1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam

90 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN .... Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin liên quan đến phạm vi rất rộng và

Trang 1

ĐỖ HOÀNG LAN

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY HEWLETT-PACKARD

VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRI ̣ KINH DOANH

Hà Nội – Năm 2010

Trang 2

-o0o -

ĐỖ HOÀNG LAN

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY HEWLETT-PACKARD

Trang 3

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH VẼ iii

DANH MỤC CÁC HỘP iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 5

1.1 Dịch vụ máy tính cá nhân và sự cần thiết phát triển dịch vụ máy tính cá nhân 5

1.1.1 Máy tính cá nhân và ứng dụng của máy tính cá nhân 5

1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ máy tính cá nhân 7

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin 10

1.2 Nội dung phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin 11

1.2.1 Quá trình phát triển dịch vụ mới 11

1.2.2 Các quan điểm phát triển dịch vụ mới 17

1.2.3 Tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động sáng tạo trong phát triển dịch vụ mới 17

1.2.4 Kiểm tra và đánh giá hoạt động phát triển dịch vụ mới 19

1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ máy tính cá nhân 20

1.3.1 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 20

1.3.2 Nhân tố nội tại doanh nghiệp 24

Trang 4

2.1 Khái quát về công ty Hewlett-Packard Việt Nam 28

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 28

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh 32

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 37

2.2 Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của HP Việt Nam 38

2.2.1 Quy trình phát triển dịch vụ máy tính cá nhân 38

2.2.2 Kết quả phát triển dịch vụ máy tính cá nhân 56

2.2.3 Đánh giá chung về phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của HP Việt Nam 63

CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA CÔNG TY HEWLETT-PACKARD VIỆT NAM 69

3.1 Dự báo thị trường dịch vụ máy tính cá nhân tại Việt Nam và chiến lược kinh doanh của HP Việt Nam 69

3.1.1 Dự báo thị trường dịch vụ công nghệ thông tin 69

3.1.2 Chiến lược kinh doanh của HP Việt Nam 71

3.2 Những đề xuất và kiến nghị cơ bản nhằm phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của HP Việt Nam 76

3.2.1 Những đề xuất với HP 76

3.2.2 Những kiến nghi ̣ với nhà nước 77

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 5

BIOS Basic Input Output System

Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

Bộ xử lý trung tâm

Nghiên cứu và phát triển

Máy tính cá nhân

Trang 6

Số Hiệu Bảng Tên Bảng Trang

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Số Hiệu

chiến lược, chương trình marketing

16

Trang 8

DANH MỤC CÁC HỘP

Trang 9

MỞ ĐẦU

Dịch vụ là một phương thức cạnh tranh hữu hiệu và có xu hướng ngày càng phát triển nhanh, mạnh ở tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Dịch vụ là yếu tố “phần mềm” của sản phẩm hoàn thiện – Sản phẩm theo quan điểm của người tiêu dùng, thỏa mãn tối đa chuỗi nhu cầu của người tiêu dùng Dịch vụ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng kinh doanh, chất lượng phục

vụ khách hàng Vì thế, dịch vụ đóng góp vào việc hình thành văn hóa kinh doanh, tạo nên thương hiệu, khẳng định uy tín và vị thế của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi nói đến kinh doanh, không thể không nói đến cạnh tranh và không thể không chú trọng đến công cụ cạnh tranh Phát triển dịch vụ thương mại là một trong những công cụ cạnh tranh hữu hiệu đó Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin không những là một lợi thế cạnh tranh của các công ty kinh doanh máy tính mà còn là nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng hiện nay

Công ty TNHH Hewlett Packard Việt Nam (HP Việt Nam) được thành lập vào ngày 29 tháng 12 năm 1995 chuyên kinh doanh sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin Trong hơn 12 năm qua, công ty đã đạt được những kết quả kinh doanh đáng ghi nhận và đã trở thành công ty số một trên thị trường Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ thông tin Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng bước đầu, nhưng để không ngừng phát triển, nâng cao uy tín hơn nữa, ngoài những nỗ lực về chất lượng sản phẩm công nghệ cao, cải tiến công tác quản lý kinh doanh, công ty cần đẩy mạnh phát triển dịch vụ công nghệ thông tin nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng Tuy những năm qua, công ty đã chú ý đến phát triển dịch vụ công nghệ thông tin, song chất lượng, loại hình dịch vụ chủ yếu là dịch vụ phần cứng (sửa chữa, thay thế), còn hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ tổng thể tích hợp về giải pháp đa chức

Trang 10

năng cho cả phần cứng và phần mềm nên chưa thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao, đa dạng và phong phú của thị trường công nghệ thông tin Điều này đặt ra vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu lĩnh vực này nhằm đưa ra các giải pháp

để phát huy dịch vụ công nghệ thông tin, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường và nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty

Xuất phát từ các lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett-Packard Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc

sỹ quản trị kinh doanh

Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin liên quan đến phạm vi rất rộng và liên quan đến ba nhóm dịch vụ:

Tuy lĩnh vực công nghệ thông tin tại Việt Nam đã được hình thành và phát triển trong 10 năm qua, song lĩnh vực này thực sự được quan tâm và trở thành một điều kiện thiết yếu của người sử dụng chỉ mới trong 5 năm trở lại đây, khi những yêu cầu hiện đại hóa công nghệ thông tin nhằm phục vụ công tác quản lý Nhà Nước tại các bộ ngành như: Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế, Tổng Cục Hải Quan… và đặc biệt khi thị trường chứng khoán bùng nổ, sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng cổ phần; khi bãi bỏ sự độc quyền của Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) hàng loạt các công ty viễn

Trang 11

dịch vụ công nghệ thông tin là một lĩnh vực hoàn toàn mới và non trẻ, do đó chưa có công trình khoa học cũng như luận văn tốt nghiệp thạc sỹ nghiên cứu

ở công ty Hewlett-Packard Việt Nam

3 MỤC ĐÍCH & NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu đề tài này tác giả nhằm mục đích: Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam, và

do vậy góp phần phát triển dịch vụ công nghệ thông tin ở Việt Nam

Để thực hiện được mục đích trên, Luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin

- Khảo sát thực trạng phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam

- Đưa ra các đề xuất và kiến nghị nhằm phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam

- Luận văn có đối tượng nghiên cứu chính là phát triển dịch vụ máy tính

cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin, trong đó bao gồm cả phần cứng

và phần mềm

- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn ở các dịch vụ máy tính

cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam; Thời gian đánh giá thực trạng

từ năm 2007 đến năm 2009, giải pháp hướng tới năm 2015

Để nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp quan sát thực tiễn (khảo sát); phương pháp phân tích so sánh, phương pháp chuyên gia

Trang 12

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Luận văn đã có những đóng góp sau đây:

- Hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của các doanh nghiệp công nghệ thông tin

- Đề xuất những giải pháp cơ bản để hoàn thiện và phát triển hoạt động dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam và có thể ứng dụng cho các doanh nghiệp cùng điều kiện cũng như góp phần phát triển dịch

vụ máy tính cá nhân ở Việt Nam

Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển dịch vụ máy

tính cá nhân của các doanh nghiệp công nghệ thông tin

Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty

Hewlett-Packard Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty Hewlett-Packard Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ

MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Dịch vụ máy tính cá nhân và sự cần thiết phát triển dịch vụ máy tính

cá nhân

1.1.1 Máy tính cá nhân và ứng dụng của máy tính cá nhân

Với chiếc máy tính cá nhân, những câu chuyện khoa học viễn tưởng đã trở thành khoa học thực tế

Ra mắt lần đầu cách đây 27 năm, chiếc PC khi ấy rất to, lúc hoạt động kêu

ầm ĩ, chỉ thực hiện được các chức năng soạn thảo văn bản và các phép tính cơ bản Nhưng ngày nay, những máy tính sử dụng tại gia đình đã trở thành một cỗ

máy tất cả trong một vô cùng mạnh mẽ, thực hiện chức năng như một nhà hát

kỹ thuật số, phòng chiếu phim, phòng chụp ảnh và máy chơi game điện tử Đối với các công ty trên khắp thế giới, chiếc PC đã tạo năng suất và hiệu quả cao chưa từng có cho quá trình hoạt động kinh doanh của họ Với một PC nối mạng Internet, ngay cả các công ty nhỏ nhất cũng có thể bán sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho khách hàng trong một khoảng thời gian được tính bằng phút và giờ trên phạm vi toàn cầu Trong vòng hai thập kỷ qua, sự tiến bộ không ngừng về mặt công nghệ và sự phát triển của Internet đã thay đổi tương lai của công nghệ điện toán, nếu mỗi chiếc máy PC được ra đời là một lần đổi mới về công nghệ

Ngày nay, có khoảng 75% máy tính dành cho môi trường doanh nghiệp, trong khi chỉ 25% cho người dùng là cá nhân hoặc gia đình Theo thống kê và tính toán của Gartner Dataquest, năm 2008, ngành công nghiệp máy tính đã sản xuất chiếc PC thứ 2 tỷ với cơ hội tăng trưởng lớn nhất tại các thị trường lớn mới nổi như: Trung Quốc, châu Mỹ Latin và Đông Âu

Trang 14

Trong các thập kỷ tới, chiếc PC và hậu duệ của nó sẽ giúp cho các nền kinh tế mới nổi phát triển thành nền kinh tế thông tin Tuy nhiên, việc mở rộng thị trường sẽ đòi hỏi PC phải nhỏ hơn và thậm chí rẻ hơn hiện tại, hơn nữa, phải có nhiều chức năng và hoạt động tốt hơn Những động lực này sẽ thúc đẩy cải tổ công nghệ nhiều hơn, hứa hẹn đem lại những thay đổi liên tục trong chiếc máy tính cá nhân hiện nay và trước đó

Tại Mỹ, hiện nay có khoảng 60% số hộ gia đình sử dụng PC Tỷ lệ này tại Tây Âu và châu Á - Thái Bình Dương lần lượt là 49% và 38% Cuối năm 2007, khoảng gần nửa tỷ người trên khắp thế giới đã có thể truy cập Internet tại nhà Năm 2008, các giao dịch thương mại điện tử trên toàn cầu tạo ra thu nhập trên 615 tỷ USD

Trước đây, chính bộ vi xử lý đã giúp cho các chuyên gia xây dựng nên những chiếc máy tính đơn giản, nhưng loại chip đó vẫn đầy đủ chức năng Nền tảng có nhiều ảnh hưởng đầu tiên là CP/M của Digital Research, cung cấp một

hệ điều hành hoàn thiện được xây dựng trên Basic I/O System (BIOS), có thể tùy chỉnh theo thiết kế phần cứng CP/M cho phép một ứng dụng phần mềm chuẩn chạy trên nhiều nền phần cứng khác nhau, và cho phép các nhà phát triển phần mềm vươn tới những thị trường khổng lồ Tuy nhiên, ngành công nghiệp này đã phải tiêu hao một khối năng lượng khổng lồ cho việc tạo ra các nền phần cứng khác nhau, khiến chi phí tương đối cao mà thị trường lại nhỏ Cống hiến của Intel đối với cuộc cách mạng về máy tính cá nhân bắt đầu bằng việc phát minh ra bộ vi xử lý, vốn được coi như bộ não của máy tính cá nhân, vào năm 1971 Cơ hội lớn dành cho máy tính cá nhân xuất hiện cùng với việc giới thiệu máy PC của IBM vào năm 1981 Mặc dù chiếc máy của IBM hồi đó rất đắt và có một số lượng nhất định những chi tiết vô dụng, nó đã đưa

ra những chuẩn mực bọc thép cho ngành máy tính cá nhân

Từ chip Intel 8080 sử dụng cho máy Altair đến bộ xử lý Intel 8088 4,77 MHz dành cho phát minh máy tính IBM năm 1981, tới nay, quá trình lịch sử

Trang 15

4, bộ xử lý nhanh nhất thế giới hiện nay Các máy tính chạy bộ xử lý Intel Pentium 4 tốc độ 2,53 GHz tạo tính năng cao hơn cho các ứng dụng phương tiện kỹ thuật số và các ứng dụng đa nhiệm dành cho người sử dụng Thập kỷ vừa qua là một quá trình phát triển vượt bực cho công nghệ chip, từ Pentium 4 sang Pentium 4 dual core đến chip core 2 duo và mới nhất hiện nay là core i Ông Pat Gelsinger, Phó chủ tịch kiêm Giám đốc công nghệ của tập đoàn Intel, phát biểu: "Ngày nay, con người phải làm việc với máy tính bằng ngôn ngữ máy tính Sau này, chúng tôi muốn bắt máy tính làm việc với con người bằng ngôn ngữ của con người" Viễn cảnh đó bao gồm cả việc phát triển máy tính cá nhân có thể nhận diện giọng nói và động tác của con người cũng như hình ảnh video, và điều đó có nghĩa là phải đạt được những tiến bộ vượt bậc hỗ trợ cho sự tương tác giữa con người và máy tính, khiến đôi bên thực sự trở nên hòa nhập Tầm nhìn của Intel về việc hoạch định tương lai ngành công nghiệp máy

tính bao gồm phát triển những phương tiện dễ sử dụng, kích thước nhỏ gọn, hỗ

trợ các mô hình ứng dụng mới và có tính di động Tất cả đều cộng hưởng tích cực phục vụ cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp tại những thị trường đã trưởng thành cũng như mới nổi

1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ máy tính cá nhân

1.1.2.1 Dịch vụ máy tính cá nhân là một tích hợp phần cứng và phần mềm

Máy tính cá nhân là một sản phẩm dịch vụ gồm có cả hai cấu phần của công nghệ thông tin: phần cứng và phần mềm Phần cứng và phần mềm phải tương thích thì máy tính cá nhân mới hoạt động được Chỉ có phần cứng mà không có phần mềm thì máy tính cá nhân chỉ như là một vật vô tri vô giác, ngược lại không có phần cứng mà chỉ có phần mềm thì phần mềm cũng vô nghĩa vì không phát huy được tác dụng Đặc điểm này rất quan trọng đối với người mua Họ chỉ nhìn thấy phần cứng nhưng lại hiểu rằng phần mềm mới mang lại lợi ích chính cho họ

Trang 16

Nền công nghiệp máy tính cá nhân gần đây có hai hệ thống chất lượng điều hành phần mềm cạnh tranh Một hệ thống là của Apple Computer, nổi tiếng với hệ thống điều hành Macintosh Nó cực kỳ được sử dụng thông dụng

và chạy trên phần mềm chính xác điều đó có nghĩa phần mềm Apple PC sẽ không chạy trên máy tính khác Bộ nhớ của nó là bộ vi xử lý được cài đặt trong Motorola Trong nhiều năm, hệ thống Macintosh đặc biệt với giá cao

Các lĩnh vực PC khác (và tất nhiên chất lượng nổi trội hơn) dựa vào hệ thống điều hành Microsoft’s Windows Hệ thống điều hành Windows dựa vào

sử dụng bộ hướng dẫn phần mềm thay đổi và biểu tượng để hướng dẫn sử dụng đặc biệt và tổ chức các chức năng PC có hiệu quả Trong nhiều cách, sự lớn mạnh của công nghệ PC trong suốt những năm 1990 có thể được tìm thấy ở phần hệ thống điều hành Window (3.0,3.1), Window95… Trong những năm

2000 Window XP và mới đây nhất là Window7, phiên bản thay thế cho Window Vista đã chiếm được trên 90% người sử dụng lựa chọn bởi tính năng

dễ dàng cài đặt nhiều chương trình đa dạng khác nhau vào máy tính với tốc độ nhanh và chất lượng tốt bởi các nhà quản lý cần hiểu sự tác động mạnh mẽ của môi trường đối với chiến lược và hoạt động của công ty

1.1.2.2 Dịch vụ máy tính cá nhân gắn với nhu cầu sử dụng cá nhân

Ngay tên gọi máy tính cá nhân cũng đã phần nào phản ánh tính cá nhân của việc sử dụng máy Vì vậy, máy tính cá nhân thường thể hiện cái tôi của người sử dụng, chứa đựng những thông tin mà cá nhân đó có được Vì vậy, khi phát triển dịch vụ máy tính cá nhân cần phân loại khách hàng theo các tính cách tiêu biểu Từ đó cho ra đời các loại máy tính khác nhau: Máy tính doanh nhân, máy tính sinh viên, máy tính thời trang, máy tính văn phòng…

Trong những năm đầu tiên của thập kỷ 80, mặc dù máy tính cá nhân được bắt đầu sản xuất và phân phối với số lượng lớn nhưng nó đã trở thành công cụ chính ở văn phòng, phòng thí nghiệm, nhà máy, nhà riêng, trong vali và bây giờ thậm chí ở trong xe hơi Sự có mặt khắp nơi của máy tính cá nhân ở nhiều dạng

Trang 17

tác dụng, ưu thế, tốc độ và những ứng dụng nhanh của máy tính chiếm ưu thế Máy tính cá nhân (PC) rất sẵn để buôn bán với số lượng lớn, không chỉ hãng bán lẻ điện tử như Best Buy, Circuit City và Radio Shack mà trực tuyến từ nhà sản xuất và cung cấp qua Internet là một hiện tượng mà chỉ có máy tính cá nhân

có thể thực hiện và phát triển khắp mọi nơi

"Sản xuất máy tính "thể hiện cá tính" là cam kết của chúng tôi với khách

hàng, cũng như là động lực thúc đẩy khách hàng đưa ra quyết định trải nghiệm những công nghệ tiên tiến của HP." ông Todd Bradley, Phó Chủ tịch cấp cao,

Nhóm Máy Tính Cá Nhân của HP, phát biểu "Từ những thiết kế tinh tế thể

hiện cá nhân, công nghệ đột phá cho ra đời các giao diện cảm ứng "hiểu ý" người dùng, đến công nghệ màn hình hiển thị hơn một tỷ màu đã chứng minh cho người tiêu dùng, cũng như các ngành công nghiệp trên toàn thế giới sự nỗ lực của chúng tôi, nhằm sản xuất những sản phẩm phần cứng và phần mềm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu ngày càng đa dạng của họ" (Nguồn:

http//:www.hp.com)

1.1.2.3 Dịch vụ máy tính cá nhân có chu kỳ sống ngắn

Những nhà sản xuất máy tính cá nhân lớn của thế giới đều biết rằng, một dòng máy tính cá nhân xuất hiện và suy thoái rất nhanh, tức là chu kỳ sống của một dòng sản phẩm ngày càng rất ngắn Vì vậy phải tính kỹ giá cả cũng như chính sách phân phối để không bị các đối thủ cạnh tranh đánh bại bằng tốc độ đổi mới bằng các máy tính cá nhân có bộ vi xử lý nhanh hơn, kiểu dáng đẹp hơn, giá cả rẻ hơn Máy tính cá nhân hiện hành đa tác dụng hơn bất kỳ sản phẩm cùng loại chỉ cách đây mấy tháng trước đó Chúng có thể được thấy ở hầu hết các màn hình, cỡ, đối với PC thế hệ mới nhất được thiết kế sao cho phù hợp với lòng bàn tay Mỗi thế hệ PC mới, với chức năng, tốc độ và độ đa tác dụng hơn thế hệ cũ Sự đa chức năng của PC dùng trong (Ví dụ: email, máy fax, truy cập internet, video game, hệ thống máy tính điều khiển tại nhà, giải trí video và audio) đang biến PC thành công cụ toàn cầu đa chức năng như bộ não tổng hợp điều khiển nhiều bộ phận riêng biệt Các bộ vi xử lý (như Intel

Trang 18

pentium, core 2 duo, core I hay AMD chips) phát triển qua nhiều năm dễ dàng cho mọi lứa tuổi có thể sử dụng PC trong vài giờ Việc học qua PC trở nên dễ dàng hơn bởi nhiều tiến bộ phần mềm mới nhất không đòi hỏi khách hàng ghi nhớ lắp đặt số và chương trình máy của họ sử dụng hướng dẫn khó hiểu Thậm chí PC thế hệ đầu có thể chuyển fax, chuyển thư điện tử, chơi video, tính thuế, làm bảng tính và thậm chí cân đối sổ sách

Theo quy luật trong 30 năm qua, giá của máy tính cá nhân mỗi giảm xuống 15- 20%, sự phát triển mạnh nhất của PC xuất hiện trong mẫu hàng bán với giá dưới 1000 USD, hiện nay tốc độ nhanh hơn và hữu hiệu hơn so với các mẫu hàng đã bán trên 3.500$ mấy năm trước đó Loại máy dưới 1.000$, nhìn chung có nhiều ưu điểm nổi trội, bao gồm bộ vi xử lý nhanh, hệ thống điều khiển phần mềm CD-ROM, máy stereo và vô số bộ phận với các chức năng khác đa dạng như scanners, máy in, máy in, máy camera kỹ thuật số, và các phụ kiện khác

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin

Tiêu chí đánh giá mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty công nghệ thông tin cơ bản là:

1.1.3.1 Thị phần của công ty trong ngành máy tính cá nhân

Thị phần là tiêu chí rõ nhất cho thấy mức độ phát triển dịch vụ máy tính

cá nhân của công ty công nghệ thông tin Thị phần được đo bằng tỷ lệ giữa doanh thu máy tính cá nhân của công ty so với doanh thu của toàn ngành Nếu thị phần càng lớn thì mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân càng cao và ngược lại Ngoài ra cũng có thể sử dụng tiêu chí doanh thu của công ty so với doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành cung cấp dịch vụ máy tính cá nhân để đánh giá mức độ phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của chính công ty

Trang 19

1.1.3.2 Mức độ nổi tiếng của thương hiệu

Thương hiệu là một sự nhận thức cố hữu trong tâm trí khách hàng Nó không phải là trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, vật dụng hay đội ngũ nhân lực Vì vậy độ nổi tiếng của thương hiệu cũng được coi là tiêu chí đánh giá mức độ phát triển dịch vụ của công ty công nghệ thông tin, vì nó cho biết công ty đã tạo ra ấn tượng về sản phẩm và dịch vụ của mình cung cấp trong tâm trí khách hàng đến đâu Mức độ ấn tượng của khách hàng càng cao hay nói cách khác mức độ nổi tiếng của thương hiệu càng lớn thì chứng tỏ độ thành công của phát triển dịch vụ máy tính cá nhân cao

1.1.3.3 Số lượng dự án phát triển sản phẩm mới được thị trường chấp nhận

Công ty đã tiến hành được bao nhiêu dự án về máy tính cá nhân, bao nhiêu trong đó là được thị trường chấp nhận, bao nhiêu là phải từ bỏ Tỷ lệ thành công của các dự án về máy tính cá nhân so với tỷ lệ thất bại cũng được coi là một trong những tiêu chí đánh giá về thành công của phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của công ty công nghệ thông tin

1.2 Nội dung phát triển dịch vụ máy tính cá nhân của doanh nghiệp công nghệ thông tin

1.2.1 Quá trình phát triển dịch vụ mới

1.2.1.1 Phát hiện và tìm kiếm ý tưởng

Ý tưởng về sản phẩm mới có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau, có thể nó xuất hiện từ nội bộ doanh nghiệp: từ các nhân viên hay từ những nhà quản lý và cũng có thể nó đến từ bên ngoài thông qua các tổ chức nghiên cứu, khách hàng hoặc chính các đối thủ cạnh tranh…

Doanh nghiệp có càng nhiều ý tưởng thì khả năng chọn được ý tưởng tốt càng cao Đối với doanh nghiệp nhỏ nên chủ động khai thác nguồn ý tưởng từ nội bộ do nguồn này dễ tác động, ít tốn kém về tiền bạc và thời gian để khai thác Và hơn thế nữa các ý tưởng này thường khả thi, sát với thực tế hơn bởi vì các ý tưởng từ nội bộ thường nảy sinh do va chạm với thực tế, tiếp xúc với

Trang 20

khách hàng và quan sát đối thủ cạnh tranh Ngược lại các doanh nghiệp có quy

mô lớn, có vị thế nhất định trong thị trường thì ngoài việc tận dụng ý tưởng từ nội bộ thông qua các hoạt động nghiên cứu, tiếp xúc thì cũng có thể xem xét mua lại quyền sáng chế từ các cá nhân, tổ chức nghiên cứu hoặc từ chính đối thủ cạnh tranh Làm như vậy doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được thời gian, tạo dựng được vị thế cho doanh nghiệp mình một cách nhanh chóng

Để thu thập ý tưởng về sản phẩm mới đòi hỏi các nhà quản trị cần quán triệt khái niệm về sản phẩm mới ở hai khía cạnh sau: chỉ rõ những lợi ích sẽ được khách hàng tiềm năng chấp nhận và nhận diện các đặc trưng vật lý hoặc

kỹ thuật nào sẽ mang lại những lợi ích đó Chính quan niệm về sản phẩm đó là đường dẫn cho việc phát hiện và tìm ra ý tưởng

1.2.1.2 Sàng lọc ý tưởng

Không phải mọi ý tưởng đều có thể thực hiện được, nên doanh nghiệp cần

có công đoạn sàng lọc ý tưởng khả thi Ở giai đoạn này một số lượng lớn các ý tưởng sẽ được đánh giá để lựa chọn ra những ý tưởng thích hợp nhất Qua đó, nhà quản trị đã bắt đầu đánh giá về mức độ của nhu cầu tiềm năng, nhận diện các cơ hội thành công cũng như thách thức của sản phẩm, dự đoán được mức

độ không chấp nhận sản phẩm

Việc đánh giá các ý tưởng dựa trên cơ sở thông tin có được từ các hoạt động như nghiên cứu tiềm năng thị trường, thử nghiệm quan điểm (thăm dò mối quan tâm của khách hàng về sản phẩm trước khi phát triển mẫu sản phẩm)

và mô hình cho điểm (đánh giá tính hấp dẫn chung của các quan niệm về sản phẩm mới)

1.2.1.3 Phát triển sản phẩm

Phát triển sản phẩm là công việc kỹ thuật để chuyển đổi quan niệm về sản phẩm thành sản phẩm thực tế Nội dung bước này gồm 3 dạng hoạt động:

- Phát triển sản phẩm về mặt kiến trúc

Trang 21

Kiến trúc sản phẩm là những đặc trưng của các bộ phận, các yếu tố cấu thành, các tập hợp, kỹ thuật và mối quan hệ giữa chúng Kiến trúc là kế hoạch

cơ sở để tin tưởng rằng quan niệm sản phẩm sẽ được thực hiện

- Ứng dụng thiết kế công nghiệp

Thiết kế công nghiệp là quá trình tạo ra và phát triển những đặc trưng của sản phẩm cho phép tối ưu hóa chức năng, giá trị và sự xuất hiện của sản phẩm Thiết kế công nghiệp giúp công ty tin tưởng rằng sản phẩm có thể thực hiện được và nó cũng là một cách giới thiệu tốt sản phẩm với thị trường

- Đánh giá những yêu cầu của sản xuất

Việc phát triển sản phẩm luôn phải đối mặt giữa mâu thuẫn về tăng các lợi ích của sản phẩm và giảm chi phí sản xuất sản phẩm Nhiệm vụ của khâu này là đánh giá chi phí sản xuất của dự án và quyết định loại bỏ các chức năng nào đó của sản phẩm để có thể giảm thiểu được chi phí sản xuất mà vẫn đảm bảo mức độ hiệu quả của sản phẩm

1.2.1.4 Thử nghiệm sản phẩm và thử nghiệm thị trường

Mục đích của giai đoạn này nhằm cung cấp sự đánh giá chi tiết hơn về cơ hội thành công của sản phẩm, nhận diện các điều chỉnh cần thiết cuối cùng cho sản phẩm và phát hiện các yếu tố cấu thành quan trọng của chương trình marketing sử dụng khi giới thiệu sản phẩm

Giai đoạn này gồm 4 hoạt động thử nghiệm sau:

- Thử nghiệm kỹ thuật: Những thông tin có được ở giai đoạn này sẽ

giúp ích cho việc đưa ra các thiết kế cải tiến cuối cùng của sản phẩm mới và đưa ra các gợi ý cho các chương trình marketing của doanh nghiệp Đồng thời việc thử nghiệm kỹ thuật cũng cung cấp thông tin về đời sống của sản phẩm, những khiếm khuyết tiềm năng, thời gian bảo quản thích hợp và những vấn đề phát sinh khi sử dụng

- Thử nghiệm ƣu tiên lựa chọn của khách hàng và sự thỏa mãn:

Khách hàng sẽ được thử nghiệm với phiên bản cuối cùng của sản phẩm mới Nó

Trang 22

cho phép những người làm marketing nhìn ra hướng đi đúng cho chiến lược quảng

bá sản phẩm và ước lượng được doanh thu có thể thu được từ sản phẩm mới

- Thử nghiệm thị trường giả: hay còn gọi là thử nghiệm trong phòng thí

nghiệm Đó là việc thực hiện phỏng vấn thái độ và ưu tiên lựa chọn khi mua của khách hàng trước và sau khi thử nghiệm cho khách hàng dùng thử sản phẩm Nó cung cấp thông tin cho nhà quản trị quyết định có nên đưa sản phẩmo mới ra thử nghiệm ở thị trường thực hay không

- Thử nghiệm marketing: trước khi sản phẩm mới có mặt trên thị trường

hoàn hảo đòi hỏi nhà quản trị phải thử nghiệm sản phẩm mới tại một thị trường mục tiêu nhất định Việc bán hàng sẽ được thực hiện trong khoảng thời gian một hoặc vài tuần và một nghiên cứu marketing sẽ được thực hiện song song với nó Doanh nghiệp cũng không nhất thiết phải thực hiện thử nghiệm thị trường nếu sản phẩm mới có các đặc tính sau: Rủi ro không thành công là thấp trong mối quan hệ với chi phí thử nghiệm marketing, sản phẩm mới có chu kỳ đời sống ngắn, sự tấn công của đối thủ là quan trọng, vì sản phẩm mới có thể dễ dàng bắt chước và giá cơ bản, bao bì và khuyến mại có thể dự đoán chính xác

được

1.2.1.5 Phân tích kinh doanh

Mục đích của bước này là để nắm được tình hình tài chính một cách đầy

đủ hơn về việc giới thiệu sản phẩm mới đem lại, những dự báo cho thị trường cũng như những tác động đến sản phẩm hiện có

Phân tích tài chính cho một sản phẩm mới luôn khác xa so với phân tích tài chính cho sản phẩm hiện tại về khung thời gian Lượng bán và chi phí cho sản phẩm mới thường thay đổi rất nhanh theo thời gian Lượng bán và chi phí cho sản phẩm mới thường ít thích nghi ngay và chi phí cho marketing thường cao hơn trong năm đầu tiên đưa sản phẩm ra thị trường so với các năm tiếp theo

do cần tạo sự thức tỉnh của khách hàng, khuyến khích dùng thử và tạo động lực cho phân phối

Trang 23

Nhà quản lý cần đánh giá được quy mô đầu tư yêu cầu khi đo lường khả năng sinh lời của sản phẩm mới Các chi phí tăng thêm của sản phẩm mới cần được xem xét đầy đủ, những tác động tới lượng bán của sản phẩm hiện tại cũng cần phải được chú ý tới Các sản phẩm mới có thể đòi hỏi khoản đầu tư bổ sung

để mua sắm trang thiết bị đây cũng phải được xem xét tới cả ở chi phí cơ hội cho việc dùng khoản tiền đó đầu tư cho một dự án khác

1.2.1.6 Thương mại hóa sản phẩm

Thương mại hóa bao gồm lập kế hoạch và thực hiện chiến lược phát động

và giới thiệu sản phẩm trên thị trường Chiến lược này gồm 3 yếu tố cấu thành

- Quyết định về thời gian giới thiệu sản phẩm

Thời gian là quan trọng đứng trên cả quan điểm nhu cầu khách hàng và cạnh tranh Đối với nhu cầu khách hàng, một số loại sản phẩm mang tính thời

vụ do đó thời điểm giới thiệu tốt nhất là trước giai đoạn nhu cầu là cao nhất vì: Khi lượng bán của ngành đạt được mức độ cao, sản phẩm mới sẽ đạt được doanh thu ở mức cao hơn, nó sẽ bù đắp được chi phí marketing cao Thêm vào

đó, rất nhiều người mua hàng không cần thiết mua nhãn hiệu ở thời điểm những tháng có nhu cầu cao do đó ít trung thành hơn đối với sản phẩm hiện tại Trên quan điểm cạnh tranh, công ty thâm nhập thị trường càng sớm thì cơ hội đạt được sự thức tỉnh của khách hàng và thị phần càng cao Sản phẩm của đối thủ cạnh tranh càng giống sản phẩm của công ty thì việc tham gia sớm và thị trường càng là quan trọng

- Lựa chọn chiến lƣợc nhãn hiệu

Sự chấp nhận của khách hàng đối với sản phẩm mới thường chịu ảnh hưởng bởi hình ảnh của tên nhãn hiệu Nhãn hiệu sản phẩm có giá trị cao sẽ làm giảm rủi ro chấp nhận sản phẩm của khách hàng và làm tăng hi vọng về thành công của sản phẩm Nếu nhãn hiệu của công ty là mạnh thì việc sử dụng

nó cho sản phẩm mới sẽ rất thành công cho sản phẩm mới tham gia vào chu kỳ đời sống của loại sản phẩm Nhưng cũng có thể các sản phẩm hiện tại sẽ phải chia sẽ khách hàng với sản phẩm mới cùng loại vì thế một số công ty có thể lựa

Trang 24

chọn việc thiết lập một nhãn hiệu mới để tạo ra hình ảnh cần thiết hỗ trợ cho chiến lược marketing hoặc do nhà quản trị muốn thu hút khách hàng của đối thủ cạnh tranh

- Phối hợp chương trình marketing giới thiệu sản phẩm

Thành công của bất cứ sản phẩm mới nào cũng bị ảnh hưởng bởi tính hiệu quả của các chương trình marketing được sử dụng cho việc giới thiệu mới Do

đó đòi hỏi các chương trình này cần tạo ra mức độ tin tưởng chắc chắn về sự thức tỉnh và sự hiện diện của sản phẩm

Quá trình phát triển dịch vụ mới không hoạt động một cách độc lập mà nó

có mối quan hệ mật thiết với các chiến lược khác trong công ty Điều đó được thể hiện khá rõ trong hình 1.1

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa chương trình phát triển sản phẩm mới và

các chiến lược, chương trình marketing

Kế hoạch marketing của công

ty

Chiến lược marketing

Các loại sản phẩm mới mong đợi

Quá trình phát triển sản phẩm mới

Phát động

Chương trình giá

Chương trình phân phối

Chương trình quảng cáo

Marketing trực tiếp và khuyến mại

Trang 25

1.2.2 Các quan điểm phát triển dịch vụ mới

1.2.2.1 Quan điểm “Gác cổng”

Mục đích của việc xây dựng quy trình chính thức cho phát triển sản phẩm mới là quản lý sự tiến triển của tư tưởng sản phẩm mới vì nó phải trải qua các hoạt động phát triển và thử nghiệm khác nhau Ở mỗi giai đoạn nhà quản lý cần thu thập những thông tin bổ sung để giảm thiểu tính thông chắc chắn về sự phù hợp của sản phẩm qua đó ra các quyết định tức thời tại từng công đoạn của quá trình phát triển sản phẩm mới

Thực chất của quan điểm này là duy trì sự kiểm soát về chi phí cho việc phát triển sản phẩm mới thông qua xác lập cân đối giữa chi phí đầu tư và giá trị của thông tin bổ sung Thông qua đánh giá mỗi ý tưởng sau mỗi giai đoạn, nhà quản trị sẽ quyết định mở cổng tiếp hay không nhàu thủ tiêu các chi phí về thời gian và tiền bạc khi lợi nhuận mang lại của sản phẩm mới là không đáng kể

1.2.2.2 Quan điểm phát triển song song

Mặc dù quá trình phát triển sản phẩm mới xây dựng cho từng bước nhưng

nó cũng bao gồm một nhóm các hoạt động do đó cũng có một số các nghiệp vụ được thực hiện đồng thời nhau trong mỗi giai đoạn nhất định với mục đích làm cho quá trình phát triển nhanh nhất có thể Nó cho phép các nhà quản trị ở các

vị trí khác nhau có thể tham gia sớm hơn vào quá trình phát triển sản phẩm mới tạo ra một động lực thúc đẩy quá trình phát triển sản phẩm mới sẽ nhanh hơn Trong kinh doanh, tốc độ là rất quan trọng vì khi sản phẩm mới được đưa

ra thị trường sớm hơn nó sẽ làm giảm thiểu chi phí về thời gian và quản lý cho việc phát triển sản phẩm mới, hơn nữa nó sẽ kéo dài thời gian tồn tại của sản phẩm trên thị trường Bên cạnh đó, việc tham gia sớm cho phép công ty có thể tấn công đối thủ cạnh tranh, đạt được thị phần cao hơn so với những người đến muộn

Trang 26

1.2.3 Tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động sáng tạo trong phát triển dịch

vụ mới

Các công ty thường sử dụng rất phổ biến hình thức tổ chức các đội công tác trong quá trình phát triển sản phẩm mới Thông thường, các đội công tác được hình thành khi ý tưởng về sản phẩm mới được chấp nhận Quy mô và cơ cấu của đội phụ thuộc vào quy mô của dự án, tính chất phức tạp về kỹ thuật và mức độ mới của sản phẩm Để đảm bảo thành công cho sản phẩm mới, việc xây dựng các đội công tác phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Tất cả các chức năng cơ bản (ít nhất là marketing, sản xuất, kỹ thuật) phải được hiện diện trong đội

- Các thành viên phải được bố trí gần nhau

- Các thành viên phải tham gia trong suốt quá trình

- Các thành viên phải tự nguyện tham gia và hoạt động với toàn bộ thời gian Việc phát huy tối đa sự đóng góp của tất cả các thành viên trong công ty là hết sức quan trọng Thông thường để tạo ra một môi trường làm việc hiệu quả, phát huy tối đa khả năng sáng tạo của nhân viên thì đòi hỏi nhà quản trị phải chú trọng đến một số điểm sau:

- Tăng sự tín nhiệm đối với nhân viên, tạo tính chủ động trong công việc cho nhân viên Tin nhầm và hoài nghi nhân viên là chất độc đối với sự sáng tạo phải bị loại ra khỏi hệ thống quản lý

- Tạo ra cơ chế hoạt động thông thoáng, ở đó người lao động có thể trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo và đóng góp ý kiến kịp thời cho cấp lãnh đạo

- Có chế độ khen thưởng động viên thích hợp đối với người lao động cả về vật chất lẫn tinh thần Những đóng góp của người lao động phải được công nhận Một số lãnh đạo sẵn sàng trích phần trăm lợi nhuận cho những ý tưởng mới

- Mở rộng và khám phá sự đặc biệt Phải tạo ra một hệ thống quản lý coi trọng sự khác biệt, sự bất đồng và sự phân rẽ cũng như sự hài hòa, đồng nhất và liên kết

Trang 27

- Tái sáng tạo việc đưa ra chiến lược như một quá trình nổi bật Trong một môi trường cạnh tranh luôn thay đổi đòi hỏi nhà quản trị thường xuyên phải làm mới lại các chiến lược kinh doanh của mình

- Mở rộng hơn trí tưởng tượng của các nhân viên Điều này hầu như được hiểu là điều gì khuyến khích sự sáng tạo của nhân viên Nhận thức này cần phải được áp dụng tốt hơn trong việc thiết kế hệ thống quản lý, hỗ trợ các nhân viên có chung sự say mê trong công việc Để tối đa hóa sự tham gia của các nhân viên, hệ thống quản lý phải hỗ trợ việc thành lập các cộng đồng tự định và đam mê

- Đào tạo lại tư tưởng về quản lý Các kỹ năng phân tích và suy diễn truyền thống của nhà quản lý phải được bổ sung với các kỹ năng suy nghĩ hệ thống và khái niệm

Trong hệ thống quản lý sáng tạo, nhà quản trị phải vừa biết động viên và vừa tạo điều kiện cho các thành viên tham gia vào quá trình sáng tạo Cung cấp các khóa đào tạo cho nhân viên của mình, tạo thói quen tiếp thu ý kiến khách hàng cho các nhân viên

và phát huy tối đa tính tự chủ của nhân viên trong công việc

1.2.4 Kiểm tra và đánh giá hoạt động phát triển dịch vụ mới

Kiểm tra và đánh giá hoạt động phát triển dịch vụ mới là hết sức quan trọng, nó phải được tiến hành thường xuyên tại các khâu trong hoạt động phát triển dịch vụ mới: Thu thập ý tưởng, sàng lọc và phát triển ý tưởng đến khâu thử nghiệm, phân tích và triển khai thực hiện tới khách hàng Những thông tin

có được từ công tác kiểm tra đánh giá ở từng giai đoạn sẽ là căn cứ để người quản lý quyết định có nên tiếp tục phát triển sản phẩm nữa hay không

Việc phát triển sản phẩm mới luôn chứa đựng những rủi ro rất cao về sự thành công của nó Chúng ta đều biết sự cần thiết phải phát triển sản phẩm mới

là điều dễ tìm thấy sự nhất trí trong những người có trách nhiệm của doanh nghiệp Song họ lại không thể khẳng định được một cách chắc chắn sự thành công của việc tung sản phẩm mới ra thị trường, hoặc mức độ thành công có thể thu được từ phát triển sản phẩm mới sẽ là bao nhiêu Dù đã có sự nghiên cứu

Trang 28

thị trường, khách hàng và đối thủ cạnh tranh, nhưng những rủi ro có thể gặp phải trong kinh doanh sản phẩm mới và mức độ tác động của những rủi ro này

là những yếu tố không thể tiên liệu hết, thậm chí không thể tiên liệu trước được

Do đó, cần phải đánh giá và dự báo mức độ rủi ro khi đưa sản phẩm mới ra thị trường một cách chính xác nhất

Đánh giá những kết quả về tài chính cho sự phát triển sản phẩm mới Phát triển sản phẩm mới bao giờ cũng đòi hỏi những điều kiện về kinh tế - tài chính mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng bảo đảm được Với các doanh nghiệp quyết tâm thực hiện phát triển sản phẩm mới, cần phải dành một ngân quỹ thỏa đáng cho việc thực hiện các công việc khác nhau của quá trình phát triển sản phẩm mới Ngân quỹ này phải đủ lớn để nắm bắt được những thành tựu mới của khoa học và công nghệ liên quan đến doanh nghiệp, để phản ứng mau lẹ với sự thay đổi của thị trường Và điều quan trọng là phải đánh giá được kết quả của sản phẩm mới đem lại có thể đủ bù đắp cho những chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra

1.3 Những nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ máy tính cá nhân

1.3.1 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

1.3.1.1 Internet

Việc xuất hiện Internet đã làm cho nhu cầu về dịch vụ máy tính cá nhân tăng lên rất nhanh Người ta giao tiếp và làm việc với nhau thông qua mạng Internet Kể từ khi nhà khoa học người Anh – Tim Berners-Lee phát kiến ra mạng toàn cầu và đăng tải địa chỉ web đầu tiên vào năm 1991 thì cách nhìn

về máy tính cá nhân bắt đầu thay đổi: đánh dấu giai đoạn chuyển từ hệ thống

vi tính dựa trên máy tính sang các hệ thống dựa trên Internet Từ thời điểm này, số người sử dụng các tiện ích do internet và web đem lại đã tăng với tốc

độ rất nhanh Trong vòng năm năm, số lượng người sử dụng internet tăng vọt

từ 600.000 lên 40.000.000 Có những giai đoạn, số lượng người sử dụng liên

Trang 29

tục tăng gấp đôi chỉ sau 53 ngày Việt Nam cũng không là ngoại lệ của xu hướng này (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1: Số lượng người dùng Internet ở Việt Nam, 2006-2008

Số người dùng 14.683.783 18.500.000 20.834.401

Tỷ lệ số dân sử dụng Internet 17,67% 22,04% 24,04% Tổng thuê bao

băng rộng ADSL 516.569 1.294.111 2.048.953

(Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông)

Đóng góp vào việc thúc đẩy nhu cầu sử dụng máy tính cá nhân trên toàn cầu chính là việc phát minh ra trình duyệt Internet của Netscape và sau đó là Internet Explore của Microsoft Quyết định của Microsoft cung cấp miễn phí trình duyệt Internet Explore đã làm cho nhiều người tiếp cận được với Interner

và kỷ nguyên số hóa đã mở ra Đây chính là đòn bẩy mạnh mẽ cho việc sử dụng máy tính cá nhân của các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân Việc xuất hiện thương mại điện tử, công cụ tìm kiếm Google hay facebook đã trở thành động lực cho mọi người biến máy tính cá nhân trở thành công cụ thiết yếu cho công việc và cuộc sống

1.3.1.2 Sự phát triển của kinh tế tri thức

Khái niệm kinh tế tri thức xuất hiện vào đầu những năm 80 của thế kỷ 20, nhưng chỉ gần đây mới rộ lên, nhất là từ khi phát triển máy tính cá nhân, rồi Internet và xa lộ thông tin Cách đây khoảng một số năm, thị trường chứng khoán ở Mỹ bốc lên đột ngột theo sự bùng nổ các công ty dot.com, nhiều người tưởng thế giới này chỉ có đầu tư vào đó mới là khôn ngoan nhất Nhưng rồi cũng xẹp xuống như bong bóng Sau một thời các ngành kinh doanh dựa vào công nghệ thông tin phát đạt chưa từng thấy, thì bóng ma suy thoái lại rình

Trang 30

rập Thị trường vi tính chững lại, hàng loạt công ty công nghệ cao, kinh doanh điện tử, ngay cả ở Silicon Valley, bắt đầu những cuộc sa thải, co cụm lại để chống đỡ luồng khí lạnh có cơ lan tràn (riêng cổ phiếu Microsoft đã sụt hàng chục tỷ USD) Tuy nhiên, nhiều người đánh giá, đây chỉ là thời kỳ tạm lắng để chuẩn bị bùng lên theo một hướng mới Chính vì thế mà Chính phủ Nhật Bản, mặc dù kinh tế còn ảm đạm, vẫn dự định đầu tư 30 tỷ USD vào công nghệ thông tin trong vài năm tới, coi đó là một trong các hướng chính để thoát ra khỏi thế trì trệ kéo dài mấy năm nay

Các bộ óc lớn đang chuẩn bị cho một bước ngoặt công nghệ mới: Sau máy tính cá nhân là gì? Phải chăng là Truyền thông đa phương tiện không dây,

từ điện thoại di động 3G, 4G, phát triển lên truyền thông đa phương tiện gọn nhẹ, nhanh chóng mà không cần dây nhợ lòng thòng, cho phép không chỉ điện thoại, thư điện tử và fax, mà cả kết nối Internet, truy cập Web, thực hiện mọi dịch vụ điện tử hai chiều, ở đâu cũng nhận được và gửi đi được mà không cần đến máy tính cá nhân hay để bàn cố định như hiện nay Có nghĩa là xã hội đa phương tiện không dây đang tới gần Các hãng Nokia (Phần Lan), Ericsson (Thụy Điển), DoCoMo (NTT Nhật Bản) hiện đã đi trước Motorola của Mỹ trong cuộc chạy đua về cái đích đó Bên cạnh đó, nào là bản đồ gen người, nhân bản người vô tính, thực phẩm biến đổi gen, rồi bệnh bò điên, dịch súc vật

lở mồm long móng, v.v , biết bao nhiêu chuyện rắc rối nảy sinh từ cách mạng công nghệ và toàn cầu hóa Có người gọi kinh tế tri thức là kinh tế mạng, để nhấn mạnh rằng chưa bao giờ thế giới tràn ngập những tổ chức mạng như bây giờ, cho nên cách nghĩ, cách quản lý, cách làm việc theo một hệ thống có trên

có dưới, tôn ti trật tự theo kiểu phong kiến hay tư bản thời công nghiệp hiện đại cũng đã lỗi thời Nói theo thuật ngữ khoa học, chưa bao giờ thế giới bộc lộ tính hệ thống phức tạp cao như bây giờ Không gian mở rộng, thời gian rút ngắn, thông tin dồn dập, các loại hiệu ứng dây chuyền (kiểu như khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997), hiệu ứng phụ (kiểu như các hiệu ứng môi trường),

Trang 31

theo những quy luật phi tuyến (cấp số nhân hay hàm mũ: chẳng hạn cứ 18 tháng, tính năng máy tính tăng gấp đôi nhưng giá thành còn bằng nửa), với độ ngẫu nhiên và phức tạp không ngừng tăng lên Nhiều vấn đề quản lý kinh tế xã hội đều không thể nhìn nhận theo tầm mắt và quan niệm cũ Hơn bao giờ hết, thành công trên các lĩnh vực kinh doanh hay khoa học, công nghệ thường bắt nguồn ở những ý tưởng mới, ngược lại thất bại thường do tư duy xơ cứng, không chuyển kịp tình hình Đã bước sang kỷ nguyên kinh tế tri thức với những đột biến công nghệ liên tục thì trên mọi mặt đời sống kinh tế xã hội, đối với từng người hay từng cộng đồng sự thành bại được quyết định trước hết bởi khả năng nhận thức được kịp thời những thay đổi và thích ứng mau lẹ với những thay đổi đó, kể cả bằng cách tự thay đổi và hoàn thiện bản thân Nhìn lại

xã hội Việt Nam ta cũng thấy rõ mọi thành công hay hư hỏng đều có nguồn gốc sâu xa là tư duy có đổi mới kịp tình hình hay không

và số người sở hữu máy tính cá nhân đã tăng lên chưa từng có

Như vậy, môi trường thể chế liên quan đến dịch vụ máy tính cá nhân gồm các yếu tố:

- Chính sách quản lý đối với internet

- Chính sách đối với sản xuất và xuất nhập khẩu máy tính cá nhân

- Chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng xa lộ thông tin

Trang 32

1.3.1.4 Môi trường tâm lý xã hội

Môi trường tâm lý xã hội cũng ảnh hưởng khá mạnh đến nhu cầu sử dụng máy tính cá nhân ở Việt Nam Dân số Việt Nam trẻ, khao khát thông tin nên thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ máy tính cá nhân Tuy nhiên có một số rào cản đối với các công ty công nghệ thông tin trong việc phát triển dịch vụ máy tính cá nhân: (i) rào cản kỹ thuật: người tiêu dùng lo lắng về sự phức tạp của máy tính và những khó khăn khi học hỏi cách sử dụng cũng như rủi ro hỏng hóc có thể gặp phải khi vận hành máy tính; (ii) rào cản kinh tế: đối với đại đa số người tiêu dùng, giá trị của chiếc máy tính cá nhân vượt xa nhu cầu chi trả…

1.3.2 Nhân tố nội tại doanh nghiệp

1.3.2.1 Chiến lược của doanh nghiệp

Chiến lược của doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đối với phát triển dịch vụ máy tính cá nhân Các công ty công nghệ thông tin thường có các chiến lược khác nhau trong từng giai đoạn

Microsoft ngay từ khi thành lập đã không định hướng vào phần cứng nhưng tập trung phát triển phần mềm cho máy tính cá nhân Phương châm chiến lược của Microsoft là: “Hãy đứng trên vai người khổng lồ” Vì vậy họ hợp tác chặt chẽ với IBM để phát triển dịch vụ máy tính cá nhân cho toàn thế giới và làm thay đổi cả chiến lược của IBM Chính sự hợp tác Microsoft – IBM đã góp phần tạo ra tiêu chuẩn cho ngành kinh doanh máy tính cá nhân Dell tập trung vào chiến lược tạo ra máy tính cá nhân cho đại chúng Vì vậy, họ đi vào chế tạo các loại máy tính có giá thấp

Apple đi vào chiến lược đa dạng hóa, phát triển nhiều loại máy tính cá nhân ở các phân khúc thị trường khác nhau Tuy nhiên, có thời kỳ, chiến lược này suýt bị thất bại (xem hộp 1.1)

Trang 33

Hộp 1.1: Công ty Apple

Công ty Apple Computer được xây dựng vào năm 1976, khi mà hai kỹ sư Steven Jobs và Steven Wozniak cùng cộng tác để sản xuất bàn điện toán dùng cho cá nhân Không lâu sau, năm 1977 Công ty Apple Computer đã đưa ra thị trường các máy điện toán cá nhân dùng trong kinh doanh, giáo dục và gia đình Những đơn đặt hàng ngày một nhiều, Jobs và Wozniak nhận thấy cần phải xây dựng một tổ chức có cơ cấu xử lý các vấn đề như: huy động vốn, marketing, quản trị, hoạch định chiến lược, thiết kế công nghệ, sản xuất,… Một Apple Computer với cơ cấu tổ chức hình nón đáy bẹt và tản quyền được hình thành Cách bố trí nhân sự đó đã khơi dậy được tính sáng tạo, linh động và có khả năng thích ứng trước những tình huống bất ổn

Năm 1982, sự tăng trưởng nhanh chóng của công ty cùng với các sản phẩm đưa ra đa dạng hơn như: máy điện toán Lisa, Macintosh, AppleII Công ty Apple Computer nhận thấy phải phân nhiệm rõ ràng hơn, và cần phát triển thêm với nhiều cấp điều hành hơn Một cơ cấu tổ chức phân nhánh, theo đó mỗi mặt hàng được chế tạo ở một phân nhánh và mỗi nhánh đều có riêng các nhóm chức năng chuyên môn Tuy nhiên, cùng với cơ cấu tổ chức này một số vấn đề phát sinh Các thương hiệu máy điện toán của Apple Computer trỏ nên đối chọi nhau (Macintosh đối chọi với Lisa) Những cuộc cạnh tranh trong nội bộ diễn ra, đẩy chi phí quản lý tăng lên đột ngột, nhiều chức năng chuyên môn ở các phân nhánh trùng lặp Hậu quả là công ty IBM đã tước đoạt khỏi tay Apple vị trí dẫn đầu ngành công nghệ máy điện toán cá nhân

(Nguồn: Nguyễn Tấn Phước, Chiến lược & chính sách kinh doanh, NXB

Thống kê, Hà Nội, 1996)

1.3.2.2 Văn hóa doanh nghiệp

Văn hóa của các doanh nghiệp khác nhau rất lớn ở mức độ mà văn hóa đó được áp dụng trong các thói quen làm việc và các chuẩn mực cư xử của công

ty Văn hóa của doanh nghiệp cũng có thể bị suy yếu và trở nên dễ đổ vỡ do cùng một lúc có rất nhiều những cộng đồng văn hóa nhỏ cùng tồn tại, rất ít các

Trang 34

giá trị và chuẩn mực cư xử được áp dụng rộng rãi và cũng có rất ít những chuẩn mực truyền thống Trong những trường hợp đó, các thành viên trong tổ chức thường không có những ấn tượng sâu sắc về bản sắc của doanh nghiệp,

họ chỉ coi công ty của họ gần như một nơi để làm việc và công việc chỉ là một cách để kiếm sống Trong khi họ có thể có những cảm xúc như là sự trung thành đối với phòng ban của họ, với đồng nghiệp, với tập thể, với nhà quản trị thì họ lại thường không có được sự trung thành lớn đối với công ty hay với những sứ mệnh kinh doanh của công ty Mặt khác, văn hóa của một doanh nghiệp lại có thể rất mạnh và có sự kết dính thể hiện ở chỗ công ty điều hành hoạt động kinh doanh theo một loạt các quy tắc và giá trị rõ ràng và minh bạch

và ở đó, việc quản trị phần lớn là để giới thiệu những quy tắc và giá trị này với các thành viên của tổ chức và giải thích cho họ hiểu những quy tắc đó có liên quan như thế nào với môi trường kinh doanh và rằng những giá trị đó được mọi người áp dụng rộng rãi thế nào trong công ty – từ những cán bộ quản trị cấp trung hay những nhà quản trị cao cấp Những công ty có nền văn hóa doanh nghiệp mạnh thường có những phát biểu về những giá trị và niềm tin, và các nhà quản trị thường nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc sử dụng những giá trị và quy tắc như một nền tảng để ra quyết định và có những hành động được tiến hành trong toàn bộ công ty Những công ty có văn hóa doanh nghiệp mạnh có những giá trị và chuẩn mực cư xử được bén rễ sâu đến mức chúng rất

ít thay đổi khi một Chủ tịch hội đồng quản trị mới lên thay – mặc dù chúng có thể bị mai một dần đi nếu như vị Chủ tịch mới không liên tục nuôi dưỡng chúng Những công ty xuất sắc thường có một kiểu văn hóa động rất giống với tinh thần chinh phục

1.3.2.2 Năng lực điều hành của giới quản trị

Đây là yếu tố mang tính quyết định Năng lực quản trị luôn có vai trò rất quan trọng, nó có thể đưa đến thành công hay thất bại Trong đó, người thực hiện công tác này chính là nhà quản trị Như vậy, ta có thể thấy rằng đối với sự

Trang 35

chức năng quản trị của mình, cụ thể là nhà quản trị tiến hành Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo, Kiểm soát để nhằm đạt được các mục tiêu mà dự án đề ra Mỗi quyết định của nhà quản trị đều ảnh hưởng đến doanh nghiệp Đó có thể là những quyết định đúng hay sai, lớn hay nhỏ và tác động của nó đối với doanh nghiệp cũng tuỳ theo các cấp độ khác nhau Nhà quản trị không thể luôn chắc chắn một điều là những quyết định mình đưa ra không bao giờ sai Tuy nhiên, nhà quản trị hoàn toàn có thể chủ động trong việc đưa ra các quyết định của mình Nhà quản trị cần không ngừng trau dồi, học hỏi, làm giàu thêm vốn sống, kiến thức, kinh nghiệm của mình Chỉ có như vậy thì mới có thể hạn chế tối đa các sai lầm trong quá trình thực hiện chức năng quản trị kinh doanh

Trang 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ MÁY TÍNH CÁ NHÂN CỦA

CÔNG TY HEWLETT PACKARD VIỆT NAM

2.1 Khái quát về công ty Hewlett-Packard Việt Nam

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

HP được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1939 bởi Bill Hewlett và Dave Packard, với hình thức là nhà sản xuất công cụ đo lường và kiểm định với vốn đầu tư là 538 USD Cả hai đã tốt nghiệp Đại học Stanford năm 1934 Công ty khởi đầu trong một ga-ra khi họ còn đang học sau đại học ở Standford Vì thế câu chuyện của họ là về những trí thức trở nên giàu có chứ không phải là những

kẻ nghèo khó trở nên giàu có

Sản phẩm đầu tiên là máy tạo dao động âm chính xác, kiểu 200A Điểm mới của họ là đã dùng bóng đèn nhỏ (loại dùng để chiếu sáng) như là một điện trở nhiệt trong một phần quan trọng của mạch điện Nhờ vậy họ đã bán kiểu 200A này với giá $54.40 trong khi các đối thủ cạnh tranh bán các máy tạo dao động ít ổn định hơn với giá trên $200 Loạt máy phát kiểu 200 được tiếp tục sản xuất đến năm 1972 với kiểu 200AB, vẫn dựa trên đèn điện tử nhưng có cải tiến về mẫu mã 33 năm, đó có lẽ là mẫu thiết kế điện tử được bán lâu nhất trong mọi thời đại

Tên công ty, Hewlett-Packard, được hình thành từ họ của hai nhà sáng lập Nếu Bill không thắng trong việc tung đồng xu, thì có thể hiện nay tên công ty được biết sẽ là Packard-Hewlett Một trong những khách hàng sớn nhất của công ty là Walt Disney Productions, họ đã mua tám máy tạo dao động kiểu 200B (với giá $71.50/cái) để kiểm tra hệ thống Fantasoundstereophonic sound

trong những rạp sẽ chiếu phim Fantasia

Ban đầu, hoạt động của công ty không tập trung, công ty làm việc trong lĩnh vực rộng về các thiết bị điện cho công nghiệp và thậm chí cả nông nghiệp

Trang 37

lượng cao Suốt những năm 1940 đến những năm 1990 công ty tập trung sản xuất máy phát tín hiệu, máy đo hiệu điện thế, máy dao dộng ký, máy đếm, và những thiết bị kiểm định khác Điểm nổi bật của chúng là tăng giới hạn đo lường và độ chính xác Ví dụ, hầu hết mọi vôn kế hoặc máy phát tín hiệu HP đều có hơn một hoặc nhiều bậc trên công tắc so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Vôn kế hay Ampe kế HP có thang đo tăng và giảm hơn 10 tới 100 lần so với những máy khác Dù có nhiều lý do cho việc tại sao các máy cạnh tranh chỉ ngừng ở đơn vị 1 vôn, các kỹ sư của HP tìm ra những cách để tăng phạm vi đo lường của thiết bị lên một cách đáng kể Họ cũng tập trung vào việc chính xác và ổn định tuyệt đối, làm ra những máy đếm, vôn kế, nhiệt kế, và đồng hồ có phạm vi đo lường rộng nhưng rất chính xác và ổn định

Thời kỳ những năm 60 và 70, HP được công nhận là nhà sáng lập của thung lũng Silicon, dù công ty đã không chủ động đầu tư vào các thiết bị bán dẫn mãi đến vài năm sau, sau khi "Tám kẻ phản bội" đã từ bỏ William Shockley để lập nên công ty bán dẫn Fairchild vào năm 1957 Công ty cổ phần

HP của Hewlett-Packard, thành lập năm 1960, đã phát triển các thiết bị bán dẫn chỉ để dùng trong nội bộ Các dụng cụ đo lường và máy tính là những sản phẩm

sử dụng các thiết bị này

HP được Tạp chí Wired công nhận là nhà sản xuất máy tính cá nhân đầu

tiên trên thế giới, vào năm 1968, với loại máy Hewlett-Packard 9100A HP gọi

nó là máy tính để bàn (desktop calculator), vì Bill Hewlett phát biểu rằng, "Nếu chúng tôi gọi nó là máy tính (computer), các bậc thầy về máy tính sẽ phản đối

vì nó không giống IBM Vì thế chúng tôi quyết định gọi nó là máy tính (calculator), và những thứ vô lý đó không còn nữa" Là một thắng lợi trong kỹ thuật lúc đó, các mạch điện logic được sản xuất mà không có vi mạch tích hợp nào; quá trình lắp ráp một đơn vị xử lý trung tâm – CPU (central processing unit) hoàn toàn được tiến hành với các bộ phận rời rạc Với màn hình CRT (cathode ray tube), card lưu trữ bằng từ tính, và máy in, giá sản phẩm khoảng

$5000

Trang 38

Công ty được thế giới tín nhiệm với nhiều mặt hàng Họ đã giới thiệu máy

tính điện tử khoa học cầm tay đầu tiên trên thế giới vào năm 1972 (máy HP-35), máy tính lập trình đầu tiên vào năm 1974 (máy HP-65), máy tính lập trình có hiển thị số đầu tiên, vào năm 1979 (máy HP-41C), và máy tính hình thức có thể

vẽ đồ thị đầu tiên HP-28C Giống như các máy tính khoa học và thương mại, máy dao động ký, máy phân tích logic, và các thiết bị đo lường khác của công

ty cũng rất nổi tiếng vì độ bền và tính tiện dụng (những sản phẩm đo lường này bây giờ là các dòng sản phẩm của công ty Agilent tách ra từ HP) Triết lý trong thiết kế của công ty trong giai đoạn này có thể tóm tắt là "thiết kế cho người ngồi ở ghế kế bên."

Thời kỳ những năm 80 và 90, HP trở thành một cầu thủ lớn trong ngành công nghiệp máy tính trong những năm 1980 với một loạt các dòng máy tính,

từ máy tính để bàn đến thiết bị di động như máy tính mini mạnh mẽ HP cũng liên kết với các công cụ máy tính điện tử , y tế và các sản phẩm phân tích, làm cho chúng nhanh hơn và mạnh hơn HP xâm nhập vào thị trường máy in với sự

ra mắt của máy in phun và máy in laser kết nối với máy tính cá nhân Các dòng máy in HP LaserJet, được ra mắt vào năm 1984, đã trở thành dòng sản phẩm mang lại sự thành công vang dội cho HP Chất lượng và độ tin cậy của máy in

HP đã làm cho HP trở thành một thương hiệu rất dễ nhận biết của cả người tiêu dùng và doanh nghiệp

Gần cuối thập kỷ này, HP được thị trường công nhận nhờ lịch sử phát triển kinh doanh phong phú cũng như các phát minh công nghệ tiên tiến và sản phẩm của mình Tại nhà để xe, nơi công ty bắt đầu được tuyên bố là mốc lịch

sử California, và HP tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ở đó

Sản phẩm của HP đã chính thức cung cấp tại Trung Quốc khi Packard mở văn phòng đại diện tại Bắc Kinh năm 1981

Hệ thống thư điện tử được phát triển bởi HP Limited tại Vương quốc Anh

là lần đầu tiên chính thức mở rộng mạng lưới thương mại của loại hình này dựa

Trang 39

Sản phẩm HP 9000 là tiến bộ vượt bực trong tính toán kinh doanh khi nó được sử dụng bằng superchip "32-bit" công nghệ Các dòng máy tính để bàn có khả năng tính toán lớn trở nên lớn mạnh vào năm1960 Sản phẩm HP-150 àn hình cảm ứng: HP cho phép người dùng kích hoạt tính năng trên máy tính của

họ chỉ đơn giản bằng cách chạm vào màn hình khi nó giới thiệu màn hình cảm ứng đầu tiên của máy tính cá nhân, các HP-150

Bill Hewlett được trao tặng Huân chương Khoa học Quốc gia, "Đối với những thành tựu tiên phong trong việc tạo ra và sản xuất điện tử và bán dẫn, thiết bị và dụng cụ điện tử kiểm tra." Ông được Tổng thống Reagan trao tặng tại một buổi lễ của Nhà Trắng, ngày 27 tháng 2 năm 1985 HP bắt đầu chương trình tái chế phần cứng đối với hệ thống máy tính nội bộ Năm 1987, HP đạt doanh thu 8,1 tỷ đô la Mỹ với 82 nghìn nhân viên trên toàn cầu và được xếp hạng thứ 49 trong danh sách Fortune 500 HP được niêm yết trên thị trường chứng khoán Tokyo, đó là lần đầu tiên HP tham gia vào thị trường chứng khoán bên ngoài nước Mỹ HP mua lại Apollo Computer, một hãng sản xuất máy trạm dựa trên Massachusetts năm 1989

Sự ra đời của thiết bị thử nghiệm và đo lường các hệ thống ngôn ngữ - TMSL (Test and measurement system language) giúp loại bỏ sự cần thiết phải viết phần mềm để tạo điều kiện giao tiếp giữa các nhạc cụ khác nhau trong một hệ thống thử nghiệm TMSL khởi tạo một tiêu chuẩn ngành công nghiệp truyền thông mới

HP giới thiệu lần đầu tiên lưu trữ dữ liệu kỹ thuật số - DDS (Digital data storage) Dựa trên công nghệ tiên phong phát triển trong HP Labs cho việc sử dụng băng ghi âm quét xoắn ốc cho dữ liệu lưu trữ, DDS sẽ trở thành bộ lưu trữ

dữ liệu kỹ thuật số bán chạy nhất trên thế giới Năm 1989, HP đạt doanh thu 11,9 tỷ đô la Mỹ với 95 nghìn nhân viên trên toàn

Bước vào thế kỷ 21, HPQ là mã giao dịch của HP trên thị trường chứng khoán New York kể từ ngày 6 tháng 5 năm 2002

Trang 40

Vào đầu thế kỷ 21, HP tập trung vào kinh nghiệm đơn giản hóa công nghệ cho tất cả các khách hàng của mình, từ người tiêu dùng cá nhân để các doanh nghiệp lớn nhất Với một danh mục đầu tư mà trải dài in ấn, máy tính cá nhân, phần mềm, dịch vụ và cơ sở hạ tầng CNTT, HP phát triển để trở thành công ty công nghệ lớn nhất thế giới

Ngày 03 Tháng Năm 2002, HP đã hoàn tất các giao dịch sáp nhập với Compaq Computer Corp mới của HP là nhà cung cấp hàng đầu thế giới của các sản phẩm, công nghệ, giải pháp và dịch vụ cho người tiêu dùng và kinh doanh Công ty cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng CNTT, giải pháp quản lý tổng thể cho doanh nghiệp, hệ thống máy chủ , máy tính cá nhân và các thiết bị truy cập, các dịch vụ toàn cầu, và hình ảnh và in ấn Năm 2007, HP đạt mức doanh thu lên

100 tỷ đô la Mỹ Trong năm 2009, sau khi mua lại EDS, công ty chuyên về dịch vụ công nghệ thông tin, HP đổi tên thành bộ phận: Dịch vụ doanh nghiệp

HP, nhờ đó, HP được lên vị trí thứ 9 trên danh sách Fortune 500

2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh

Thiết lập năm 1995, công ty trách nhiệm hữu hạn HP Việt Nam là công ty thuộc sở hữu 100% vốn của HP Từ đó công ty đã phát triển và hiện đang hoạt động trên toàn quốc với 2 văn phòng đặt tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh Một trong những lĩnh vực chủ yếu trong sự hoạt động của HP là dịch vụ

và trợ giúp khách hàng với nguồn tài nguyên lớn trong dịch vụ tốt của HP để vươn tới khách hàng tại Việt Nam

HP hãnh diện trong việc phân chia dịch vụ và trợ giúp khách hàng, đào tạo

kỹ năng cho kỹ sư, có khả năng trợ giúp một vùng rộng các sản phẩm máy tính

HP HP là công ty công nghệ thông tin nước ngoài duy nhất được trang bị thiết

bị đầy đủ và có trung tâm dịch vụ cao cấp ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, cung cấp hỗ trợ trực tiếp và dịch vụ tới khách hàng của HP HP tự hào đứng bên cạnh mỗi sản phẩm máy tính HP được bán hay đang hoạt động tại Việt

Ngày đăng: 17/12/2023, 01:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1  Số lượng người dùng Internet ở Việt Nam, 2006-2008  21  Bảng 2.1  Số lượng và tỷ lệ bán ra của máy tính xách tay  58 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Bảng 1.1 Số lượng người dùng Internet ở Việt Nam, 2006-2008 21 Bảng 2.1 Số lượng và tỷ lệ bán ra của máy tính xách tay 58 (Trang 6)
Hình 1.1  Sơ đồ mối quan hệ giữa chương trình phát triển sản phẩm mới và các - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa chương trình phát triển sản phẩm mới và các (Trang 7)
Hình 1.1. Sơ đồ mối quan hệ giữa chương trình phát triển sản phẩm mới và - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Hình 1.1. Sơ đồ mối quan hệ giữa chương trình phát triển sản phẩm mới và (Trang 24)
Bảng 1.1:  Số lượng người dùng Internet ở Việt Nam, 2006-2008 - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Bảng 1.1 Số lượng người dùng Internet ở Việt Nam, 2006-2008 (Trang 29)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của HP Việt Nam - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của HP Việt Nam (Trang 46)
Hình 2.2: Hệ thống kênh phân phối của HP Việt Nam - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Hình 2.2 Hệ thống kênh phân phối của HP Việt Nam (Trang 54)
Hình 2.3: Kênh phân phối của HP Việt Nam đối với khách hàng dự án - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Hình 2.3 Kênh phân phối của HP Việt Nam đối với khách hàng dự án (Trang 57)
Bảng 2.2: Số lươ ̣ng và tỷ lê ̣ bán ra của máy bàn - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Bảng 2.2 Số lươ ̣ng và tỷ lê ̣ bán ra của máy bàn (Trang 66)
Bảng 2.1: Số lươ ̣ng và tỷ lê ̣ bán ra của máy tính xách tay - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Bảng 2.1 Số lươ ̣ng và tỷ lê ̣ bán ra của máy tính xách tay (Trang 66)
Bảng 2.3: Doanh thu do ̀ng máy dự án - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Bảng 2.3 Doanh thu do ̀ng máy dự án (Trang 67)
Bảng 2.4: Doanh thu cu ̉ a dòng máy tiêu dùng cá nhân - (LUẬN VĂN THẠC SĨ) Phát triển dịch vụ công nghệ thông tin của công ty Hewlett Packard Việt Nam
Bảng 2.4 Doanh thu cu ̉ a dòng máy tiêu dùng cá nhân (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w