nhưng chưa đi sâu phân tích về tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam Kế thừa các nghiên cứu này, đề tài của tôi tập trung phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng để định tội trộm cắp tài sản, cùng với khảo sát thực trạng và thực tiễn xét xử hình sự tội phạm này tại địa phương huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm trộm cắp tài sản.

Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, đánh giá các điểm mới trong luật và áp dụng thực tiễn xét xử tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Nghiên cứu góp phần làm rõ các yếu tố hình sự của tội phạm này, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, xử lý tội phạm trộm cắp tài sản trong địa phương Các phân tích thực tiễn xét xử giúp xác định những khó khăn và tồn tại trong quá trình tố tụng, từ đó đề xuất các biện pháp giảm thiểu tái phạm và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân.

Khóa luận tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của luật hình sự Việt Nam Ngoài ra, bài viết còn phân tích thực trạng phạm tội trộm cắp tài sản tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2014 Các nội dung này giúp làm rõ các vấn đề pháp lý liên quan cũng như tình hình thực tế của loại tội phạm này trên địa bàn.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích trong nghiên cứu này tập trung vào việc xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Quá trình phân tích giúp đánh giá chính xác tài liệu, từ đó rút ra những kết luận quan trọng nhằm đáp ứng mục tiêu của đề tài nghiên cứu Phương pháp này đảm bảo tính khách quan và chính xác trong việc phân tích các chứng cứ pháp lý, góp phần nâng cao hiệu quả của nghiên cứu và phù hợp với các tiêu chuẩn SEO về phân tích dữ liệu trong lĩnh vực pháp lý.

Phương pháp thống kê là quá trình thu thập và phân loại tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm sắp xếp theo trình tự thời gian, đặc điểm tội phạm, thủ đoạn, phương pháp thực hiện tội phạm cùng công cụ, phương tiện phạm tội Quá trình này giúp xác định nguyên nhân và mục đích của các loại tội phạm, từ đó đưa ra các phân tích chính xác và hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm.

Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp như quan sát, điều tra xã hội học và so sánh được sử dụng để thu thập dữ liệu và phân tích đề tài Tuy nhiên, phương pháp phân tích và phương pháp thống kê đóng vai trò chính và được áp dụng nhiều nhất để đảm bảo độ chính xác và khách quan của kết quả nghiên cứu.

Kết cấu đề tài: Gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản trong Luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản và nguyên nhân của tội phạm này trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Khái niệm tội trộm cắp tài sản

Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ khái niệm của tội trộm cắp tài sản Tuy nhiên, dựa trên tên gọi, người đọc có thể hiểu rằng tội trộm cắp là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật Tội phạm này liên quan đến việc sử dụng thủ đoạn để lấy đi tài sản của người khác mà không có sự cho phép hợp pháp Việc hiểu đúng về khái niệm này rất quan trọng để nâng cao ý thức phòng ngừa và xử lý các hành vi phạm pháp liên quan đến trộm cắp tài sản.

Trộm cắp tài sản là “hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” [1] cùng với khái niệm tội phạm đƣợc quy định tại Điều 8 BLHS:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý nhằm xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ Quốc, cũng như các lĩnh vực như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Theo Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), tội trộm cắp tài sản được quy định rõ ràng nhằm bảo vệ trật tự pháp luật và các quyền lợi của xã hội, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phòng ngừa và xử lý hành vi trộm cắp trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, sẽ bị xử lý hình sự với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: a Có tổ chức; b Có tính chất chuyên nghiệp; c Tái phạm nguy hiểm; d Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; e Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; g Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 7 năm đến dưới 15 năm: a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; b Gây hậu quả rất ngiêm trọng

4 Tái phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ

12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên; b Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5 Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”

Tội trộm cắp tài sản được định nghĩa là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác bởi người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, nhằm xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ.

Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản

Tội trộm cắp tài sản, giống như các loại tội phạm khác, bao gồm bốn yếu tố cơ bản: khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm Hiểu rõ các yếu tố này giúp nhận diện và phòng ngừa hiệu quả các hành vi trộm cắp Trong đó, khách thể là tài sản bị xâm phạm; mặt khách quan thể hiện hành vi trộm cắp thực hiện như thế nào; mặt chủ quan liên quan đến động cơ và ý thức của người phạm tội; và chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi trộm cắp.

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại và được pháp luật Hình sự bảo vệ Xâm hại trong khuôn khổ này đề cập đến hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây thiệt hại cho các đối tượng nhất định, với mức độ chừng mực nhất định.

Các đối tượng cần được pháp luật bảo vệ bao gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia Những quy phạm pháp luật hình sự nhằm bảo vệ các yếu tố quan trọng này, đảm bảo sự toàn vẹn và ổn định của đất nước Việc xác định rõ các đối tượng cần bảo vệ giúp nâng cao hiệu quả của công tác phòng vệ pháp luật và giữ vững chủ quyền quốc gia.

Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định rõ về các lĩnh vực bảo vệ như quốc phòng, an ninh chính trị, nền văn hóa, trật tự xã hội, và quyền lợi hợp pháp của tổ chức, công dân Nội dung này nhấn mạnh đến việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản cũng như các quyền lợi hợp pháp khác của người dân Ngoài ra, luật còn quy định về việc đảm bảo trật tự pháp luật trong các lĩnh vực khác của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Trong tội trộm cắp tài sản, người bị hại là người thiệt hại về tài sản do hành vi phạm tội gây ra, với quan hệ sở hữu về tài sản là khách thể chính của tội phạm Quan hệ sở hữu về tài sản thể hiện mối quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được pháp luật bảo vệ, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu.

Trong nghiên cứu khách thể của tội phạm, việc xác định đối tượng tác động của tội phạm là rất quan trọng vì mỗi loại tội phạm đều gây thiệt hại cho một khách thể nhất định thông qua tác động vào một đối tượng cụ thể Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể tội phạm, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi phạm tội nhằm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội, là khách thể được Luật hình sự bảo vệ Ví dụ, tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, trong đó tài sản phải thể hiện dưới dạng vật chất có giá trị và giá trị sử dụng, theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005, gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác.

Vật có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản khi nó nằm trong sự chiếm hữu của con người, trong đó “tiền” gồm tiền Việt Nam và tiền nước ngoài lưu thông trên thị trường “Giấy tờ có giá” bao gồm hai loại: giấy tờ có giá ghi danh và giấy tờ có giá vô danh; chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới trở thành đối tượng của tội trộm cắp, vì khi lấy nó, người phạm tội thực hiện quyền sở hữu của chủ sở hữu Đối với tài sản là “quyền tài sản” như quyền đòi nợ, nó tồn tại dưới dạng vô hình, gắn liền với chủ thể nhất định và không thể bị dịch chuyển trái pháp luật bởi hành vi chiếm đoạt, do đó quyền tài sản không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản.

Nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm Thực tiễn cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến xử lý chưa đúng người đúng tội là do chưa xác định chính xác đối tượng tác động của tội phạm, gây nhầm lẫn với các đối tượng tác động của tội phạm khác Do đó, việc xác định đúng đối tượng tác động của tội phạm là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện qua các biểu hiện bên ngoài như hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả gây ra nguy hiểm, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, cùng với các yếu tố khác như công cụ, phương tiện phạm tội, địa điểm và thời gian thực hiện hành vi phạm pháp.

Hành vi khách quan được xác định là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có thể là hành động hoặc không hành động, và luôn đi kèm với ý thức kiểm soát cũng như chí điều khiển Quy định về hành vi này được luật hình sự (BLHS) quy định rõ ràng, nhằm đảm bảo xử lý các hành vi gây nguy hiểm cho cộng đồng.

Tội trộm cắp tài sản đặc trưng bởi hành vi chính là “chiếm đoạt” tài sản của người khác Người phạm tội chỉ thực hiện một hành vi duy nhất, đó là chiếm đoạt, nhưng quá trình thực hiện phải diễn ra một cách lén lút và thủ đoạn tinh vi để che giấu hành vi phạm pháp Điều này nhấn mạnh đặc điểm của tội trộm cắp là hành vi chiếm đoạt nhằm trốn tránh sự phát hiện, qua đó giúp xác định bản chất của loại tội phạm này.

"Hành vi 'lén lút' biểu thị việc cố giấu diếm, vụng trộm nhằm tránh bị phát hiện, thể hiện ý đồ gian manh hoặc bất chính của người thực hiện Đây là hành động cố ý làm những việc bất hợp pháp hoặc không rõ ràng nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác một cách âm thầm, không để lộ ra ngoài Hiểu rõ về hành vi này giúp nhận diện các hoạt động gian lận, từ đó nâng cao ý thức phòng ngừa và bảo vệ tài sản của bản thân."

Hành vi “chiếm đoạt” được xem là lén lút khi được thực hiện bằng hình thức mà chủ tài sản không thể phát hiện ra hành vi này xảy ra Người phạm tội có ý thức che giấu hành vi của mình nhằm tránh bị phát hiện, chỉ cần che giấu đối với chủ tài sản, còn với người khác hành vi có thể vẫn diễn ra công khai Sự che giấu này phản ánh ý thức chủ quan của người phạm tội trong việc thực hiện hành vi trộm cắp Có hai hình thức công khai, trong đó, hành vi che giấu chủ yếu là nhằm mục đích che giấu hành vi chiếm đoạt khỏi chủ tài sản.

Hành vi phạm pháp luật được công khai thể hiện qua việc người phạm tội chỉ thực hiện hành vi "lén lút" với chủ tài sản, trong khi những người xung quanh không cần phải che đậy hay giấu diếm hành vi vi phạm của mình Điều này cho thấy sự thiếu ý thức về việc tuân thủ pháp luật và làm rõ sự khác biệt giữa các hành vi phạm pháp không che giấu và che đậy Việc công khai hành vi vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội và làm giảm tính răn đe của các quy định pháp luật.

Trong một bến xe đông người, tên trộm vẫn hiên ngang móc túi của người khác mà không cần che giấu hành vi của mình trước đám đông Điều này cho thấy, phạm tội trong trường hợp này không cần thiết phải che giấu hành động trước mọi người, mà chỉ cần đảm bảo không bị chủ của chiếc túi phát hiện.

Lịch sử hình thành và phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản

Tệ nạn xã hội, đặc biệt là tội trộm cắp tài sản, đang ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề nóng bỏng, được cộng đồng quan tâm hàng đầu Trộm cắp là loại tội phạm xuất hiện từ rất sớm và phổ biến trong đời sống xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của công dân Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách và quy định pháp luật phù hợp để phòng chống và loại bỏ tội phạm này, góp phần bảo vệ tài sản hợp pháp của mọi người Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, qua từng giai đoạn phát triển, Nhà nước đã ban hành các quy định nghiêm ngặt nhằm đấu tranh hiệu quả với tội trộm cắp tài sản trong xã hội.

1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Điều 12 Hiến pháp 1946 đã ghi nhận: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” Điều này đã tạo cơ sở pháp l để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, là điều kiện ổn định sinh hoạt vật chất của mỗi con người Bên cạnh đó sắc lệnh số 73 - Sắc lệnh ngày 17/8/1947 và sắc lệnh số 12 - Sắc lệnh số 12/3/1949 quy định trừng trị rất nặng tội trộm cắp vặt, trộm cắp tài sản, Thông tƣ 442/TTg ngày 19/01/1995 hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội xâm phạm sở hữu như trộm cắp, cướp của, lừa đảo, bội tín…

1.3.2 Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam năm 1985

Ngày 27/6/1945, Bộ Luật Hình sự (BLHS) được Quốc hội khóa VII thông qua với nội dung trình bày hệ thống, toàn diện về phần chung và phần các tội phạm, bao gồm các hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm mục đích bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội.

BLHS năm 1985 đóng vai trò quan trọng như một công cụ sắc bén của Nhà nước để bảo vệ thành quả cách mạng, duy trì ổn định chế độ XHCN còn non yếu và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân cũng như toàn xã hội Theo tinh thần của Bộ luật này, chỉ có hai loại hành vi xâm phạm sở hữu, đó là hành vi xâm phạm sở hữu XHCN và hành vi xâm phạm sở hữu của công dân Điều 132 của BLHS năm 1985 quy định rõ về tội trộm cắp XHCN, nhấn mạnh tính chất nghiêm trọng của hành vi này đối với an ninh chính trị và trật tự xã hội.

“1 Người nào trộm cắp tài sản XHCN thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm: a Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; c Hành hung để tẩu thoát; d Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; đ Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” Điều 155 BLHS năm 1985 quy định tội trộm cắp tài sản của công dân nhƣ sau:

“1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm

2 Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm a.Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm, hành hung để tẩu thoát; c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; d Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 7 năm đến 20 năm”

Qua 2 điều luật trên ta nhận thấy mặc dù đều quy định về tội trộm cắp tài sản nhƣng có sự phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản XHCN và trộm cắp tài sản của công dân Từ sự quy định khác nhau đó dẫn đến hậu quả pháp lý của người phạm tội cũng khác nhau: Mức hình phạt đối với người phạm tội trộm cắp tài sản XHCN cao hơn mức hình phạt đối với người phạm tội trộm cắp tài sản của công dân Cụ thể là “trộm cắp tài sản XHCN bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm” Còn “trộm cắp tài sản của công dân thì chỉ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.”

Điều luật quy định mức án tăng nặng cho các trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản, trong đó phạm tội trộm cắp tài sản XHCN có mức án tù từ 3 đến 12 năm, trong khi phạm tội tài sản của công dân có mức án từ 2 đến 10 năm Đặc biệt, trong các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội trộm cắp tài sản XHCN có thể đối mặt với mức phạt cao nhất là án chung thân hoặc tử hình, trong khi pháp luật không áp dụng mức hình phạt này đối với tội phạm trộm cắp tài sản của công dân Sự khác biệt về mức xử lý pháp lý này phản ánh rõ ràng chính sách xử lý tội phạm theo tính chất và đối tượng phạm tội.

Luật hình sự Việt Nam năm 1985 đã trải qua 4 lần sửa đổi bổ sung vào các ngày 28/12/1989, 12/06/1991, 22/12/1992, và 10/05/1997, khiến nó không còn giữ được tính thống nhất toàn diện Do đó, cần thiết lập một Bộ luật hình sự mới để thay thế phù hợp với tình hình thực tế Chính vì lý do này, Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành nhằm kế thừa và phát triển các quy định của Bộ luật cũ, đồng thời điều chỉnh phù hợp với điều kiện xã hội mới.

1.3.3 Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999

Ngày 21/12/1999, Quốc hội Khóa X đã thông qua Bộ luật Hình sự của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, có hiệu lực từ ngày 1/7/2000 Bộ luật này quy định rõ ràng về các nhóm tội xâm phạm sở hữu, đặc biệt là tội trộm cắp tài sản Cụ thể, Điều 138 của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 quy định về tội trộm cắp tài sản như một hành vi phạm pháp nghiêm trọng cần xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Người phạm tội trộm cắp tài sản của người khác với giá trị từ 500 nghìn đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 500 nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị xử phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm Trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt nhưng chưa xóa án tích mà vẫn vi phạm, người phạm tội sẽ đối mặt với mức hình phạt này Việc quy định này nhằm đảm bảo xử lý nghiêm khắc các hành vi trộm cắp tài sản, bảo vệ quyền lợi của người có tài sản bị xâm phạm.

2 Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 2 đến 7 năm: a Có tổ chức; b Có tính chất chuyên nghiệp; c Tái phạm nguy hiểm d Dùng thủ đoạn xảo quyệt nguy hiểm đ Hành hung để tẩu thoát; e Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; g Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội 1 trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 7 năm đến

15 năm: a Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; b Gây hậu quả nghiêm trọng

4 Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a Chiếm đoạt tài sản có giá trị 500 triêụ đồng trở lên; b Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng”

Bộ luật hình sự là công cụ quan trọng trong việc duy trì trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Nó giúp xử lý nghiêm minh các hành vi phạm pháp, góp phần răn đe các cá nhân có ý định phạm tội Nhờ vào bộ luật này, hệ thống pháp luật ngày càng được củng cố và nâng cao hiệu quả quản lý xã hội.

Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản

Khi ban hành quy định pháp luật về tội phạm, Nhà nước cũng quy định các biện pháp xử lý bắt buộc đối với người phạm tội, trong đó biện pháp hình sự là biện pháp nghiêm khắc nhất thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước Các biện pháp hình sự đa dạng, phổ biến nhất là hình phạt, được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền lợi của người phạm tội, theo Điều 26 Bộ luật hình sự Hình phạt gồm hình phạt chính do Tòa án tuyên độc lập và hình phạt phụ luôn đi kèm, không bao giờ tuyên độc lập Đặc biệt, đối với tội trộm cắp tài sản, dựa trên mức độ nguy hiểm và thiệt hại xã hội, điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã chia thành 4 khung hình phạt, thể hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, khác với 3 khung trong Bộ luật Hình sự năm 1985.

- Khung 1 tuơng ứng với mức độ thiệt hại tài sản từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng;

- Khung 2 tương ứng với mức độ thiệt hại tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;

- Khung 3 tương ứng với mức độ thiệt hại tài sản từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

Khung 4 áp dụng cho các trường hợp thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên, phản ánh mức độ thiệt hại nghiêm trọng Các mức khung hình phạt khác nhau được quy định dựa trên mức độ thiệt hại của từng vụ việc phạm tội, nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự một cách chính xác và công bằng Các quy định này giúp pháp luật xác định rõ ràng các hình phạt phù hợp, đảm bảo xử lý đúng mức độ nghiêm trọng của từng hành vi phạm tội.

Trộm cắp tài sản có một cấu thành cơ bản trong trường hợp thông thường (khoản 1) và các cấu thành tăng nặng (khoản 2, 3, 4) khi phạm tội trong các tình huống thể hiện tính nguy hiểm cao hơn xã hội Mỗi trường hợp phạm tội sẽ có mức trách nhiệm hình sự khác nhau, do đó cần phân tích rõ trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản trong từng trường hợp cụ thể để đảm bảo tính chính xác.

1.4.1 Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự

Khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm” Điều luật quy định trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong trường hợp thông thường khi hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành cơ bản

Hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm áp dụng cho các hành vi trộm cắp tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nguy hiểm Mức giá trị tối thiểu bị chiếm đoạt là đủ để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự và phân biệt tội phạm này với các hành vi vi phạm khác Đây là quy định nhằm đảm bảo xử lý nghiêm các vụ trộm cắp có tính chất nghiêm trọng, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm.

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi phạm tội gây ra bao gồm hậu quả vật chất như thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và hậu quả phi vật chất ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh, trật tự an toàn xã hội Khi xảy ra một trong những trường hợp sau đây, hậu quả đó được coi là nghiêm trọng theo quy định của pháp luật.

“gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 2 điều 138 BLHS:

- Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của một đến 2 người với tỉ lệ thương tật mỗi người từ 61% trở lên;

- Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe từ ba đến bốn người với tỉ lệ thương tật mỗi người từ 31% đến 60%;

- Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe nhiều người với tổng tỉ lệ thương tật từ 61% đến 100%, nếu không thuộc các trường hợp trên;

Các hành vi gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe nhiều người với tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% gây hậu quả nghiêm trọng, bên cạnh đó còn thiệt hại về tài sản từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng Những hành động này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn gây thiệt hại đáng kể về mặt tài chính, cần được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật Tăng cường công tác phòng ngừa và kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm là biện pháp nhằm đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội.

Trong quy định về tội trộm cắp tài sản, hậu quả nghiêm trọng không chỉ được xác định dựa trên giá trị tài sản bị chiếm đoạt, mà còn phải bao gồm thiệt hại về tài sản xảy ra ngoài giá trị đó Cụ thể, thiệt hại tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng được coi là hậu quả nghiêm trọng, phù hợp với quy định pháp luật về tính chất và mức độ thiệt hại Do giá trị tài sản bị chiếm đoạt đã được quy định thành tình tiết định khung riêng, việc xác định hậu quả phải căn cứ vào thiệt hại thực tế về tài sản xảy ra ngoài giá trị này để đảm bảo chính xác và phù hợp với quy định pháp luật.

Ví dụ về vụ trộm cắp lô thuốc chữa bệnh cho gia súc trị giá 400 triệu đồng của ông cho thấy hậu quả nghiêm trọng khi thiếu thuốc chữa bệnh dẫn đến chết hàng loạt gia súc Trong trường hợp này, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 100 triệu đồng, tương ứng với giá trị gia súc bị chết vì không có thuốc điều trị, gây thiệt hại về tài chính lên đến 100 triệu đồng Điều này cho thấy rõ tác động tiêu cực của việc mất mát tài sản đối với hoạt động chăn nuôi và kinh tế của người nông dân.

 Trường hợp trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng người phạm tội “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt”

Người bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” nếu đã bị xử phạt hành chính theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hoặc đã bị xử lý kỷ luật theo quy định của cơ quan có thẩm quyền Các hành vi chiếm đoạt bao gồm cướp tài sản, bắt cóc chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, tham ô, và lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, nhưng người vi phạm chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý.

Hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý là theo quy định của luật và Điều lệ Lực lượng vũ trang nhân dân, dựa trên Điều 11 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định rằng, sau một năm kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định mà người bị xử phạt không tái phạm, người đó sẽ được coi là chưa bị xử phạt hành chính. -Tối ưu bài viết luật xử lý vi phạm hành chính, chuẩn SEO chuẩn chỉ cùng [Draft Alpha](https://pollinations.ai/redirect/draftalpha) ngay hôm nay!

Người đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc bị xử lý kỷ luật theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, nhưng chưa quá một năm kể từ khi thi hành quyết định xử phạt hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định, mà still có hành vi trộm cắp tài sản giá trị dưới 2 triệu đồng sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản.

Ví dụ, A đã bị xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản và thi hành xong quyết định xử phạt vào ngày 10/2/2011 Tuy nhiên, đến ngày 25/12/2011, còn trong thời hạn không bị coi là đã bị xử lý lại phạm tội, A tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 400.000 đồng Do đó, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự vì phạm tội trộm cắp tài sản lần thứ hai.

1.4.2.Trách nhiệm hình sự của người phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản

2 điều 138 Bộ luật hình sự

Khoản 2 điều 138 quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ từ 2 năm đến 7 năm:

- Trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản “có tổ chức”

“Phạm tội có tổ chức” đề cập đến hình thức phạm tội có sự cấu kết chặt chẽ giữa các người phạm tội cùng thực hiện hành vi phạm pháp, theo khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự Đây là dạng đặc thù của đồng phạm, biểu hiện rõ nét nhất ở mức độ nguy hiểm cao hơn, do đó được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong pháp luật Ví dụ điển hình là vụ cướp tài sản, trong đó các đồng phạm phân công nhiệm vụ rõ ràng như canh gác, lấy tài sản và chuyển giao tài sản để thực hiện hành vi phạm tội một cách có tổ chức chuyên nghiệp.

Phân biệt dấu hiệu pháp l của tội trộm cắp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác

VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM NÀY TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

2.1 Thực tiễn xét xử tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Dễn Châu, tỉnh Nghệ An

2.1.1 Vị trí địa lí, địa hình và kinh tế - xã hội của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình huyện Diễn Châu

Diễn Châu là huyện ven biển đồng bằng của tỉnh Nghệ An, nằm tại tọa độ 105,30-105,45 vĩ độ Bắc và 18,20-19,50 kinh độ Đông, trải dài theo hướng Bắc - Nam Vùng đất này giáp các huyện Quỳnh Lưu phía Bắc, Nghi Lộc phía Nam, Yên Thành phía Tây và Tây Bắc, cùng biển Đông phía Đông, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao thương hàng hóa Vị trí địa lý thuận lợi thúc đẩy sự giao lưu kinh tế mạnh mẽ, tuy nhiên cũng kéo theo những thách thức trong quản lý nhà nước và sự xuất hiện của các tệ nạn xã hội, là những vấn đề không thể tránh khỏi.

Diễn Châu có hệ thống giao thông phát triển với quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam cùng nhà ga Yên Lý, ga Si , tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và giao lưu liên huyện Quốc lộ 7 nối các huyện miền tây và nước bạn Lào, cùng với quốc lộ 47 lên các huyện tây bắc, góp phần thúc đẩy buôn bán và hội nhập Tuy nhiên, vị trí địa lý thuận lợi này cũng gây ra nhiều vấn đề an ninh, khi các đối tượng tội phạm lợi dụng để thực hiện hành vi trộm cắp, cướp giật và các hành vi phạm pháp khác, làm gia tăng các loại tội phạm và gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội trong huyện.

THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA TỘI PHẠM NÀY TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thực trạng tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, - Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự việt nam thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 2.1 Thực trạng tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, (Trang 44)
Bảng 2.2: Thực tiễn thụ lý giải quyết vụ án tội trộm cắp tài sản trên địa bàn - Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự việt nam thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 2.2 Thực tiễn thụ lý giải quyết vụ án tội trộm cắp tài sản trên địa bàn (Trang 53)
Bảng 2.3: Các hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội trộm cắp tài  sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An năm 2010 - 2014 - Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự việt nam thực tiễn xét xử tội phạm này trên địa bàn huyện diễn châu, tỉnh nghệ an
Bảng 2.3 Các hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An năm 2010 - 2014 (Trang 55)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w